Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thời Trần với sự hình thành giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông .... Trong số các vị vua của nhà Trần, Trầ
Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại, vai trò và vị trí của con người luôn được chú trọng, thể hiện qua quá trình khẳng định giá trị con người Ngày nay, khi xã hội đã phát triển văn minh, vấn đề con người càng được nghiên cứu sâu sắc hơn Thời Trần (1225-1400) là giai đoạn đất nước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị và văn hóa, với những kỳ tích trong công cuộc dựng nước và giữ nước Trần Nhân Tông, một vị vua kiệt xuất, không chỉ là nhà chính trị và quân sự nổi tiếng mà còn là nhà văn hóa, tư tưởng, người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Triết học của ông hướng về con người, đề cao vai trò và vị trí của con người, thể hiện qua tình yêu thương và sự quan tâm đến đời sống dân chúng, cùng với hành động đoàn kết toàn dân trong cuộc chiến bảo vệ đất nước.
Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông vẫn ảnh hưởng đến đời sống hiện đại, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Hiện nay, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết, như vai trò của nhân dân, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, cũng như chiến lược phát triển con người Nghiên cứu tư tưởng nhân văn thời Trần và giá trị của nó trong triết học của Trần Nhân Tông cho thấy sự liên kết giữa truyền thống, hiện tại và tương lai, khẳng định giá trị trường tồn và vai trò quan trọng của tư tưởng nhân văn trong bối cảnh hiện nay.
Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ, tập trung vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với con người là trung tâm của mọi chiến lược phát triển Đánh giá đúng tiềm năng con người là yếu tố then chốt để phát huy động lực phát triển, nhằm thực hiện thành công chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, đây là mục tiêu cao nhất của Đảng ta hiện nay.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh rằng phát triển nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định con người là trung tâm của chiến lược phát triển, gắn liền với quyền con người và lợi ích của dân tộc Đại hội Đảng lần thứ XII tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giúp nền kinh tế vượt qua khó khăn, ổn định vĩ mô, và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời củng cố an ninh quốc phòng và vị thế quốc tế của Việt Nam.
Mặc dù công cuộc đổi mới đã mang lại những thành tựu ban đầu, nhưng đất nước vẫn còn gặp nhiều hạn chế trong nhiều lĩnh vực Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những vấn đề này.
Kinh tế Việt Nam đang đối mặt với sự phát triển không bền vững, với chất lượng và hiệu quả thấp, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chạp Các vấn đề trong giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường vẫn chưa được giải quyết, trong khi tham nhũng, lãng phí và suy thoái đạo đức gia tăng Đặc biệt, tình trạng phai nhạt lý tưởng và suy thoái tư tưởng chính trị trong Đảng và xã hội đang trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến một bộ phận cán bộ, đảng viên Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra khoảng trống về đạo đức, dẫn đến lối sống ích kỷ và phi nhân tính, làm mờ nhạt tình làng nghĩa xóm Theo Nguyễn Văn Huyên, mối quan hệ truyền thống trong xã hội nông nghiệp đã bị xói mòn, và lối sống hiện đại đang làm nghèo đi thế giới tinh thần và tình cảm của người Việt Nam.
Tổng kết và đánh giá một cách toàn diện, khách quan là cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, khắc phục hạn chế và phát huy thành quả trong công cuộc đổi mới Việc đề cao giá trị con người, coi con người là trung tâm và nguồn lực chủ yếu của sự phát triển xã hội thể hiện truyền thống nhân bản cao quý của dân tộc Việt Nam Kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn trong lịch sử và văn hóa dân tộc, nhằm thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, sẽ tạo ra động lực và sức mạnh tinh thần cho sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
Bởi vì lý do đó, tôi đã quyết định chọn nội dung “Giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trần Nhân Tông, một trong những vị vua vĩ đại của triều đại nhà Trần, được công nhận là một nhà lãnh đạo sáng suốt với những đóng góp quan trọng cho đất nước, cả trong thời kỳ của ông và cho các thế hệ sau Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, cùng với ý nghĩa lịch sử của nó, thông qua các phương pháp và quan điểm khác nhau.
