1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học chính trị xã hội trong tác phẩm cộng hòa của platon

96 13 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với khía cạnh thế giới quan và nhận thức luận, tư tưởng chính trị Platon để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ thời cổ đại, trung cổ, cận đại, và đến tận hôm na

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN HOÀI THU

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

TRONG TÁC PHẨM CỘNG HOÀ CỦA PLATON

Ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Bùi Thị Thanh Hương

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày … tháng 11 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Lưu Văn An

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN HOÀI THU

Trang 4

“Loài người sẽ không tránh khỏi cái ác cho tới khi các nhà triết

học chân chính và biết tư duy đúng đắn chưa giữ được các chức trách nhà nước hoặc các nhà cầm quyền chưa trở thành nhà triết học chân chính”

(Platon)

Trang 5

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PLATON VÀ TÁC PHẨM

CỘNG HÒA 9

1.1 Thân thế, sự nghiệp và tư tưởng triết học của Platon 9

1.2 Tác phẩm Cộng Hòa 30

Chương 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CHỦ YẾU

TRONG TÁC PHẨM CỘNG HÒA CỦA PLATON - NỘI DUNG

GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ 43

2.1 Nội dung tư tưởng triết học chính trị - xã hội chủ yếu của Platon trong tác phẩm 432.2 Giá trị và hạn chế của những tư tưởng triết học chính trị - xã hội

trong tác phẩm Cộng hòa 77

KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Platon tên thật là Aristocles (427 - 347 TrCN) sinh tại một hòn đảo không xa Athènes Platon là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại Tư tưởng chính trị - xã hội của ông hình thành trong điều kiện khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, sự gia tăng căng thẳng và xung đột xã hội, sự mất phương hướng của con người trong đời sống tinh thần Dưới hình thức duy tâm, ông phát triển tư tưởng của Socrates, xây dựng những nền tảng vững chắc của ý thức con người Ông có công lớn trong việc nghiên cứu các vấn đề của ý thức xã hội, khẳng định vai trò to lớn của nó trong việc hình thành nhân cách và ý thức cá nhân con người Đồng thời bước đầu Platon xây dựng những nền tảng của các khái niệm, phạm trù và tư duy lý luận nói chung Tư tưởng chính trị - xã hội chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Platon Từ Platon trở đi, suốt nhiều thế kỷ vấn đề nhà nước, hay chế độ chính trị lý tưởng được nhiều nhà tư tưởng đề cập, thể hiện khát vọng của nhân loại hướng đến một xã hội tốt đẹp, thay thế cho cái đang tồn tại

Là nhân chứng của những biến cố lịch sử phức tạp tại Hy Lạp, gắn liền với những thăng trầm của nền dân chủ chủ nô, Platon đã đưa vào các tác phẩm của mình tâm trạng và khát vọng của người Hy Lạp, suy tư của triết gia

về sự cần thiết cải tổ đời sống xã hội vì mục tiêu nhân văn, khai sáng Do định kiến giai cấp và điều kiện lịch sử trong khuôn khổ chế độ chiếm hữu nô lệ, một số quan điểm của ông, trong đó có quan điểm chính trị, chứa đựng những yếu tố không tưởng và bảo thủ Song, như một tất yếu của sự phát triển tư tưởng, những vấn đề mà ông nêu ra, cùng với các tên tuổi của thế giới cổ đại phương Tây như Solon, Pericles, Socrates, Democritus, Aristoteles, Polybius,

đã tạo nên điểm xuất phát của lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây Tư

Trang 7

tưởng chính trị của Platon một mặt phản ánh lập trường chính trị của giới quý tộc chủ nô, mong muốn thay thế chế độ dân chủ sơ khai, với tất cả những thành quả và hạn chế của nó trong hơn nửa thế kỷ tồn tại; mặt khác bày tỏ khát vọng của người Hy Lạp trong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng của thiết chế chính trị, với nguyên tắc hàng đầu là công bằng, đồng thời gắn với nó là tính trật tự, nghiêm minh và ổn định

Cộng hoà là tác phẩm điển hình của tư tưởng chính trị - xã hội của

Platon Dưới hình thức đối thoại, tác phẩm đã thể hiện quan điểm chính trị - xã hội cơ bản của Platon, thống nhất với thế giới quan và nhận thức luận của ông

Có thể tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa học thuyết về ý niệm và học thuyết

về nhà nước của Platon trong Cộng hoà Học thuyết ý niệm cũng chi phối quan

niệm của Platon về vấn đề phẩm chất công dân và phẩm chất nhà nước, phân chia linh hồn, phân tầng xã hội và các vấn đề tôn giáo, nghệ thuật

Cùng với khía cạnh thế giới quan và nhận thức luận, tư tưởng chính trị Platon để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ thời cổ đại, trung cổ, cận đại, và đến tận hôm nay vẫn tiếp tục gợi lên những suy nghĩ khác nhau về mô hình nhà nước lý tưởng, vấn đề chủ thể quyền lực, tổ chức đời sống xã hội, quan điểm về sở hữu và giáo dục… Ngay sau loạt tác phẩm

của Platon, chúng ta lại biết đến tác phẩm Chính trị luận của Aristoteles, và tư

tưởng chính trị của nhiều triết gia, sử gia Hy Lạp, La Mã như Polybius (Polybius, khoảng 200 - 118 TCN), các nhà khắc kỷ, đặc biệt là Cicero (Cicero, 106 - 43 TCN), tư tưởng của họ ít nhiều đều có dáng dấp của những quan niệm Platon Tư tưởng chính trị Platon được tiếp tục nhắc đến, kế thừa hoặc phê phán ở các thời đại sau qua St.Augustine, Thomas Aquinas, chủ nghĩa nhân văn Phục hưng, F.Becon, Hobber, Kant, Hegel, và sau cùng là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và thế giới phương Tây hiện đại Đó

là minh chứng về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị Platon

Trang 8

Mặc dù không tránh khỏi hạn chế do điều kiện lịch sử chi phối, những vấn đề mà các tác phẩm của Platon đặt ra có ý nghĩa thực sự đối với chúng ta Tình yêu lý tưởng một cách tha thiết, ước muốn về một xã hội đồng thuận và

ổn định dựa nguyên tắc công bằng, với một nhà nước đặc trưng theo cách hiểu của Platon, nơi quyền lực tập trung vào tay những người tiêu biểu cho trí tuệ của quốc gia, kết hợp với các hình thức quyền lực đã có như quân chủ, quý tộc, nhằm đảm bảo ổn định và trật tự của nhà nước, dựa trên nguyên tắc xuyên suốt là công bằng, tất cả đều là những gợi mở đáng trân trọng của Platon cho mai sau

Với sự cần thiết tìm hiểu tư tưởng chính trị - xã hội của Platon, qua đó làm rõ mối liên hệ lịch sử giữa quá khứ và hiện tại, rút ra những vấn đề, những bài học cho quá trình hoàn thiện nhà nước, phát triển xã hội trong điều

kiện hiện nay, học viên chọn “Tư tưởng triết học chính trị - xã hội trong tác phẩm Cộng hoà của Platon” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Có thể nói, trong lịch sử tư tưởng nhân loại, Platon là tác gia được quan tâm nhiều bởi các nhà văn, nhà thơ, nhà sử học và đặc biệt là các nhà triết học Điều này là dễ hiểu bởi địa vị cao của Platon trong nền triết học cổ đại

Hy Lạp và nền triết học thế giới nói chung Bởi vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Platon, kể cả các nhà triết học mácxít và triết học ngoài mácxít, đặc biệt các nhà triết học Liên Xô (cũ)

Trong công trình “ Lịch sử triết học”, tập 1, Mátxcơva, 1940; Cuốn

Platon và thời đại của ông, của tập thể các nhà triết học Viện Triết học thuộc

Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), do nhà xuất bản Khoa học Mátxcơva ấn hành 1979, các nhà lịch sử triết học Liên Xô (cũ) đã trình bày khái quát tư tưởng triết học của Platon

Cuốn Platon chuyên khảo của Benjamin Jowett và M.J.Knight do Lưu

Văn Hy và Trí Tri dịch, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2008,

Trang 9

trong cuốn sách này tác giả đã dịch thuật những tác phẩm của Platon như:

Phiên tòa và cái chết của Socrates, Bữa tiệc …

Trong cuốn Mười nhà tư tưởng lớn thế giới của Vương Đức Phong và

Ngô Hiểu Minh, hệ thống triết học của Platon đã được trình bày tương đối rõ ràng, tuy vậy học thuyết chính trị-xã hội của Platon cũng chỉ được đề cập tới trong một phạm vi rất giới hạn Vương Đức Phong và Ngô Hiểu Minh có những nhận xét khá sắc sảo về Platon nhưng do dịch giả Phong Đảo có một số hạn chế về ngôn ngữ nên văn phong rất khó hiểu

Cuốn Lịch sử phép biện chứng, Tập 1 – Phép biện chứng cổ đại - của

Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (Đỗ Minh Hợp dịch, Đặng Hữu Toàn hiệu đính), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1998 Nội dung cốt lõi của cuốn sách bàn về lịch sử ra đời của phép biện chứng, trong cuốn sách, Platon với tư cách là một triết gia lỗi lạc cũng được bàn đến trong dòng chảy của lịch sử phép biện chứng

Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam đối với Platon phần lớn chỉ tập trung trình bày về triết học của ông trong các giáo trình lịch sử triết học, trong các tác phẩm viết về các nhà tư tưởng nói chung, chẳng hạn:

Triết học Hy Lạp cổ đại của tác giả Thái Ninh, nhà xuất bản Sách giáo

khoa Mác - Lênin ấn hành, 1987 Trong tác phẩm này, tác giả trình bày triết học Hy Lạp từ khi hình thành đến thời kỳ Hy Lạp hóa, thời kỳ suy tàn của chế

độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại Phần viết về triết học Platon đã trình bày

tư tưởng của Platon về vũ trụ, về nhà nước, mỹ học và lý luận nhận thức

Các giáo trình: Lịch sử triết học cổ đại Hy - La của Nguyễn Văn Thông

và Tống Văn chung, tập 2, nhà xuất bản Tủ sách trường Đại học tổng hợp, Hà

Nội, 1990; Triết học Hy Lạp cổ đại của Đinh Ngọc Thạch, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999; Triết học Hy Lạp cổ đại của Trần Văn Phòng, nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006; Giáo trình Lịch sử triết

học do giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hữu Vui chủ biên, nhà xuất bản Chính trị

