Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trần Thái Tông vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần - người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà chính trị, quân s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
NGUYỄN HÀ THƠ
ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ TRONG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 2
NGUYỄN HÀ THƠ
ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ TRONG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60220301
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Lương Minh Cừ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Lương Minh Cừ Nội dung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 6 năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Hà Thơ
Trang 4Để hoàn thành được Luận văn Triết học này, tác giả xin được gửi lời cảm
ơn chân thành tới quý thầy, cô trong Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn - ĐHQG TPHCM đã truyền đạt, chỉ dạy cho tác giả những kiến thức rất quan trọng và bổ ích trong quá trình học tập tại Nhà trường Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Lương Minh Cừ - người hướng dẫn khoa học, người thầy rất tận tụy và dành rất nhiều tâm huyết chỉ dẫn cho tác giả để hoàn thành được công trình nghiên cứu khoa học này
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
6 Ý nghĩa khoa học của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN THÁI TÔNG 9
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN THÁI TÔNG 9
1.1.1 Điều kiện kinh tế thời nhà Trần với sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 9
1.1.2 Đặc điểm chính trị - xã hội thời nhà Trần với sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 18
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 32
1.2.1 Giá trị tinh hoa của tư tưởng truyền thống Đại Việt với sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 32
1.2.2 Tư tưởng tam giáo với việc hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 38
1.2.3 Trần Thái Tông - con người và sự nghiệp 49
Kết luận chương 1 54
Trang 6Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 56
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 56
2.1.1 Quan điểm của Trần Thái Tông về bản thể luận 56
2.1.2 Quan điểm của Trần Thái Tông về nhận thức luận 63
2.1.3 Quan điểm của Trần Thái Tông về triết lý nhân sinh - đạo đức 72
2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 82
2.2.1 Tính dung hợp, kế thừa trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 82
2.2.2 Tính thực tiễn trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 97
2.2.3 Tính nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông 107
2.3 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 116
2.3.1 Giá trị lý luận của tư tưởng triết học Trần Thái Tông 117
2.3.2 Giá trị thực tiễn của tư tưởng triết học Trần Thái Tông 121
Kết luận chương 2 125
KẾT LUẬN CHUNG 127 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Trần là một trong những thời đại hưng thịnh và vẻ vang, một trong những triều đại lẫy lừng trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Vừa là một vương triều đã thống lĩnh quân và dân Đại Việt ba lần đánh bại sự càn quét của vó ngựa Nguyên - Mông, vừa là một vương triều đã nhen lên ngọn đuốc khai phóng, một trào lưu tư tưởng Thiền học cởi mở và sâu sắc, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Trong các thành tựu to lớn ấy, nếu phải nói đến những đóng góp của những cá nhân xuất sắc, không thể bỏ qua vai trò và công lao của một số hoàng
đế vương triều Trần Đó là những con người mang trong mình chân dung kép, không chỉ là người anh hùng chống giặc ngoại xâm, mà còn là những vị vua sẵn sàng xả thân vì vận mệnh dân tộc, đồng thời còn là những nhà Thiền học uyên thâm Mặt khác, họ còn là những vị vua có nhân cách với kích thước vượt trội, có tầm vóc to lớn Nhân cách ấy không chỉ thể hiện ở những thời điểm hưng thịnh của lịch sử, mà ngay trong những tình huống đời thường hiện lên những vị vua có tấm lòng khoan dung, nhân hậu, yêu nước, thương dân, luôn mang trong mình tấm lòng của “vị Bồ tát” sống Nổi bật trong số những vị vua
ấy chính là Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên khai sáng triều đại nhà Trần
Trần Thái Tông được biết đến là một con người đời đạo lưỡng toàn Đối với đời, ông là một người con chí hiếu, một người em thuận thảo, một vị vua anh minh Đối với đạo, ông là một người tinh cần, chăm chỉ học tập, nghiên cứu triết lý của Phật giáo, khéo léo cổ vũ cho mọi người phấn khởi nỗ lực hành đạo Ông không chỉ là một vị vua anh minh, mà còn là một nhà quân sự tài năng; không chỉ là một nhà văn, nhà thơ mà còn là một nhà tư tưởng lớn Ông
đã biết dung hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với triết lý phong phú sâu sắc, thâm trầm của Nho, Phật, Lão; bằng sự kế thừa, chọn lọc các dòng thiền trước đây như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường để sáng
Trang 8tạo nên hệ thống tư tưởng triết học của riêng mình với những nét độc đáo và đặc sắc riêng, ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Với sự sáng tạo đó của mình, Trần Thái Tông thực sự xứng đáng là “tập đại thành đầu tiên của lịch sử triết học Việt Nam từ khởi nguyên đến giữa thế kỷ XIII” [33, tr 82] Bên cạnh việc góp nhặt những tư tưởng tản mạn của các thiền phái thời Lý, Trần Thái Tông còn là người đầu tiên đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm sau này Có thể nói rằng, tư tưởng triết học của Trần Thái Tông chính
là “hòn ngọc bích rạng rỡ kết tinh từ cái tuệ anh minh và cái tâm tha thiết với người với đời” [14, tr 85], tỏa ánh hào quang chói lọi cho vườn thiền Việt Nam nói riêng, và hệ thống tư tưởng triết học Việt Nam nói chung Những tư tưởng của Trần Thái Tông, đặc biệt là những đặc điểm trong tư tưởng triết học vừa có giá trị lý luận, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc, đóng góp to lớn vào trong quá trình xây dựng đất nước nói chung và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay nói riêng
Hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bên cạnh mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng để tiến kịp xu thế phát triển của thế giới Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là cần thiết và cũng là xu hướng tất yếu Chính quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế đã làm cho đời sống kinh tế của đất nước nhanh chóng được đổi mới và phát triển Chúng ta đã có những cơ hội được học hỏi, tiếp thu, kế thừa không chỉ về tri thức khoa học mà còn tiếp thu các giá trị văn hóa phong phú của các quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, giữ vững sự ổn định
về chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Nhưng cùng với sự tăng trưởng về kinh, chúng ta đang phải đối mặt với sự suy thoái ngày càng nghiêm trọng về đời sống tinh thần Nhiều giá trị của dân tộc đang bị băng hoại, mối quan hệ giữa con người với con người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội đang bị xuống cấp ngày càng trầm trọng Điều đó
Trang 9để lại những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của nhân dân, làm giảm sút nghiêm trọng truyền thống “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” của dân tộc Việt Nam Thực trạng này cũng đã được Đảng ta nhận định: “Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại… Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đạt hiệu quả chưa cao… Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ
phận nhân dân, nhất là lớp trẻ” [19, tr 125] Không chỉ có vậy, ảnh hưởng của
mặt trái xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức có quyền bị suy thoái về đạo đức, lối sống, biến “của công” thành sở hữu của cá nhân Hiện tượng quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân, cấu kết bè phái đã gây nên những sự bức súc nghiêm trọng trong quần chúng nhân dân và làm tổn thương đến uy tín của Đảng, của Nhà nước
Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc hiện nay đang là một nhiệm vụ vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài
Xuất phát từ lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đặc điểm và giá trị lịch sử trong tư tưởng triết học Trần Thái Tông” làm đề tài Luận văn Triết học
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trần Thái Tông vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần - người đã khai sáng
ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà chính trị, quân sự tài ba của đất nước Những tư tưởng của Trần Thái Tông không chỉ đóng góp những giá trị nhất định cho Phật giáo nói riêng, mà còn có những đóng góp to lớn cho lịch sử
tư tưởng Việt Nam nói chung Vì vậy, tư tưởng triết học của Trần Thái Tông đã trở thành mảng đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà
Trang 10khoa học, với nhiều công trình nghiên cứu, dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát các công trình khoa học nghiên cứu về tư tưởng triết học của Trần Thái Tông ở các chủ đề như sau:
Thứ nhất, đó là các công trình khoa học nghiên cứu bối cảnh, điều kiện lịch sử hình thành nên tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Tiêu biểu cho chủ đề nghiên cứu này, trước hết là công trình Tìm hiểu
xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1981 Công trình khoa học này đã phân tích khá chi tiết toàn bộ bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng thời kỳ Lý - Trần, giúp người đọc hình dung được về cơ bản những điều kiện, tiền đề góp phần hình thành nên tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Công trình Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
năm 1998 Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử hết sức đồ sộ được nhiều nhà sử học lớn của nước ta biên soạn như Lê Văn Hưu đời Trần, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy… đời Lê Trung Hưng Theo bản in ván khắc năm Chính Hòa thứ XVIII (1697) mang hiệu bản in Nội các quan bản, bộ sử này gồm có quyển thủ và 24 quyển, được biên soạn rất công phu, tỉ mỉ chi tiết các sự kiện, nhân vật lịch sử… Mặc dù là một bộ sử
ký, nhưng các vấn đề tư tưởng, triết học, văn hóa, khoa học, quân sự… đều
được thể hiện rất rõ trong tác phẩm đồ sộ này Đặc biệt, quyển IV Kỷ nhà
Lý, quyển V Kỷ nhà Trần đã phác họa lại cho người đọc thấy rất rõ tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội thời cuối nhà Lý, và bối cảnh xã hội thời kỳ nhà Trần, đã có những ảnh hưởng lớn đối với quá trình hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Công trình Đại cương lịch sử Việt Nam của Trương Hữu Quýnh (chủ
biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm
1999 Đây là một công trình khoa học nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết lịch sử của dân tộc Việt Nam từ thời đại nguyên thủy cho đến triều đại nhà Nguyễn
Trang 11Trong công trình này, các tác giả đã dành riêng một chương để khái quát về triều đại nhà Trần Các tác giả đã miêu tả rất rõ về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ nhà Trần, thông qua sự miêu tả ấy người đọc thấy được quá trình hình thành, phát triển, suy vong của triều đại nhà Trần Đồng thời cũng thấy được sự tác động của xã hội Đại Việt trong thế kỷ XIII đối với quá trình hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Công trình Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam của PGS.TS Doãn Chính,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013 Đây được xem như một bức tranh toàn cảnh về lịch sử tử tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Trong công trình này, tác giả đã trình bày rất chi tiết những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng triết học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Đặc biệt, với việc tập trung khái quát các điều kiện
về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa thời kỳ nhà Trần, công trình nghiên cứu này, giúp cho giúp cho người đọc hình dung được về cơ bản cơ sở hình thành
tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Công trình khoa học Tư tưởng Việt Nam thời Trần của tác giả Trần
Thuận, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014 Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích khá chi tiết bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần, qua đó phần nào giúp người đọc thấy được những ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội thời kỳ đó đối với sự hình thành tư tưởng Triết học của Trần Thái Tông
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu độc lập về nội dung, đặc điểm tư tưởng của Trần Thái Tông
Nổi bật trong hướng nghiên cứu này, có các công trình như Toàn tập Trần Thái Tông của tác giả Lê Mạnh Thát, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004; Khóa hư lục giảng giải của tác giả Thích Thanh Từ Các công
trình này đã trình bày và phân tích khá công phu, chi tiết về con người, sự nghiệp văn hóa, chính trị, tôn giáo, thơ văn của Trần Thái Tông Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này, lại chưa thực sự tiếp cận tư tưởng của Trần
Trang 12Thái Tông về mặt triết học và cũng chưa thực sự làm nổi bật được tư tưởng triết học của Trần Thái Tông nói chung và đặc điểm tư tưởng triết học của Trần Thái Tông nói riêng
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như Việt Nam Phật giáo
sử luận của tác giả Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội, năm 2000; Triết học Phật giáo Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Hinh, Nxb Văn hóa thông tin và Viện văn hóa, Hà Nội, năm 2006; Tư tưởng Việt Nam thời Trần của tác giả Trần
Thuận, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2014 Trong ba công trình này, các tác giả cũng đã dành một số trang viết nhất định về tư tưởng triết học của Trần Thái Tông Nhưng cả ba tác giả chưa tập trung vào việc nghiên cứu toàn bộ nội dung, đặc điểm tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Thứ ba, đó là những công trình nghiên cứu đánh giá về giá trị tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Đối với chủ đề này có các công trình nghiên cứu như: Góp phần tìm hiểu
tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Tư tưởng Việt Nam thời kỳ Lý - Trần của Trương Văn Chung, Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Lịch sử triết học phương Đông của tác giả Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015;
Luận văn Thạc sỹ triết học của tác giả Nguyễn Ngọc Phượng (2008) Đây là những công trình nghiên cứu khá sâu và chi tiết về tư tưởng triết học của Trần Thái Tông Các công trình này đã tập trung vào phân tích khá sâu sắc nội dung tư tưởng triết học của Trần Thái Tông, giúp cho người đọc phần nào thấy được những giá trị thiết thực trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu theo hướng này, chưa thực sự đi vào phân tích và làm nổi bật đặc điểm
tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Như vậy, được tiếp cận dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau, các công trình nêu trên, đều là những tài liệu quý giá và bổ ích, để tác giả học tập, kế thừa, phát triển trong đề tài nghiên cứu của mình Trên cơ sở kế thừa những thành
Trang 13quả đã đạt được của các công trình nghiên cứu nêu trên, trong đề tài này, tác giả
đi vào khái quát và làm sáng tỏ thêm một số nội dung và đặc biệt là những đặc điểm trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông, từ đó nêu bật những giá trị tư tưởng triết học của ông
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Qua việc trình bày nội dung tư tưởng triết học của Trần Thái Tông luận văn nhằm phân tích làm rõ những đặc điểm
cơ bản của tư tưởng triết học Trần Thái Tông, từ đó rút ra những giá trị lịch sử của tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu, trình bày và phân tích khái quát điều kiện kinh tế, xã
hội và những tiền đề lý luận tác động đến sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông;
Thứ hai, trình bày và phân tích các nội dung cơ bản của tư tưởng triết
học Trần Thái Tông về các vấn đề như bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức nhân sinh…v.v
Thứ ba, trên cơ sở những nội dung tư tưởng triết học cơ bản của Trần
Thái Tông, luận văn phân tích làm rõ những đặc điểm chủ yếu và nêu bật những giá trị lịch sử của tư tưởng triết học Trần Thái Tông
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn dựa trên cơ
sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Khoa học xã hội như: Logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch; ngoài
ra tác giả còn sử dụng các phương pháp liên ngành Triết học, Sử học để nghiên cứu, thực hiện luận văn
Trang 145 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu và phân tích những nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung phân tích làm rõ điều kiện kinh tế, xã hội thời kỳ nhà Trần và những tiền đề hình thành, nội dung, đặc điểm và giá trị tư tưởng triết học Trần Thái Tông
6 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Từ việc tìm hiểu về con người sự nghiệp của Trần Thái Tông nói riêng
và tư tưởng triết học của Trần Thái Tông nói chung, luận văn góp phần nâng cao lòng tự hào dân tộc Đồng thời, luận văn còn góp phần khơi gợi lại những giá trị truyền thống của dân tộc, từ đó hướng vào việc giáo dục giá trị tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và cho sinh viên khi học tập, nghiên cứu môn học Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương, 5 tiết, và 13 tiểu tiết
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN THÁI TÔNG 1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN THÁI TÔNG
1.1.1 Điều kiện kinh tế thời nhà Trần với sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Tư tưởng con người được hình thành bởi chịu sự chi phối, tác động từ chính những hoàn cảnh thực tiễn của xã hội cụ thể, trong những giai đoạn lịch
sử nhất định và phản ánh tồn tại xã hội đó Mặt khác, còn có sự kế thừa những tiền đề, tư tưởng của những thời đại trước, để rồi khi được khúc xạ qua lăng kính cá nhân trở thành tư tưởng của một con người, mang hơi thở của một thời đại Sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông cũng không nằm ngoài quy luật tất yếu đó Tư tưởng triết học của Trần Thái Tông vừa chịu sự chi phối bởi những đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XIII, vừa là sự