Các nghiên cứu về điều kiện và tiền đề hình thành giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông rất phong phú và đa dạng Một số công trình tiêu biểu có thể được nhắc đến trong lĩnh vực này.
Đại Việt sử ký toàn thư (tập 1 và 2) do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2008, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1 và 2) của Nxb Giáo dục, Đà Nẵng, 2007, và Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1 và 2) của Phan Huy Ch, Nxb Giáo dục, Thanh Hóa, 2007, cùng với Đại cương lịch sử Việt Nam của Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu, là những tài liệu quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2005; tác phẩm Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn,
Phạm Thị Tâm, trong tác phẩm xuất bản năm 1975 bởi Nxb Khoa học xã hội, đã nghiên cứu sâu về xã hội Việt Nam trong thời kỳ Lý - Trần, thông qua công trình của Viện Sử học.
Các tác phẩm như "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" của GS Trần Văn Giàu và "Đại Việt sử ký toàn thư" đã phân tích sâu sắc các sự kiện và biến động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng của Việt Nam thời Trần, ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông "Đại Việt sử ký toàn thư" là bộ biên niên sử quan trọng, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến năm 1675, cung cấp tư liệu quý giá cho nghiên cứu lịch sử và văn hóa Bên cạnh đó, tác phẩm "Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần" của Viện Sử học đã nghiên cứu toàn diện về hình thái kinh tế, thể chế chính trị và văn hóa tư tưởng thời kỳ này, nhấn mạnh sự phân biệt đẳng cấp xã hội và vai trò của các tư tưởng như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trong đời sống tư tưởng của nhân dân Đại Việt.
Các công trình nghiên cứu lịch sử và logic cung cấp luận cứ quan trọng để phân tích cơ sở xã hội và lý luận hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông với giá trị nhân văn cao đẹp Đồng thời, những nghiên cứu này cũng khám phá cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Trần Nhân Tông từ nhiều khía cạnh khác nhau, liên quan đến đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIII-XIV, giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về cuộc đời và tư tưởng của ông.
Nghiên cứu giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông dựa trên các công trình liên quan, đặc biệt là bộ 3 tập Thơ văn Lý-Trần do viện Văn học biên soạn, với tập 2 - Quyển Thượng của Nguyễn Huệ Chi, xuất bản năm 1989 Công trình này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử thời Trần thông qua các tác phẩm, bản văn và thơ Các quan điểm chính trị, vai trò của nhân dân, và đường lối trị nước được thể hiện rõ ràng, tạo nền tảng cho việc xây dựng nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông.
Tác phẩm "Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX" do Doãn Chính làm chủ biên, được xuất bản bởi Nxb Chính trị quốc gia, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Hà Nội, xuất bản năm 2013, là một công trình lớn phân tích hệ thống quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đến đầu thế kỷ XX Tác phẩm tập trung vào thế giới quan, nhân sinh quan và chính trị xã hội của các nhà tư tưởng qua các thời kỳ lịch sử Nội dung chính của luận văn là triết lý về đạo làm người, vai trò của con người trong lịch sử, ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, khoan dung và nhân ái, tạo nên truyền thống nhân văn dân tộc.
Tác phẩm "Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIV" của Nguyễn Thị Hương, xuất bản năm 2007, phân tích cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng nhân văn dân tộc Tác giả đã làm rõ những nội dung căn bản của tư tưởng nhân văn Việt Nam trong giai đoạn này, nhấn mạnh vai trò của con người như chủ nhân đất nước, lòng yêu thương và sự đồng cảm với nỗi khổ của con người, cũng như khát vọng hòa bình và hạnh phúc Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng kế thừa các giá trị nhân văn truyền thống trong bối cảnh hiện đại.