Trang 10

Quốc gia, Hà Nội, 1998…, các tác giả và tập thể tác giả trình bày triết học Platon với các nội dung: học thuyết về thế giới, nhận thức luận, lôgíc học, nhân bản học, học thuyết chính trị xã hội và thẩm mỹ học

Công trình Lịch sử triết học Tây Phương của Lê Tôn Nghiêm, nhà xuất

bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000, tác giả trình bày quan niệm của Platon về tri thức luận, học thuyết về những lý tưởng hay biện chứng pháp, thiên nhiên hay vật lý học, luân lý và chính trị học Có thể nói tác giả trình bày khá công phu về triết học Platon, nhưng do hạn chế về mặt phương pháp luận (tác giả là một trí thức của chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam, cuốn

“Lịch sử triết học Tây Phương” của ông xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975),

nên ông không chỉ ra những giá trị cũng những hạn chế của tư tưởng triết học Platon theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trong cuốn Đại cương về lịch sử triết học phương Tây của Đỗ Minh

Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, nhà xuất bản Tổng hợp Hồ Chí Minh ấn hành năm 2006, các tác giả đã trình bày Platon với tư cách là một nhà triết học phương Tây cổ đại với các nội dung: cuộc đời và sự nghiệp của ông, học thuyết về linh hồn, học thuyết ý niệm, học thuyết về nhà nước…

Lịch sử triết học, tập 1 – Triết học cổ đại – của tác giả Nguyễn Thế

Nghĩa, Doãn Chính (chủ biên), do nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2002, tác giả trình bày vắn tắt quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp

cổ đại, Platôn cũng được đề cập với tư cách là một nhà triết học suất sắc của thời kỳ này Các tác giả đã tập trung nghiên cứu quan niệm của Platon với học thuyết ý niệm, tâm lý học, nhận thức luận , giáo dục, tư tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật

Ngoài những công trình nghiên cứu chủ yếu trên, các bài viết, luận văn, luận án, những công trình khai thác sâu về một nội dung nào đó, một tác phẩm riêng của Platon không nhiều Tuy nhiên, thông qua quá trình sưu tầm và chỉnh lý tài liệu, đặc biệt là qua các công trình nghiên cứu về sử học

Trang 11

và các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôi đã có thể phần nào tái hiện được diện mạo tư tưởng của Platon và có sự so sánh với một số học phái khác nhằm rút ra những kết luận cần thiết Tình hình nghiên cứu cũng cho thấy, việc nghiên cứu sâu vào một tác phẩm nào đó của Platon còn ít

được quan tâm, vì vậy vấn đề Tư tưởng triết học chính trị - xã hội trong tác

phẩm Cộng hòa của Platon là một nội dung mới và cần thiết cho việc hiểu

sâu hơn quan điểm triết học của ông

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu triết học của Platon, luận văn đi sâu tìm hiểu những tư tưởng triết học chính trị - xã hội được Platon trình bày trong tác

phẩm Cộng hòa, đánh giá những giá trị và hạn chế của những tư tưởng đó từ

nhãn quan duy vật biện chứng

Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích đã đề ra luận văn thực hiện những nhiệm

vụ sau:

- Khái quát thân thế, sự nghiệp của triết gia Platon và những nội dung

cơ bản trong triết học của ông

- Giới thiệu khái quát về tác phẩm Cộng hòa, phân tích và làm rõ tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Platon trong tác phẩm

- Đánh giá những giá trị và hạn chế của những tư tưởng triết học chính

trị - xã hội trong tác phẩm

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Platon

Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu tác phẩm Cộng hòa

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

Luận văn còn kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các bài viết đã được công bố có liên quan

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp khác như: hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Góp phần hệ thống hóa nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Platon

mà trên cơ sở đó tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Platon nảy sinh, tồn tại và phát triển

Chỉ ra những nội dung chủ yếu trong tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Platon như: tư tưởng về nhà nước lý tưởng, tư tưởng về đạo đức, về phân biệt đẳng cấp, về người lãnh đạo xã hội

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về triết học chính trị -

xã hội của Platon Đồng thời, củng cố nhận thức lý luận triết học chính trị - xã hội thời cổ đại Hy Lạp

Luận văn cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là tư tưởng triết học chính trị - xã hội của

Trang 13

Platon Đồng thời luận văn là tư liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành lịch sử triết học đặc biệt là triết học

Hy Lạp cổ đại

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương với 4 tiết

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PLATON

VÀ TÁC PHẨM CỘNG HÒA

1.1 Thân thế, sự nghiệp và tư tưởng triết học của Platon

1.1.1 Thân thế và sự nghiệp của Platon

Platon sinh tại Athens, Hy Lạp, vào năm 427 Tr.CN

Hy Lạp cổ đại là cái nôi của nền triết học phương Tây Đây là một quốc gia rộng lớn có điều kiện thiên nhiên khá ưu đãi Hy Lạp bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở biển Êgiê

Hy Lạp có nhiều đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu Vị trí địa lý nhiều lợi thế, các mặt của lãnh thổ gần như tiếp giáp với biển, nhiều vịnh nên dễ dàng

mở các cảng biển thông thương, giao lưu với các nước khác, tạo cơ sở thuận lợi để phát triển thương nghiệp; nhiều mỏ vàng, bạc, sắt, đồng dễ khai thác khiến thủ công nghiệp cũng phát triển sớm

Tất cả những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó đã tạo nền tảng vững chắc cho Hy Lạp cổ đại nhanh chóng trở thành một quốc gia có một nền nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp phát triển, làm cơ sở cho một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng, và chính nơi đây đã trở thành cái nôi của nền triết học phương Tây với những triết lý bất hủ, với những nhà triết học nổi danh trong đó có nhà đại hiền triết Platon

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI tr.CN là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Công cụ lao động bằng sắt ra đời tạo ra năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều dẫn đến dư thừa, chế

độ chiếm hữu tư nhân được xác lập và ngày càng được củng cố Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành ngày càng rõ rệt kéo theo quan hệ xã hội cũng trở nên phức tạp, tổ chức xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ

Trang 15

Nếu như trước đây các quan hệ cũ trong phạm vi bộ tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao, các cá nhân muốn tồn tại và phát triển buộc phải hòa mình vào cuộc sống cộng đồng, trong xã hội vẫn chưa xuất hiện giai cấp thì nay chế độ chiếm hữu ra đời, đã làm xuất hiện các tư tưởng tư hữu và sau đó

là chế độ tư hữu về của cải, đã làm hình thành giai cấp đối kháng với hai giai cấp cơ bản trong xã hội là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Trong đó giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị, bóc lột, còn giai cấp nô lệ là giai cấp bị trị, bị bóc lột Giai cấp nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội, tạo ra của cải vật chất trong xã hội Song dưới ánh mắt của người Hy Lạp cổ đại, nô lệ chỉ được coi là công cụ biết nói Họ không bao giờ được hưởng một chút quyền lợi chính trị nào kể cả quyền làm người

Thời kỳ này, đã xuất hiện chế độ cộng hòa dân chủ, song nó chỉ giành cho dân tự do thuộc giai cấp chủ nô, còn đối với đông đảo nô lệ và kiều dân thì đó chỉ là nền chính trị tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi Do đó, xã hội chiếm hữu nô lệ ngày càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô với nô

lệ, giữa người giàu và người nghèo ngày càng mâu thuẫn gay gắt Các tri thức triết học và khoa học đã làm phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thủy thời đó Tuy nhiên, ngay khi mới ra đời các tư tưởng triết học cũng mang tính giai cấp sâu sắc và bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Nó là thế giới quan của giai cấp chủ nô và trở thành tư tưởng thống trị xã hội Khẳng định điều này C.Mác và Ph.Ăngghen viết:

Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những

tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối Những tư

Trang 16

tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là

sự biểu hiện của chính ngay của những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy [27, tr 66, 67]

Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp được phân chia thành nhiều nước nhỏ Mỗi nước lấy một thành phố lớn làm trung tâm Trong đó có hai thành phố lớn và hùng mạnh nhất là Spác và Aten Aten, quê hương của Platon là một thành phố thương mại sầm uất, là thủ phủ của thành bang được quản lý bằng nhà nước chủ nô dân chủ, là trung tâm văn minh của xã hội Hy lạp cổ đại

Platon được đặt tên của ông nội là Aristocles, còn tên Platon là biệt danh, được đặt theo vóc người to lớn, vầng trán cao rộng và trí tuệ phi thường của ông Platon có một người chị và hai anh là Adeimantus và Glaucon, tên

hai người anh của ông được nhắc đến trong tác phẩm Cộng Hòa trong vai

người đối thoại của Socrates Platon thuộc gia đình quý phái Cha của ông tên

là Ariston dòng dõi Codros, vị vua cuối cùng của thành Athens và được coi là con cháu của thần Poseidon Mẹ của ông là Perictione có họ hàng với Solon, nhà luật học lừng danh của Hy Lạp Platon có một người chú tên là Critias, là một trong 30 nhân vật thuộc Hội đồng hoạt đầu

Sau khi Platon chào đời được ít lâu, cha của ông qua đời, mẹ ông tái giá với Pyrilampes, một người chú họ ngoại và cũng là người bạn, người ủng hộ nhiệt thành Pericles, là chính khách đã điều hành thành Athens trong các năm

400 Tr.CN Platon được mẹ chăm sóc tới năm lên 7 tuổi, rồi được theo trường học Thời bấy giờ, trẻ em được huấn luyện tới năm 14 tuổi về tập viết, tập đọc

và tập làm toán Sau đó tới năm 18 tuổi là thời gian theo học phần thể dục, chuyên rèn luyện thân thể

Trang 17

Thời gian này Athens chịu sự tàn phá của chiến tranh Do còn quá trẻ, Platon chưa được làm quen với chế độ dân chủ đế quốc của Pericles cũng như phong trào ngụy biện ( trào lưu triết học – tư tưởng lớn đương thời), nhưng qua những người trong họ hàng như Critias và Charmides, hai người bạn của Socrates, Platon được nghe nói nhiều về nhà đại hiền triết Socrates

