1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng anh và tiếng việt

91 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách Biểu Đạt Ý Nghĩa Quá Khứ Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt
Tác giả Trần Hữu Quốc Huy
Người hướng dẫn TS Nguyễn Hoàng Trung
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 744,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ đó ta có thể xác định được mối quan hệ giữa sự tình và các thời điểm liên quan trên trục thời gian do các thì trong tiếng Anh biểu đạt nói riêng và các ngôn ngữ khác nói chung.. Vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN HỮU QUỐC HUY

CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60.22.02.40 Khóa học : 2012 - 2014

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN HỮU QUỐC HUY

CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60.22.02.40 Khóa học : 2012 - 2014

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Tiến sĩ NGUYỄN HOÀNG TRUNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 08 năm 2014

Trần Hữu Quốc Huy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hướng dẫn em qua các chuyên đề nghiên cứu ngôn ngữ học bậc sau đại học

Suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường, quý thầy cô đã giúp em có điều kiện tiếp thu các kiến thức ngôn ngữ học chuyên sâu, và các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại

Xin chân thành cám ơn GS TS Nguyễn Đức Dân, GS TS Nguyễn Thiện Giáp, PGS TS Nguyễn Công Đức, PGS TS Lê Khắc Cường, PGS TS Lê Trung Hoa, PGS

TS Trần Thị Ngọc Lang, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, TS Nguyễn Hữu Chương, TS

Đỗ Thị Bích Lài, TS Nguyễn Vân Phổ, TS Huỳnh Bá Lân, TS Nguyễn Thị Phương Trang

Em xin gửi lời đặc biệt cám ơn đến TS Nguyễn Hoàng Trung, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học cho em, giúp em hoàn thành luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 6 

