Tính cấp thiết của đề tài Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng và nhân dân ta khởi xướng và tiến hành, cùng với nhiệm vụ phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị – xã hộ
Đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị – xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần – cơ sở xã hội hình thành tư tưởng triết học Trần Nhaân Toâng
Khái quát đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị – xã hội thời kỳ nhà Trần
1.1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị – xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần
Là hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông một mặt phản ánh và bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần; mặt khác, là sự kế thừa những tiền đề tư tưởng, tôn giáo trước đó Đúng như C Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [41, tr 156] Do đó, nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông không thể không tìm hiểu điều kiện lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành tưởng triết học của ông
Sau thời kỳ hưng thịnh, từ khoảng giữa thế kỷ XII trở đi, triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng Thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành khắp nơi làm cho nền kinh tế ngày càng sa sút Bên cạnh đó, do bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn đến tình trạng
11 ở nhiều địa phương, các thế lực địa chủ phong kiến đã tập hợp lực lượng nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng cát cứ phân quyền Nổi bật trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ là tập đoàn quân sự của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình) Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần được triều đình trọng dụng đã thao túng quyền bính và dần thâu tóm mọi quyền lực trong tay Tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang dòng họ Trần một cách êm thấm trong hoàng cung và triều đình mà hầu như không có tác động gì làm xáo trộn xã hội
Năm 1225 Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu là Huệ Quang đại sư Theo sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh “Mùa đông, tháng 12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền vị của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung”
[85, tr.7] dưới sự giúp đỡ, ủng hộ của Trần Thủ Độ và họ hàng Nhà Trần trải qua các triều vua đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm phát triển các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thúc đẩy xã hội tiến lên một bước đáng kể Dưới triều Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, đất nước ta trải qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285, cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288) nâng cao vị trí nhà Trần trong lịch sử
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, năm 1240 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã Đại
Việt sử ký toàn thư viết: “Nhâm Dần/ Thiên Ứng/ năm thứ 11/ 1242
(Tống Thuần Hựu năm thứ 2) Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12 lộ Đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị Các xã, sách thì đặt chức đại, tiểu tư xã Từ ngũ phẩm trở lên là đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là tiểu tư xã Có người làm kiêm cả 2, 3, 4 xã cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là xã quan” [85, tr 19] Nhà vua nắm quyền lực tối cao quyết định tất cả, nhưng để tránh tình trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ Thái Thượng hoàng Các vua thường truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự Chế độ quan lại nhà Trần nói chung cũng giống như của nhà Lý nhưng có quy củ và đầy đủ hơn Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung mọi quyền lực về dòng họ mình Ở địa phương buổi đầu nhà Trần cũng phong cho một số vương hầu đi trấn trị các vùng quan trọng (ví như Trần Quốc Khang coi Diễn Châu, Trần Nhuật Duật coi Thanh Hóa, Trần Khánh Dư coi Vân Đồn…) Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất làm việc, nhà nước cấp cho mỗi người một vùng đất lớn nhỏ tùy theo thứ bậc gọi là thái ấp Nhà nước cũng cho phép các quan lại tôn thất cao cấp được xây dựng dinh thự, phủ đệ riêng, khi có việc mới phải vào chầu và làm việc ở kinh sư Năm 1266, do yêu cầu mới về kinh tế và chính trị, vua Trần lại ra lệnh cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân lưu vong đi khai hoang lập trang trại riêng, tạo thành một mạng lưới tôn thất nhà Trần trấn trị khắp nơi trong nước Trong buổi đầu, chủ trương này có lợi cho việc củng cố chính quyền trung ương của nhà Trần, nhưng về sau lại dẫn đến xu hướng cát cứ Kinh nghiệm của nhà