Năm 410 Tr.CN khi 18 tuổi, Platon học hỏi với các triết gia và các nhà ngụy biện Từ năm 404 Tr.CN Platon theo học Socrates trong 8 năm liền, ông hoàn toàn bị thuyết phục bởi nền triết học căn bản của Socrates cùng cách tranh luận biện chứng Biện chứng (nghệ thuật tranh luận) là cách tìm hiểu sự thật bằng các câu hỏi, câu giải đáp và các câu hỏi kế tiếp Vì quá ham thích Triết học, Platon đã đem đốt hết các tập thơ trữ tình và các bản bi kịch do ông sáng tác lúc thiếu thời

Tham vọng ban đầu của Platon là Chính trị Ông đã tham dự vào hàng ngũ những người hoạt đầu với mong muốn thiết lập lại công bằng xã hội, tạo dựng hạnh phúc cho toàn dân bằng cách tự sửa lại cá nhân Nhưng rồi cách bạo hành và chính thể chuyên chế của Hội đồng hoạt đầu và nhất là sự lên án Socrates một cách bất công đã khiến cho Platon từ bỏ ý định về chính trị Sau khi Socrates bị bắt uống thuốc độc chết vào năm 399 Tr.CN, ông vô cùng buồn bã trước sự ra đi của người thầy mà ông yêu quý và ngưỡng mộ, mặt khác, có thế sợ phiền lụy về chính trị và do lòng công phẫn, Platon cùng vài môn đệ của Socrates đã tới ẩn náu tạm thời tại Megara, ở đây Platon theo học Euclid, nhà toán học danh tiếng

Năm 396 Tr.CN, Platon trở lại thành Athens, ông phục vụ trong quân đội, tham chiến trong trận Corinth và trận đánh này kết thúc bằng sự thất bại của Athens trước Sparta Khi đó, người Athens hay đi lại nhiều nơi nên Platon cũng theo sang Ai Cập Đầu tiên, ông dừng lại tại Crete rồi Cyrene Ở đây ông nghiên cứu Toán học với Theodorus, sau đó vào năm 390Tr.CN, Platon mới tới Ai Cập Tại Heliopolis, Platon đã học hỏi về Thiên văn, Tôn giáo và

Trang 18

Hiến pháp Nhờ thời gian sống tại Ai Cập, Platon đã quan sát kỹ lưỡng các phong tục rồi suy tưởng và sau này, ông đã bàn luận về những điều này trong các tác phẩm của mình

Các cuộc đi xa đã giúp cho Platon nhiều cơ hội làm quen với một số nhà triết học nổi tiếng, chẳng hạn như nhà sáng lập ra các trường phái học thuật như Pythagoras, Heraclitus cũng như các nhà triết học Eleatic Từ những nhận xét thực tế và các điều học hỏi từ Socrates, cộng với sở thích liên quan tới các vấn

đề chính trị, Platon đã đi tới kết luận rằng chỉ những người có kiến thức và các phẩm chất đạo đức mới đáng được giao phó quyền lực để điều khiển người khác Lý tưởng triết học của Platon đang cần có các cơ hội để áp dụng

Vào thời bấy giờ, xứ Sicily đang chìm đắm trong một hoàn cảnh chính trị hỗn loạn Dionysius đã thành công trong việc lật đổ nền cộng hòa và thiết lập tại Syracuse một chế độ chuyên chế Dion, một người học trò và cũng là bạn của Platon, đã thúc giục Platon nên đảm nhận việc giáo dục Dionysius, chính Dionysius cũng mời Platon sang thành Syracuse Đây là một cơ hội để Platon áp dụng lý thuyết về chính quyền của mình vào một hoàn cảnh thực tế Platon tới Syracuse, được triều đình của nơi này coi như thượng khách Về sau có lẽ do sự trả lời bạo chúa một cách vụng về hoặc vì tình bằng hữu của Platon đối với Dion mà ông bị bạo chúa ghét bỏ Platon bị tống giam và bị trao cho viên thuyền trưởng Pollis, người xứ Sparta Pollis đã bán Platon tại Egina như một tên nô lệ Platon được Anniceris, một nhân vật thuộc trường phái triết học Cyrenaic, chuộc ra với giá 20 mines Ông trở lại thành Athens vào năm 387 Tr.CN

Cũng vào thời kỳ này, nhiều môn đệ của Socrates đã thiết lập các trường học Platon cũng muốn giảng dạy về Triết học và Khoa học Ông thành lập trường “Academos” hay “ Hàn Lâm Viện” Ngoài nghiên cứu và giảng dạy Triết học, nhà trường còn chú trọng tới Khoa học, Luật pháp, Thiên văn, Sinh học, Toán học và Lý thuyết chính trị Ngôi trường này có thể coi là một trường

Trang 19

Đại học chuyên đào tạo các học viên đủ khả năng cai trị theo đúng Pháp luật và được coi là trường đại học đầu tiên của thế giới Trường “Academos” có ban giảng huấn gồm các giáo sư chuyên khoa như Theatetus, ông tổ của môn học không gian Nhờ các bậc thầy tài giỏi, nhà trường nhanh chóng tạo được uy tín, thu hút đông đảo học trò từ bốn phương đổ về theo học Trường Academos hoạt động trong hơn 8 thế kỷ, là một trung tâm nghiên cứu và phổ biến nền triết học của Platon (Platonic philosophy) Tại trường học này, Platon thường diễn giảng mà không cần tới bản thảo và đặt ra nhiều “bài toán” cho các sinh viên cùng nhau giải đáp Trong thời gian giảng dạy, Platon đã viết ra nhiều tác phẩm hội thoại, phần lớn những tài liệu giảng dạy của ông đã được lưu trữ và dịch sang nhiều ngôn ngữ Có thể nói tới tác phẩm lừng danh ban đầu của Platon gồm: Charmides, Euthyphro, Ion và Laches

Vào năm 360 Tr.CN, khi đang nổi tiếng và là người đứng đầu ngôi trường Academos, Platon lại được Dion mời qua làm ổn định tình hình chính trị tại thành Syracuse Vào thời gian này, Dionysius già đã chết, Dionysius trẻ lên thay thế khi gần 30 tuổi Vì bị cha ngăn cách với chính trị, Dionysius trẻ

đã sống một cuộc đời lêu lổng Dion đã mời Platon vì muốn danh tiếng của ông có thể làm cho Dionysius Trẻ kiêng nể, vì muốn nhà đại hiền triết đảm nhiệm việc giáo dục vị vua còn trẻ này, và cũng vì muốn tránh sự lấn quyền của xứ Carthage trên đất Sicily

Do tình bạn với Dion, Platon miễn cưỡng phải sang Syracuse nhưng khi đến nơi, Dion đã bị lưu đầy, Vua Dionysius Trẻ đón tiếp Platon rất trọng thể nhưng lại không chịu để Platon hướng dẫn, cũng như từ chối các lời khuyên bảo Không biết vì sao, Dionysius trẻ đã lưu giữ được nhà đại hiền triết trong gần một năm trường và chỉ để ông ra đi với lời hứa sẽ trở lại Trở

về Athens, Platon tiếp tục dạy học Trong thời gian này, ông đã soạn các cuốn

sách đặc sắc như The Republic, The Sophistvà Theaetetus

Tới năm 361 Tr.CN, Dionysius Trẻ phái một con tàu qua xứ Athens, nhắc lại lời hứa khi xưa và mời Platon sang Syracuse Dionysius còn hứa sẽ

Trang 20

đón Dion trở về từ nơi lưu đầy Platon đã nhận lời vì nghĩ tới Dion, vì muốn khuyên nhủ Dionysius “đừng nô lệ hóa Sicily hay áp chế một xứ sở nào mà phải cai trị nơi đó bằng Luật pháp” Platon đã được Dionysius đón tiếp tại Syracuse một cách rất nồng hậu nhưng mặc dù những lời tha thiết của Platon, Dion vẫn không được trả tự do Hơn nữa, bạo chúa này còn từ chối “thi hành một cách ngay thẳng” và đã không để cho “Triết học và quyền hành thực sự gặp nhau” Platon muốn bỏ ra về một lần nữa, ông bị bắt giam Sau nhờ Archytas can thiệp, ông mới được phép rời khỏi Syracuse

Trở về Athens, Platon nhất định không bao giờ dính líu vào chính trị nữa mặc dù nhiều học viên thuộc trường Academos của ông đã gia nhập vào công cuộc viễn chinh của Dion chống lại Dionysius vào năm 357 mà kết quả

là sự sụp đổ của chế độ bạo tàn

Trong các năm cuối đời, Platon sống tại thành Athens và viết các tác

phẩm như Timaeus, Crito và cuốn sách dang dở The Laws Platon qua đời vào

năm 347 Tr.CN

Với dòng dõi xuất thân từ gia đình quý tộc, lại được học hỏi và chịu ảnh hưởng của nhiều nhà triết học Hy Lạp, trong đó có các triết gia xuất chúng như Socrates, bản thân là người hết sức uy tín, có xu hướng chính trị từ thiếu thời, các yếu tố đó đã làm nên một Platon vĩ đại, một nhà triết học lớn của Hy Lạp, của phương Tây và thế giới

1.1.2 Nội dung chủ yếu của triết học Platon

1.1.2.1 Bản thể luận

Nội dung chủ yếu trong bản thể luận của Platon là học thuyết ý niệm, với việc tiếp thu tinh thần của Socrates Trong quan niệm của Socrates, các lực lượng tinh thần siêu nhiên, thần thánh đã tạo ra và sắp đặt thế giới Bản thân thế giới với tất cả những sự hợp lý của nó là kết quả của sự an bài của thần thánh, con người chỉ việc thụ hưởng

Trang 21

Triết học duy tâm khách quan của Platon chứa đựng được tinh thần của Soctates và đồng thời cũng thể hiện được sự ngẫm ngợi một cách sâu sắc và khác biệt của mình Với sự biết ơn và lòng tôn kính đối với thầy của mình, mong muốn tư tưởng của thầy sẽ trường tồn, không bị mai một, Platon đã dồn

hết tâm huyết của mình vào Học thuyết ý niệm Nội dung Học thuyết ý niệm

thể hiện quan niệm về thế giới của ông Theo đó, Platon coi vũ trụ gồm hai thế giới là thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính Thế giới ý niệm bao gồm các khái niệm, tri thức, quy luật, định luật, tư tưởng… mà ông gọi chung

là “ý niệm”, thế giới này có trước và tồn tại vĩnh viễn, bất biến và đây là sự tồn tại chân thực còn thế giới sự vật cảm tính là thế giới của các sự vật hiện tượng vô cùng phong phú đa dạng, không ngừng sinh ra và không ngừng mất

