3 ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA TIỂU LUẬN TÊN MÔN HỌC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM ĐỀ TÀI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ HÀ NỘI NĂM 2021 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 3 PHẦN.
Trang 1TIỂU LUẬN
TÊN MÔN HỌC: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG
GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
HÀ NỘI - NĂM 2021
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành triết học Trần Thái
1.2 Tiền đề lý luận hình thành triết học Trần Thái Tông 6
2.1 Nội dung tư tưởng triết học Trần Thái Tông 9 2.2 Giá trị lịch sử của triết học Trần Thái Tông 15
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trần Thái Tông không chỉ là một nhà chính trị - một vị vua anh minh
mà còn là nhà quân sự tài năng; không chỉ là nhà văn, nhà thơ mà còn là một nhà tư tưởng lớn, một thiền sư lỗi lạc - người góp phần sáng lập ra một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam - Thiền Trúc Lâm Yên Tử Ông đã biết dung hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với triết lý phong phú, sâu sắc, thâm trầm của Nho, Lão, đặc biệt là triết lý Phật giáo, bằng sự kế thừa, chọn lọc tư tưởng triết học trong lịch sử dân tộc để sáng tạo nên hệ thống triết
lý nhân sinh với những nét độc đáo và đặc sắc riêng
Triết học Trần Thái Tông ra đời không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, tự phát mà có cội nguồn sâu xa từ đặc thù của lịch sử, từ tình hình kinh
tế - xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XII đến nửa đầu XIII Tư tưởng triết học Trần Thái Tông là sự kế thừa những yếu tố tinh hoa của các dòng thiền trước đó, như thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường
Bằng sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa yêu nước với tinh thần nhập thế cao cả, đem đạo vào đời để “cứu dân độ thế”, Trần Thái Tông đã kế thừa
và khắc phục những hạn chế của của các thiền phái và triết học Phật giáo thời nhà Lý còn tính tản mạn, còn phụ thuộc vào những yếu tố ngoại lai, chưa hoàn toàn khẳng định tính độc lập về nội dung triết lý và tính chất tôn giáo cũng như ý thức hệ, tư tưởng triết học Trần Thái Tông ra đời đã góp phần đưa triết lý đạo đức cho xã hội Đại Việt, xây dựng một tổ chức Phật giáo Việt Nam thống nhất, một hệ tư tưởng độc lập, làm chỗ dựa tinh thần của dân tộc thời kỳ nhà Trần
Vì vậy, nghiên cứu làm rõ tư tưởng triết học Trần Thái Tông trên ba khía cạnh cơ bản: bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan để thấy được sự độc đáo, đặc sắc và những giá trị, ảnh hưởng về triết học, đạo đức và nhân sinh trong tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông đối với văn hóa,
Trang 4tôn giáo, hệ tư tưởng thời nhà Trần (1226-1400) nói riêng và trong dòng chảy chung của lịch sử hành ngàn của xã hội phong kiến Việt Nam nói chung
2 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu là tư tưởng triết học của vua Trần Thái Tông, nhưng trong giới hạn của một tiểu luận chuyên đề tác giả xác định phạm vi tập trung nghiên cứu của đề tài là vấn đề: bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan trong triết học Trần Thái Tông
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Với cách tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử và triết học văn hóa, tiểu luận tập trung:
+ Phân tích và chỉ ra cơ sở xã hội, tiền đề lý luận và nhân tố chủ quan hình thành tư tưởng triết học của Trần Thân Tông
+ Trình bày khái lược tư tưởng triết học của Trần Thái Tông qua những vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan, triết lý đạo đức nhân sinh
+ Rút ra ý nghĩa, giá trị lịch sử của tư tưởng triết học Trần Thái Tông đối với lịch sử phát triển tư tưởng triết học, tôn giáo thời Trần, toàn bộ lịch sử
xã hội Việt Nam trong thời phong kiến và hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Tiểu luận được thực hiên trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài phương pháp chung nhất là phương pháp biện chứng duy vật, tiểu luận còn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Logic và Lịch sử, Phương pháp so sánh, Phương pháp phân tích và tổng hợp
4 Kết cấu của đề tài
- Chương 1: Điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
- Chương II: Nội dung tư tưởng triết học Trần Thái Tông và giá trị lịch sử
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TRIẾT
HỌC TRẦN THÁI TÔNG 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành triết học Trần Thái Tông.