Lý buộc nhà Trần đặt ra lệnh riêng: người trong họ không được lấy vợ khác họ
Tuy nhiên, nhà Trần vẫn không thể phá vỡ được quy luật phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền Ngay khi tập trung những quyền lực trong triều vào tay các vương hầu, quý tộc họ Trần, các vua Trần phải sử dụng một số quan chức không phải họ Trần, giữ chức vụ quan trọng trong triều Trần như trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát sau này…
Tiếp tục những chính sách của thời Lý, nhà Trần mở khoa thi để chọn quan lại Ngoài ra, những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn sử dụng Phan Huy Chú (sử gia thế kỷ XIX) có nhận xét: “Triều Trần dùng người thật là công bằng, tuy đã đặt khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho sĩ có chí hướng thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bó buộc hạn chế về tư cách…, chỉ cần người dùng được chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài văn học được thịnh cũng nhờ thế chăng?” [9, tr 22]
Có lẽ trong buổi đầu, quan lại không được cấp ruộng đất, sau kháng chiến chống giặc Nguyên mới phát triển chế độ này Quan lại được phép nuôi người hầu với mức nuôi nhiều nhất là 1.000 người Vương hầu được phép nuôi gia nô, gia đồng, khi cần được tổ chức quân đội riêng Thời chiến, vương hầu được lệnh thống suất quân lính ở thái ấp của mình Năm 1283, chuẩn bị chống ngoại xâm, nhà vua giao cho Trần Quốc Tuấn đốc suất vương hầu chiêu mộ binh lính, sắm sửa vũ khí tham gia kháng chiến Nói chung bộ máy quan lại thời Trần được tổ chức quy mô hơn thời Lý, bộ máy nhà nước đó đã góp phần củng cố sức mạnh của nhà nước trung ương
Về tổ chức quân đội, nhà Trần thay nhà Lý, cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước để ổn định xã hội, củng cố chính quyền phong kiến trung ương tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập của dân tộc Quân chủ lực nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm quân và quân các lộ (ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là thiên binh) Quân đội nhà Trần là một đội quân thiện chiến, được trang bị, tổ chức và huấn luyện tốt, có nhiều kinh nghiệm bởi đã trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông Lực lượng quân sự thời Trần bao gồm các thành phần chủ yếu: 1) Quân chủ lực của triều đình; 2) Quân của lộ phủ, châu; 3) Quân của quý tộc tôn thất; 4) Lực lượng dân binh (hương binh) trong làng xã, động, bản
Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp được lực lượng quân đội lớn mạnh, đông đảo chủ yếu còn do thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự theo chính sách “ngụ binh ư nông” Quân số thời bình theo Phan Huy Chú thì cả “cấm vệ và các lộ khoảng mười vạn người” Có thể xem đây là chủ trương kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang khá sáng tạo và độc đáo của thời đại đó
Nhìn chung, do đặc điểm và yêu cầu của điều kiện lịch sử nên nhà Trần là triều đại rất coi trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự Luôn chú ý nâng cao chất lượng binh lính bằng các biện pháp tuyển quân, tuyển tướng, huấn luyện binh pháp, rèn luyện tư tưởng và việc coi trọng võ thuật đã trở thành lối sống của trai tráng trong các tầng lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ thời kỳ nhà Trần Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông đã thể hiện tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của nhà Trần trong thế kỷ
XIII là đúng đắn, sáng tạo Đó là quân đội có số lượng đông khi cần thiết, có chất lượng tinh thần vào loại mạnh trên thế giới đương thời Hàng loạt các chiến thắng Đông Bộ Đầu (1258), Hàm Tử, Tây Kết