DẪN NHẬP 9 

1 Đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài: 9 

1.1 Đối tượng nghiên cứu: 9 

1.2 Lí do chọn đề tài: 9 

2 Nhiệm vụ: 10 

3 Nguồn ngữ liệu: 10 

4 Lịch sử vấn đề: 11 

4.1 Lịch sử vấn đề phương thức biểu hiện ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh: 11 

4.2 Lịch sử vấn đề phương thức biểu hiện ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt 14 

5 Phương pháp nghiên cứu: 17 

5.1 Phương pháp quan sát - miêu tả: 17 

5.2 Phương pháp phân tích: 17 

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: 17 

6 Đóng góp mới: 18 

Trang 6

7 Bố cục công trình: 18 

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN 20 

1.1 Định vị thời gian của sự tình 20 

1.1.1 Thời gian phát ngôn 21 

1.1.2 Thời gian sự tình 22 

1.1.3 Thời gian quy chiếu 22 

1.1.4 Quan hệ thời gian trong ngôn ngữ không có thì 23 

1.2 Quan hệ thời gian và khái niệm ý nghĩa quá khứ: 24 

1.2.1 Mối quan hệ giữa thời gian quy chiếu, thời gian phát ngôn, và thời gian sự tình 25 

1.2.2 Khái niệm ý nghĩa quá khứ: 27 

CHƯƠNG HAI: CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG ANH 31 

2.1 Cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ bằng phương tiện hình thái (morphology) trong tiếng Anh 32 

2.1.1 Thì quá khứ (past tense) biểu đạt ý nghĩa quá khứ 32 

2.1.2 Thì phi quá khứ (non-past tense) biểu đạt ý nghĩa quá khứ 41 

2.1.3 Hình thái present perfect 45 

2.2 Quan hệ giữa vị từ với các thành tố mang ý nghĩa thời gian trong việc biểu đạt ý nghĩa quá khứ: 48 

Tiểu kết: 49 

CHƯƠNG 3: CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG VIỆT 50 

3.1 Cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt: phương tiện từ vựng 50 

3.1.1 Các trạng ngữ chỉ thời gian 50 

3.1.2 Các vị từ tình thái 55 

3.2 Tương tác giữa loại sự tình và yếu tố ngữ dụng liên quan trong phát ngôn 59 

Trang 7

3.3 Tiền giả định và ý nghĩa quá khứ 64 

3.4 Ý nghĩa quá khứ biểu thị qua các hành vi ngôn ngữ 66 

Tiểu kết: 67 

CHƯƠNG BỐN: ĐỐI CHIẾU CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG ANH VÀ TRONG TIẾNG VIỆT 68 

4.1 Cơ sở đối chiếu: 68 

4.2 Cách thức thực hiện 69 

4.3 Một số biến đổi trong quá trình chuyển dịch 70 

4.4 Sự bất tương đồng giữa “đã” và hình thái quá khứ tiếng Anh 72 

4.4.1 “Đã” không biểu thị ý nghĩa quá khứ 72 

4.4.2 Đã – Phương tiện đánh dấu ý nghĩa thể dĩ thành 75 

4.5 Sự dị biệt và tương đồng trong cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt 76 

4.5.1 Những khác biệt trong cách biểu thị ý nghĩa quá khứ giữa tiếng Anh và tiếng Việt 76 

4.5.2 Sự tương đồng trong cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ giữa tiếng Anh và tiếng Việt 82 

Tiểu kết: 84 

KẾT LUẬN 86 

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 

A TIẾNG VIỆT 88 

B TIẾNG ANH 90 

NGUỒN NGỮ LIỆU LÀM DẪN CHỨNG MINH HỌA 92 

A Tiếng Việt 92 

B Tiếng Anh 92 

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài:

1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn này là cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt Đây là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình: tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, có sự biến đổi về hình thái, trong khi đó tiếng Việt

là ngôn ngữ đơn lập, không có sự biến đổi về hình thái

Đề tài luận văn này sẽ tập trung đi sâu vào việc mô tả và phân tích cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ của tiếng Anh và tiếng Việt, tìm ra sự tương đồng và sự khác biệt trong cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ giữa hai ngôn ngữ này

Chúng tôi xây dựng đề tài này nhằm tiếp thu, hệ thống lại và phát huy thêm những giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu đi trước, nhằm tạo ra một công trình nghiên cứu chỉ chuyên sâu về ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong quá trình đó, chúng tôi đưa ra những phát hiện mới nhất của mình, dù là

đã đưa ra các dẫn chứng để chứng minh kĩ lưỡng, nhưng vẫn có thể còn sơ sót, hi vọng sẽ được quý thầy cô và bạn đọc bổ sung thêm

Bên cạnh đó, theo quan điểm của nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay, tiếng

Anh là một ngôn ngữ có thì, trong khi đó tiếng Việt lại là một ngôn ngữ không có thì Việc chuyển dịch thì quá khứ trong tiếng Anh sang tiếng Việt, hoặc ngược lại,

Trang 9

chuyển dịch ý nghĩa quá khứ từ tiếng Việt sang tiếng Anh đang có nhiều vấn đề cần làm rõ Chúng tôi cố gắng nghiên cứu và trình bày đề tài luận văn này một cách hệ thống để giúp cho việc đối chiếu ý nghĩa quá khứ giữa hai ngôn ngữ được rõ ràng hơn

Quan điểm về thì của các nhà ngôn ngữ học hiện đại và các nhà ngữ pháp học truyền thống đang đi theo hai hướng trong việc phân định thì trong tiếng Anh,

điều này khiến cho người học phổ thông đều hầu như có cách nhìn chưa đúng đắn,

khoa học về thì, về thể, cả trong tiếng Việt lẫn trong tiếng Anh Công trình này của

chúng tôi cũng mong góp thêm được một tiếng nói để người nghiên cứu và người học tiếng Anh cũng như tiếng Việt sớm có cách nhìn nhận đúng hơn

2 Nhiệm vụ:

Chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, mô tả, phân tích các cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh để tìm ra và hệ thống hóa các đặc trưng của ngôn ngữ biến hình này trong việc biểu đạt ý nghĩa quá khứ Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành thống kê, mô tả, phân tích cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt để tìm ra

và hệ thống hóa các đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập này trong việc biểu đạt ý nghĩa quá khứ Việc so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và những điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ này sẽ được thực hiện sau khi hoàn thành hai nhiệm vụ trên