đi, luôn luôn biến đổi Thế giới này theo Platon là thế giới không chân thực,

nó được sinh ra từ thế giới ý niệm Có thể hiểu cặn kẽ hơn học thuyết ý niệm theo các nội dung sau:

Một là, Platon gọi khái niệm, tri thức, tư tưởng… là “ý niệm” và từ đó

sinh ra hết thảy mọi sự vật hiện tượng Như vậy, theo ông ý thức có trước và quyết định vật chất Từ điểm xuất phát này Platon đã xây dựng nên toàn bộ hệ thống triết học của mình

Hai là, Platon cho rằng không thể nhận thức được ý niệm bằng cảm

giác Con người không nhận thức được ý niệm bằng cảm giác vì chúng là tinh thần Thế giới ý niệm không phải thế giới vật chất, không phải thế giới vật thể, thế giới ý niệm nằm ở vùng ngoài bầu trời, không màu sắc, không hình thức, không cảm nhận được bằng giác quan Ý niệm là bản chất chung của nhiều sự vật cảm tính

Ba là, Thế giới ý niệm là hoàn hảo, đúng đắn, chân thực, vì trong nó

không có gì thay đổi Nó luôn bằng chính nó, nó là cơ sở, nguồn gốc để

“sinh” ra thế giới của sự vật cảm tính, và quyết định các sự vật cảm tính

Nó là khuôn mẫu để sự vật cảm tính “mô phỏng theo” Nó cũng là mục đích

Trang 22

để cho sự tồn tại của các sự vật cảm tính tiến tới nói khác đi trong quan hệ

với các vật thể cảm giác thì ý niệm vừa đồng thời là nguyên nhân, vừa đồng thời là khuôn mẫu cho các vật thể cảm tính hình thành; là mục đích để

thế giới các sự vật cảm giác được (sự vật cảm tính) tiến tới; là khái niệm với tư cách là cơ sở chung của các vật thể cảm tính

Bốn là, Platon quan niệm thế giới sự vật cảm tính là không chân thực, chỉ

là cái bóng của thế giới ý niệm, bởi vì mọi sự vật hiện tượng đều không ngừng vận động, sinh ra và mất đi, chúng không ổn định và bền vững Còn thế giới ý niệm là thế giới của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới đúng đắn chân thực Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là cái bóng của ý niệm, là bản sao của ý niệm Giải thích quan niệm này Platon đã minh chứng “trên thế giới này có những cái giường và vô số những cái bàn nhưng chỉ có hai ý niệm hay

mô thế của chúng; một cái về cái giường, một về cái bàn” [19, tr 204]

Năm là, Trong tác phẩm “Parménide”, Platon nêu ra ba phương án

quan hệ giữa ý niệm và sự vật: mô phỏng, thông dự và hiện diện

Mô phỏng: Các sự vật hướng đến các ý niệm Trong trường hợp đó ý niệm

là khuôn mẫu, còn các sự vật cảm giác được (khả giác) là các mô phỏng của chúng, chẳng hạn ý niệm “cái đẹp” như khuôn mẫu để xác định những sự vật cho

là “đẹp”

Thông dự: sự vật nói chung phải thông dự vào một chủng loại ý niệm nhất định để được mang một tên gọi, chẳng hạn nếu thông dự vào ý niệm “đẹp” thì vật ấy là vật “đẹp”, tương tự như vậy với ý niệm “thiện”, “công bằng”,.v.v

Hiện diện: các sự vật khả giác trở nên tương đồng với các ý niệm khi các ý niệm đi đến với chúng, bắt đầu hiện hữu nơi chúng

Tóm lại, theo Platon, ý niệm đóng vai trò vừa là khuôn mẫu của các sự vật, vừa là đích mà các thực thể của thế giới khả giác hướng đến, lại vừa là khái niệm về cơ sở chung của sự vật thuộc từng chủng loại

Trang 23

Sáu là, thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính tồn tại biệt lập với

nhau, vậy điều gì kết hợp chúng lại với nhau Giải quyết vấn đề này Platon đưa ra quan niệm về vật chất Vật chất là cái không tồn tại, bởi vì chúng ta không thấy vật chất tồn tại dưới dạng thuần túy bao giờ Tuy nhiên, vẫn tồn tại khái niệm vật chất nói chung và bản thân sự vật cảm tính vẫn là dạng biểu hiện cụ thể của vật chất Dưới còn mắt của Platon, bản thân vật chất cũng tồn tại vĩnh viễn và không hề do thế giới ý niệm sinh ra, mặc dù vật chất không là

gì cả nhưng vẫn cần thiết Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý niệm thì ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật, đem lại sinh khí cho chúng, và là cơ

sở thống nhất cho toàn vũ trụ, còn vật chất là căn nguyên tạo ra hình thù, chất liệu cho mỗi sự vật cụ thể, làm cho chúng đa dạng và không ngừng biến đổi

Vì vậy, các sự vật là trung gian giữa ý niệm và vật chất

Bảy là, ý niệm là cái tồn tại trước, là nguyên mẫu, còn các sự vật của

thế giới là bản sao, và ý niệm là mô hình hoàn hảo, không bao giờ đạt tới của

sự vật, sự vật là sự sao chép không hoàn hảo của ý niệm, thế giới ý niệm là kế hoạch còn thế giới các sự vật là hiện thực hóa kế hoạch đó Quan hệ giữa thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính, tính chất của thế giói ý niệm và tính chất của sự vật cảm tính được Platon giải thích qua hình tượng hang động tối tăm và thế giới rực rỡ bên ngoài

Thế giới tối tăm của cái hang và thế giới rạng rỡ với ánh sáng Mặt trời Hang giam giữ tù nhân tương ứng với thế giới các sự vật hữu hình và ánh lửa trong đó tương ứng với sức mạnh của Mặt trời Việc đi lên khỏi hang để nhìn các sự vật ở thế giới bên trên có thể coi là điều biểu thị cho cuộc hành trình đi lên của linh hồn vào vùng của các sự vật khả tri [19, tr 174]

Với học thuyết ý niệm, Platon cho rằng thế giới ý niệm là thế giới có trước còn thế giới sự vật cảm tính là do thế giới ý niệm sinh ra Trong đó, thế giới ý niệm quyết định thế giới sự vật cảm tính, thế giới sự vật cảm tính sinh ra

Trang 24

bằng cách bắt chước thế giới ý niệm Ý niệm nằm ngoài không gian và thời gian Thời gian có thể cuốn trôi tất cả những gì con người nhìn thấy xung quanh song chỉ riêng ý niệm thì thời gian và không gian không thể chi phối được Ý niệm tồn tại bất tử, cho nên nó không thể đồng thời với sự vật cảm tính thường xuyên biến đổi không ngừng

Để thế giới ý niệm và thế giới sự vật cảm tính kết hợp với nhau, Platon còn cho rằng bản thân thế giới ý niệm và thế giới các sự vật cảm tính không thể

tự kết hợp mà phải nhờ tới Đấng sáng thế Đấng sáng thế có thể được ví như là nghệ nhân, là người tinh thông, là người lành nghề, là nhà điêu khắc, là họa sỹ thần thánh Đấng sáng thế sẽ tạo ra thế giới cảm tính theo khuôn mẫu của thế giới ý niệm Chẳng hạn như trên cơ sở ý niệm về cái bàn, nghệ nhân mới tác động vào vật chất thuần túy để làm ra cái bàn theo ý niệm cái bàn đã có sẵn Tuy nhiên, có khéo léo tài ba đến đâu thì người nghệ nhân cũng không thể tạo

ra sự vật hoàn hảo đúng như nguyên mẫu hay nói cách khác là ý niệm của nó

Từ lập luận đó, Platon thừa nhận tính thống nhất nhưng không phản bác tính

đa dạng, muôn vẻ của thế giới các ý niệm Đồng thời, cũng như thế giới sự vật cảm tính, theo Platon, có bao nhiêu ý niệm thì có bấy nhiêu phức hợp các

sự vật, các hiện tượng, các quá trình, các quan hệ đồng nhất căn bản Như vậy, tương ứng với mỗi ý niệm sẽ có một lớp các sự vật cảm tính mô phỏng theo nó, là bản sao của nó

Trên một phương diện khác, Platon cho rằng có một linh hồn vũ trụ như sinh lực năng động và sáng tạo, nguồn gốc của vận động, sự sống, nhận thức Linh hồn vũ trụ ôm trọn thế giới các ý niệm và thế giới các sự vật, kết hợp chúng với nhau Nó đưa các sự vật mô phỏng các ý niệm, hướng các ý niệm hiện diện trong các sự vật Nhưng để ôm trọn cả hai thế giới, linh hồn vũ trụ phải vừa hoàn bị, vừa hết sức biến hóa, hàm chứa những xung động bên trong Cả vũ trụ lẫn linh hồn vũ trụ do vị kiến trúc sư, hay hóa công nào đó nặn ra theo những môtíp và mục đích nhất định

Trang 25

Chính sự ngẫm ngợi, suy tư không ngừng nghỉ của Platon đã đưa ông đến tư tưởng này Platon cho rằng sau thế giới hiện tượng do các giác quan của con người phát hiện là thế giới của những ý nghĩ do sự suy luận phát hiện Thế giới của những ý nghĩ có tính cách trường tồn hơn thế giới hiện tượng và

do đó có thể xem là xác thực hơn Ông lập luận: ý nghĩ (khái niệm) về vòng tròn tồn tại mãi mãi trong khi một vòng tròn vẽ trên giấy có thể biến mất Socrates mất đi chỉ là con người mất đi chứ tư tưởng Socrates thì không mất

đi Một cái cây có thể còn đứng vững hoặc đã ngã xuống nhưng những định luật chi phối sự đứng vững hoặc ngã xuống của cái cây còn tồn tại mãi mãi Thế giới của ý nghĩ do đó có thể coi là đã có trước thế giới hiện tượng và có thể tồn tại sau khi thế giới hiện tượng đã biến mất Đứng trước một cây cầu giác quan chỉ cảm thấy một khối khổng lồ bằng sắt và xi-măng nhưng chính nhờ ý nghĩ mà người kỹ sư hình dung được các định luật chi phối sự thành hình của cây cầu, các định lý toán học, vật lý học theo đó tất cả cây cầu phải được xây cất Nếu những định luật ấy không được tuân theo, cây cầu sẽ sụp