(1285) và đặc biệt là Bạch Đằng (1288) là hình ảnh tiêu biểu của quân đội Đại Việt thời Trần trong thời kỳ hưng thịnh
Về luật pháp, năm 1230, Trần Thái Tông ban hành Quốc triều thông chế (20 quyển) quy định về tổ chức chính quyền Sau đó qua vài lần sửa chữa và bổ sung nhà Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật Cơ quan luật pháp thời Trần cũng được tăng cường và hoàn thiện hơn Pháp luật và tổ chức tư pháp thời Trần có mấy đặc điểm sau:
Trước hết pháp luật đời Trần khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp Đại quý tộc trước hết là hoàng gia và vua được pháp luật bảo vệ các đặc quyền đặc lợi Riêng với họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn Luật bắt buộc các nô tỳ phải thích chữ vào trán, mang hàm hiệu của chủ, nếu không bị coi là giặc cướp, nhẹ thì sung làm quan nô, nặng thì tù Nô tỳ không có quyền kết hôn với quý tộc Đáng lưu ý là trong xã hội sự ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm, còn lễ giáo Nho giáo sự ảnh hưởng trong nông thôn chưa sâu sắc lắm, ý thức về tông tộc tông pháp trong dân gian hãy còn mờ nhạt, phong tục tập quán vẫn giữ tính bản địa
Sự phát triển văn hóa, giáo dục thời kỳ nhà Trần
Trên cơ sở sự phát triển về kinh tế, chính trị – xã hội, nền văn hóa giáo dục của nước Đại Việt thời kỳ nhà Trần cũng phát triển mạnh và đạt được những thành tựu rực rỡ, góp phần hình thành phát triển tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Trước hết, về giáo dục tiếp tục kế thừa phát triển khoa cử thời kỳ nhà Lý sang thời kỳ nhà Trần, được sự quan tâm của nhà nước, việc học và thi cử đã đi vào nền nếp, quy củ Năm 1253 nhà nước cho lập Quốc học viện để đào tạo nhân tài Tiếp sau đó, ở Thăng Long và các địa phương trong nước trường lớp được dựng lên khá nhiều Tuy nhiên, số trường do nhà nước quản lý lại rất ít Năm 1281, Trần Nhân Tông lập thêm nhà học ở phủ Thiên Trường Những trường lớp do nhà nước trực tiếp đứng ra tổ chức là những trường lớp thuộc cấp nhà nước Ngoài ra ngay tại Thăng Long và các vùng lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình cho tới tận Thanh Hóa, Nghệ An đều có thêm nhiều trường lớp, nhiều học trò và tham gia thi cử ở các trường này Năm
1256, nhà nước mới phân chia làm "kinh trạng nguyên" và "trại trạng nguyên", nhưng học ở Thanh Hóa trở vào gọi là "trại"; học trò ở Trường Yên (Ninh Bình) trở ra gọi là "kinh" Nhưng sự phân chia này chỉ tồn tại trong vòng 20 năm, đến năm 1275 lại hợp nhất
Ngoài các trường, lớp do nhà nước tổ chức còn có một số trường tư, đó là các trường lớp của Chiêu Quốc vương Ích Tắc và của Chu Văn An, những trường này đều ở Thăng Long Các loại trường này đều song song tồn tại và đều có vị trí trong đời sống xã hội của đất
27 nước Tuy vậy, trừ những trường hợp do nhà nước quản lý là có quy chế rõ ràng, còn các loại trường lớp khác việc học hết sức tùy tiện, ai đến học nghe thầy giảng là tự do không bắt buộc Mãi đến cuối thời Trần vào năm 1397, nhà nước mới ban ra một quy chế về việc giáo dục, thi cử như sau: "Nay quy chế ở kinh đã đủ mà ở châu huyện thì thiếu, làm thế nào để mở rộng đường giáo hóa cho dân ? Nên lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu để chỉ dùng cho việc học trong phủ châu mình Lộ quan và quan đốc hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghề, cứ đến cuối năm chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc." [85, tr 192]
Về khoa cử, năm 1232 nhà Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho việc thi cử ở nước ta gọi là Thái học sinh, được tổ chức thường xuyên
7 năm một kỳ Bên cạnh khoa thi trên nhà Trần còn mở các kỳ thi tuyển chọn các nho sinh hay chữ vào các quán, các sảnh, viện [85, tr
36] và mở các khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Đạo) Năm 1247 nhà Trần đặt lệ lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Về phép thi, nhà Trần quy định nội dung thi tứ kỳ: “Trước hết thi ám tả thiên Y quốc và truyện Mục thiên tử để loại bớt Thứ đến thi Kinh nghi, Kinh nghĩa, đề thơ (tức thể cổ thi ngũ ngôn trường thiên) hỏi về