3 Nguồn ngữ liệu:

Chúng tôi tiến hành phân tích trên các nguồn ngữ liệu có giá trị của các tác giả và dịch giả có uy tín trong nước và trên thế giới (xin xem chi tiết ở phần cuối: Nguồn ngữ liệu làm dẫn chứng minh họa)

Việc xây dựng bản đối chiếu Anh-Việt, Việt Anh (xin xem phần phụ lục) được thực hiện công phu, chi tiết để chứng minh rõ một số nhận định trong luận văn này Số lượng các vị từ được lựa chọn để phân tích tuy ngẫu nhiên nhưng khá nhiều,

dù công việc tốn nhiều công sức, nhưng có thể mang đến kết quả sát với thực tế ngôn ngữ

Trang 10

4 Lịch sử vấn đề:

4.1 Lịch sử vấn đề phương thức biểu hiện ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh:

4.1.1 Thời gian – Phạm trù tư duy

Con người tồn tại trong thời gian: từ lúc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay và bất kỳ quãng đời nào của chúng ta đều gắn liền với thời gian Vậy, thời gian (Time) là một ý niệm thuộc phạm trù nhận thức của con người về hiện thực Theo Quirk và Greenbaum, thời gian là một phổ niệm phi ngôn ngữ, còn Comrie (1985) cho rằng ngôn ngữ nào hay nói chính xác nền văn hóa cũng có cách thức ý niệm hóa

thời gian dù cho không phải ngôn ngữ nào cũng có thì Còn theo Lewis M (1986),

thời gian là một yếu tố thuộc kinh nghiệm của con người về hiện thực Ông cho rằng có thể còn một ý niệm khác về thời gian trong tương quan với ngôn ngữ được

sử dụng, đó là thời gian tâm lý (psychological time) Loại thời gian này biểu thị

cách thức mà con người nhận thức hành động, chứ không phải biến cố xảy ra một cách khách quan Như vậy, thời gian không thể nằm ngoài nhận thức về biến cố xảy

ra của người sử dụng ngôn ngữ Michaelis (2006) cho rằng con người tri nhận thời gian thông qua không gian và điều này được biểu thị qua ngôn ngữ chúng ta dùng

để nói về các quan hệ thời gian: chúng ta thường nói kéo giãn hay nén một hoạt động, hướng đến tương lai, trở lại quá khứ… Nói chung, thời gian được phân thành những khúc đoạn có tính biểu trưng phổ quát quá khứ, hiện tại và tương lai và ngôn

ngữ nào cũng có cách thức xác định một biến cố trong thời gian, tất nhiên những cách thức này lại khác nhau tùy theo đặc trưng của từng ngôn ngữ hay nhóm ngôn ngữ

4.1.2 Thì – Phạm trù ngữ pháp của động từ

Thì (Tense) là một công cụ ngôn ngữ học được dùng để biểu thị các mối

quan hệ thời gian Trong các ngôn ngữ không có thì quan hệ thời gian được biểu thị bằng phương tiện từ vựng (Tiếng Việt sử dụng hôm qua, trước đây, năm ngoái, hồi ấy…để biểu thị ý nghĩa quá khứ) Tuy nhiên, nhiều ngôn ngữ lại biểu thị thông tin

Trang 11

thời gian của biến cố bằng các phương tiện hình thái học vị từ (verbal morphology),

tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…là những ngôn ngữ như thế Đối với Lewis

(1986), thì được biểu thị thông qua sự thay đổi hình thái của động từ Trong những

ngôn ngữ này, việc xác định một biến cố trong thời gian được ngữ pháp hóa, hay nói cách khác các mối quan hệ thời gian (thời gian quy chiếu, thời gian biến cố và thời gian phát ngôn) được ngữ pháp hóa Hình thái của động từ được xem là các

tham số biểu thị các thông tin thời gian của biến cố do động từ biểu thị Vì vậy, thì

là một phạm trù ngữ pháp của động từ, các tham tố danh ngữ của động từ nằm ngoài

sự tác động của thì, mà chỉ có động từ chịu sự chi phối của thì

Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, hình thái của động từ bắt buộc biến đổi theo sự định vị thời gian Chính điều đó, việc nghiên cứu cách biểu đạt ý nghĩa thời gian nói chung và cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ nói riêng đều tập trung vào các hình thái của vị từ