đổ Có thể nói rằng chính những định luật đóng vai trò của đấng tối cao để giữ cho cây cầu đứng vững Với ý niệm về “thiện”, “ác”, “tốt”, “xấu” cũng vậy Chẳng hạn khi chúng ta có thể nói một người đẹp hay là một bông hoa đẹp là

vì chúng ta biết ý niệm về cái đẹp Chúng ta khi nhìn một sự vật nào đó chúng

ta sẽ có sự đánh giá cho rằng nó đẹp, khi quan sát nhiều sự vật như vậy, chúng

ta nhận ra rằng cái đẹp của một hình thể thì giống với các hình thức khác, tức là cái đẹp tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau Từ đó, chúng ta đi đến kết luận ở mọi hình thức đều cùng là một cái đẹp, và chúng ta sẽ hình thành dần khái niệm về cái đẹp Cái đẹp này với tư cách là một khái niệm, nó sẽ tồn tại khách quan, nghĩa là cái đẹp của một sự vật cụ thể nào đó sẽ mất đi nhưng cái đẹp nói chung thì luôn luôn tồn tại Cụ thể như đối với bông hoa, cái đẹp của nó khi tàn

sẽ mất đi, nhưng ý niệm về cái đẹp vẫn còn Từ những ngẫm ngợi sâu sắc đó, ông kết luận rằng, thế giới ý niệm là không mất đi, những cái bản chất và

Trang 26

không mất đi là những cái tồn tại trước cảm tính Chỉ có những cái cảm tính, nhất thời mới mất đi mà thôi

Đây là sự phát triển xu hướng triết học Socrates một cách cực đoan Socrates, người mà Platon nói riêng và xã hội Hy Lạp nói chung rất tôn kính, trong triết học của mình, Socrates đã đưa ra phương châm “con người hãy tự nhận thức chính mình” Nghĩa là con người phải tự nhận thức xem những hiểu biết, tri thức, tư tưởng của mình có phù hợp với thế giới khách quan, chân lý khách quan hay không Socrates không đồng ý với các nhà ngụy biện khi theo họ, không có tiêu chuẩn chung nào hết cho nhận thức, cái nào là đúng, cái nào là sai, hoàn toàn

do sự cảm nhận của con người Theo Socrates, mọi thứ cần có chuẩn mực chung, tiêu chuẩn khách quan chứ không thể tùy tiện, tiêu chuẩn khách quan đó là phải nhận thức được các sự vật hiện tượng ở mức độ khái niệm, quy luật chung Như vậy các khái niệm, quy luật chung chính là những tiêu chuẩn khách quan dùng để kiểm tra nhận thức của con người Hiểu sự vật là phải hiểu nó tới mức độ khái niệm Nói về “thiện” rất hay nhưng không hiểu “thiện” là gì thì coi như chưa hiểu Nhận định đó của Socrates là hoàn toàn hợp lý

Platon tiếp thu luồng tư duy đó, tuy nhiên ông đã cường điệu hóa, cực

đoan hóa khái niệm của Socrates, ông đã rút khái niệm chung đó ra khỏi sự

vật cụ thể và đem khái niệm đó hòa trộn vào thế giới ý niệm theo cách tưởng tượng của ông, tức là thế giới bao gồm toàn các khái niệm, tri thức, quy luật, định luật Tiếp theo, ông đã thần thánh hóa thế giới ý niệm đó Với Học thuyết ý niệm, Platon đã hoàn thiện quan niệm duy tâm khách quan về thế giới Tuy thế, chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platon không phải là kết quả của sự dốt nát, cũng không phải là kết quả của sự suy nghĩ hời hợt mà là kết quả của sự chiêm nghiệm sâu sắc, gợi mở những vấn đề cần phải tư duy sau này, học thuyết ý niệm của ông là mẫu mực của quan niệm duy tâm khách quan trong lịch sử triết học, nó lả nền tảng cho sự phát triển của chủ nghĩa duy tâm nhân loại sau này

Trang 27

1.1.2.2 Nhận thức luận

Từ thế giới quan trên, Platon đã quan niệm một cách duy tâm, thần bí

về linh hồn Vẫn là quan niệm muôn thuở của các tác gia Hy Lạp: con người

là sự kết hợp giữa linh hồn và thể xác Theo ông, thể xác của con người được cấu tạo từ đất, nước, lửa và không khí, nó chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn Linh hồn của con người là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được Thượng đế tạo ra, tồn tại vĩnh viễn Sau khi được tạo ra, mỗi linh hồn trú ngụ ở một vì sao trên trời, sau đó dùng cánh bay xuống trần gian và nhập vào thể xác con người Khi thể xác mất đi, linh hồn sẽ lại thoát ra trở về thế giới ý niệm, ở đó, bên ngoài thể xác, linh hồn tiếp tục chiêm nghiệm, có được những nhận thức mới, khi nhập trở lại vào thể xác con người thì nó quên hết mọi quá khứ, do

đó nhận thức của con người chỉ là sự hồi tưởng lại những gì mà linh hồn đã có

nhưng bị lãng quên

Nhận thức là sự hồi tưởng, hồi ức, nhớ lại, nó chủ yếu thể hiện ở khả năng tư duy lý tính của con người Như vậy, các giác quan của con người đóng một vai trò mờ nhạt Platon không đề cao nhận thức cảm tính, ông chỉ chú ý đến lý tính Xu hướng duy lý này có lẽ được ông kế thừa từ các triết gia Eleatic và phát triển nó hết sức xuất sắc Đây cũng là xu hướng trội của triết học Phương Tây

Nhận thức thông thường cho chúng ta hình ảnh về thế giới hiện tượng,

nó không mang tính chân thực, chỉ là cái bóng mờ của bản chất sự vật Hiện thực đích thực không phải là cái hiện ra, mà là cái làm cho sự vật là cái nó có, được tinh thần nắm bắt và thể hiện ra trong ngôn ngữ Thế giới bản chất thuần tuý đó là thế giới ý niệm, nó nằm ngoài không gian, thời gian và không thay đổi Theo Platon, đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm tính khách quan bên ngoài, mà là thế giới ý niệm, là thế giới bất tử Nhận thức cảm tính không phải là nguồn gốc của tri thức; tri thức chân thực chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính, được thể hiện ở các khái niệm

Trang 28

Bằng cách nào để có được nhận thức chân thực, đạt được chân lý Bằng cách hồi tưởng lại những gì linh hồn đã trải qua, nhưng khi nhập vào thể xác con người nó đã bị quên đi Linh hồn, theo ông là cơ sở để gắn thế giới ý niệm và thế giới các sự vật cảm tính Mục đích cao cả của linh hồn là nhận thức ý niệm Linh hồn muốn nhận thức được sự vật phải tách rời khỏi thể xác, khi còn vương vấn với thể xác, linh hồn không bao giờ đạt được chân lý: “… nếu chúng ta cần phải biết rõ một sự vật nào thì chúng ta cần phải tự tách rời ra khỏi thể xác và nhìn các sự vật ấy trong chính các sự vật ấy bằng linh hồn do chính linh hồn” [40, tr148 - 149]

Platon phân tri thức làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có đựơc nhờ hồi tưởng Loại tri thức này liên quan với những lý lẽ hợp logic và chắc chắn, không bị những sự tuyên truyền, thuyết phục làm thay đổi, loại này liên quan đến ý niệm của nó, tồn tại vĩnh hằng, vô hình thể và không trông thấy được Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân

lí Theo Platon, những tri thức của linh hồn trước khi nhập vào thể xác con người mới là đúng đắn, chân thực, còn tri thức về sự vật cảm tính thì lẫn lộn giữa đúng và sai

Tóm lại, Platon đã quy toàn bộ quá trình nhận thức thành quá trình hồi tưởng của linh hồn bất tử, một cách thần bí Do đó, có thể nói lý luận nhận thức của ông không có nhiều giá trị, giá trị chủ yếu của lý luận nhận thức Platon là ở phương pháp biện chứng, phương pháp mà theo ông, nó giúp linh hồn nhớ lại quá khứ Phương pháp biện chứng Platon được xây dựng trên cơ

sở biện chứng của Socrates

Biện chứng của Socrates là nghệ thuật tranh luận với 4 bước, tiếp cận một người hay một nhóm người, đặt ra câu hỏi về bản chất một số khái niệm, thách thức sự đối đáp của những người đối thoại cho đến khi chắc chắn rằng

họ đã sai, và kết thúc bằng việc phủ nhận họ “Kỹ thuật” đối thoại của

Trang 29

Socrates được gọi là “bác bỏ logic”, Socrates là người có biệt tài đặt ra những câu hỏi châm biếm nhẹ nhàng để người đối thoại tranh luận thấy được cái sai của mình, từ đó tìm ra chân lý Platon thường chứng kiến những cuộc tranh luận của Socrates với những người khác nên ông rất ngưỡng mộ khả năng này của thầy Không muốn cho phép biện chứng của thầy bị mai một, ông đã kế thừa phép biện chứng đó, làm cho phép biện chứng Socrates trở nên hợp lý hơn, biến 4 bước của Socrates thành 2 bước là Hỏi – Đáp dễ áp dụng hơn

Trong tác phẩm Cộng hòa thể hiện rõ phép biện chứng này, chẳng hạn, bắt

đầu cuộc hội thoại, Platon trong vai Socrates đã đặt ra một câu hỏi “ Phần lớn tài sản do thừa hưởng hay tự tay làm ra?” [42 Tr72], mọi người bắt đầu lý giải, tranh luận chủ đề này, đưa ra những phương án trả lời của mình, cùng đối đáp để có câu trả lời đúng nhất Tất cả mọi nội dung của tác phẩm đều được triển khai theo cách thức như vậy

1.1.2.3 Học thuyết về linh hồn

Linh hồn con người do Thượng đế sinh ra, được tạo hóa nhào nặn bằng chính những thành tố cấu thành nên linh hồn thế giới nhưng với cách thức pha trộn khác nhau Platon quan niệm mỗi linh hồn là một cá thể, chúng cư ngụ trên các vì sao trên trời, có bao nhiều vì sao thì có bấy nhiêu linh hồn Platon khẳng định linh hồn tồn tại tiên nghiệm, có năng lực tiếp cận chân lý và giá trị Tạo hoá đã ban cho các linh hồn con đường “tiếp cận tới các thiên thần”