kế thừa những tiền đề tư tưởng triết học trước đó, cùng với đó là sự phản ánh, chắt lọc những tinh hoa văn hóa của dân tộc Đúng như C Mác đã từng khẳng định: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [44, tr.156] Vì thế, khi tìm hiểu
tư tưởng triết học của Trần Thái Tông chúng ta không thể không tìm hiểu về những điều kiện lịch sử của thời đại mà Trần Thái Tông sinh sống
Về mặt kinh tế trong thời nhà Trần: Dưới triều đại của Thái Tông
hoàng đế, lực lượng sản xuất dần dần được phục hồi và phát triển Cũng giống như thời Lý, các vị vua thời Trần đặc biệt chú trọng đến vấn đề phát triển kinh
tế, coi đó là nền tảng để bảo vệ và trị vì đất nước Kinh tế thời kỳ nhà Trần, đặc
Trang 16biệt trong thời đại của Trần Thái Tông được biểu hiện thông qua các phương diện như sau:
Thứ nhất, về nông nghiệp trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của các vị
vua của triều đại nhà Lý, các vị vua nhà Trần nói chung và Trần Thái Tông nói riêng đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất
Thời đại nhà Trần tồn tại hai hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản đó là hình thức sở hữu nhà nước và hình thức sở hữu tư nhân Trong hình thức sở
hữu nhà nước có hai bộ phận cấu thành: Một là, ruộng đất do nhà nước quản lý
bao gồm có sơn lăng, tịch điền và quốc khố Ruộng đất do nhà nước quản lý không chiếm một số lượng lớn, nhưng cũng là nguồn thu nhập đáng kể của triều
đình Hai là, ruộng đất công của thôn làng được gọi là quan điền hay quan điền
bản xã Đây là một trong loại hình sở hữu, là cơ sở kinh tế của nhà nước theo quan niệm “đất của vua”, được biểu hiện qua việc “bán ruộng công, mỗi diện
là 5 quan” của triều đình vào năm 1254 Mỗi xã viên khi được tiếp quản phần ruộng đất công thì phải có trách nhiệm nộp tô thuế, lao dịch và đi lính cho nhà nước Qua đây cho thấy, tô thuế ruộng đất của thời kỳ này chủ yếu là đánh vào ruộng đất công, người canh tác trên ruộng đất công của làng xã vừa phải nộp thóc theo diện tích, vừa phải đóng thêm một số tiền nhất định Vì vậy, số tiền
và thóc mà người nông dân đóng cho nhà nước thời bấy giờ vừa mang ý nghĩa
là thuế, vừa mang nghĩa là địa tô
Về hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân, bao gồm có thái ấp, điền trang, ruộng đất tư hữu của địa chủ và ruộng đất thuộc sở hữu của tiểu nông Chính những hình thức sở hữu ruộng đất này là cơ sở thể hiện sự khác biệt căn bản về
tổ chức nhà nước của nhà Lý và nhà Trần Nếu như ở thời nhà Lý, các quan trong ngoài đều không được cấp bổng, thì trong thời kỳ đầu ở thời Trần “khi chế độ lương bổng chưa được thực hiện, vua Trần đã dùng ruộng đất để phong cấp cho quý tộc quan lại và những người có công hoặc cấp cho họ một số hộ nông dân
Trang 17để thu bổng lộc” [75, tr 25] Việc ban cấp ruộng đất và bổng lộc của vua Trần được thể hiện rõ nét nhất là thái ấp Đây là một trong những chính sách quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền của nhà Trần Ruộng đất trong các thái ấp trừ một ít được cấp vĩnh viễn, số còn lại vẫn thuộc sự sở hữu của nhà nước, người được ban cấp chỉ có quyền được hưởng dụng nhưng không có quyền
sở hữu khi qua đời và phải trả lại quyền sở hữu đó cho nhà nước khi con cháu không được hưởng quyền “thừa kế” Người nông dân cày cấy trong các thái ấp
là các xã viên, họ lệ thuộc trực tiếp vào các chủ thái ấp, nộp tô thuế, đi lao dịch hoặc có thể phải đi lính cho chủ thái ấp chứ không làm nghĩa vụ cho nhà nước
Để mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng
cố thế lực của quý tộc họ Trần, năm 1266, vua Trần đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân nghèo làm nô tỳ đi khai hoang để lập điền trang Điền trang được thành lập là điểm dân cư tiêu biểu cho “hình thái kinh tế - xã hội thời Trần”, vì vậy, lực lượng sản xuất chủ yếu trong điền trang
là nông nô, nô tỳ Kể từ đây, hai tổ chức kinh tế: thái ấp và điền trang đã trở thành hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất của quý tộc
Bên cạnh hai tổ chức kinh tế nêu trên, còn tồn tại hình thức tư hữu ruộng đất của địa chủ Hình thức này xuất hiện xuất phát từ chủ trương “bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan cho nhân dân làm của tư” của triều đình Thực tế cho thấy, khi tiền tệ đã thâm nhập vào ruộng đất, “tấc đất” được chuyển hóa thành
“tấc vàng” đã tạo ra cho xã hội một tầng lớp đặc biệt, đó là địa chủ thưởng hay địa chủ thứ dân và một tầng lớp tiểu nông tư hữu nhỏ phổ biến trong xã hội Việc công khai mua bán ruộng đất cùng với việc hợp pháp hóa mua bán ruộng đất bằng pháp lệnh năm 1254 của triều đình nhà Trần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sở hữu địa chủ phát triển ngày càng mạnh thêm Nhưng cũng từ chủ trương thực hiện việc “tập trung phát triển kinh tế tư nhân” bằng hình thức mua bán ruộng đất này, cũng đã làm cho tính chất sở hữu trong thành phần kinh tế này
Trang 18trở nên dao động, mất ổn định và không tập trung như thái ấp và điền trang Bởi sự sở hữu địa chủ tuy lớn nhưng lại có sự phân tán, đồng thời ranh giới giữa sở hữu địa chủ và sở hữu tiểu nông vẫn chưa thực sự có cách biệt an toàn
Sự chuyển hóa giữa hai hình thái sở hữu và hai thành phần xã hội này là tất yếu như nhau khi tiền tệ và các điều kiện khách quan khác có sự biến động
Như vậy có thể thấy rằng, sản xuất nông nghiệp trên mảnh đất nhỏ ở bất
cứ hình thái sở hữu tiền tư bản chủ nghĩa nào thì cũng đều lấy tiểu nông làm đơn vị sản xuất cơ sở Sản xuất tiểu nông đã cộng sinh với các loại hình quan
hệ sản xuất khác nhau, lập thành một thành phần kinh tế - xã hội rộng lớn Vì vậy: “Nó sẽ góp phần rất lớn cùng với sở hữu ruộng đất Nhà nước, hạn chế sự phát triển của điền trang thái ấp, hạn chế con đường phong kiến theo kiểu lãnh địa bóc lột nông nô trong thế kỷ XIII và các thế kỷ sau” [56, tr 203] Đây cũng chính là lời giải đáp cho sự phát triển hưng thịnh của triều đại nhà Trần nói chung và thời kỳ trị vì đất nước của Thái Tông hoàng đế nói riêng
Ngay khi vừa nắm chính quyền Trần Thái Tông và các vị vua sau này đã
có những chủ trương, biện pháp kịp thời để phục hồi sản xuất nông nghiệp và
mở rộng diện tích canh tác Nhà Trần đã sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp phát triển, trong đó phải kể đến công tác tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước Các vị vua nhà Trần luôn ý thức được rằng muốn bảo vệ được mùa màng, nhà cửa, tính mạng cho nhân dân một cách ổn định, lâu dài phải có
sự quy hoạch đắp đê quy mô theo cả dòng sông, để có thể chống lụt được một cách toàn diện Đây là một công việc quan trọng, một bước ngoặt to lớn trong lịch sử thủy lợi của nước nhà Thực tế, nhà Trần đã chi ra một nguồn kinh phí không nhỏ để đầu tư cho công trình vĩ đại này, thậm chí còn lập ra các cơ quan chuyên trách chỉ đạo và quản lý đê điều: “Năm 1248, Thái Tông đặt cơ quan hà
đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách đê điều ở các lộ phủ lại xuống chiếu đắp đê” [56, tr 204] Với phương châm “ích nước, lợi dân”, triều đình nhà Trần đã rất khéo léo trong quá trình huy động sức dân để xây dựng các công trình thủy lợi
Trang 19bằng việc đền bù công bằng cho nhân dân về mặt lợi ích Nếu đoạn đê nào lấn vào ruộng đất của tư nhân thì đều được đền bù một cách thỏa đáng: “đo xem đắp bao nhiêu vào ruộng của dân thì theo giá trả tiền” Không chỉ quan tâm tới việc đắp đê chống lụt, các hoàng đế triều đại nhà Trần cũng rất quan tâm tới việc đắp
đê ngăn nước mặn Đây được coi là một công cuộc mới mẻ, các quý tộc của nhà Trần thường cho các nô tỳ đắp đê ở bãi biển lập điền trang
Như vậy, đắp đê chống lụt và chống nước mặn được các vị vua triều đại nhà Trần hết sức quan tâm cho đó là một công việc quan trọng, thường xuyên và hết sức khẩn trương của triều đình và của toàn nhân dân “Hàng năm vào tháng riêng hoặc khi mùa màng rỗi rãi, tất cả nhân dân không phân biệt sang hèn, già trẻ đều phải đi sửa đắp đê, kể cả học sinh Quốc tử giám cũng không được miễn Công việc bồi đắp, tu sửa đê phải hoàn thành vào đầu mùa hạ Trong mùa mưa, Hà đê
sứ phải đi kiểm tra đê để kịp thời sửa chữa những chỗ bị sụt lở Các vị vua đầu thời Trần đôi khi cũng tự đi xem xét việc sửa chữa đê điều” [75, tr 27]
Ngoài công việc nêu trên, triều đình nhà Trần cũng rất chú trọng tới công cuộc xây dựng thủy nông Để thuận tiện cho việc tưới tiêu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như thuận tiện cho giao thông đường thủy, các vị vua triều Trần đã cho đào nhiều kênh, sông ở nhiều khu vực khác nhau Điển hình như năm 1231, Thái Tông hoàng đế đã cho người đào kênh Trầm, kênh Hào từ Thanh Hóa đến Diễn Châu Năm 1248, Trần Nhân Tông cho đào sông Mã, sông
Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa Năm 1256, nhà Trần cho khơi lại dòng sông Tô Lịch… công cuộc xây dựng công trình thủy nông còn tiếp tục thực hiện ở thế kỷ thứ XIV như việc đào sông ở Thanh Hóa và Nghệ An vào năm