“vương độ khoan mãnh”, theo luật “tài nan xạ trĩ”, về phú thì dùng thể tám vần “đế đức hiếu sinh, hiệp vụ dân tâm” Kỳ thứ ba thi chế, chiếu biểu Kỳ thứ tư thi đối sách [85, tr 88] Đến năm 1396 nhà Trần xuống chiếu quy định lại cách thi cử Dùng thể văn tứ kỳ bãi bỏ cách viết ám tả Kỳ thứ nhất thi kinh nghĩa Kỳ thứ hai thi thơ phú Kỳ thứ
28 ba thi chiếu, chế, biểu Kỳ thứ tư làm một bài văn sách Cứ năm trước thi hương thì năm sau thi hội, người đỗ thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc [85, tr 189]
Nội dung học và thi cử thời kỳ nhà Trần bao gồm một số nội dung chính trị, đạo đức của Nho giáo và Phật giáo Tuy nhiên, do thời kỳ nhà Trần, nhất là thời Trần Nhân Tông, Phật giáo phát triển cực thịnh nên trong nội dung giáo dục thời kỳ này triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo không chỉ trở thành nền tảng đạo đức xã hội, mà còn có mặt trong nội dung giáo dục khoa cử
Trong thời gian tồn tại, trước sau nhà Trần đã tổ chức được 14 khoa thi gồm các kỳ thi tuyển Thái học sinh, chế khóa, thi lại viện để tuyển lựa trong đám nho sĩ người tài bổ vào làm trong các quán, các, sảnh, viện và một số khác thi tam giáo, với 273 người đỗ Thái học sinh
Hàng loạt các nho sĩ đỗ đạt từ các khóa thi trên đã được tuyển dụng bổ sung vào các chức vụ khác nhau trong bộ máy chính quyền nhà nước, từ trung ương đến địa phương, đã đóng góp đáng kể vào công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền quân chủ quý tộc Trần Ở thời nhà Trần cũng có nhiều trường hợp các nho sinh không qua thi cử mà vẫn được tuyển dụng vào làm quan Sử cũ chép, vào năm 1267,
“chọn những nho sinh hay chữ bổ vào Quán, các, sảnh, viện” “Theo chế độ cũ không phải là nội nhân (hoạn quan), thì không được làm hành khiển, chưa bao giờ dùng nho sĩ văn học Bắt đầu từ đây, nho sĩ văn học mới được giữ quyền bính” [85, tr 36] Qua đó chúng ta thấy việc tuyển dụng, đề bạt nhân tài đã thể hiện chính sách dùng người, tuyển dụng quan lại của nhà Trần là rất năng động, sáng tạo
Sự phát triển của Nho học và nền giáo dục khoa cử thời Trần đã góp phần phổ cập Nho giáo trong nhân dân với các quan niệm phổ biến về tam cương, ngũ thường, trung quân Về sau nhiều nhà nho, nhiều tiến sĩ không ra làm quan, ở nhà dạy học đã sản sinh ra nhiều thầy giáo xuất sắc mà tiêu biểu nhất thời bấy giờ là Chu Văn An Một truyền thống tôn sư trọng đạo đã hình thành và bắt đầu tỏa sáng
Thời Trần, Phật giáo thịnh hành trên cơ sở phát triển từ thời Lý Trong buổi đầu, vua Trần không chỉ sùng Phật mà còn có ý thức sử dụng Phật giáo như một công cụ tư tưởng vì mục đích tu dưỡng đạo đức, củng cố khối đại đoàn kết nội bộ vương hầu quý tộc, cố kết xã hội xung quanh nhà nước quân chủ quý tộc Trần Với ý thức tự lập, tự cường của một dân tộc đã từng hiên ngang lật đổ ách đô hộ hơn một ngàn năm, xây dựng cơ đồ vững mạnh từ Đại Cồ Việt đến Đại Việt, từng nhiều lần đánh bại quân xâm lược, các vua Trần từ đầu đã xây dựng nên thiền phái Trúc Lâm mang đậm màu sắc dân tộc
Phật giáo thời Trần không chủ trương xuất thế mà chấp nhận và gắn bó với cuộc sống đời thường không tìm nơi ẩn tránh ở thiên nhiên mà hòa vào thiên nhiên, thuận theo thiên nhiên để tu dưỡng diệt dục, loại trừ những ham muốn trần tục Khác với nhà Lý, nhà Trần cũng sùng Phật, theo Phật nhưng không đầu tư quá nhiều vào dựng chùa, đúc chuông, đúc tượng, mặc dù chùa chiền mọc lên khắp nơi, hẳn là do tín đồ Phật có mặt đông đảo trong làng xã tự nguyện đầu tư xây dựng Duy nhất có một lần vào năm 1256, Trần Thái Tông có đúc 330 quả chuông bằng đồng Có lẽ nổi bật nhất trong chùa chiền thời Trần là khu vực Yên Tử gồm các chùa Giải Oan, Vân Yên, Vân Tiêu rải trên triền núi cao, trở thành trung tâm Phật giáo đương thời đồng thời
Những tiền đề lý luận và tôn giáo hình thành tư tưởng triết học Traàn Nhaân Toâng
Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Với tư cách là nhà văn hóa, nhà tư tưởng, cuộc đời của Trần Nhân Tông nói chung, tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông nói riêng là sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc, thể hiện ở ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc
Trước khi các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược nước ta cũng như trước khi Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo du nhập Việt Nam, dân tộc Việt đã có một lịch sử dựng nước sớm, một nền văn minh lâu đời, đó là nền văn minh Sông Hồng và việc hình thành nhà nước sơ khai – nhà nước Văn Lang (khoảng năm 700 – 258 trước Công nguyên) và nhà nước Âu Lạc ( khoảng năm 257 – 208 trước Công nguyên); với “trình độ văn hóa khá cao, có xã hội tổ chức thành quy củ, tồn tại lâu dài hình thành hàng ngàn năm’’ [28, tr 106], có phong tục tập quán, có ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, có công cụ kỹ thuật sản xuất cùng với các phương thức sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú hình thành từ rất sớm, qua các nền văn hóa Phùng Nguyên (2000 – 1500 tr CN), Đồng Đậu (1500 – 1100 tr CN), Gò Mun, Sơn Vi, Hòa Bình, Đông Sơn (khoảng thế kỷ VII trước CN đến thế kỷ II sau CN) “biểu hiện bằng các món dụng cụ, trang sức, trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách, v.v… mà người Việt Nam hiện đại rất tự hào” [27, tr 57]
Về kinh tế, người Việt cổ đã biết chế tạo và sử dụng vật dụng sản xuất bằng đồng sau đó là bằng sắt, biết chăn nuôi gia súc và trồng lúa nước Trên lĩnh vực tư tưởng người Việt cổ đã biết ý niệm về sự đối xứng, biết tư duy phân loại và tổng hợp, đặc biệt đã hình thành tư duy phân đôi lưỡng hợp với những quan niệm về thế giới và nhân sinh, về cội nguồn của dân tộc rất phong phú và không kém phần sâu sắc; như quan niệm về tứ phủ, quan niệm về “cha rồng – mẹ tiên”,
“Sơn Tinh – Thủy Tinh”, về Thần trụ trời và các cặp khái niệm phân đôi lưỡng hợp như “cao – thấp”, “khô – ướt”, “chim – rắn”… Họ cũng
35 đã tin vào sự luân hồi, tuần hoàn của vạn vật và sự tồn tại linh hồn của con người sau khi chết
Về mặt tôn giáo, chúng ta biết trước khi tiếp nhận những tôn giáo ngoại lai, người Việt cổ cũng đã có tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình, bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước Đó là tục thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng đa thần giáo Họ tin và thờ cúng các vị thần linh như Trời, Sấm sét, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Ông Địa, Ông Táo, thần bảo trợ mùa màng như Thần Lúa, Mẹ Lúa và các vị thần theo những hiện tượng tự nhiên như Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện… Theo họ, các vị thần này rất linh thiêng, đầy quyền năng và có nhiều phép lạ xuất hiện ở mọi nơi để trừng phạt những kẻ gieo điều ác, giúp đỡ khen thưởng những người hiền lành, nghèo khổ
Việc hình thành một nền văn hóa và hình thức nhà nước phôi thai sớm cùng với việc dân tộc ta liên tiếp phải chống lại các cuộc xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc, đã giúp cho dân tộc ta hình thành ý thức về quốc gia dân tộc, về tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc và tinh thần yêu nước rất sớm thể hiện trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ! [94, tr 321]
Tinh thần quốc gia dân tộc, độc lập tự chủ và tinh thần yêu nước ấy đã được kế thừa và phát huy rực rỡ dưới triều đại nhà Trần nói chung, dưới thời Trần Nhân Tông nói riêng, qua công cuộc xây
36 dựng, kiến thiết một nước Đại Việt thống nhất, có nền văn hóa độc lập và qua ba lần chống lại cuộc xâm lược tàn bạo của giặc Nguyên – Mông với tinh thần “Sát Thát”, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền đất nước Có thể nói, dưới triều đại nhà Trần tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, thống nhất quốc gia dân tộc phát triển đến đỉnh cao Với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà văn hóa, nhà chính trị, Trần Nhân Tông đã biết kế thừa truyền thống văn hóa và tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử, hòa quyện chính trị với tư tưởng văn hóa, để phục vụ cho mục đích dựng nước và giữ nước Với tinh thần ấy, dưới triều đại của Trần Nhân Tông đã có hai Hội nghị lịch sử: Hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than năm 1282 và Hội nghị Diên Hồng năm