Ngữ pháp nhà trường thường chia thì tiếng Anh như sau: simple present, present continous, present perfect, present perfect continuous, simple past, past continuous, past perfect, past perfect continuous, simple future, future continuous, future perfect, future perfect continuous Qua đó, người ta nhận thấy ngữ pháp nhà trường không phân biệt hai khái niệm quan trọng liên quan đến thời gian là thì

(Tense) và thể (Aspect) Các khái niệm như continuous, perfect,… là những khái

niệm biểu thị giá trị thể, chứ không phải thì Và điều này dẫn đến sự ‘rối bời’ của người học trong việc sử dụng các hình thái động từ của tiếng Anh trong việc biểu đạt các giá trị thời gian liên quan

Cách phân đoạn thời gian thành quá khứ, hiện tại và tương lai thường ứng với ba hình thức biểu đạt là thì quá khứ, thì hiện tại và thì tương lai Tuy nhiên, vì thì được xem là một phạm trù hình thái học của động từ nên cần phải dựa trên mức

độ đánh dấu hình thái học của động từ để phân định hình thức biểu đạt các mối quan

hệ thời gian Như vậy, thì quá khứ của động từ tiếng Anh hình thức được đánh dấu

về mặt hình thái học, và nó sẽ đối lập với những hình thức không được đánh dấu

(thì hiện tại và thì tương lai) Ngoài ra, nội dung ngữ nghĩa của các hình thái cũng góp phần vào việc xác định sự đối lập giữa quá khứ và phi quá khứ Thì hiện tại có

Trang 12

thể biểu thị thời gian tương lai như trong I leave for Paris tomorrow (Ngày mai tôi

đi Paris) hoặc When do we arrive? (Bao giờ chúng ta đến nơi?), ngược lại, thì hiện tại không thể biểu thị thời gian quá khứ như trong *We see that film last month thay

vì phải nói We saw that film last month (Chúng tôi xem bộ phim đó vào tháng trước)

Trên cơ sở này, hệ thống thì tiếng Anh được xem là hệ thống lưỡng phân gồm thì quá khứ và thì phi quá khứ Thì hiện tại (present tense) hay thì phi quá khứ (non-past tense) được đánh dấu bằng zero, ngoại trừ ngôi thứ ba số ít; còn thì quá khứ (past tense) là hình thái vị từ được đánh dấu, nó được đánh dấu cả về mặt hình

thái học (do phần lớn các vị từ có một hình thái quá khứ khu biệt) lẫn ngữ nghĩa học

(thì quá khứ chỉ một sự tình được xem là đã diễn ra trong thời gian hoặc một sự tình

phi thực.)

[Nguyễn Hoàng Trung, So sánh thể hoàn thành trong tiếng Pháp và tiếng Việt, tr 66-67]

Theo Reichenbach (1947), thì thể hiện mối quan hệ giữa thời điểm diễn ra sự

tình (E) và thời điểm phát ngôn / thời điểm hiện tại (S) Reichenbach còn bổ sung thêm: thời điểm quy chiếu (reference time) (R) Nhờ đó ta có thể xác định được mối

quan hệ giữa sự tình và các thời điểm liên quan trên trục thời gian do các thì trong

tiếng Anh biểu đạt nói riêng và các ngôn ngữ khác nói chung

Comrie (1985) cũng phân biệt các thì tuyệt đối (absolute tenses) và các thì tương đối (relative tenses) (trong thì tương đối có cả thì tương đối-tuyệt đối (absolute-relative tense)) khi khảo sát thì ở các ngôn ngữ biến hình “Tuyệt đối” là

thuật ngữ của Comrie để chỉ mối tương quan với thời điểm hiện tại, “tương đối” là một thuật ngữ để chỉ mối tương quan với một điểm quy chiếu khác với thời điểm hiện tại