1355 và 1357, hay việc nạo vét các con sông từ Thanh Hóa đến cửa biển Hà Tĩnh vào năm 1374…Những công trình thủy nông trên, mặc dù có những công trình khá tốn kém sức người, sức của, nhưng đổi lại triều đình nhà Trần cũng
đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực kinh tế, một lĩnh vực then chốt của mọi hình thái kinh tế - xã hội Đồng thời, việc chú trọng thực hiện các
Trang 20công trình thủy nông vừa thể hiện được tầm nhìn chiến lược của các vị vua nhà Trần, vừa thể hiện được sự quan tâm sâu sắc của triều đình đối với đời sống của nhân dân Điều đó cũng một phần lý giải được nguyên nhân thắng lợi của
ba cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của vua tôi nhà Trần
Thứ hai, về thủ công nghiệp, sự quan tâm phát triển nông nghiệp của
triều đình nhà Trần, đã góp phần đáng kể cho việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân Nhưng cũng chính sự phát triển của nông nghiệp đã tạo điều kiện cho sự phát triển của thủ công nghiệp Mặc dù thủ công nghiệp không được nhà Trần coi trọng như nông nghiệp, nhưng thủ công nghiệp vẫn có những bước tiến bộ, tiếp tục góp phần thúc đẩy nền kinh tế của triều đại nhà Trần
Thủ công nghiệp thời Trần bao gồm có hai bộ phận, thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp nhân dân Thủ công nghiệp nhà nước thời nhà Trần là một trong những thành phần kinh tế quan trọng, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như: nghề sản xuất đồ gốm, nghề dệt và đặc biệt trong thủ công nghiệp nhà nước của nhà Trần là xưởng chế tạo vũ khí
Nghề gốm: là một nghề thủ công cổ truyền, phát triển khá nhanh, thời kỳ
nhà Trần nghề gốm đã sản xuất được nhiều loại hình sản phẩm phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiết đất nước; những tư liệu sinh hoạt, đồ dùng trang trí xa
xỉ, xây dựng chùa chiền, cống phẩm…v.v Có thể nói rằng, nghề gốm trong thời kỳ nhà Trần đã và đang hoàn thành việc phân công xã hội lần thứ hai: thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, đồng thời những sản phẩm của nghề gốm đã biến thành hàng hóa, được trao đổi trong thị trường địa phương hoặc những vùng địa phương rộng lớn, đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền thương nghiệp thời kỳ nhà Trần
Nghề dệt: là một trong những nghề thủ công cổ truyền có từ rất lâu, gắn liền
với quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, anh dũng và đầy sáng tạo của tổ tiên trong công cuộc dựng nước và giữ nước Trải qua quá trình hình thành và phát
Trang 21triển lâu dài, đến thời kỳ nhà Trần nghề dệt đã có những bước tiến quan trọng so với các thời kỳ trước Số lượng đơn vị sản xuất tăng lên, phạm vi hoạt động nghề nghiệp ngày càng phổ biến Sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp, cho thấy trình độ
kỹ thuật ngày phát triển, sản phẩm đa dạng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh
tế nhà Trần nói chung và thương nghiệp thời kỳ nhà Trần nói riêng
Xưởng chế tạo vũ khí: nhà Trần vẫn tiếp tục duy trì các quan xưởng nhà
nước từ thời kỳ nhà Lý để phục vụ cho quân đội, những người làm việc trong các quan xưởng đều là những người có thân phận thấp kém, họ bị cưỡng bức lao động Sản phẩm mà họ tạo ra là nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho cung đình và quan lại, không phải là thương phẩm Sự tồn tại của nó không có tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hóa Tuy nhiên, nghề thủ công này, xét ở phương diện nào đó, cũng đóng vai trò nhất định trong triều đại nhà Trần khi luôn bị các thế lực ngoại bang lăm le xâm lược
Thủ công nghiệp nhân dân được xem là bộ phận quan trọng và phổ biến của tiểu thủ công, của tiểu nông bao gồm một số nghề như: nghề gốm, nghề rèn sắt, nghề đúc đồng, nghề làm giấy và khắc bản in, nghề mộc, nghề xây dựng và nghề khai khoáng Các nghề thủ công nghiệp nhân đều hết sức phát triển và tạo ra những sản phẩm chất lượng cao Đặc biệt phải kể đến sự phát triển của nghề dệt lụa, một nghề truyền thống lâu đời đã được phát triển rộng khắp cả nước “Ngay trong cung vua cũng có xưởng dệt lụa Những cánh đồng dâu xanh rì, tươi tốt mọc khắp các làng quê Nhà nước đã phải đặt ty phụ trách kho lụa để thu mua lụa của nhân dân và nghiêm trị những người thu thêm thuế lụa, để tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển đối với nghề thủ công truyền thống này” [75, tr 29]
Từ sự phân tích trên có thể thấy, sau nông nghiệp, thủ công nghiệp là ngành kinh tế khá quan trọng trong thời kỳ nhà Trần Tuy còn nhỏ bé, yếu ớt, tản mạn trong khuôn khổ kinh tế làng xã, kinh tế gia đình, nhưng thủ công nghiệp thời kỳ nhà Trần đã góp phần đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội đương thời lúc bấy giờ như: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, sinh hoạt…
Trang 22v.v Đây chính là một trong những nhân tố đóng góp vào sự phát triển hưng thịnh trong thời kỳ nhà Trần nói riêng và sự ổn định của Đại Việt nói chung trên con đường vươn mình trỗi dậy
Thứ ba, về thương nghiệp, sự phát triển của nông nghiệp và thủ công
nghiệp đã kéo theo sự phát triển của các ngành buôn bán Để thuận tiện cho việc buôn bán, ngay từ đầu nhà Trần đã rất lưu tâm trong việc kiến tạo một hệ thống giao thông thủy bộ trong cả nước “Năm 1244, Thái Tông lập ti thủy lộ đề hình với mục đích là mở rộng các đường sông và đường bộ từ Thăng Long về các phủ
lộ, chủ yếu là ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Thanh - Nghệ” [56, tr 209] Như vậy, việc mở rộng đường sông và đường bộ thời Trần không chỉ phục vụ cho nhu cầu
về chính trị, quân sự, mà còn phục vụ cho việc phát triển mạng lưới thương nghiệp trong nước Nếu ở thời nhà Lý, đường bộ, đường thủy chủ yếu là do các địa phương và nhân dân tự phát xây dựng, thì ở thời kỳ nhà Trần những công trình đó là do chính quyền địa phương, triều đình trực tiếp tổ chức và xây dựng
Trong quá trình phát triển lưu thông hàng hóa, các vị vua Đại Việt thời nhà Trần đã cho đúc tiền, ngoài ra còn sử dụng nhiều tiền của Trung Quốc Tiền
tệ lúc này đã đóng vai trò quan trọng trong xã hội, chức năng thanh toán của tiền tệ thời kỳ này đã phát triển rộng lớn Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, dùng tiền để mua quan chức Không những vậy, quan hệ tiền tệ còn thâm nhập cả vào trong đời sống chính trị và tín ngưỡng Hàng năm, nhà Trần có tổ chức lễ hội thề vào ngày 04 tháng 4 âm lịch tại đền Đồng Cổ, nếu ai vắng mặt trong lễ hội sẽ phải nộp phạt 3.500 đồng
Sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới thương nghiệp thời Trần còn được thể rõ nét thông qua hệ thống chợ, khắp nơi trong nước, chợ lớn, chợ nhỏ mọc lên Tại các xóm làng thường có chợ, khoảng hai ngày họp một phiên, hàng hóa
đa dạng và phong phú Cách khoảng vài cây số lại dựng một ngôi nhà ba gian, bốn phía đặt chõng để làm nơi họp chợ Cùng với sự xuất hiện của chợ là các phố buôn bán tập trung ở ven các con sông lớn như phố Luy Lâu (Thuận Thành,
Trang 23Bắc Ninh) bên bờ sông Dâu, phố Lố bên bờ sông Nghĩa Trụ (Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên) Sự kết hợp giữa chợ và phố đã tạo thành thị trường nội địa của hương, phủ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của các tầng lớp nhân dân trong vùng, của tiểu nông và các tầng lớp khác
Không chỉ buôn bán trong nước, việc buôn bán với nước ngoài trong thời đại nhà Trần cũng khá phát triển Với vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với nhiều quốc gia nên việc trao đổi buôn bán với các nước diễn ra khá thuận lợi, đặc biệt bằng đường biển Là mạch nối giữa Đại Việt và các nước xung quanh, đường biển đã trở thành tuyến đường giao thông quốc tế quan trọng Các cửa biển như Hội Thống, Cần Hải (Nghệ - Tĩnh), Hội Triều (Thanh Hóa) và nhất là Cảng biển Vân Đồn (Quảng Ninh) đều là những trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài Tuy nhiên, việc trao đổi, buôn bán hàng hóa với các thương nhân nước ngoài đều chịu sự kiểm soát khá chặt chẽ của nhà nước
Từ sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp, thương nghiệp đã hình thành nên các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của đất nước, tiêu biểu như đô thành Thăng Long, khu Tức Mặc - Thiên Trường Đô thành Thăng Long, ở thời Trần về căn bản không có sự thay đổi nhiều so với triều đại nhà Lý Về cấu trúc vẫn bao gồm: La thành, Hoàng Thành và Cấm thành, một số cung điện vẫn giữ nguyên so với thời Lý Về mặt kinh tế - xã hội, đô thành Thăng Long cũng có nhiều bước phát triển, sự phát triển đó cũng có tác động nhất định đến các vùng ven Trong đô thành lúc này, người buôn bán cũng bao gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng chủ yếu là những người trong các phường ở Thăng Long Sự giao thương, buôn bán với người nước ngoài cũng đã làm cho Thăng Long của nhà Trần ít nhiều mang dáng vẻ quốc tế của một đô thành Ngoài những người thợ thủ công kiêm buôn bán, thương nhân chuyên nghiệp, nông dân… trong đô thành Thăng Long còn xuất hiện các thương nhân người nước ngoài như người Tống, người Hồi Hột (ugur ở Trung Á theo đạo Hồi) Như vậy, nhìn tổng thể
có thể thấy rằng, kết cấu cư dân trong đô thành Thăng Long của nhà Trần bao
Trang 24gồm cả công, thương, nông, sĩ và quan chức Kết cấu này chính là kết quả của