Từ giữa thế kỷ XII trở đi, vương triều nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng Thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành nhiều nơi trong nước làm cho nền kinh tế ngày càng thêm sa sút Mặt khác, bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương ngày càng quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các lãnh chúa phong kiến đã tập hợp lực lượng, nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng phân quyền cát cứ Trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ nổi bật là tập đoàn quân sự của anh
em nhà họ Trần ở vùng Hải Ấp Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật
tự, gia tộc họ Trần lần lượt đưa con cháu vào cung giữ những chức vụ quan trọng trong triều chính để thao túng quyền lực Mặc dù trên danh nghĩa, Lý Huệ Tông là người đứng đầu một nước nhưng thực chất mọi quyền hành của triều đình đều thâu tóm trong tay anh em họ Trần, đứng đầu là Trần Thủ Độ
Vị vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông có thể chất yếu đuối lại thêm bản tính nhu nhược, lại phải chịu những áp lực căng thẳng trong một thời gian dài, cộng với nỗi buồn phiền vì không có con trai nối nghiệp đã khiến cho Huệ Tông mắc phải chứng bệnh tâm thần Vào năm 1225, Huệ Tông phải nhường ngôi cho Chiêu Thánh rồi lên làm Thái Thượng Hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo Với cương vị là vua một nước, nhưng
Lý Chiêu Hoàng còn quá nhỏ nên mọi quyền hành trong thực tế đều do anh
em họ Trần thao túng, nhất là Trần Thủ Độ Theo sự dàn xếp của Trần Thủ
Độ, Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh Ngày 12 tháng 12 năm 1225 Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung, mở đầu cho triều đại nhà Trần
Trang 6Dưới nhà Trần, đầu thế kỷ XIII, để phát triển sản xuất, triều Trần đã ban hành những chính sách nhằm khẳng định quyền tư hữu ruộng đất, cho phép lập nên những điền trang, thái ấp giàu có, tạo điều kiện kinh tế vững chắc cho xã hội dưới thời nhà Trần Sự phát triển mạnh mẽc của nền kinh tế
-xã hội giai đoạn đầu nhà Trần đã thể hiện trong mọi lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp Thực tế đó, làm cho những làng nghề, những phường hội chuyên sản xuất các mặt hàng nổi tiếng hình thành và phát triển, thúc đẩy quá trình lưu thông trao đổi hàng hóa giữa các vùng trong cả nước, tạo điều kiện cho nước ta giao lưu với những nền văn hóa của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế đầu thời Trần đã ảnh hưởng đến sự phân hóa xã hội sâu sắc, hình thành nên ba đẳng cấp chính trong xã hội gồm đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại; đẳng cấp những người bình dân, nông dân các làng xã, thợ thủ công và thương nhân và những người nô tỳ
Tóm lại, xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII là một thời kỳ đầy những biến động mạnh mẽ trên mọi mạt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Tuy nhiên, cùng với khuynh hướng phát triển của lịch sử, trong những năm đầu thống trị, nhà Trần đã có nhiều chủ trương, chính sách tiến bộ, phù hợp nhằm khôi phục lại nền kinh tế, ổn định tình hình chính trị xã hội trong nước, tạo tiền đề cho sự phát triển rực rỡ của nhà Trần ở thời kỳ sau
đó Đây chính là cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành, phát triển của tư tưởng thời Trần, trong đó có triết học của Trần Thái Tông
1.2 Tiền đề lý luận hình thành triết học Trần Thái Tông
Những biến động mạng mẽ trong đời sống chính trị - xã hội cuối thời
Lý, đầu thời Trần đã làm nảy sinh ra một đòi hỏi cần phải có sự thống nhất về mặt chính trị xã hội và tương ứng với nó là sự biến đổi và thống nhất về mặt
tư tưởng Đây chính là lý do khiến cả ba thiền phái thời Lý gần như biến mất vào thời đầu nhà Trần Nên lý luận trong học thuyết Không hư của Trần Thái Tông ra đời có ý nghĩa lyw luận quan trọng Đây là một học thuyết có sự tổng