Laurent Gosselin đưa ra định nghĩa: “Quan hệ thời gian được gọi là ‘tuyệt đối’ xác lập mối liên hệ giữa thời đoạn quy chiếu của mệnh đề và thời đoạn phát ngôn Điều này mới so với quan niệm truyền thống, vì quan hệ thời gian không còn được cho là được xác định bằng quan hệ giữa sự tình và thời điểm phát ngôn” (dẫn

theo Nguyễn Hoàng Trung, Thể trong tiếng Việt, tr 28) Từ đó, cách biểu đạt ý

Trang 13

nghĩa quá khứ được xác định rõ ràng thông qua sự định vị sự tình trong thời gian, trong mối tương quan với thời điểm hiện tại, thông qua mối tương quan với một hay nhiều điểm quy chiếu

4.2 Lịch sử vấn đề phương thức biểu hiện ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt

Ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt là một phần trong vấn đề nghiên cứu cách biểu đạt thời gian trong tiếng Việt, được hầu hết các nhà Việt ngữ học quan tâm Vấn đề thời gian trong tiếng Việt khá phức tạp bởi tiếng Việt (khác với các ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái khi biểu đạt ý nghĩa thời gian, trong đó có ý nghĩa quá khứ) chủ yếu biểu đạt các ý nghĩa thời gian thông qua phương tiện từ vựng-ngữ nghĩa

4.2.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt có phạm trù thì (tense):

Trở về vấn đề lịch sử nghiên cứu thời gian trong tiếng Việt, Cao Xuân Hạo cho rằng từ trước thời Alexandre de Rhobes, rồi từ thời đó cho đến nay, rất nhiều

học giả vẫn cho rằng đã chỉ thì quá khứ, đang chỉ thì hiện tại, sẽ chỉ thì tương lai

Bên cạnh hai học giả có ảnh hưởng lớn là Alexandre de Rhobes và Trương Vĩnh

Ký, nhiều nhà nghiên cứu tiêu biểu khác, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đều cho rằng

tiếng Việt có phạm trù thì (tense)- thể (aspect) như: G Aubaret (1864), Taberd

(1883), Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ (1940), M B Emeneau (1951), Nguyễn Kim Thản (1961), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Laurence

C Thompson (1965), Lê Biên (1999), Đinh Văn Đức (2001), Panfilov (2002), Nguyễn Minh Thuyết (2004),

G Aubaret viết: “Động từ tiếng Việt không có hình thức biến ngôi [ ]

Thường thường khi người ta muốn nói đến sự hoàn thành của động tác, thời quá khứ được bổ sung bằng cách thêm hư từ rồi, có nghĩa đen là hoàn toàn, tuyệt đối [ ] Thời tương lai biểu thị bằng cách đặt hư từ sẽ trước động từ Người ta chỉ dùng

hư từ ấy trong trường hợp muốn chỉ chắc chắn về hành động, gần như dùng từ shall

Trang 14

trong tiếng Anh” (thời được Aubaret nói đến ở đây chính là thuật ngữ thì (tense) mà

chúng tôi đang dùng) [26:122]

Trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Trương Văn Chình và Nguyễn

Hiến Lê cho rằng “Ba trạng từ đang, đã, sẽ là tiếng dùng để trỏ trạng thái về thời

gian” [4:243]

Trong Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết khẳng định “thời và

thể” là hai phạm trù ngữ pháp thật sự trong tiếng Việt, vì: a/- Chúng bao gồm những

ý nghĩa bộ phận đối lập nhau (như tương lai/phi tương lai, hoàn thành/phi hoàn thành, tiếp diễn/phi tiếp diễn ); b/- Mỗi ý nghĩa bộ phận như trên được diễn đạt bằng một tiền phó từ nhất định, tạo thành một hệ thống” [26:143]

Trong Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Đinh Văn Đức khẳng định: “Đã xuất

hiện với tư cách một tác tử chỉ ra ý nghĩa quá khứ trong sự so sánh và quy chiếu với thời điểm phát ngôn [ ] Thời gian (quá khứ) ở đây mang ý nghĩa tuyệt đối và nó được đối lập với một nét nghĩa tương lai (diễn đạt bằng một nét nghĩa ngữ pháp của

sẽ)” [9:161]

Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên cho rằng: “Có tài liệu cho ‘đã,

đang, sẽ’ gắn với ý nghĩa về thời gian xác định: Cho ‘đã’ chỉ về thời gian quá khứ,