Ngoài các tác phẩm tiêu biểu, nhiều công trình khác cũng viết về tư tưởng triết học Trần Nhân Tông và giá trị nhân văn của nó Một số tác phẩm đáng chú ý bao gồm "Tư tưởng Việt Nam thời Lý Trần" của Doãn Chính và Trương Văn Chung (chủ biên), xuất bản năm 2008 bởi Nxb Chính trị quốc gia; "Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm Việt Nam" của Nguyễn Hùng Hậu, xuất bản năm 1997 bởi Nxb Khoa học xã hội.
Việt Nam qua các đời - thời Trần, tác giả Ngô Văn Ph, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2003, và Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần, tác giả Trương Văn Chung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, đều cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử và triết lý của thời kỳ Trần, phản ánh sự phát triển văn hóa và tư tưởng trong xã hội Việt Nam.
Bài viết đề cập đến các tác phẩm quan trọng liên quan đến tư tưởng giải phóng và giải thoát con người trong thời kỳ Trần, bao gồm "Vấn đề giải phóng và giải thoát con người trong tư tưởng hai vua Trần" của Lê Sĩ Thắng, được đăng trên Tạp chí Triết học năm 1995; "Giai thoại lịch sử Việt Nam, tập 1" của Kiều Văn, xuất bản năm 2002; và "Tư tưởng Việt Nam thời Trần" của Trần Thuận, xuất bản năm 2003 Những tác phẩm này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư tưởng triết học của Trần Nhân và ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam.
Tác phẩm "Tông, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của TS Bùi Huy Du" do Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2012 đã đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu tư tưởng thời Trần, đặc biệt là Trần Nhân Tông Các nhà nghiên cứu đã đạt được những kết quả đáng kể, cung cấp nguồn tài liệu phong phú cho kho tàng văn học và văn hóa tư tưởng Việt Nam, từ đó tạo điều kiện cho việc trích dẫn và nghiên cứu sâu hơn.
Các nghiên cứu về tư tưởng của Trần Nhân Tông nhấn mạnh giá trị nhân văn trong triết học của ông, đóng góp vào sự phát triển của đất nước và xây dựng con người Việt Nam mới trong xã hội chủ nghĩa hiện nay Nhiều công trình, như Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát và các bài báo từ hội thảo quốc tế về giá trị tư tưởng, văn hóa của Phật giáo Trúc Lâm, đã được công bố, thể hiện sự quan trọng của tư tưởng Trần Nhân Tông trong bối cảnh lịch sử và văn hóa.
GS Nguyễn Huệ Chi - PGS Trần Thị Băng Thanh đăng ngày 07/09/2012;
Tư tưởng của Trần Nhân Tông về vấn đề nhân quyền, tôn giáo (Phần 1) của
Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích và làm rõ giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, đồng thời chỉ ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng này.
Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ sau:
Phân tích cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông;
Trình bày và phân tích nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông;
Giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời đại nhà Trần cũng như các thời đại sau này Tư tưởng này không chỉ phản ánh sự phát triển văn hóa mà còn góp phần định hình bản sắc dân tộc và tinh thần đoàn kết trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử.
Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu nội dung và ý nghĩa lịch sử của giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, thông qua phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của ông.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được xây dựng dựa trên lý luận triết học Mác - Lênin, tập trung vào mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Nó kế thừa các tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan, đồng thời áp dụng nhiều phương pháp như sử học, logic, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh và đối chiếu Tác giả tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học lịch sử.
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Bài viết này trình bày và phân tích một cách có hệ thống giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, từ đó làm rõ ý nghĩa lịch sử của những giá trị này Luận văn góp phần làm nổi bật sự phong phú và sâu sắc của giá trị nhân văn trong triết lý của Trần Nhân Tông.
Nghiên cứu lịch sử giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông sẽ góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế Luận văn cũng có thể trở thành tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy và học tập môn lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam tại các trường đại học và cao đẳng.
Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và hình ảnh, với nội dung chính được chia thành hai chương, bốn tiết và chín tiểu tiết.