đó chính là Trái đất và các hành tinh, ban cho “những công cụ nhất thời” để đưa linh hồn tới tồn tại hữu hình, đó là thân xác, nuôi dưỡng làm con người lớn lên và khi thân xác chết đi Thượng đế lại tiếp nhận lại linh hồn Linh hồn con người mang bản chất tinh thần vô hình, phi vật chất, siêu trần thế Chỉ khi linh hồn được cấy vào “những công cụ nhất thời” kết hợp với thể xác thì khi

đó mới sinh ra các tri giác cảm tính

Linh hồn con người bao gồm 3 bộ phận: bộ phận thứ nhất là linh hồn lý

trí, đây là linh hồn có khả năng nhận thức được thế giới ý niệm, chân lý; bộ

Trang 30

phận thứ hai là linh hồn xúc cảm, là cơ sở cho sự giận dữ, tính tự trọng, gan

dạ và dũng cảm; bộ phận thứ ba là linh hồn cảm tính, đây là cơ sở cho những

tham vọng, ham muốn, nhu cầu ăn uống, nhu cầu tình cảm… Trong ba bộ phận này thì chỉ có linh hồn lý trí là tồn tại bất tử, hai bộ phận còn lại thì chết cùng với thể xác

Tuy linh hồn bao gồm 3 bộ phận song theo Platon, chúng luôn thống nhất với nhau Trong đó, ông đã so sánh linh hồn con người với “năng lực gắn kết cỗ xe ngựa đối với người lái xe ngựa” Người lái xe có vai trò như linh hồn lý trí Hai con tuấn mã có vai trò như hai bộ phận còn lại của linh hồn, một con trắng đẹp bên phải đại diện cho linh hồn dũng cảm, một con đen xấu

xí bên trái đại diện cho linh hồn dục vọng, một con thì không cần roi vọt gì

cả, chỉ cần người cầm cương nói và hướng dẫn là nó đi đúng đường, còn con kia ngang ngược và bất kham dùng roi vọt mới trị được nó Muốn cho con ngựa đi đúng hướng thì người cầm cương phải biết điều khiển, biết kết hợp cả hai con ngựa một cách khéo léo, sao cho cả ba đều kết hợp và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Bằng hình ảnh như vậy, Platon chỉ rõ phần linh hồn lý trí nắm quyền điều khiển linh hồn dũng cảm và linh hồn dục vọng

để tạo nên sự hài hòa thống nhất với nhau

Theo Platon linh hồn trước khi nhập vào thể xác, bộ phận lý trí đã thấy

rõ ý niệm và chân lý Khi linh hồn nhập vào thể xác, thì nó sẽ quên hết những

gì đã chiêm nghiệm trước đây Mặc dù vậy, linh hồn vẫn có khả năng hồi tưởng lại những gì đã biết Tuy nhiên, hai bộ phận còn lại của linh hồn là linh hồn dũng cảm và linh hồn dục vọng, là hai linh hồn nhất thời, là nơi trú ngụ của những nhu cầu, cảm xúc nguy hại không tránh khỏi, đã ngăn cản quá trình hồi tưởng của linh hồn lý trí làm cho nó khó có thể nhớ lại những gì đã thấy, khiến cho linh hồn lý trí rơi vào tình trạng lầm lạc, dẫn đến ngu dốt và là nguyên nhân của mọi điều xấu và ác

Trang 31

Linh hồn theo quan điểm Platon không chỉ dừng lại là một thực thể tinh thần, mà còn là nguyên lý của vận động và cuộc sống Tất cả mọi loài có sự sống từ thực vật, động vật đều luôn tự vận động Sự tự vận động của sự sống

là bởi vì nó có linh hồn Do đó, linh hồn không chỉ là tinh thần, ý thức mà còn

là nguyên lý của sự sống, nó là nền tảng là cơ sở của mọi sự vận động trên thế gian này Platon cho rằng linh hồn còn là khâu trung gian giữa cảm tính và lý tính Với tư cách là tinh thần, linh hồn con người là nơi chứa đựng ý niệm, còn với tư cách là linh hồn cảm tính, linh hồn là nơi chứa đựng nội dung sinh khí Một mặt nhằm thức tỉnh các ý niệm và mặt khác thông qua các ý niệm thì linh hồn mới lộ diện được Linh hồn con người gắn kết với thể xác một cách

tự nhiên, nó chính là nhịp cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới các sự vật cảm tính xung quanh chúng ta và tạo nên cấu trúc vũ trụ

Trong học thuyết linh hồn của Platon, một trong những tư tưởng quan trọng của ông là sự luân hồi của linh hồn Linh hồn sau khi được Thượng đế tạo ra nó được đầu thai vào các vật trên trái đất Trong lần đầu thai đầu tiên, các linh hồn đều như nhau không có linh hồn nào thiệt thòi cả Sau khi trải qua lần đầu thai thứ nhất, linh hồn dời khỏi thể xác và chịu sự phán quyết trước toà án của những người quá cố Sau đó, linh hồn được tái sinh lần thứ hai Lúc này các linh hồn tự chọn cho mình một đường đời tương lai của mình Người nào được giải thoát trước tiên, người đó được lựa chọn trước đường đời của mình, và sau này họ không thể thay đổi được Thông thường

đa số mọi người lựa chọn dựa trên thói quen từ kiếp trước Nếu như một người đàn ông ở lần tái sinh thứ hai lại mang bản tính của một phụ nữ thì cũng là vì kiếp trước khả năng cảm tính nổi trội hơn lý trí của anh ta, nên bây giờ trở thành một phụ nữ Nếu một con lươn lựa chọn mình thành một con sư

tử, thì cũng vì ở kiếp trước nó đã phải nếm trải mùi thú dữ…chỉ khi nào linh hồn trong cuộc đời của nó ít nhiều tiếp cận được với khái niệm và chân lý vĩnh viễn biến chúng thành của riêng mình, thì nó mới được đầu thai vào kiếp mới, cao hơn hoặc thấp hơn kiếp trước

Trang 32

Platon chứng minh sự bất tử của linh hồn:

Thứ nhất, chính bước chuyển qua lại của các mặt đối lập tạo nên sự bất

tử của linh hồn Bởi lẽ sự chuyển hóa của các mặt đối lập, cái chết phải chuyển thành cái sống, nhưng cái chết vẫn luôn xảy ra Điều đó chứng tỏ, linh hồn phải chuyển sang trạng thái khác khì thể xác chết để tiếp tục sự sống của mình “… Thực ra, theo cổ truyền… ở dưới đó (dưới trần thế) có những linh hồn ở trên này (trên thượng giới) xuống, rồi thì…, các linh hồn này lại trở về đây và tái sinh do những người đã chết đi, thì cái mà ta phải thừa nhận, phải chăng là các linh hồn phải xuống ở đó(dưới trần thế)” [40, tr159]

Thứ hai, tri thức của con người là do linh hồn nhắc lại cho con người

cái mà nó đã gặp, đã thấy trước khi nhập vào thể xác con người điều đó đã chứng tỏ, linh hồn tồn tại trước khi có thể xác con người và cả sau khi thể xác con người không còn, tức là chết

… học thức của chúng ta chỉ là sự hồi tưởng và như thế cần rằng vào thời trước kia chúng ta đã học hỏi được những điều mà ngày nay chúng ta nhớ lại Mà việc ấy không thể nào có được, nếu trước kia, linh hồn của chúng ta không có ở một nơi nào trước khi sinh hóa thành người Vậy thì như thế rất có thể linh hồn là bất tử [40, tr166]

Thứ ba, các sự vật luôn thay đổi, cơ thể con người cũng luôn thay đổi,

nhưng linh hồn thì luôn đồng nhất với chính nó, nghĩa là linh hồn gần giống với thần thánh, vậy nên linh hồn là bất tử

Thứ tư, linh hồn về bản chất là nguyên nhân chân chính của sự vật, là

cuộc sống của thân thể nó không thể chết, linh hồn là bất tử Nô lệ không phải người nên không có linh hồn Linh hồn gồm 3 phần: lý trí với đặc trưng là thông minh; xúc cảm có đặc trưng là dũng cảm; cảm tính có đặc trưng là dục vọng Người nào có lý trí chiếm ưu trội trong linh hồn sẽ trở thành nhà triết học, thông thái; người nào xúc cảm chiếm ưu trội sẽ trở thành vệ binh làm công tác chiến tranh; còn cảm tính mà chiếm ưu trội sẽ là người lao động chân

Trang 33

tay Với Platon, có linh hồn tốt và linh hồn xấu “Một linh hồn biết điều và đạo đức thì người ta gọi là một linh hồn tốt, một linh hồn không biết điều và tà dâm thì người ta gọi là linh hồn xấu” [40, tr221]

Quan niệm của Platon về học thuyết linh hồn nói chung và tư tưởng về

sự bất tử của linh hồn nói riêng gặp phải không ít ý kiến phản bác Tuy nhiên, sau này có rất nhiều nhà tư tưởng kế thừa, biện hộ, bổ sung thêm và nó tồn tại cho đến ngày nay Đặc biệt là ông cho rằng linh hồn là bản chất của con người, nó không thuộc vào thế giới trần gian mà ở thế giới bên kia Đây là tư tưởng đặt nền móng cho nhiều nhà triết học duy tâm và đặc biệt là tôn giáo sau này, trong đó rõ nhất là Kitô giáo

1.1.2.4 Quan điểm chính trị - xã hội của Platon

Tư tưởng chính trị - xã hội của Platon nhất quán với Học thuyết ý niệm, nhận thức và Học thuyết về linh hồn của ông Ngoài những nội dung sẽ được

phân tích gắn với tác phẩm Cộng hòa, có thể lưu ý một số nội dung lớn sau đây:

Tư tưởng phân chia đẳng cấp: Platon chia xã hội thành các đẳng cấp

Theo ông, sự phân chia đẳng cấp trong xã hội là do sự quy định của linh hồn, dựa trên sự phân chia cơ cấu linh hồn Theo đó xã hội bao gồm 3 đẳng cấp: một

là, các triết gia - cai trị gia, hay đẳng cấp vàng, tương ứng với phần lý trí của linh hồn; hai là, các chiến binh, hay đẳng cấp bạc, tương ứng với phần xúc cảm của linh hồn; ba là, những người lao động chân tay và buôn bán, hay đẳng cấp đồng

và sắt, tương ứng với phần cảm tính của linh hồn Mỗi đẳng cấp thực hiện một vai trò xã hội khác nhau, được hưởng lợi ích khác nhau, có quyền uy, địa vị khác nhau, sự phân chia này, do sự quy định của linh hồn, trở thành đương nhiên, tất yếu, không cần phải bàn cãi