‘đang’ chỉ thời gian hiện tại, và ‘sẽ’ thuộc về thời tương lai Điều đó đúng nhưng

chưa rõ và đầy đủ Trước hết các từ này vừa mang ý nghĩa ngữ pháp chỉ thời – thể,

vừa mang ý nghĩa tình thái] [3:152]

Bước chuyển biến rõ nét trong dòng nhận thức về thì và thể của các nhà Việt

ngữ học đã bắt đầu xuất hiện từ thời V S Panfilov (2002) Ông là người đầu tiên

phân biệt thuộc tính hữu đích (telicity) và thuộc tính vô đích (atelicity) của vị từ tiếng Việt [dẫn theo Cao Xuân Hạo và Nguyễn Hoàng Trung, So sánh thể hoàn thành trong tiếng Pháp và tiếng Việt, tr 10] Tuy nhiên, trong bài viết “Một lần nữa

về phạm trù thì trong tiếng Việt”, Panfilov vẫn cho rằng tiếng Việt có phạm trù thì

[21:1-7]

4.2.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không có thì (tense)

Trang 15

Gần đây, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đã đi đến kết luận: trong ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, không có sự biến đổi hình thái vị từ, nên tiếng Việt không

có thì – tức là cũng công nhận: không thể thông qua sự biến đổi hình thái ngữ pháp

của vị từ trong tiếng Việt để quyết định xem vị từ đó biểu đạt ý nghĩa quá khứ, hiện

tại hay tương lai Việc công nhận tiếng Việt không có phạm trù thì mà chỉ có phạm trù thể là một bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu về cách biểu đạt thời gian

trong tiếng Việt, và là một nền tảng thiết yếu cho đề tài của chúng tôi trong việc nghiên cứu cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt

Robert B Jr Jones & Huỳnh Sanh Thông (1960) bác bỏ sự tồn tại của phạm

trù thì trong tiếng Việt Hai ông cho rằng tiếng Việt sử dụng trật tự các mệnh đề hay các trợ động từ như sẽ để chỉ tương lai, có để chỉ quá khứ Nguyễn Đức Dân (1996)

cho rằng tiếng Việt không có phạm trù thì (tense) vì theo ông tiếng Việt không có một lớp từ riêng biệt chuyên thể hiện thời gian như một phạm trù ngữ pháp Theo

ông, hoàn toàn không thỏa đáng khi quan niệm rằng đã, đang, sẽ, rồi… dùng để

đánh dấu các thì quá khứ, hiện tại và tương lai

Cao Xuân Hạo (1998) và Nguyễn Hoàng Trung (2006) bác bỏ sự tồn tại của

phạm trù thì trong tiếng Việt và khẳng định sự có mặt của phạm trù thể trong tiếng Việt Đứng từ góc độ công nhận thể, Cao Xuân Hạo và Nguyễn Hoàng Trung đã chứng minh được đã, đang, sẽ không biểu đạt ý nghĩa thì, tức là chúng không bắt

buộc được dùng để định vị sự tình trên trục thời gian

Vậy là, song song với vấn đề khẳng định tiếng Việt không có phạm trù thì là việc phát hiện ra đã, đang, sẽ không phải là các chỉ tố bắt buộc để biểu đạt ý nghĩa

quá khứ, hiện tại, hay tương lai

4.2.3 Hướng nghiên cứu mà chúng tôi lựa chọn khi nghiên cứu ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt

Các phát hiện quan trọng của Cao Xuân Hạo (1998) đã giúp các nhà ngôn ngữ học chuyển hướng nghiên cứu sâu vào các phương tiện từ vựng-ngữ nghĩa trong việc biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, trong đó có vấn đề biểu đạt ý

Trang 16

nghĩa quá khứ Đây là hướng nghiên cứu mà chúng tôi lựa chọn để tiếp tục phát triển đề tài của chúng tôi

Chúng tôi tiếp nhận và phát huy các ý kiến từ nhiều bài viết quan trọng liên quan đến thời gian của các tác giả tiêu biểu như Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hoàng Trung, để vận dụng vào nghiên cứu chuyên biệt ý nghĩa quá khứ