1284 ? được mở ra, thể hiện ý chí và tinh thần quyết chiến của dân tộc Việt Nam Dưới triều đại của Trần Nhân Tông tinh thần yêu nước và ý thức độc lập dân tộc còn được kế thừa và thể hiện qua tình cảm mãnh liệt và hào hùng của Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm ” [95, tr 387] và ý chí khảng khái trước quân thù của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” [84, tr 507] Tinh thần yêu nước ở thời đại nhà Trần còn thể hiện trong những vần thơ đầy khí phách và niềm tự hào của Trần Quang Khải:
“Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.” [95, tr 424]
Tinh thần yêu nước và ý chí độc lập dân tộc được Trần Nhân Tông kế thừa và phát triển đến đỉnh cao, còn được thể hiện ở chỗ, ông đã biết chắt lọc, dung hợp các nguồn tư tưởng trong quá khứ của dân tộc với Triết lý nhân sinh của Nho, Lão, Phật và đặc biệt là tư tưởng triết học Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ để sáng tạo nên dòng thiền mang bản sắc Việt Nam độc đáo, một ý thức hệ Đại Việt độc lập
Cùng với việc kế thừa và phát triển các giá trị của tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam được hun đúc nên trong tiến trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, tư tưởng triết học Trần Nhân Tông được hình thành, phát triển còn do ông đã tiếp thu, chắt lọc các quan điểm khác nhau của Nho, Lão, Phật Những tư tưởng tôn giáo này là những luồng tư tưởng bên ngoài, trải qua không ít thăng trầm trong tiến trình du nhập lâu dài, để tìm chỗ đứng trong đời sống tinh thần của người Việt Mỗi tôn giáo có lối đi riêng với những cách thức khác nhau, cạnh tranh với nhau, khi ôn hòa, khi gay gắt, đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận, biến đổi, hòa quyện với văn hóa truyền thống bản địa để trở thành một trong những yếu tố của văn hóa Việt Nam giàu bản sắc và trở thành tiền đề lý luận cho tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Về Nho giáo, theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời Tây Hán, tức khoảng năm 110 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên, hai viên Thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đã “dựng học hiệu, dạy lễ nghĩa” tại quận Giao Chỉ và Cửu Chân Nho giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam từ đó Sau Tích Quang, Nhâm Diên có nhiều nho sĩ
38 người Hán tài năng được chính quyền phong kiến phương Bắc cử sang Giao Chỉ để truyền bá Nho giáo, hoặc vì lý do nào đó mà sang lánh nạn tại Giao Chỉ cũng tham gia vào quá trình truyền bá Nho giáo, được chính quyền đô hộ trọng dụng
Nho giáo du nhập Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc không còn là Nho giáo Khổng – Mạnh nguyên thủy, mà đã được Hán Nho cải tạo cho thích hợp với chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Hán Trên cơ sở tư tưởng về “Đạo”, “Thiên lý”, “Thiên mệnh”, “trung dung”, “trung thứ”, “nhân”, “nghĩa”, “trí”, “dũng”, “hiếu”, “kính đễ”, “chính danh”, “quân tử”, “tiểu nhân” của Khổng Mạnh, Đổng Trọng Thư (179 – 104 trước Công nguyên) đã cải tạo kết hợp với thần học, “sấm vĩ”, thần bí hóa các tư tưởng Nho học thành một trào lưu tư tưởng duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần xã hội phong kiến thời Hán, với tư tưởng “Thiên bất biến, đạo diệc bất biến’’,
“Thiên nhân cảm ứng”, “Vương quyền thần thụ”, “tính tam phẩm”,
“tam thoỏng, tam chớnh”, “dửụng toõn, aõm ty”, trong quan ủieồm veà vuừ trụ và nhân sinh cũng như trong tư tưởng về chính trị và đạo đức xã hội Nội dung Nho giáo du nhập, truyền bá vào Việt Nam thời kỳ này đó là tư tưởng Thiên mệnh, tư tưởng tôn quân đại thống nhất, đề cao quyền uy của Thiên tử, truyền bá thuyết “tam cương ngũ thường”, “tam tòng tứ đức”… vừa là công cụ tinh thần phục vụ cho trật tự của bộ máy nhà nước quan liêu, vừa được thần bí hóa lợi dụng yếu tố mê tín của nhaân daân
Trong việc truyền bá Nho giáo, Sĩ Nhiếp (137 – 266) là người có công lao lớn nhất Theo Đại Việt sử ký toàn thư Sĩ Nhiếp “người huyện Quảng Tín, quận Thượng Ngô Tổ tiên ông là người Vấn
Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ – tiền đề lý luận trực tiếp của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Triết học Trần Thái Tông với sự hình thành tư tưởng triết học Traàn Nhaân Toâng