sự phát triển từ một trung tâm chính trị, trở thành một trung tâm kinh tế - văn hóa của đô thành Thăng Long
Cách Thăng Long về phía đông nam 75km, nhà Trần còn cho xây dựng một khu trung tâm chính trị - kinh tế lớn của cả nước là khu Tức Mặc - Thiên Trường Đây là khu vực nghỉ ngơi của các thái thượng hoàng nhà Trần, được khởi công xây dựng vào năm 1239 Về thực chất, đây là khu tiêu thụ, chưa phải
là một khu sản xuất hàng hóa, là nơi tập trung tô thuế, ấn phẩm của các địa phương Tầng lớp thống trị tại đây, chủ yếu sống dựa vào nông thôn của cả nước Về mặt xã hội, có nhiều thành phần với nhiều nghề nghiệp khác nhau: sư tăng, học trò, thợ thủ công, thương nhân, điểm chung của những tầng lớp này đều sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và nông dân Thể chế chính trị phường, hương tại khu vực này là những đơn vị hành chính của chính quyền phong kiến Chính những hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa giáo dục của đô thành Thăng Long và khu Tức Mặc đã góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội của Đại Việt, tiêu biểu cho cả một nền văn hóa chung ở thời kỳ này
Như vậy, chính những tiền đề kinh tế nói trên của thời kỳ nhà Trần trong thế kỷ XIII đã góp phần to lớn đối với quá trình hình thành tư tưởng triết học ở Trần Thái Tông Đây chính là cơ sở thực tiễn để Trần Thái Tông hình thành nên tư tưởng thân dân, quan tâm tới đời sống của nhân dân, yêu thương con người Nói cách khác, chính điều kiện kinh tế nói trên, là nguồn gốc sâu xa cho
sự ra đời học thuyết về “Tâm hư - không”, để từ đó hình thành nên tư tưởng đem đạo vào đời cứu giúp chúng sinh ở Trần Thái Tông
1.1.2 Đặc điểm chính trị - xã hội thời nhà Trần với sự hình thành
tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Nhà Trần thay thế nhà Lý, mở ra một thời kỳ tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt Từ thế kỷ XIII đến giữa thế kỷ XIV nhà Trần đã kiến tạo một chính quyền rất vững vàng và năng động, đó là một nền chính trị thống
Trang 25nhất và ổn định Để có được sự ổn định và thống nhất đó, đồng thời để nâng cao hơn tính chuyên chế và tập trung quyền lực của triều đình, về mặt tổ chức chính quyền, vua Trần đã đề cao vị trí của bản thân, đồng nhất ngôi vua với quốc gia Năm 1250 hoàng đế Thái Tông xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là quốc gia Trần Thánh Tông - người kế vị Thái Tông từng khẳng định: “Thiên
hạ là của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên cùng với anh em trong họ hàng cùng hưởng phú quý Tuy bên ngoài là cả thiên hạ phụng sự một người, nhưng bên trong ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui cùng vui Các khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên Thế là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc vậy” [56, tr.177]
Để củng cố và đảm bảo thật vững chắc vị trí và khả năng nắm giữ chính quyền, các vua Trần đã đặt ra chế độ “Thái thượng hoàng” Mỗi vị vua của triều đại nhà Trần chỉ cống hiến, làm việc một số năm nhất định rồi lui về kinh đô thứ hai (khu Tức Mặc) để giữ vai trò làm cố vấn, nhường lại ngôi cho con Tuy giữ vai trò là người cố vấn, nhưng những vị Thái thượng hoàng của nhà Trần lại có quyền uy rất lớn trong triều đình, không chỉ có quyền chỉ định người kế
vị mà họ còn có quyền tước bỏ hoàng bào của hoàng đế khi cần thiết Chính chế độ Thái thượng hoàng của nhà Trần đã phần nào hạn chế được sự độc đoán của vua đương quyền và góp phần củng cố chính quyền của quý tộc họ Trần Ngoài ra, các vị vua nhà Trần còn luôn cố gắng thực hiện biện pháp liên kết dòng họ nắm chính quyền Hầu hết các chức vụ quan trọng trong triều đình, ở các địa phương lộ, phủ đều do tôn thất họ Trần nắm giữ “Quan chức lớn ở triều đình như thái sư, thái úy, bình chương sự, thái phó, thái bảo, thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo, tả hữu bộc xạ, tham tri chính sự và các chức võ quan cao cấp như đô nguyên soái, phó đô nguyên soái, tiết độ sứ, phó tiết độ sứ, đại tướng quân thì chỉ các tôn thất mới được nắm giữ” [56, tr 178]
Ngoài việc sử dụng biện pháp liên kết dòng họ nêu trên, để tạo thêm sự ổn định và vững vàng cho quyền lợi của dòng họ, nhà Trần còn áp dụng biện pháp
Trang 26kết hôn đồng tộc Vì muốn giữ gìn sự trường tồn của dòng họ, nhà Trần đặt ra nguyên tắc nghiêm cấm con trai, con gái kết hôn với người ngoại tộc Vì vậy, khi nghiên cứu gia phả nhà Trần có thể thấy những cuộc hôn nhân hết sức lộn xộn đã diễn ra, anh em con chú bác ruột lấy nhau như Trần Thủ Độ lấy Trần Thị Dung; cô cháu ruột lấy nhau như Thiên Thành công chúa (em ruột Trần Liễu) lấy Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu); chị em con chú con bác trực hệ lấy nhau như Khâm Từ, Tuyên Từ (con gái Trần Hưng Đạo) lấy Trần Nhân Tông (cháu nội Trần Thái Tông)…
Mặc dù đã nắm giữ được chính quyền và các chức vụ chủ chốt trong triều đình, nhưng nhà Trần vẫn phải xây dựng một bộ máy hành chính từ Trung ương đến các cấp địa phương, thu nhận người ở nhiều tầng lớp khác nhau Trong những năm đầu lãnh đạo đất nước, nhà Trần vẫn duy trì bộ máy chính quyền
cũ Nhiều quan chức của Nhà Lý vẫn được giữ lại làm trọng thần như Phùng
Tá Chu, Phạm Kính Ân Đến năm 1230, Trần Thái Tông đã ban hành Quốc triều thông chế, quy định lại tổ chức chính quyền, khiến bộ máy nhà nước thời Trần trở nên kỷ cương hơn, hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn với tình hình mới
Về tổ chức hành chính và quan lại: Cũng giống như thời Lý, người
trong nước gọi quốc hiệu của nước ta thời bấy giờ là Đại Việt, kinh đô được đặt ở Thăng Long Nhưng kinh đô Thăng Long vào thời điểm nhà Trần nắm giữ đã được bố trí quy củ và chặt chẽ hơn so với triều Lý Ở cơ quan trung ương
của triều đình, nhà Trần chia ra thành hai bộ phận, Thứ nhất: Bộ phận trung
khu, gồm các tể tướng, á tướng, tri mật viện sự và hành khiển ở môn hạ sảnh Đứng đầu trung khu là các quan chức có các danh hiệu như: tam thái, tam thiếu
và tam tư Thứ hai: các cơ quan chức năng, trong triều đình có Thượng thư sảnh
gồm có sáu bộ: lại, lễ, hộ, binh, hình, công quản lý các công việc như tổ chức
bộ máy hành chính, ngoại giao, tín ngưỡng, kinh tế, quân sự và xây dựng cơ bản Các cơ quan của sáu bộ nói trên càng về sau thì càng được tăng cường Dưới Thượng thư, trong cơ quan chức năng của nhà Trần còn có các chức thị
Trang 27lang, lang trung Ngoài ra còn có Hàn lâm viện được xem là cơ quan văn phòng của triều đình có chức năng soạn thảo các văn bản, chỉ dụ…Nhà Trần cũng rất chú ý tăng cường các cơ quan thanh tra, giám sát và tòa án Đặc biệt sau cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên kết thúc thắng lợi, nhà Trần tăng cường thêm bộ phận thanh tra, kiểm soát ở các địa phương phủ, lộ và đặt thêm các ty liêm phóng Ngoài các cơ quan chức năng nói trên, nhà Trần còn đặt ra những cơ quan phụ trách các công việc riêng như Quốc sử viện (biên soạn quốc sử), Quốc tử viện (phụ trách giảng dạy các hoàng tử, vương hầu), Thái y viện phụ trách việc chữa bệnh trong hoàng cung và trong coi thuốc men, tông nhân phủ theo dõi hoàng tộc
Ở các địa phương, chính quyền nhà Trần được chia thành ba cấp gồm phủ lộ, huyện châu và hương xã Đến năm 1242, nhà Trần đã đổi 24 lộ của triều nhà Lý thành 12 lộ Dưới phủ lộ là các châu, huyện và xã Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIII Đến năm 1297, nhà Trần đổi giáp làm hương, khu vực Trung du, miền núi thì hương được gọi là sách, động Chính quyền hương, sách có các xã quan, đây được coi là cấp cuối cùng trong đơn vị hành chính ở địa phương thời nhà Trần Xã quan bao gồm các chức vụ như: đại tư xã (có hàm từ ngũ phẩm trở lên, tiểu tư xã (có hàm từ lục phẩm trở xuống), xã trưởng, xã giám, các chức vụ này có nhiệm vụ quản lý hương xã, làm hộ tịch…v.v
Về cơ quan hành chính ở Thăng Long, nhà Trần chia kinh đô Thăng Long làm 61 phường Ở phủ lộ có hương, ở mỗi hương có đại tư xã (đại toát) hoặc tiểu tư xã (tiểu toát) cai quản Có thể nói rằng, bộ máy hành chính và quan lại thời kỳ nhà Trần tương đối cồng kềnh, đúng như Trân Nhân Tông đã phản ánh:
“Sao một nước bé như lòng bàn tay mà phong quan chức nhiều như thế” [85,
tr 104] Tuy nhiên, điều đặc biệt trong tổ chức quan lại nhà Trần, mặc dù quan lại có nhiều nhưng vua quan lại rất thân mật với nhau Những lúc có liên hoan vui vẻ, uống rượu xong vua quan có thể dắt tay nhau múa hát, thậm chí nằm
Trang 28ngủ chung giường, gác chân lên nhau, không giữ lễ phép nghiêm khắc như các triều đại khác
Về quan lại, việc tuyển dụng nhân tài ở thời đại nhà Trần thông qua các
kỳ thi ngày một quy củ hơn Bên cạnh các khoa thi Thái học sinh, Tam giáo để tuyển chọn những người hiền tài làm quan trong triều, nhà Trần còn tổ chức các kỳ thi lại để tuyển thư lại, bổ sung vào làm việc ở các cục, sảnh viện Không chỉ có vậy, nhà Trần còn sử dụng những người hay chữ (nho sĩ) không qua thi
cử để sử dụng, vào làm việc ở Trung thư sảnh, thậm chí sử dụng cả người bình dân vào làm việc ở Khu mật viện Khi đánh giá về thuật dùng người của các
hoàng đế nhà Trần, tác giả của cuốn sách: Lịch triều hiến chương loại chí -