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
CƠ SỞ XÃ HỘI HÌNH THÀNH GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thời Trần với sự hình thành giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
Theo triết học Mác - Lênin, tư tưởng là sự phản ánh và chịu sự quy định của các đặc điểm lịch sử - xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng sự tồn tại của con người quyết định ý thức của họ Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông ra đời trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam sôi động, với sự lãnh đạo của nhà Trần trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Những đặc điểm lịch sử này đã hình thành nên tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc.
Từ giữa thế kỷ XII, nhà Lý bắt đầu suy tàn với những vị vua cuối cùng không đại diện cho lợi ích quốc gia và quý tộc phong kiến Dưới triều đại vua Lý Cao Tông, chính sách bế quan tỏa cảng đã làm nền kinh tế đình trệ, dẫn đến nạn đói nghiêm trọng vào năm 1181 và 1199 mà không có biện pháp cứu trợ nào từ triều đình Sự xa rời nhân dân và tập trung vào hưởng thụ cá nhân của các vua cuối thời Lý đã gây ra sự nổi dậy ở nhiều địa phương, làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng Bộ máy chính quyền trở nên quan liêu, dẫn đến sự chống đối từ các thế lực địa chủ phong kiến và tình trạng cát cứ phân quyền Sự lũng đoạn của những kẻ gian thần xung quanh triều đình đã làm suy yếu quyền lực của nhà Lý.
Do đó, việc phế bỏ nhà Lý đang cản trở con đường phát triển của dân tộc là một động thái chính trị tất yếu
Vào năm 1225, vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái Chiêu Thánh mới 7 tuổi và trở thành Thái Thượng hoàng Dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh, và vào ngày 12 tháng 12 năm Ất Dậu, Chiêu Hoàng lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu thành Kiến Trung Vương triều nhà Trần bắt đầu từ thời điểm này và tồn tại 175 năm với 12 đời vua, trở thành một trong những triều đại phát triển đỉnh cao trong lịch sử quân chủ Việt Nam Triều Trần đã thực hiện nhiều biện pháp phát triển kinh tế, chính trị và xã hội, góp phần nâng cao vị thế của đất nước Đặc biệt, nhà Trần đã lãnh đạo ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược vào các năm 1258, 1285 và 1288, khẳng định vị thế của mình trong lịch sử.
Nhà Trần, từ khi thành lập cho đến thời kỳ trị vì của Trần Nhân Tông, đã tập trung vào việc củng cố và phát triển quốc gia Đại Việt Vua quan nhà Trần đã khéo léo đoàn kết toàn dân trong các hoạt động nông nghiệp, thương mại và thủ công nghiệp, đồng thời nâng cao đời sống chính trị và tư tưởng Họ cũng chú trọng xây dựng một quân đội tinh nhuệ và hệ thống pháp luật vững mạnh Nhờ đó, lực lượng sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ, tạo ra mối quan hệ sản xuất tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Thời kỳ nhà Trần đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đại Việt tiếp tục phát triển kinh tế và ổn định xã hội từ thời Lý Dưới sự lãnh đạo của các vua Trần, đất nước đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục Tư tưởng triết học của vua Trần Nhân Tông, với giá trị nhân văn sâu sắc, được hình thành từ đặc điểm và nhu cầu của xã hội Việt Nam thời kỳ này, đồng thời kế thừa những tiền đề tư tưởng và tôn giáo trước đó của dân tộc.
Triết học Mác-Lênin nhấn mạnh rằng trong mọi hình thái kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, với các quan điểm tư tưởng và chế độ chính trị bị chi phối bởi cơ sở kinh tế Sự phát triển kinh tế sẽ kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, bao gồm cả văn hóa tư tưởng Để xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh, nhà Trần đã chú trọng phát triển kinh tế và chăm lo đời sống vật chất cho nhân dân ngay sau khi lên ngôi.
Dựa trên tài liệu lịch sử, các nhà sử học đồng thuận rằng cơ sở kinh tế của xã hội thời Lý - Trần chủ yếu là chế độ sở hữu nhà nước về đất đai thông qua công xã nông thôn.