Trang 7hợp các yếu tố như: Thiền, Tịnh, Nho, Lão… trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các thiền phái trước đó tạo nên một bước phát triển mới cho Thiền học Việt Nam
Trong sự tiến triển nội tại của Thiền tông Việt Nam, “triết học Trần Thái Tông ra đời không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà nó còn có cội nguồn sâu xa từ sự kế thừa thành tựu của các dòng thiền trước đó như: thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường”1 Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường mặc dù có nhiều điểm khác nhau về giáo lý, cách tu tập cũng như vai trò của từng thiền phái trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước, thế nhưng, tựu trung lại, giữa ba thiền phái trên đều chứa đựng điểm chung, đó là chúng đều dựa trên những giáo lý cơ bản của thiền tông để luận bàn, phát triển, làm sáng tỏ và phong phú hơn những vấn đề như: Tâm, Phật,
… và đặc trưng nổi bật ở ba thiền phái là đều mang tinh thần nhập thế tích cực, hòa mình vào cuộc sống để giúp nước, giúp đời Đồng thời đây cũng chính là những tiền đề tư tưởng lý luận góp phần hình thành tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm và đến nhà Lý trở thành quốc giáo và tri phối mạnh mẽ tới đời sống tinh thần, chính trị - xã hội Đại Việt giai đoạn Lý – Trần thế kỷ XII - XIII Với Thái tông Trần Cảnh được coi như con người chất chứa một khối mâu thuẫn lớn Là con người của xã hội phong kiến nhưng chịu phần tai tiếng về đổi vợ, anh em bất hoà; là nhà vua nhưng trị
vì phần lớn thời gian đầu dưới cái bóng rợp của Trần Thủ Độ; tham chính sống đời nhưng tâm trí lại hướng về cửa Phật Và có lẽ, chính giáo lý nhà Phật
đã làm cân bằng những khối mâu thuẫn lớn trong cuộc đời thi nhân triết gia Trần Cảnh Với vị thế cư sĩ Phật tử, Phật giáo có vai trò lý luận rất lớn, chi phối ảnh hưởng trong việc hình thành tư tưởng và nhân sinh quan triết học
1 Doãn Chính, Nguyễn Ngọc Phượng, Tư tưởng triết học Trần Thái Tông, Nguồn Tạp chí Triết học, số 1, 2009, http://philosophy.vass.gov.vn/triet-hoc-vietnam/Tu-tuong-triet-hoc-Tran-Thai-Tong-, truy cập 22/10/2021.
Trang 8của Thái tông Trần Cảnh Với ông, Phật Giáo không chỉ là một bộ giáo lý tín ngưỡng, có thể nó còn là một công cụ trị nước, hành dạo mà không xuất thế lánh đời
1.3 Cuộc đời, sự nghiệp vua Trần Thái Tông.
Trần Thái Tông tức Trần Cảnh, vua thứ nhất của nhà Trần, sinh ngày 17-7-1218, mất ngày 4-5-1277, làm vua 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 59 tuổi Trần Cảnh là con thứ Trần Thừa, một người nhiều mưu lược, dưới triều
Lý từng giữ chức Nội thị khán thủ Nhờ Trần Thủ Độ là chú sắp xếp, ông thường xuyên được ra vào cung có cơ hội găp và lấy Lý Chiêu Hoàng
Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh và vương triều Trần được thành lập từ đấy Lên làm vua, Trần Cảnh đổi niên hiệu là Kiến Trung; năm 1232, đổi là Thiên ứng Chính bình; năm 1251, lại đổi là guyên Phong và niên hiệu Nguyên Phong đã đi vào lịch sử như cái mốc lớn ghi chiến công đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ
13 Ngày 29-1-1258, Trần Thái Tông lãnh đạo đánh tan quân Nguyên ở Đông
Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất và trở thành ông vua anh hùng cứu nước
Tuy vậy, Trần Thái Tông được lịch sử lưu truyền còn vì ông là một nhà Thiền học, một triết gia có những tư tưởng sâu sắc, độc đáo và một cá tính khá đặc biệt Ông là tác giả cuốn sách nổi tiếng Khóa hư lục, một tác phẩm cổ nhất, quan trọng nhất về phương diện triết học Thiền của thời Trần Khóa hư lục nghĩa là ghi chép về phép tu dưỡng đạo hư tịch Trần Thái Tông viết sách này vào khoảng từ 1258 đến trước lúc mất 1277
Xét về nội dung, Khóa hư lục vừa có giá trị triết học, vừa có giá trị văn học, bởi Trần Thái Tông mượn để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc của mình là hình thức văn, luận, thể biền ngẫu và kệ, thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn Tất cả đều giàu hình tượng, giàu chất trữ tình