Từ nhận định đó, chúng tôi đã dành nhiều thời gian và công sức đi chuyên sâu vào việc nghiên cứu tất cả các cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời đối chiếu riêng biệt về vấn đề biểu đạt ý nghĩa quá khứ giữa hai ngôn ngữ này

Đề tài “Cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt” đã được chúng tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu chuyên biệt, dựa chủ yếu trên hai tác phẩm có giá trị về mặt văn học và ngữ liệu, được chuyển dịch (Anh-Việt, Việt-Anh) bởi các dịch giả có uy tín

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp quan sát - miêu tả:

Chúng tôi sẽ tiến hành quan sát, miêu tả về đặc trưng các cách biểu đạt ý

nghĩa quá khứ của cả tiếng Anh và tiếng Việt về mặt ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa (thì, thể, các phương tiện từ vựng, ) nhằm đưa ra một cách hệ thống, chi tiết các cách

biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong hai ngôn ngữ

5.2 Phương pháp phân tích:

Song song với việc miêu tả là việc phân tích các đặc trưng biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt Phương pháp phân tích là phương pháp quan trọng trong đề tài này, để từ đó ta có thể nhận ra đúng đắn những ý nghĩa biểu đạt thật sự của bề mặt ngôn ngữ

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu:

Trang 17

Đây là phương pháp được chú ý nhiều để nêu rõ sự tương đồng và khác biệt

về cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ giữa tiếng Anh và tiếng Việt Vì là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình nên tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều điểm khác biệt rõ ràng, tuy nhiên hai ngôn ngữ này cũng có nhiều nét tương đồng

6 Đóng góp mới:

Chúng tôi cố gắng trình bày một cách chuyên biệt các cách thức biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt, để có được một kết quả nghiên cứu vừa tổng quát vừa chi tiết về các cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt Những gì mà chúng tôi đạt được trong đề tài này hi vọng sẽ giúp cho người học, người nghiên cứu có thêm tư liệu về cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ của tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời góp phần củng cố thêm các khẳng định mới về

thì và thể, về sự định vị sự tình trên trục thời gian của các yếu tố ngôn ngữ trong

tiếng Anh và tiếng Việt, góp phần giúp cho công tác nghiên cứu, dịch thuật được chính xác hơn

7 Bố cục công trình:

Ngoài phần dẫn nhập, và phần phụ lục, công trình của chúng tôi gồm 4 chương nội dung:

Chương 1 đưa ra các vấn đề lí thuyết cơ sở Chúng tôi nêu ra những vấn đề

làm nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo Đó là những vấn đề quan trọng về

thời (time), thì (tense), thể (aspect), và quan trọng nhất đối với đề tài này là khái

niệm ý nghĩa quá khứ

Chương 2 nêu ra cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh Phần

này chúng tôi phân tích các cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh với vấn

đề quan trọng nhất là các thì trong tiếng Anh biểu đạt ý nghĩa quá khứ (do tiếng

Anh là ngôn ngữ biến hình, sự định vị sự tình trên trục thời gian bắt buộc gắn chặt

với các thì), nêu bật ý nghĩa của các hình thái vị từ trong sự định vị sự tình xảy ra

trong quá khứ

Trang 18

Chương 3 tập trung vào cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, không có sự biến đổi hình thái ở vị từ, nên có cách biểu đạt ý nghĩa thời gian về cơ bản là khác với tiếng Anh ở việc biến đổi hình thái Tuy nhiên, vấn đề cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ ở tiếng Việt là vấn đề phức tạp Chúng tôi dành nhiều thời gian để khảo sát, phân tích, hệ thống hóa và đưa ra các nhận định khoa học để cố gắng làm rõ vấn đề này

Chương 4: Đối chiếu cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh và

tiếng Việt Chương 4 nêu ra những nét tương đồng và khác biệt trong cách biểu đạt

ý nghĩa quá khứ giữa tiếng Anh và tiếng Việt Chương này đòi hỏi sự thống kê, phân tích một lượng lớn ngữ liệu để hỗ trợ phân tích sự khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 19

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Định vị thời gian của sự tình