Thái Tông Hoàng đế, “họ Trần, tên húy là Cảnh, trước tên húy là Bồ, làm Chi hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, ở ngôi 33 năm [1226 – 1258], nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi [1218 –
1277] băng ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy…” [85, tr 7]
Toàn bộ các quan điểm triết học của Trần Thái Tông được biểu hiện tập trung trong các tác phẩm như Thiền tông chỉ nam và Khóa hư lục “Đây là tác phẩm được viết như “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm từng trang giấy” Sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nỗi đau thế thái nhân tình, để rồi đạt đến chỗ sở đắc “chân tâm”.” [11, tr
Về bản thể luận, không nằm ngoài điểm tinh yếu và khuynh hướng chung của thiền học, Trần Thái Tông cũng lấy cái tâm làm điểm xuất phát cho tư tưởng của mình và trên cơ sở luận giải về cái tâm ấy để đào sâu, tìm kiếm lời giải đáp cho những vấn đề triết học khỏc như: “ngoọ”, “kiến tớnh”, “sinh tử”, “giải thoỏt”, “Niết bàn”… Tâm này là cái tâm ban đầu mà trong học thuyết của mình, Trần Thái Tông thường gọi nó bằng khái niệm không, hư Theo ông thì bản thể,
58 khởi nguyên, cội nguồn của vũ trụ, vạn vật đó chính là không (Sunya,
空), hư (akasa, 虛) Không cũng chính là hư, và ngược lại hư cũng là không, có điều không bao trùm tất cả, hướng đến cái khách quan bên ngoài con người, tức vũ trụ chưa từng sinh diệt, còn hư là sự thể hiện của không trong tâm mỗi người, tức là hướng đến mặt chủ quan bên trong Bản thể này không thể dùng ngôn ngữ, văn tự, màu sắc, âm thanh… để mô tả; nó vượt lên trên mọi sự đối đãi, nhị nguyên Nó vô tướng, vô danh, vô tính, vô hình, như thế là như thế, bất sinh bất diệt, không thêm không bớt, không phải không trái, không thiện không ác…
Trong bài Phổ thuyết tứ sơn, Trần Thái Tông viết: “Nguyên phù tứ đại bản vô, ngũ uẩn phi hữu Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không Thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc” [95, tr 42] Theo Trần Thái Tông thì từ không xuất hiện vọng (không khởi vọng, không hiện vọng) Sự xuất hiện của vọng từ không giống như hình ảnh mặt nước hồ vốn phẳng lặng, yên ả bỗng một làn gió thổi qua làm gợn lên vô vàn những con sóng lăn tăn; những con sóng ấy chính là vọng từ không mà sinh khởi Vọng (妄) ở đây được hiểu là cái xuyên tạc, ảo ảnh, hư dối, huyễn hoặc, lầm lẫn, không đúng sự thật, là vô minh (無明) Vô minh theo bản thể không cũng là vọng tòng không, không hiện vọng Từ vọng sinh chúng sắc, cũng có nghĩa là từ vô minh sinh ra thế giới hình danh sắc tướng Ở Trần Thái Tông, vọng không chỉ là nguyên nhân làm xuất hiện thế giới hiện tượng mà ngay cả con người và các sinh vật cũng đều do vọng sinh ra, ông viết: “Tri kỳ chúng sinh huyễn cấu, tòng vọng nhi sinh” [95, tr 159], có nghĩa là chúng sinh được cấu tạo một cách ảo ảnh, theo vọng mà sinh ra Nhưng ở con người, vọng còn là
59 niệm Nếu như ở trên vọng là nguyên nhân xuất hiện của thế giới hiện tượng thì niệm là nguyên nhân xuất hiện của cái ngã, tức con người cá nhân Từ bản thể nguyên sơ, thái hư ban đầu, niệm khởi hiện, cùng sự nhóm tụ của tứ đại và ngũ uẩn mà sinh ra sự dối lầm nơi thể mạo con người Nếu như do niệm khởi mà con người phải chịu cảnh ngụp lặn nổi trôi trong vòng luân hồi sinh tử triền miên thì để giải thoát, Trần Thái Tông quan niệâm rằng cần phải thủ tiêu niệm để đạt tới cái tâm vô niệm Chỉ có ai biến tâm của mình thành vô niệm thì mới vượt lên được vòng sinh tử luân hồi nghiệp báo
Trong tư tưởng triết học của mình Trần Thái Tông còn quan niệm bản thể là Phật tính (buddha-svabhava, 佛 性), cũng được gọi là chân như, tức là cái tính chân thực, chưa hề biến cải, chẳng sinh chẳng diệt, là mầm thiện, mầm giác ngộ sẵn có ở mỗi người Phật tính được Trần Thái Tông gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Bát nhã thiện căn, Bồ đề giác tính, bản lai diện mục, bản tâm, tâm Phật, pháp thân… Điểm độc đáo ở Trần Thái Tông là đã đưa ra cách lý giải mới về sắc thân con người trên cơ sở kế thừa khuynh hướng hòa đồng, dung hợp tư tưởng giữa Phật giáo với Nho giáo và triết lý Âm dương Ảnh hưởng này trong thiền học Trần Thái Tông thể hiện khá rõ nét trong bài Phổ thuyết tứ sơn, ông viết: “Gửi hình hài ở tinh anh cha mẹ, nhờ thai nghén nuôi dưỡng ở khí âm dương Hơn hết tam tài mà đứng giữa, là loài khôn nhất trong muôn loài” [95, tr 45] Điều này cho thấy, dù trên cơ sở kế thừa, hợp nhất những quan điểm đã có từ trước, Trần Thái Tông vẫn thể hiện một sự sáng tạo, độc đáo riêng có của mình chứ không nô lệ vào lối mòn của kinh sách Chỉ có ai nhận thức được thực tướng vô tự tính của vạn pháp và lý vô ngã của con người