Quan niệm về nhà nước: Platon đặc biệt phản đối thể chế nhà nước chủ nô

dân chủ và đề cao thể chế chủ nô quý tộc Theo Platon, nhà nước là một hình thức xã hội tự nhiên của loài người, họ hợp thành một nhà nước để giúp đỡ nhau

Trang 34

sống một đời sống tốt đẹp hơn và họ thiết lập một giai cấp cai trị để đem lại lợi ích cho toàn thể đất nước Một nước công bằng khi các thành viên của nước ấy thi hành đúng các chức năng của mình Nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng các nhu cầu của con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thỏa mãn các nhu cầu ấy

Với quan niệm của Platon, nhờ có nhà nước, xã hội mới trở nên có trật tự, mọi công việc, ngành nghề mới được cắt đặt một cách hợp lý Platon xem nhà nước là sự biểu hiện cho công lý của xã hội Những quan niệm đó dẫn ông tới thái độ đặc biệt đề cao, tới mức sùng bái nhà nước Ông đòi hỏi con người phải phục tùng nhà nước, phải phục vụ cho nhà nước, phải làm nô lệ cho nhà nước, phải sống vì nhà nước Ở đây, Platon vừa đạt được những quan điểm nhân văn tiến bộ, đồng thời cũng thể hiện thái độ cực đoan nhất định về chính trị Đặc biệt, Platon hết sức bất bình với cơ chế dân chủ đang hiện hữu ở Athens, cơ chế mà bằng quyền lực, đã giam giữ, kết tội chết người thầy tôn kính của ông Tại sao

“dân chủ” mà lại kết tội một người thánh thiện như Socrates? Platon tiếp tục ngẫm nghĩ, tìm ra nguyên nhân của sự đổ vỡ sẽ diễn ra từ bên trong cơ chế dân chủ đó, ông đã phân tích sâu sắc điều đó trong tác phẩm để đời của mình- tác

phẩm Cộng hòa

Quan niệm về một xã hội lý tưởng: Là người luôn có chí hướng hoạt

động chính trị ngay từ thưở thiếu thời Platon luôn theo sát diễn biến chính trị của xã hội Hy Lạp, ông không đồng tình với cơ chế dân chủ đang được thực hành ở thành bang Athens, ông hướng sang cơ chế của nhà nước Spac, nhưng ngay cả nhà nước Spac, Platon cũng thấy có những đặc điểm cần phải thay đổi

Platon sống, tham gia tích cực vào đời sống xã hội, được chiêm nghiệm với nhiều nền chính trị như nền dân chủ Athens, nền độc tài Syracuse, ông thấy được sự đối xử bất công đối với con người qua cái chết của thầy Soctares, ông thấy được sự độc đoán của nhà vua xứ Syracuse, bản thân Platon cũng từng bị

Trang 35

cầm tù bởi chế độ Dionysius cha và con Những thực tế sống động, trực tiếp đó khiến ông hướng tới tư tưởng cần cách tân xã hội hiện thời, ông đề xuất một mô

hình xã hội lý tưởng được quản lý bởi nhà nước lý tưởng, tác phẩm Cộng hòa

của ông tập trung bàn về mọi phương diện của xã hội này

Tóm lại, Platon để lại cho hậu thế một hệ thống triết học phong phú, những tư tưởng có độ sâu sắc bao quát nhiều lĩnh vực của tự nhiên, xã hội, tư duy Những lý tưởng chính trị - xã hội thể hiện tâm huyết của mình được ông

trình bày trong nhiều tác phẩm, trong đó có tác phẩm lớn: Cộng hòa

1.2 Tác phẩm Cộng Hòa

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và cấu trúc tác phẩm

Tác phẩm Cộng hòa được Platon viết vào năm 380 Tr.CN Đây là tác

phẩm nổi tiếng chứa đựng nhiều tư tưởng triết học và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của tư duy triết học và học thuyết chính trị của nhân loại

Cộng hòa có một kết cấu đa diện về mặt triết học Chủ đề xuyên suốt của nó là đưa ra cách xác định phạm trù “công bình”, hay “công lý”- một phạm trù đạo đức Song trong quá trình phân tích Platon không bị lệ thuộc vào phạm trù này, nói đúng hơn, “công bình” với tính cách là một phạm trù đạo đức mang tính lý tưởng đã thể hiện thiên hướng đạo đức - chính trị của Platon, được dùng làm cơ sở để lý giải các vấn đề liên quan đến hoạt động của con người, chẳng hạn quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa người với người, vấn đề nguồn gốc nhà nước và phân tầng xã hội, mô hình “nhà nước lý tưởng”, hay nhà nước hoàn thiện với hàng loạt nội dung cụ thể của nó

Cộng hòa là một tác phẩm đối thoại, đây là nét đặc trưng của phép biện

chứng Platon, ở phép biện chứng đối thoại này, sự tự do thay cho tính hệ thống chặt chẽ, sự linh hoạt ứng tác thay cho các quy tắc lôgíc nghiêm ngặt Các vấn đề được thể hiện không theo trình tự nào, buộc người đọc phải xâu chuỗi các nội dung và lần theo những mẩu đối thoại để phát hiện tư tưởng của

Trang 36

chính Platon Bản thân Platon mượn thầy Socrates bày tỏ quan điểm của mình, hơn là tự mình dẫn dắt câu chuyện Điều này có lợi cho việc trình bày một cách “trung lập” tư tưởng của Platon, thông qua các luận chứng mang tính thuyết phục cao Các nhân vật tham gia đối thoại với Socrates gồm có Glaucon, Polemarchus (hay Polemarchos), Thrasymachus, Adeimantus và Cephalus Ngoài ra, có một số người có mặt nhưng không phát biểu ý kiến như Liysias và Euthydemus Đây là những người thuộc tầng lớp có hiểu biết trong xã hội, họ là thương gia, là nhà văn, nhà hùng biện, nhà chính khách của

xã hội đương thời Tên gọi tác phẩm Cộng hoà ngụ ý một cách tiếp cận về

quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng

Nội dung của tác phẩm không bàn đến những khía cạnh thuần tuý chính trị, hay bản thể luận chính trị, mà gắn kết hữu cơ với thế giới quan Platon, với quan điểm thẩm mỹ, giáo dục, nghệ thuật Ở đây tính thống nhất về thế giới quan đã được làm sâu sắc thêm Nhà nước lý tưởng mà Platon hình dung trên

cơ sở đánh giá có phê phán các hình thức nhà nước đã và đang tồn tại cũng là

sự triển khai học thuyết về tồn tại, nơi mà Platon đối lập tồn tại đích thực, bất biến, vĩnh viễn với thế giới của vẻ ngoài, sự biến đổi nhất thời

Tên tác phẩm Platon đặt là Politeia; Politeia là đời sống công cộng và

sinh hoạt chính trị của cộng đồng, nghĩa là thành phố, cộng đồng dân chúng chung sống, tự quản, hoạt động đối ngoại là tham gia chiến tranh, hoạt động đối nội là bảo vệ hòa bình, Politeia là nhóm xã hội tự nhiên chứa trong nó tất

cả những gì cần thiết để phát triển, đồng thời hành xử khả năng, quyền hạn của con người Politeia theo tiếng Việt dịch là thành quốc (thị quốc, thành bang), nó được coi như là những quốc gia nằm trong Hy Lạp Do điều kiện tự nhiên Hy lạp, lãnh thổ bị chia cắt thành nhiều vùng Mỗi hòn đảo, eo biển tự hình thành các thành bang, tự xây dựng nền kinh tế riêng, có nhà nước riêng, quân đội riêng, nhưng đều tự nhận là thành viên của quốc gia Đại Hy Lạp

Trang 37

1.2.2 Nội dung tác phẩm

Nội dung trọng tâm và xuyên suốt của tác phẩm là bàn về công bình, làm rõ công bình là gì? muốn xây dựng một nhà nước công bình và một công dân chân chính thì phải làm thế nào? tác phẩm là sự hòa quyện giữa triết học

và văn học ở mức độ cao nhất, sự hòa quyện đó khiến Cộng hòa trở nên một

tác phẩm kinh điển trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại Trước khi

nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị xã hội của Platon trong tác phẩm Cộng

hòa cần phải phác họa những đường nét chính về kết cấu và nội dung cơ bản

nhằm đưa ra bức tranh chung của tác phẩm Đồng thời giúp cho việc nghiên cứu được sâu sắc và đảm bảo được tính logic trong quá trình tìm hiểu tư tưởng của Platon về chính trị - xã hội

Tác phẩm Cộng hòa mà luận văn sử dụng làm tài liệu nghiên cứu bao

gồm 722 trang, do Benjamin Jowett và M.J.Knight biên tập, được Đỗ Khánh Hoan dịch ra tiếng Việt; tác phẩm này được ấn hành bởi nhà xuất bản Thế giới năm 2014 Tác phẩm được viết theo lối viết quen thuộc trong tất cả các tác phẩm khác của Platon là dạng hội thoại, trong đó Platon vào vai nhân vật chính lấy tên là Socrates, cùng các nhân vật khác tranh luận là Glaucon, Adeimantus, Polemarchus, Cephalus, Thrasymachus, Cleitophon Tác phẩm được chia thành 10 phần, nội dung cơ bản của từng phần như sau:

Phần I:

Sau lễ hội tôn giáo ở hải cảng Piraeus, Socrates đang sửa soạn quay lại thành Athens cùng người bạn trẻ Glaucon Trên đường về hai người đã gặp Adeimantus và nhà quý tộc trẻ Polemarchus cùng một số người nữa Họ đã thuyết phục Socrates và Glaucon ở lại Hai người đồng ý và cùng đi đến nhà Polemarchus Ở đó họ gặp cha của Polemarchus là ông Cephalus một người giàu có cao tuổi và uy tín ở Piraeus và những người khác Socrates đã bắt đầu thảo luận với người chủ nhà lớn tuổi về giá trị của tuổi già Thảo luận này nhanh chóng kết thúc và chuyển sang đề tài công bình Cephalus là người đầu