Chế độ sở hữu ruộng đất thời Trần đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nông nghiệp, với sự phân chia giữa sở hữu nhà nước và tư nhân Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước do vua quản lý, trong khi ruộng tư nhân hình thành từ việc cấp bổng cho quan lại và khuyến khích khai hoang Tầng lớp quý tộc dựa vào thái ấp và điền trang để phát triển quyền sở hữu, dẫn đến sự gia tăng chiếm hữu tư nhân và mở rộng kinh tế phong kiến Tuy nhiên, từ năm 1254, việc bán ruộng công đã biến ruộng đất thành hàng hóa, gây ra mâu thuẫn và phân hóa xã hội Trong thời kỳ thịnh vượng, triều đại Trần đã nỗ lực điều hòa mâu thuẫn và thống nhất lợi ích xã hội, tạo ra một chính quyền tập trung vững mạnh.
Nhà Trần không chỉ chú trọng vào sự phát triển nông nghiệp với chế độ sở hữu ruộng đất mà còn đầu tư mạnh mẽ vào các công trình thủy lợi, đặc biệt là hệ thống đê dọc sông Hồng và các con sông ở đồng bằng Bắc.
Triều đình đã thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, bao gồm tổ chức làm thủy lợi trên toàn quốc và thành lập cơ quan hà đê với chức quan phụ trách Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nước ta, thể hiện sự tiến bộ về sức mạnh nhà nước và tổ chức xã hội, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và thương nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp và thủ công nghiệp Thời kỳ nhà Trần, thủ công nghiệp bao gồm nhiều nghề như sản xuất đồ gốm, dệt, chế tạo vũ khí, rèn, đúc đồng, làm giấy, mộc và xây dựng Nhà Trần đã chú trọng xây dựng mạng lưới thương nghiệp và hệ thống giao thông thủy bộ trên toàn quốc Để thúc đẩy lưu thông hàng hóa, triều đại Lý-Trần đã tiến hành đúc tiền, giúp quan hệ tiền tệ thâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng.
Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp đã thúc đẩy hoạt động thương mại sôi động, với chợ búa mọc lên khắp nơi và tiền tệ đóng vai trò quan trọng Nhà Trần đã chú trọng xây dựng mạng lưới thương nghiệp và đô thị, cải thiện hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy, đặc biệt là ở đồng bằng sông Hồng Hệ thống chợ, như phố Luy Lâu (Bắc Ninh) và phố Lố (Hưng Yên), là biểu tượng cho mạng lưới nội thương Cảng Vân Đồn đã trở thành cảng quân sự và thương mại quốc tế thời Lý - Trần Thăng Long, với vị trí trung tâm thuận lợi, đã phát triển thành trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế lớn nhất của Đại Việt Theo Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, không có giai đoạn nào trong lịch sử trung đại Việt Nam mà kinh tế công thương nghiệp lại phát triển mạnh mẽ như vậy Để thúc đẩy thương mại quốc dân, vua Trần Nhân Tông đã ban hành hệ thống đo lường thống nhất vào năm 1280, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán và quản lý dân số, không gây cản trở đến sản xuất và đời sống.
Nền kinh tế Đại Việt thời kỳ nhà Trần đã có những bước phát triển đáng kể, nhờ vào việc tập trung phát triển kinh tế toàn diện Sự tập trung này không chỉ giúp nhà Trần huy động toàn bộ của cải và nhân lực, mà còn nâng cao đời sống nhân dân và phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc Điều này đã tạo ra động lực quan trọng cho các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông sau này.
Nhà Trần ra đời đã chấm dứt tình trạng hỗn loạn từ khi nhà Lý suy yếu, khôi phục và củng cố chính quyền trung ương tập quyền Dưới sự lãnh đạo của nhà Trần, nước Đại Việt duy trì và phát triển một chế độ xã hội ổn định với cấu trúc xã hội đa dạng.