60 thì mới đạt đến trạng thái thấu suốt tâm hư, tức giác ngộ và giải thoát
Tâm hư cũng là để chỉ trạng thái tĩnh lặng, rỗng không, tuyệt đối không vọng động, đã tẩy sạch mọi dục vọng, ham muốn đời thường đeo bám, có thể ví như chiếc gương soi chẳng dính chút mảy may bụi bặm
Tóm lại, học thuyết không hư của Trần Thái Tông mặc dù ra đời trên cơ sở tiếp thu tư tưởng của các thiền phái đã tồn tại trước đó, nhưng ông không dừng lại ở sự kế thừa ấy mà quan trọng hơn, là trên cơ sở những gì đã có, ông đã làm phong phú, sâu sắc hơn nhiều khái niệm cơ bản, thiết yếu trong thiền học như: Không, hư, tâm, tâm Phật, pháp tính, pháp thân, bồ đề giác tính, bản tâm, bản lai diện mục, chân như, chân tể, vọng, niệm… Trên cơ sở hệ thống các khái niệm đó, Trần
Thái Tông đã mở rộng nội hàm, làm sâu sắc hơn, đưa ra nhiều cách kiến giải mới mẻ, độc đáo trong nhiều vấn đề, tiêu biểu như: Tâm hư không, tâm Phật, kiến tính, ngộ, hoạt Phật, tứ thiền, niệm Phật, tọa thiền, giới – định – tuệ, sự đồng quy về một mối của tam giáo v.v…
Từ sự kế thừa quan điểm về “tâm ấn” của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, quan điểm về “tâm địa” của thiền phái Vô Ngôn Thông, Trần Thái Tông đã thể hiện sự kết hợp làm một hai quan điểm về tâm trên, xây dựng nên quan điểm về “tâm hư không” của mình trong đó; một mặt, “tâm hư không” là bản nhiên, thanh tịnh, bao trùm vũ trụ, bao trùm vạn pháp, là bản nguyên của vạn pháp; mặt khác “tâm hư không” là hướng đến cái chủ quan nội tại, ẩn tàng nguyên lai bên trong con người Quá trình tu đạo cũng chính là để trở về với bản tâm trong trắng nguyên xưa của mỗi chúng sinh, xóa bỏ hết mọi vô minh, vọng niệm và cũng là để đạt đến trạng thái “tâm hư”
Về nhận thức luận, xuất phát từ quan điểm cho rằng bản nguyên, cội nguồn của vũ trụ, vạn vật trong đó có con người, đều là từ cái tâm (không, hư) mà ra Do đó, đối tượng nhận thức trong triết học Trần Thái Tông là hướng vào tâm, nhận thức cái tâm trong con người chứ không phải nhận thức sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan bên ngoài Từ cái chân tâm ban đầu ấy, do vô minh, vọng niệm khởi nên làm xuất hiện ta – vật, tâm – cảnh, tức xuất hiện cái ngã và thế giới hình danh sắc tướng bên ngoài Trần Thái Tông đã diễn đạt tư tưởng này của mình qua câu: “Xúc tâm trần cạnh khởi; Huyễn mục sắc tranh bài” [95, tr.159] Tâm con người hiện tại đã trải qua biết bao kiếp luân hồi sinh tử, bị tạp nhiễm, vẩn đục, mờ tối Vấn đề là làm sao phải trở về với cái tâm bản lai, thanh tịnh, nguyên sơ ấy Cho nên ở Trần Thái Tông, mục đích nhận thức là kiến tính (見 性, tức là thấy được tính Phật, Phật tính ở trong tâm) “diệt vọng niệm”
Trong bài Tọa thiền luận, (Luận về tọa thiền), Trần Thái Tông có viết: “Người học đạo chỉ cốt thấy được bản tính Tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh Định lực không sinh thì ý nghĩ sai lầm không diệt được” [95, tr 87] Ông cho rằng những ai đã lĩnh hội được Phật tính nơi mình rồi thì người đó không còn tạo nghiệp nữa Bởi lẽ chính tâm vô minh, vọng động là nguyên nhân tạo tác của nghiệp, nhưng khi con người đã tìm lại được chân tâm, bản tính của mình, đã biến tâm mình thành tâm Phật rồi thì lẽ tất nhiên là người đó sẽ không còn tham, sân, si; tâm trở nên thanh tịnh, trong sáng bản nhiên, nên không còn tạo nghiệp nữa, do vậy họ cũng không còn tái sinh trong vòng luân hồi sinh tử Thực chất của kiến tính, đó là một sự trở về, trở về với quê hương bản tâm nguyên
62 sơ, tĩnh lặng mà thuần khiết của mỗi chúng sinh Và giải thoát theo triết lý thiền ở đây chẳng gì khác hơn đó chính là sự tỉnh thức tuyệt đối, cao độ, vượt lên mọi chấp trước và lầm kiến, để sống sinh động và trọn vẹn trong cái hữu hạn của cuộc đời và cái vô hạn của bản nguyên tuyệt đối thanh tịnh