Trang 38

tiên đưa ra định nghĩa về công bình theo cách hiểu truyền thống của người Hy Lạp Theo ông công bình là sống trung thực và trả các món nợ Socrates đã không thỏa mãn với định nghĩa ấy khi đặt ra tình huống: khi một người có tâm trí không sáng suốt, ông ta đòi lại món vũ khí mà ông ta cho bạn mượn, xét về nghĩa vụ pháp lý thì vũ khí là của ông ta, nhưng khi trả vào hoàn cảnh lúc đó lại là một hoàn cảnh bất công vì nó sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng của người khác Sau đó Cephalus phải đi dâng lễ tế Thần và Polemarchus con trai của ông đã tiếp nhận cuộc tranh luận Polemarchus đã đưa ra định nghĩa mới về công bình đó là nghệ thuật cho bạn bè điều tốt và cho kẻ thù điều xấu Tuy định nghĩa này có điểm khác với cha ông nhưng thực chất chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Chúng chia sẻ đòi hỏi ngấm ngầm là trả các món nợ

và đem đến với nhau những gì thích ứng Đây cũng là thái độ của một nhà chính trị còn trẻ và tham vọng trong khi định nghĩa của Cephalus là định nghĩa của những doanh nhân già đã có cơ sở vững chắc

Cuộc thảo luận đến đây thì Thrasymachus nhảy vào tranh luận và tuyên

bố rằng ông sẽ đem lại một định nghĩa tốt hơn, ông cho rằng công bình không

có gì khác hơn là lợi ích của kẻ mạnh Nguyên lý công bình thuộc về kẻ mạnh Sự bất công bao giờ cũng có lợi, còn công bình bao giờ cũng mang lại những điều thua thiệt Cuộc tranh luận trở nên phức tạp hơn, lúc đầu thách thức duy nhất là định nghĩa về công bình Bây giờ Socrates ngoài việc đưa ra định nghĩa về công bình thì ông còn phải chứng minh công bình là đáng giá Socrates không đồng ý với Polemarchus và không tin bất công là đức hạnh vì

nó trái với sự khôn ngoan

Cuối cùng Socrates lập luận công bình là sự tuyệt hảo của linh hồn và bất công là khuyết điểm của linh hồn Công bình là đáng mong muốn vì nó có nghĩa là sức khỏe của linh hồn Như vậy, kết thúc phần I Socrates và những người đàm thoại đã không đi đến một sự thống nhất về định nghĩa công bình Socrates cũng chỉ mới đưa ra quan niệm bước đầu, chưa thuyết phục được

Trang 39

người khác, Tuy nhiên, vấn đề tranh luận đã được thiết lập để tiếp tục được làm sáng tỏ trong những phần tiếp theo

Phần II:

Socrates muốn thuyết phục mọi người công bình có lợi hơn bất công, nhưng Glaucon lại cho rằng giữa hai cuộc sống công bình và bất công thì cuộc sống bất công là có lợi hơn cuộc sống công bình Để nhấn mạnh quan điểm của mình, Glaucon đã kể lại truyền thuyết về một người tên là Gyges, tổ tiên của Croesus người Lydia, anh ta có chiếc nhẫn giúp anh ta vô hình, nhờ

đó anh ta làm rất nhiều điều bất công mà không ai biết Glaucon giả thiết một

ai đó cũng có chiếc nhẫn như vậy liệu người đó có hành sự một cách công bằng hay không Từ đó, Glaucon cho rằng người ta công chính chỉ vì họ sợ sự trừng phạt nếu làm điều bất công và ông đã vẽ hai bức tranh chi tiết về người công bình và người bất công Người bất công thì hoàn toàn thỏa mãn mọi dục vọng của mình, được vinh dự, khen thưởng và giàu có Người công chính thì

bị khinh miệt và chịu khốn khổ Trước tình hình đó, Socrates cho rằng đây là một vấn đề khó, không dễ dàng hiểu nó nên đã đề xuất cách giải quyết bằng cách tìm công bình trong một phạm vi lớn hơn, đó chính là nhà nước, rồi sau

đó tiến hành tìm hiểu nó ở một mức độ nhỏ hơn là mỗi cá nhân

Các nhân vật nhất trí với đề xuất đó và Socrates bắt đầu đi xây dựng một nhà nước trong giả tưởng để tìm hiểu công bình và bất công Theo Socrates nhà nước ra đời là do con người có nhiều nhu cầu, không một cá nhân nào có thể tự đáp ứng được nên cần có sự giúp đỡ lẫn nhau để thỏa mãn những nhu cầu đó Sự quy tụ được những người sống cùng một nơi để trợ giúp và cộng tác cho nhau đã hình thành nên nhà nước Trong nhà nước đó mỗi người đều làm những công việc chuyên môn hóa phù hợp với bản chất tự nhiên của mình Nhà nước đó ngày càng phát triển và trở nên xa hoa, chính sự giàu có này sẽ làm xuất hiện chiến tranh Do đó, sẽ có một lực lượng chiến binh để bảo vệ và gìn giữ hòa bình của nhà nước Để trở thành những chiến binh trước hết họ phải có bản tính tự

Trang 40

nhiên phù hợp với nghề nghiệp Tuy nhiên, bản tính tự nhiên vẫn chưa đủ mà họ cần phải được giáo dục để phát triển tài năng thiên bẩm sẵn có của mình

Phần III:

Bàn về giáo dục cho các chiến binh trong đó bao gồm huấn luyện âm nhạc, thể dục, đây cũng chính là quá trính thanh lọc tâm hồn và làm cho nhà nước lành mạnh và sang trọng Những người lính được huấn luyện âm nhạc trước khi đến tuổi học thể dục Trong nội dung huấn luyện âm nhạc bao gồm văn học, văn phong, âm điệu và tiết tấu Về văn học mà cụ thể là các câu truyện dùng để kể cho những người bảo vệ tương lai nghe, những câu truyện này phải được kiểm duyệt kỹ lưỡng, chỉ giữ lại những câu truyện tốt để khơi dậy sự can đảm, điều độ, tiết độ, còn những câu truyện xấu phải được loại bỏ

Về văn phong, Socrates cho rằng không sử dụng nghệ thuật bắt chước mà sử dụng một loại tường thuật bởi một người tốt thực sự, đó là những người kể truyện đơn sơ và nghiêm túc Tiếp theo Socrates bàn về âm điệu, ông cho rằng phải loại bỏ những âm điệu mềm yếu, buồn sầu và chỉ giữ lại âm điệu hào hùng, biểu hiện cho lòng dũng cảm và sự tiết độ Về tiết tấu, phải tìm loại tiết tấu diễn tả lòng dũng cảm và đời sống hài hoà, đồng thời loại bỏ những tiết tấu diễn tả tính bần tiện, thô lỗ, giận dữ hoặcnhững tật xấu khác

Nội dung thứ hai người lính phải học là môn thể dục Socrates chủ yếu bàn về cách ăn uống và cách sinh hoạt điều độ để đảm bảo sức khỏe của những người lính Đoạn cuối của phần 3 Socrates bàn về đối tượng giáo dục

để trở thành nhà cai trị Họ sẽ sinh hoạt và giáo dục tập trung và không được

có tài sản riêng

Phần IV:

Đầu phần IV, Socrates lý giải tại sao người bảo vệ không được sở hữu cá nhân về nhà cửa, tiền bạc… nhưng họ vẫn là người hạnh phúc nhất Bởi nhà nước có một trật tự cao đẹp và các giai cấp khác nhau sẽ nhận được phần hạnh phúc tương ứng với bản chất, nhiệm vụ được quy định cho họ Socrates bàn về

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. V.Asmus (1969), Platon, Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, văn Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platon
Tác giả: V.Asmus
Nhà XB: Nxb Tư tưởng
Năm: 1969
2. Alan C.Bowen (2004), Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại, bản dịch của trung tâm dịch thuật (Lê Sơn hiệu đính), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại, bản dịch của trung tâm dịch thuật
Tác giả: Alan C.Bowen
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
3. C.Brinton, J.B.Christopher (1971), Văn minh Tây phương, Nguyễn Văn Lượng dịch, Tập 1, Nxb Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh Tây phương
Tác giả: C.Brinton, J.B.Christopher
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1971
4. Tống Văn Chung, Nguyên Quang Thống (1990), Lịch sử triết học cổ Hy - La, tập 1, Nxb Đại học tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học cổ Hy -La
Tác giả: Tống Văn Chung, Nguyên Quang Thống
Nhà XB: Nxb Đại học tổng hợp Hà Nội
Năm: 1990
5. W.Durant (2000), Câu truyện triết học, Trí Hảo và Bửu Đính dịch, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu truyện triết học
Tác giả: W.Durant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
6. Dương Ngọc Dũng (2006), Đường vào triết học, Nxb, Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào triết học
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Năm: 2006
7. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học Tây Phương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Tây Phương
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
8. Trần Ngọc Dũng (1967), Lý luận và tư tưởng trong huyền thoại, Nxb Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và tư tưởng trong huyền thoại
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1967
9. Phạm Cao Dương (1996), Nhập môn lịch sử các nền văn minh thế giới, Tập 1, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử các nền văn minh thế giới
Tác giả: Phạm Cao Dương
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Mặc Đỗ (1974), Thân nhân và Thần thoại Tây Phương, Nxb Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân nhân và Thần thoại Tây Phương
Tác giả: Mặc Đỗ
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1974
13. Antony Flew, Nhập môn triết học phương Tây, những tư tưởng và tranh luận từ Platon đến Popper, dịch từ nguyên bản tiếng Anh của Khoa Triết học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn triết học phương Tây, những tư tưởng và tranh luận từ Platon đến Popper
15. Nguyễn Hòa (2002), Triết học cổ Hy Lạp giản yếu, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học cổ Hy Lạp giản yếu
Tác giả: Nguyễn Hòa
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2002
16. Đỗ Minh Hợp (2002), “Đối tượng triết học - Lịch sử vấn đề”, Tạp chí Triết học, số 1, tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tượng triết học - Lịch sử vấn đề”, Tạp chí "Triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2002
17. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương lịch sử triết học Phương Tây, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Phương Tây
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
19. Benjamin Jowett & M.J.Knight (2008), Platôn chuyên khảo, Lưu Văn Hy và Trí Tri dịch, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platôn chuyên khảo
Tác giả: Benjamin Jowett & M.J.Knight
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2008
20. Nguyễn Văn Khoả (1998), Thần thoại Hy Lạp, Nxb Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại Hy Lạp
Tác giả: Nguyễn Văn Khoả
Nhà XB: Nxb Văn hóa Hà Nội
Năm: 1998
21. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, Tập 4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
22. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, Tập 14, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w