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƢ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông được hình thành từ bối cảnh lịch sử và các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của Đại Việt thế kỷ XIII-XIV, đồng thời còn phản ánh truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam với tư tưởng nhân văn sâu sắc Hơn nữa, giá trị này còn thể hiện sự tiếp nối và phát triển của nhân văn trong nền văn hóa phương Đông, bao gồm Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Trong mỗi lĩnh vực khoa học, nhà tư tưởng lịch sử phát triển một tài liệu độc lập, hình thành từ tư duy của các thế hệ trước Tài liệu này tiếp tục được phát triển qua các thế hệ kế tiếp, tạo nên một con đường riêng trong nhận thức xã hội.
1.2.1 Tư tưởng nhân văn trong truyền thống văn hóa Việt Nam với việc hình thành giá trị nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
Tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam phản ánh những giá trị văn hóa của dân tộc, hình thành qua quá trình dựng nước và giữ nước, bao gồm đấu tranh chống ngoại xâm, thiên tai và sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến Triết lý nhân văn của Trần Nhân Tông thể hiện rõ nét sự ảnh hưởng từ truyền thống văn hóa dân tộc, với ý thức độc lập, lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết mạnh mẽ.
Ý thức độc lập dân tộc thể hiện qua chủ quyền quốc gia và quyết tâm bảo vệ nền độc lập, xây dựng đất nước hòa bình, thịnh vượng Từ những truyền thuyết như Thánh Gióng và An Dương Vương đến các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến phương Bắc, tinh thần này luôn hiện hữu Chị em Trưng Trắc thể hiện quyết tâm trả nợ nước, bà Triệu khẳng định không chịu làm tỳ thiếp, và những chiến thắng của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt trên sông Bạch Đằng và Như Nguyệt là minh chứng cho ý chí kiên cường Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam đã khẳng định chủ quyền và làm nức lòng người dân, lay động ý chí kẻ thù.
“Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Vấn đề độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt Nam được khẳng định mạnh mẽ, thể hiện sự bình đẳng với các quốc gia khác, đặc biệt là với hoàng đế phương Bắc Mỗi dân tộc đều có quyền tự chủ và tự do, nhưng để đạt được điều đó, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh rất nhiều Thời đại nhà Trần chứng kiến ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí độc lập dân tộc rực rỡ Dù là đế quốc lớn nhất thế giới với quân đội hùng mạnh, Nguyên Mông không thể chiếm được Đại Việt, một minh chứng cho sức mạnh và lòng kiên cường của dân tộc Việt Nam.
Theo Trần Xuân Sinh (2006), trong ba đợt xuất quân, quân Mông Nguyên đã huy động từ 600.000 đến 1 triệu lượt quân, trong khi dân số Đại Việt chỉ khoảng 3 - 4 triệu So sánh lực lượng và vị trí địa lý với các quốc gia khác cho thấy sự vĩ đại của chiến công ba lần đánh đuổi Nguyên Mông của nhà Trần.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, nhiều anh hùng đã ghi dấu ấn trong lịch sử dân tộc Việt Nam Trần Thủ Độ khẳng định lòng trung thành với câu nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tinh thần kiên cường: “Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước đã” Trần Bình Trọng quyết liệt từ chối sự mua chuộc của quân Nguyên với câu nói: “Thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc” Trần Quốc Toản thể hiện sự căm thù giặc qua hành động bóp nát quả cam Tinh thần đoàn kết được thể hiện rõ qua lời hô đồng thanh “Đánh! Đánh!” của các bô lão tại hội nghị Diên Hồng.
Tinh thần quyết tâm của binh lính nhà Trần trong việc đánh đuổi quân xâm lược thể hiện rõ qua câu nói “sát Thát” Toàn dân tộc đã tham gia cuộc chiến với khí thế mạnh mẽ, không để kẻ thù nào cản trở, như một làn sóng khổng lồ nhấn chìm bè lũ cướp nước Trần Nhân Tông, với tầm nhìn xa trông rộng, đã kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, kết hợp chính trị với tư tưởng và văn hóa, cùng quân dân nhà Trần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Lòng yêu nước nồng nàn là một trong những giá trị hàng đầu trong truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, đóng vai trò quyết định cho mọi thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Theo Trần Văn Giàu, chủ nghĩa yêu nước luôn được xếp ở vị trí đầu tiên trong các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” Nó không chỉ là động lực tình cảm lớn nhất mà còn là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc, là cội nguồn của nhiều giá trị văn hóa khác, làm nên cốt cách Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình tượng hóa lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam một cách sâu sắc.