Phan Huy Chú đã khẳng định: “Triều Trần dùng người thật là công bằng, tuy
đã đặt khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho
sĩ có chí hướng thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bó buộc hạn chế
về tư cách… chỉ cần người dùng được chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài văn học được thịnh cũng nhờ thế chăng?” [17, tr 22]
Trong thời kỳ đầu của triều đại, quan lại trong triều không được cấp ruộng đất, nhưng sau khi kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi, thì quan lại đã được hưởng chế độ này Điểm khác với thời kỳ nhà Lý đó là quan lại nhà Trần được nhà nước cấp lương bổng Năm 1236, vua Trần Thái Tông quy định lương bổng cho các quan văn võ ở cấp trung ương và các địa phương Qũy tiền lương được lấy từ nguồn thuế của các địa phương nộp về, hoặc các địa phương
tự chi trả Hơn nữa, ở thời Trần quan lại được phép nuôi người hầu, mức nuôi nhiều nhất khoảng 1000 người Vương hầu được phép nuôi gia nô, gia đồng, khi cần thiết được tổ chức quân đội riêng Thời chiến, các vương hầu được lệnh thống suất quân lính ở thái ấp của mình Nói tóm lại, bộ máy hành chính và quan lại thời Trần tuy có đôi chút cồng kềnh, nhưng so với thời Lý được tổ chức quy
mô hơn Chính sự củng cố quy mô bộ máy hành chính, cai trị đó của các vị vua nhà Trần đã góp phần củng cố thêm sức mạnh của nhà nước trung ương
Trang 29Về pháp luật: Cùng với sự hùng mạnh của nhà nước quân chủ tập quyền,
hệ thống pháp luật của thời Trần đã có những tiến bộ đáng kể so với thời Lý Nếu ở thời Lý chỉ có bộ Hình thư là duy nhất được ban hành vào năm 1042, thì thời nhà Trần ngoài những chiếu, lệnh, các văn bản đơn hành… còn ban hành thêm 5 bộ luật, áp dụng vào việc điều chỉnh các mối quan hệ khác nhau trong
xã hội Nổi bật nhất là sự xuất hiện của các bộ luật hoàn chỉnh như: Quốc triều thông chế, Quốc triều thường lễ, Công văn cách thức…v.v
Có thể nói rằng, hệ thống pháp luật thời nhà Trần phong phú cả về nội dung và hình thức Về mặt hình thức, các văn bản chiếu, lệnh, mặc dù chỉ mang mục đích điều hành, chỉ đạo các hoạt động của nhà nước trong một thời gian ngắn, nhưng thực chất nó vẫn có giá trị pháp lý như các quy phạm của luật đã được ban hành Xét về nội dung, các bộ luật do triều đình nhà Trần ban hành
đề cập đến nhiều lĩnh vực như luật tố tụng, luật hộ… đặc biệt là sự xuất hiện của ngành luật hành chính với nhiều bộ luật như đã nêu trên Nhìn chung hệ thống pháp luật thời Trần có những đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật triều đại nhà Trần khẳng định và củng cố sự phân
chia đẳng cấp Pháp luật nhà Trần bảo vệ đặc quyền đặc lợi riêng cho đại quý tộc và vua, riêng với họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử phạt nhẹ hơn:
“Ví như đầu năm 1283, thượng vị hầu Trần Lão viết thư nặc danh phỉ báng triều đình bị phát hiện được chuộc bằng 1000 quan tiền Gia nô tên là Khoáng đồng mưu thì bị tội lăng trì”[56, tr 188] Không những vậy, sự phân chia đẳng cấp trong hệ thống pháp luật thời Trần còn được thể hiện ở việc bắt buộc các
nô tì phải khắc chữ vào trán Nhà Trần còn ban hành quy định nếu các gia nô của các vương hầu, công chúa không thích chữ mang hàm hiệu của chủ thì sẽ
bị coi đó là giặc cướp, bị sung làm quan nô hoặc phải đi tù Đặc biệt luật pháp nhà Trần quy định rất cụ thể đối với tầng lớp nô tì tuyệt đối không được kết hôn với quý tộc Ở thời Trần, việc mua bán trao đổi, chuyển nhượng vợ con
Trang 30làm nô tì được diễn ra công khai và hợp pháp, tầng lớp nô tì trong thời kỳ nhà Trần chỉ được coi như một thứ vật sở hữu
Thứ hai, pháp luật thời Trần xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc
biệt là ruộng đất Luật pháp nhà Trần rất đề cao quyền tư hữu tài sản của nhân dân, đã có những chế định kế thừa di sản rõ ràng Trong hình luật có những quy định hết sức khắt khe, nếu như phạm phải tội giết người thì phải đền mạng, bắt được kẻ gian dâm thì được phép giết chết Ngoài ra còn có những biện pháp hình
sự hết sức nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tài sản của công nhân như ăn cướp thì phải xử trảm; ăn trộm lần đầu bị đánh 80 trượng và bị thích lên mặt hai chữ phạm đạo, phải bồi thường gấp chín lần món đồ đã lấy trộm, nếu ăn trộm lần thứ hai thì bị chặt tay, tiếp tục tái phạm lần thứ ba thì bị giết
Thứ ba, pháp luật nhà Trần chú trọng bảo vệ sản xuất nông nghiệp Đây
là một trong những điểm tiến bộ trong pháp luật của nhà Trần, luật pháp nhà Trần rất quan tâm tới việc bảo vệ sức lao động của dân Cụ thể là việc bảo vệ sức kéo và các công trình thủy lợi, những yếu tố quan trọng đối với nền sản xuất nông nghiệp Nhà Trần coi việc sửa chữa đê điều đó là công việc của toàn dân và của cả triều đình Các tháng 6, tháng 7 hàng năm các quan hà đê sứ phải thường xuyên kiểm tra, giám sát hệ thống đê điều chặt chẽ, tuyệt đối không được để ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của nhân dân Nếu để ảnh hưởng, thiệt hại đến mùa màng của dân thì tùy vào tội nặng nhẹ mà đưa ra những hình phạt thích đáng
Thứ tư, pháp luật nhà Trần đã đề ra những nguyên tắc xử lý tội phạm
công bằng, đúng người đúng tội, thấu tình đạt lý Trong quá trình xử phạt người phạm tội, nhà Trần đã biết dung hòa giữa tình và lý, tức là xét cả về những động lực xã hội và những động cơ tâm lý tạo nên hành vi phạm tội của các cá nhân
Ví dụ như trường hợp của Trần Khánh Dư vì thông dâm với con dâu của Trần Hưng Đạo đã bị phế truất tước vị và trở thành người bán than Nếu như không
có cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên và tinh thần từ bi hỷ xả của
Trang 31các vua Trần thì cuộc đời của vị tướng tài ba này cũng khó có cơ hội để thăng hoa Điều đó một phần cho thấy được tính nhân văn trong hệ thống pháp luật của triều đình nhà Trần
Tóm lại, bằng nhãn quan của nhà chính trị, các vị hoàng đế triều Trần đã xây dựng nên một hệ thống pháp luật khá quy củ, chặt chẽ, nghiêm khắc thể hiện khá rõ tinh thần dân tộc độc lập dân tộc, tự chủ Đồng thời hệ thống pháp luật đó cũng thể hiện được sự sáng tạo độc đáo, riêng biệt, mang đậm nét màu sắc Đại Việt, phù hợp với điều kiện kinh tế và nếp sống tinh thần của dân tộc
Về hoạt động ngoại giao: Tinh thần độc lập tự chủ của vua tôi nhà Trần
không chỉ được thể hiện trong hệ thống pháp luật mà còn được thể hiện đậm nét trong hoạt động ngoại giao Ngay từ khi nhà Trần mới thành lập, hoàng đế nhà Trần đã cho sứ giả sang đặt mối quan hệ ngoại giao hòa hảo với nhà Tống
và triều cống theo lệ cũ Đây là một kế sách hết sức khôn khéo của nhà Trần, chủ động hòa hiếu để giữ vững sự yên bình cho đất nước và nhân dân Bởi lẽ, thực tế lịch sử lúc bấy giờ đã đặt quân dân nhà Trần đứng trước những thách thức to lớn, đó là phải đối đầu với âm mưu bành trướng và ý đồ xâm lược của đế quốc Nguyên - Mông trong thế kỷ XIII Đứng trước thực tại ấy, năm 1258, vua Trần đã sai sứ giả sang Nguyên - Mông chủ động đặt quan hệ hòa hiếu, chấp nhận triều cống ba năm một lần Nhưng do tư tưởng bá chủ của các vị vua triều Nguyên - Mông, quyết tâm thực hiện âm mưu thôn tính và đồng hóa Đại Việt nên đã làm cho mối quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên căng thẳng Trước khi cuộc kháng chiến lần thứ nhất bùng nổ, để thể hiện tinh thần “tự quyết dân tộc” và ý chí quyết tâm đánh giặc vì chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, vua Trần đã ra lệnh bắt trói và giam giữ sứ thần Mông Cổ Đặc biệt, từ khi nước Tống
bị tiêu diệt, nhà Nguyên lại càng quyết tâm sát nhập Nguyên - Việt, chúng đã cố tình đặt ra những yêu sách vô lý để có cớ xâm lược Đại Việt Nhưng với tinh thần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vua Trần một mặt nhân nhượng những gì có thể chấp nhận được để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng; một mặt khéo léo từ
Trang 32chối không thực hiện những yêu sách vô lý của nhà Nguyên Sau khi chiến thắng quân Nguyên - Mông, quan hệ Việt - Nguyên đã hòa hữu trở lại như xưa Khi quan hệ giữa hai nước đã không còn căng thẳng, nhà Trần tìm mọi cách phát huy quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc của Đại Việt Đến khi nhà Trần suy yếu thì nhà Nguyên đã bị sụp đổ, nên cũng không còn cơ hội để thực hiện âm mưu đồng hóa, sát nhập Đại Việt nữa
Như vậy, thực chất hoạt động ngoại giao của vua tôi nhà Trần xét đến cùng là hướng tới việc bảo vệ và tiếp tục củng cố nền độc lập cho dân tộc Ngoài việc tìm kiếm thêm những đồng minh, quân dân nhà Trần luôn thể hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu đánh bại các âm mưu xâm lược của kẻ thù Đây là một chiến lược vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết và khôn khéo, vừa chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, vừa tiến hành đàm phán ngoại giao để tránh đi những thiệt hại không cần thiết cho đất nước Chính chiến lược này, về sau đã trở thành một mô hình cho chiến lược bảo vệ tổ quốc cho các triều đại và các thời kỳ sau trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam
Về tổ chức quân đội: Xuất phát từ tình hình nhiễu loạn cuối triều đại