Trang 9Không có trong lịch sử Phật giáo quốc gia nào lại nêu vấn đề và giải quyết theo hướng đặt "quốc gia xã tắc" lên trên hết, trước hết như Đại Việt thời đó Thái độ đối với "quốc gia xã tắc" chính là thước đo giá trị, nhân cách của mỗi người, bất kể họ ở cương vị nào Nghe theo tiếng gọi của "quốc gia
xã tắc", Trần Thái Tông trở về triều và 22 năm sau, Trần Thái Tông đã phá tan quân xâm lược Nguyên Mông, giữ vững "quốc gia xã tắc"
Trần Thái Tông quả là người có một tính cách đặc biệt Lúc làm tướng, đánh giặc thì anh dũng "xông vào mũi tên hòn đạn", khi làm vua, thì "phú quý không đủ làm trọng", có thể sẵn sàng từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc Ngô Thì Sĩ, sử gia thế kỷ 18 đã nhận xét về Trần Thái Tông: "Trần Thái Tông tuy ý từ gần với đạo không tịch mà chí thì rộng xa, cao siêu cho nên bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách vậy" Lời nhận xét này tưởng như một nét khắc thần thái Trần Thái Tông, bó đuốc của Thiền học Việt Nam, gương mặt văn hóa đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC TRẦN THÁI TÔNG 2.1 Nội dung tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Trần Thái Tông không chỉ là một vị vua anh hùng dám xả thân vì nghĩa
và vì quốc gia xã tắc, mà còn là một triết gia với những tư tưởng độc đáo, đặc sắc về triết học Phật giáo Trong đó, chúng ta phải đặc biệt kể đến sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa yêu nước với tinh thần nhập thế cao cả, đem đạo vào đời để cứu dân độ thế của ông “Giá trị của tư tưởng triết học Trần Thái Tông không chỉ là chấm dứt sự tản mát về tư tưởng giữa các dòng thiền cuối thời
Lý, mà còn là một trong những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử” 1 Tiểu luận làm rõ tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái
1 Doãn Chính, Nguyễn Ngọc Phượng, Tư tưởng triết học Trần Thái Tông, Nguồn Tạp chí Triết học, số 1, 2009, http://philosophy.vass.gov.vn/triet-hoc-vietnam/Tu-tuong-triet-hoc-Tran-Thai-Tong-, truy cập 22/10/2021.
Trang 10Tông trên ba nội dung cơ bản: bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan
- Về bản thể luận:
Triêt học Trần Thái Tông cũng lấy cái tâm làm điểm xuất phát cho tư tưởng của mình; và trên cơ sở luận giải về cái tâm ấy, ông đào sâu, tìm kiếm lời giải đáp cho những vấn đề triết học khác, như “ngộ”, “sinh tử”, “giải thoát”, “Niết bàn” Tâm này là cái tâm ban đầu, mà trong học thuyết của mình, Trần Thái Tông thường gọi nó bằng khái niệm không, hư Theo ông, bản thể, khởi nguyên, cội nguồn của vũ trụ, của vạn vật chính
là không và hư Hai yếu tố này chuyển hóa biện chứng cho nhau và ngược lại nên theo ông Không chính là hư và ngược lại, hư cũng là không Không bao trùm tất cả, hướng đến cái khách quan bên ngoài con người và hư là sự thể hiện của không trong tâm mỗi người, là mặt chủ quan bên trong con người
Trần Thái Tông từng viết: “Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không Thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc”1 Như vậy, theo Trần Thái Tông, từ không xuất hiện vọng và sự xuất hiện của vọng từ không làm liên tưởng đến hình ảnh mặt nước hồ đang phẳng lặng, yên ả, chỉ một làn gió thổi qua làm xuất hiện, gợn những con sóng lăn tăn; sự xuất hiện của những con sóng ấy chính là vọng từ không mà sinh khởi Vọng ở đây được hiểu là cái ảo ảnh, lầm lẫn, không đúng sự thật – tức hiểu là vô minh Vô minh, theo bản thể không, cũng là vọng tòng không, không hiện vọng Từ vọng sinh chúng sắc, cũng có nghĩa là từ vô minh sinh
ra thế giới hình danh sắc tướng
Trong triết học Trần Thái Tông, vọng không chỉ là nguyên nhân làm xuất hiện thế giới hiện tượng mà ngay cả con người và các sinh vật cũng đều
do vọng sinh ra, ông khẳng định: “Tri kỳ chúng sinh huyễn cấu, tòng vọng nhi sinh”2, có nghĩa là chúng sinh được cấu tạo một cách ảo ảnh, theo vọng mà
1 Viện Văn học Thơ văn Lý - Trần, tập 2 Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.42
2 Viện Văn học Thơ văn Lý - Trần, tập 2 Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.156