Dân tộc ta luôn có một lòng yêu nước nồng nàn, là truyền thống quý báu Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần yêu nước lại bùng lên mạnh mẽ, tạo thành một làn sóng lớn, vượt qua mọi khó khăn, nhấn chìm những kẻ bán nước và cướp nước.
Tư tưởng yêu nước của người Việt Nam không chỉ là tình cảm mà còn thể hiện qua hành động cụ thể của cá nhân và cộng đồng Đây là sự kết hợp giữa tình cảm và lý trí, suy nghĩ và hành động, tạo thành đạo lý sống của dân tộc Yêu nước thể hiện qua ý thức bảo vệ chủ quyền, tinh thần độc lập và ý chí tự cường Nó còn là tình yêu quê hương và sự đoàn kết trong sự đa dạng của Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử, trở thành chuẩn mực cao nhất trong giá trị truyền thống Trước khi yêu đất nước, mỗi người đã yêu những miền đất, con người, cha mẹ, và bạn bè xung quanh mình Như nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã viết trong tác phẩm "Lòng yêu nước", tình yêu này là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người.
Lòng yêu nước bắt đầu từ những điều giản dị như yêu cây cối trước nhà, phố nhỏ bên bờ sông, hay hương vị của trái lê mùa thu Chiến tranh giúp mỗi công dân Xô viết nhận ra vẻ đẹp của quê hương, từ dòng suối chảy vào sông Volga cho đến biển cả Tình yêu nhà, yêu làng xóm dần trở thành lòng yêu Tổ quốc Sức mạnh của tình yêu chỉ thực sự được hiểu khi nó được thử thách trong lửa đạn Giờ đây, mọi người nhận ra tình yêu của mình lớn lao biết bao, từ yêu người thân đến yêu quê hương.
Tổ quốc…” (đăng trên báo Thử lửa ngày 26/6/1942)
Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam được thể hiện rõ nét qua những cuộc kháng chiến gian khổ chống lại giặc ngoại xâm, mang lại những thắng lợi vẻ vang cho đất nước.
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, kẻ thù phong kiến phương Bắc đã tìm mọi cách để đô hộ nước ta, biến nước ta thành những châu, quận của họ Họ không chỉ áp đặt các biện pháp nô dịch về kinh tế, chính trị mà còn quyết tâm xóa sổ nền văn hóa dân tộc Tuy nhiên, nhờ vào bản lĩnh và trí tuệ của mình, nền văn hóa Việt Nam không những được bảo tồn mà còn Việt Nam hóa một số phong tục văn hóa phương Bắc Lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý chí độc lập đã tạo nên những chiến công hiển hách trước quân Nguyên Mông, đồng thời hình thành dòng thiền Trúc Lâm, mang đậm bản sắc Việt Nam Điều này tiếp nối và nâng cao “hào khí Đông A” cùng với những chiến công vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng Lòng yêu nước còn thể hiện qua tấm lòng thương dân, phát chẩn, giảm thuế cho dân trong thời kỳ khó khăn, tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân dân.
Việt Nam, với nền văn hóa lâu đời, đã trải qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển, thể hiện rõ truyền thống đoàn kết dân tộc Từ xa xưa, tinh thần tương thân tương ái và hỗ trợ lẫn nhau đã hình thành tự nhiên trong cộng đồng Trong bối cảnh nền văn minh nông nghiệp và điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức, người dân đã biết gắn kết để sinh tồn Quá trình này đã dẫn đến sự hình thành một số nền văn hóa tiêu biểu thời Việt cổ như văn hóa Phùng Nguyên và Đồng Đậu.