nhà Lý, đồng thời phải đối phó với những cuộc tấn công của quân xâm lược Mông - Nguyên, do đó, cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước để ổn định xã hội, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức quân đội hùng mạnh
đủ sức để bảo vệ nền độc lập của dân tộc Trên thực tế, nhà Trần đã đạt được nhiều tiến bộ không những về mặt tổ chức, mà còn cả về kỹ thuật huấn luyện quân đội
Thứ nhất, về mặt tổ chức, cũng như thời kỳ nhà Lý, quân đội thời nhà
Trần có hai loại quân là cấm quân và quân các lộ Cấm quân là đội quân phụ trách việc bảo vệ an ninh cho kinh thành, quân số khá đông lên đến khoảng 10 nghìn người Chính vì chuyên phụ trách, bảo đảm an ninh cho kinh thành nên đội quân này không được tham dự khoa cử, bởi theo quy định của nhà Trần nếu
đi học tập văn chương, nghệ thuật thì sẽ kém về mặt chuyên môn võ thuật
Trang 33Quân các lộ, hay còn gọi là quân địa phương, là những người được tuyển lựa
từ số các thanh niên trai tráng ở các địa phương Đội quân này có nhiệm vụ phòng giữ địa phương trong lộ Ngoài hai loại quân trên, nhà Trần còn cho phép các quý tộc chiêu mộ quân đội riêng được gọi là lực lượng vũ trang của các quý tộc Khi có chiến tranh xảy ra, lực lượng này phải tham gia chiến đấu theo sự điều động của chính quyền trung ương Một đặc điểm nổi bật về mặt quân sự thời nhà Trần, đó là chính sách “ngụ binh ư nông” được nhà Trần tiếp tục phát triển trên cơ sở chiến lược quân sự mà nhà Lý đã đạt được Với chính sách này, nhà Trần đã vừa đảm bảo cho một nền kinh tế nông nghiệp có đủ nhân lực để phát triển, đồng thời luôn có một quân đội hùng hậu để chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ của quốc gia, đồng thời vừa đỡ tốn kém ngân sách nhà nước trong việc nuôi quân Có thể xem đây là một sự kết hợp giữa xây dựng kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang khá sáng tạo và độc đáo của các vị hoàng đế triều đại nhà Trần
Thứ hai, về đào tạo huấn luyện, do đặc điểm và yêu cầu của điều kiện
lịch sử, các vị vua triều đại nhà Trần đều rất chú trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự với phương châm quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông Với chủ trương đó, nhà Trần luôn chú ý nâng cao chất lượng binh lính bằng các biện pháp tuyển quân, tuyển tướng, huấn luyện binh pháp, rèn luyện tư tưởng và việc coi trọng võ thuật đã trở thành lối sống của trai tráng trong các tầng lớp xã hội, từ quý tộc cho đến nô tỳ thời kỳ nhà Trần “Năm 1253, cùng với việc thành lập Quốc học viện để giảng Tứ thư, Ngũ kinh, nhà Trần cho mở giảng võ đường như một trường võ bị để làm nơi giảng tập binh pháp, huấn luyện, đào tạo, võ quan” [75, tr 48] Qua đây có thể thấy, việc tăng cường đầu tư cho quốc phòng
và thực hiện những chính sách quốc phòng của các vị vua thời nhà Trần là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo Hàng loạt các cuộc chiến thắng Đông Bộ Đầu (1258), Hàm Tử, Tây Kết (1285) và đặc biệt là Bạch Đằng giang (1288) trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên là những hình ảnh tiêu
Trang 34biểu cho sức mạnh quân sự của thời kỳ nhà Trần trong thời kỳ hưng thịnh Đó
là quân đội có số lượng đông khi cần thiết, có chất lượng tinh nhuệ vào loại mạnh trên thế giới đương thời
Về mặt xã hội: Với nền tảng xã hội nhà Trần, được xây dựng ổn định và
vững chắc có cơ sở từ triều đại nhà Lý Trong quá trình cải tạo và xây dựng chính quyền quý tộc và củng cố phát triển nền kinh tế, văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, xã hội thời Trần có một kết cấu tương ứng với kết cấu kinh tế đang tồn tại, hay nói cách khác đó là một xã hội có sự phân hóa mạnh mẽ do tác động của nền kinh tế lúc bấy giờ, dẫn đến xã hội thời Trần tồn tại các giai tầng, giai cấp tương đối đa dạng
Thứ nhất, giai cấp thống trị, bao gồm quý tộc, tôn thất - quan lại trong
chính quyền quân chủ, đại biểu là nhà vua nắm giữ mọi quyền hành Các vua Trần giữ một vai trò đặc biệt, là người có quyền lực tối thượng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ vật chất cho đến đời sống tinh thần Về phương diện kinh tế, các vị hoàng đế của nhà Trần là người có quyền sở hữu tối cao trên danh nghĩa, với toàn bộ ruộng đất và tài sản của đất nước Về phương diện chính trị, nhà vua thâu tóm toàn bộ trong tay các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp, với một sự chỉ đạo thống nhất, vua có quyền bổ nhiệm, bãi miễn các quý tộc và quan lại trong hệ thống quan chức của triều đình Về mặt quân sự, các vị vua thời Trần đồng thời là tổng tư lệnh quân đội, trực tiếp chỉ đạo việc lựa chọn tướng tài, tuyển quân, luyện tập quân sĩ… Về phương diện văn hóa - giáo dục, nhà vua là các vị chủ tể trong các nghi lễ tôn giáo; đồng thời cũng là người có quyền đề xướng các kỳ thi, ra đề thi và tuyển duyệt người đỗ đạt trong các kỳ thi do triều đình tổ chức Trong quá trình lãnh đạo đất nước, nhà Trần
đã đặt ra những chính sách như mở rộng khoa cử, tuyển chọn quan lại, người tài bổ sung cho bộ máy nhà nước, khuyến khích khai hoang lập điền trang, đã tạo nên điều kiện cho những người thuộc tầng lớp bình dân có cơ hội tham gia quan trường, tham gia vào đội ngũ quan lại, quản lý xã hội Chính những tầng
Trang 35lớp này đã góp phần tạo nên sự biến động trong giai cấp thống trị vào cuối triều đại nhà Trần Ngoài hai bộ phận nêu trên, nhà chùa trong xã hội thời Trần với
tư cách là một chủ thể cũng là một bộ phận đáng kể trong xã hội Đại Việt thời nhà Trần thế kỷ XIII Bước sang thế kỷ XIV, tầng lớp trên trong giới tăng lữ (quý tộc) đã mất dần chỗ đứng trong xã hội và triều đình, nhường chỗ cho tầng lớp quan lại quý tộc quan liêu nắm giữ quyền lực
Thứ hai, giai cấp nông dân, chủ yếu là những người cày ruộng công xã
hoặc lĩnh canh của địa chủ Họ là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời họ cũng là giai cấp gánh vác nhiều nghĩa vụ nhất trong xã hội như: sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đóng thuế, đi lính, lao dịch, chiến đấu, bảo vệ đất nước Đầu thời
kỳ nhà Trần, giai cấp nông dân còn có cuộc sống tương đối dễ chịu, nhưng bước sang thế kỷ XIV, họ đã phải lâm vào cảnh cùng cực, bị bóc lột nặng nề Bước sang thế kỷ XIV, do sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên, nền tài chính kiệt quệ, do vậy thuế má và lao dịch ngày một tăng lên Trong những năm đầu của triều đại nhà Trần, người dân chỉ phải đóng thuế ruộng thì đến năm 1378, nhà nước tiến hành thu thuế thân, mỗi xuất đinh là 3 quan tiền, dẫn đến đời sống của người dân ngày càng khổ cực Không chỉ có vậy, việc kiện tụng, tranh chấp đất đai, kiêm tính ruộng đất ngày càng nhiều trong các làng
xã Vì vậy, những cuộc khởi nghĩa ở thời kỳ này đã liên tiếp nổ ra Tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa Ngô Bệ kéo dài 16 năm (1344 - 1360); các cuộc khởi nghĩa
do Trần Tề lãnh đạo bùng nổ vào năm 1354; các cuộc khởi nghĩa của Hồ Thuật
ở Diễn Châu - Nghệ An, Nguyễn Thanh ở miền sông Lương (sông Chu, Thanh Hóa), Nguyễn Kỵ ở Nông Cống - Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa của nhà sư Phạm
Sư Ôn lãnh đạo… diễn ra vào thập niên 80 của thế kỷ XIV Chính những cuộc khởi nghĩa này đã phá vỡ quan hệ cộng đồng làng xã, làm cho xã hội trở nên bị rối loạn
Trang 36Bên cạnh những người lao động nông dân làng xã, trong xã hội thời Trần còn xuất hiện tầng lớp thợ thủ công và thương nhân, chiếm một phần đáng kể trong xã hội Tầng lớp này xuất hiện là do sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp, họ là những người sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu của xã hội hoặc tạo điều kiện cho sự giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các địa phương diễn ra thuận lợi, góp phần tạo ra bộ mặt mới cho xã hội thời Trần Những người thợ thủ công sống chủ yếu ở các phường chợ của Thăng Long, ngoài ra họ còn sống rải rác ở các làng xã Mặc dù công việc chính là làm thủ công, nhưng họ vẫn gắn bó với đồng ruộng nông thôn Tầng lớp thương nhân, tuy mới hình thành nhưng cũng phát triển khá nhanh, phần đông họ cũng đều gắn bó với nghề nông và các nghề thủ công khác, một bộ phận thiểu số nhờ buôn bán với thương nhân nước ngoài đã trở nên giàu có, nhưng nhìn chung thân phận và địa vị của họ trong xã hội cũng không có sự thay đổi
Thứ ba, tầng lớp nô tỳ, là lực lượng lao động trong các điền trang và gia
đình quý tộc Tầng lớp này xuất thân từ nhiều nguồn gốc, đó là những người dân nghèo bán mình làm nô lệ, hoặc đó là những tội nhân, tù nhân bị sung làm
nô bộc, nô tỳ Trong tầng lớp này lại phân chia làm nhiều loại khác nhau: nô tỳ làm việc trong nhà quý tộc quan lại gọi là gia nô, hoặc tư nô và nô tỳ của nhà nước làm ở các đồn điền, làm ruộng và các công việc khác có tính chất công cộng của nhà nước Chính sự phát triển của nền kinh tế điền trang đã làm cho tầng lớp nô tỳ trong xã hội thời kỳ nhà Trần đã không ngừng tăng lên Xét trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội tầng lớp này có địa vị thấp nhất trong xã hội lúc bấy giờ, trong tay không có tư liệu sản xuất, cũng không có quyền sử dụng chính bản thân sức lao động của mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào chủ Trong xã hội, họ chỉ là những người cày thuê cuốc mướn, những người giúp việc, ở đợ Tuy nhiên, nô tỳ trong xã hội nhà Trần không bị miệt thị thái quá, mà nô tỳ trong triều đại nhà Trần vẫn được coi trọng, thậm chí có những người còn được cất nhắc lên làm gia tướng để đánh giặc Mặc dù không thuộc
Trang 37dạng tuyển quân của triều đình, nhưng họ lại là gia binh của chủ vương hầu, họ tham gia chiến đấu rất dũng cảm và cũng đã đạt được nhiều thành tích tiêu biểu như trường hợp Dã Tượng, Yết Kiêu Khi lập công họ không được ban thưởng chức tước nhưng đổi lại được ban thưởng ruộng đất như trường hợp của Phạm Ngãi, gia đồng của Hưng Hiếu Vương
Từ những đặc điểm chính trị - xã hội nói trên có thể thấy thời kỳ nhà Trần là một chế độ xã hội mang nhiều đặc điểm của chế độ phong kiến phương Đông, đó là một xã hội tồn tại chế độ sở hữu kép về ruộng đất, sự bóc lột địa tô hiện vật; sự tồn tại với một vai trò quan trọng của chế độ cộng đồng làng xã; sự phát triển lớn mạnh của chế độ điền trang, thái ấp… Đặc biệt trong xã hội thời
kỳ nhà Trần những đặc điểm của chế độ quân chủ đã hình thành và phát triển Tiêu biểu trong đó là chế độ sỡ hữu tư nhân về ruộng đất khá phát triển, các vua nhà Trần đã phong cấp cho các công thần nhiều đất đai để lập thái ấp và điền trang Cùng với chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, nhà Trần đã xây dựng một bộ máy quan liêu khá cồng kềnh Các chế định chính trị, pháp quyền được ban hành ngày càng chặt chẽ và cụ thể, điều đó cho thấy sự xác lập ngày càng vững chắc nền quân chủ ở nước ta Có thể nói, tuy vẫn là một chế độ quân chủ mang tính tập quyền cao, các vị vua nhà Trần đã tự đề cao vị trí của bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nước và tầng lớp quý tộc tôn thất chia nhau nắm giữ các vị trí chủ chốt trong triều đình Vua và các tôn thất liên kết tạo thành một bộ máy nhà nước mang tính chất chế độ quý tộc, đồng tộc rõ nét, sự phân hóa xã hội diễn ra khá sâu sắc Song đời sống của nhân dân Đại Việt ở thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV vẫn còn khá ổn định, bởi có sự chăm lo của nhà nước, mặc
dù phải trải qua ba cuộc kháng chiến đầy gian nan, vất vả và hy sinh to lớn Điều
đó phần nào cho thấy được tinh thần vì dân, vì nước của các vị hoàng đế của Đại Việt ở thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV nổi bật lên trong các vị hoàng đế đó là Trần Thái Tông, một con người nhân từ, trung hậu, hết lòng lo cho nước, cho dân Chính những đặc điểm chính trị - xã hội nói trên tiếp tục trở thành những
Trang 38tiền đề để góp phần hình thành và hoàn thiện tư tưởng về “tâm hư - không” trong triết học của Trần Thái Tông, được thể hiện đầy đủ ở cả ba phương diện, bản thể luận, nhận thức luận, và triết lý đạo đức nhân sinh
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG
1.2.1 Giá trị tinh hoa của tư tưởng truyền thống Đại Việt với sự hình thành tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Tư tưởng triết học của vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Trần vừa là sự phản ánh và chịu sự chi phối bởi chính điều kiện và yêu cầu của lịch sử - xã hội trong thế kỷ XIII, vừa là sự kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng và văn hóa của dân tộc Những giá trị đó không chỉ bao gồm các giá trị vật chất, mà còn bao gồm cả những giá trị tinh thần đã được toàn thể dân tộc sáng tạo trong thực tiễn dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm trước đó Sự sáng tạo ấy không chỉ tạo ra bản sắc, cốt cách của cả một dân tộc, mà sự sáng tạo đó còn cho thấy được tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân Việt Nam đối với quốc gia, dân tộc Yêu nước là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc, là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp của toàn nhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng
Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước ngay khi vừa mới hình thành đã gắn bó chặt chẽ với quê hương xứ sở, với danh dự và phẩm giá của con người trong một cộng đồng dân tộc nhất định Ở Việt Nam, truyền thống yêu nước đã trở thành một dòng chảy, một sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng của cả dân tộc từ ngàn xưa đến nay Thực tế lịch sử đã cho thấy rằng: “Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành tư tưởng chủ yếu, một triết lý xã hội và nhân sinh quan của người Việt Nam, dẫn dắt con người Việt Nam vượt qua những khó khăn, đi lên từ
sự đói nghèo, khổ nhục, để đạt đến sự thăng hoa của dân tộc” [75, tr.57]
Từ sự khẳng định trên có thể thấy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta đã được hình thành từ rất sớm, gắn liền với hai đặc điểm nổi bật của dân tộc đó là dựng nước và giữ nước Dựng nước và giữ nước là hai quá trình xuyên suốt,
Trang 39đan xen và không tách rời nhau từ thời kỳ lập quốc của dân tộc ta cho đến nay Trong quá trình dựng nước và giữ nước ấy chính tình yêu nước nồng nàn của toàn thể nhân dân Việt Nam đã hóa thành “lực lượng vật chất” vững chắc, đưa đất nước ta vượt qua mọi thăng trầm, biến cố trong lịch sử Thật vậy, ngay từ thời cổ đại, thời đại mà đất nước còn mang tên gọi Văn Lang - Âu Lạc, chúng
ta đã phải đương đầu với những thế lực hết sức hùng mạnh từ phương Bắc tràn qua, hòng thực hiện âm mưu thôn tính đất nước ta Suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mặc dù phải sống dưới sự đô hộ tàn khốc, nặng nề qua các triều đại phong kiến Trung Hoa, nhưng với ý chí quật cường, với tinh thần “thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” toàn thể dân tộc ta đã quyết tâm đứng lên đấu tranh giành cho được độc lập Tư tưởng yêu nước của người Việt còn được biểu hiện thông qua tình cảm, tình yêu gia đình, gia tộc, làng bản Khi có giặc ngoại xâm, mỗi gia đình, làng bản đều chung tay, góp sức để đánh giặc Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân sang xâm lược nước ta, Thục Phán đã chỉ huy tiến hành chiến tranh du kích, kháng chiến chống Tần diễn ra suốt 10 năm và cuối cùng cũng giành được thắng lợi Với thắng lợi này, Thục Phán - An Dương Vương được dân ủng hộ xây thành Cổ Loa kiên cố, với những mũi tên đồng lợi hại khiến kẻ thù phải khiếp sợ Sức mạnh quân sự tổng hợp của thành Cổ Loa là kết quả của tài thao lược và nghệ thuật quân sự tài tình của An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc, khẳng định được ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước Đến những năm 179 TCN nước ta bị nhà Triệu xâm lược, sau đó nhà Hán chiếm Nam Việt, đổi tên là Giao Chỉ bộ, chia nước ta làm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam
Với ý chí quyết tâm giành cho được độc lập cho nước nhà, vào những năm 40 - 43, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi ủng hộ, nhanh chóng kết thành những làn sóng vô cùng mạnh mẽ tấn công vào thành Luy Lâu - trụ sở của nhà Hán, khiến cho thái thú Tô Định phải khiếp sợ và bỏ chạy về nước Tiếp theo sau đó, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ khác
Trang 40mang tính chất dân tộc sâu sắc đã bùng nổ và thắng lợi như: khởi nghĩa Bà Triệu,
Lý Bí, Mai Thúc Loan,… và Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở ra một kỷ nguyên độc lập cho dân tộc ta Đây chính là hệ quả tất yếu mà toàn thể nhân dân ta xứng đáng được đền đáp bởi sự kiên trì, sự cố gắng không mệt mỏi vì nền độc lập nước nhà
Có thể khẳng định rằng, tuy đất không rộng, người không đông, nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn cùng với sự đoàn kết bền chặt đã tạo thành một bức tường thành vững chắc, kiên cố mà không có một thế lực nào, không
có một thứ giáo mác, bom đạn nào có thể xuyên thủng được bức tường thành
ấy Tấm lòng yêu nước của người Việt Nam đã khiến cho họ không chịu khuất phục, không chấp nhận sự đô hộ của các thế lực ngoại bang Họ đã dũng cảm đứng lên đấu tranh, chấp nhận sự hy sinh gian khổ vì sự sống còn của dân tộc,
dù có thất bại nhưng vẫn không sờn lòng nản chí Chính nhờ tinh thần và ý chí kiên cường đó, ta đã đánh bại được dã tâm xâm lược, thống trị và âm mưu Hán hóa của phong kiến phương Bắc Để rồi, trải qua biết bao nhiêu biến cố thăng trầm, biết bao nhiêu năm tháng “ta lại là ta mà không bị mất đi điều thiêng liêng nhất: tiếng nói, phong tục, tinh thần Văn Lang - Âu Lạc và sức mạnh của trống đồng Đông Sơn.; duy trì và phát huy được những truyền thống quý báu, hào hùng của dân tộc qua những ngày giỗ tổ Hùng Vương, những lễ hội dân gian; qua việc thờ các vị thần, các anh hùng dân tộc có công với nước với dân dưới thời Bắc thuộc… Những nét văn hóa ấy mang đậm màu sắc dân tộc, là một thứ
vũ khí mạnh hơn bất cứ loại vũ khí nào trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm của người dân Việt Nam” [75, tr 59]
Bước sang thời kỳ độc lập, song song cùng với quá trình xây dựng quốc gia phong kiến Đại Việt, chủ nghĩa yêu nước của dân tộc trong thời kỳ này cũng được phát triển và có nhiều điểm nổi bật tô điểm thêm sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước của thời kỳ này gắn liền với những chiến công lừng lẫy, vang dội trong các cuộc