Thông tin thời gian được chuyển tải trong ngôn ngữ bằng hai phương thức:

(1) trong các ngôn ngữ có thì, thời gian được chuyển tải trực tiếp; (2) trong các ngôn ngữ không có thì người đọc, người nghe phải dựa trên nhiều yếu tố để nắm bắt

thông tin thời gian Câu hay phát ngôn trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng chuyển tải thông tin cho phép chúng ta xác định được vị trí của sự tình liên quan trên trục thời

gian Trong các ngôn ngữ có thì, thì cung cấp trực tiếp thông tin thời gian của sự tình, còn trong các ngôn ngữ không có thì, người đọc, người nghe dựa vào các

phương thức gián tiếp lý giải thời gian của sự tình liên quan

Như đã trình bày ở phần trên, ngôn ngữ nào cũng sở hữu phương thức xác định vị trí của sự tình trên trục thời gian trong tương quan với các điểm/đoạn thời

gian cũng nằm trên trục thời gian Khái niệm thời điểm (point of time) là một khái

niệm trừu tượng vì thật sự khái niệm này có thể phóng chiếu trên một đoạn thời

gian (temporal interval) Vì vậy, thời điểm hay thời đoạn đều biểu thị các kiểu loại

thời gian được xác định trong thời gian

Chúng tôi tìm thấy bức thư (này) lúc 12 giờ trưa

Chúng tôi tìm thấy bức thư (này) hôm qua

Trong (a), at twelve noon biểu thị một thời điểm cụ thể trong thời gian, đó là thời điểm “chúng tôi tìm thấy bức thư”, còn trong (b) yesterday biểu thị một thời

Trang 20

đoạn trong thời gian, đó là quảng thời gian diễn ra của sự tình liên quan do động từ biểu thị

Theo Reichenbach (1947), việc định vị trong thời gian liên quan đến ba kiểu loại thời gian và ba kiểu loại quan hệ thời gian Ba kiểu loại thời gian bao gồm: thời

gian phát ngôn (Speech Time), thời gian sự tình (Event Time) và thời gian quy chiếu (Reference Time)

1.1.1 Thời gian phát ngôn

Thời gian mà người nói hoặc người viết thực hiện một phát ngôn có nội dung

là sự tình do động từ trung tâm biểu thị Dưới góc độ sự tình, thời gian phát ngôn

này có thể xem như một sự tình, đó là sự tình phát ngôn (utterance event) và thì có

quan hệ với cách thức mà sự tình được định vị trong thời gian theo góc nhìn của

người phát ngôn, vì vậy, thời gian phát ngôn được xem là thời gian chỉ xuất (deictic times) và kiểu thời gian này chủ yếu gắn với các thì đơn (simple tenses) hay thì tuyệt đối (absolute tenses)

Hình 1

Thời gian phát ngôn thường được đánh dấu bằng “now” trong tiếng Anh,

“bây giờ” trong tiếng Việt… Thời gian này là cơ sở để xác định thời gian hiện tại,

thời gian quá khứ và thời gian tương lai Vai trò quan trọng nhất của nó là cung cấp một mốc thời gian để xác định diễn tiến của một sự tình trong thời gian

Trang 21

Trong ví dụ (1), thời gian phát ngôn trùng với thời gian của sự tình

1.1.2 Thời gian sự tình

Một sự tình cụ thể thường diễn ra trong một khoảng thời gian tâm lý và được

miêu tả như thời gian sự tình (event time) Một trong những yếu tố cấu thành

khoảng thời gian ấy chính là thời gian diễn tiến của sự tình liên quan, nó được gọi là

thời gian sự tình (event time)

Trong (2), từ cái mốc thời gian hiện tại, người nói nhìn lại sự tình đã qua

diễn ra ở một thời gian cụ thể được đánh dấu bằng giới ngữ at twelve

1.1.3 Thời gian quy chiếu

Sự tình trong khoảng thời gian tâm lý thường được miêu tả từ góc nhìn của người nói hay người viết Cái góc nhìn này thường nằm trong hiện tại như trong ví

dụ (1), tuy nhiên người nói có thể dịch chuyển cái góc nhìn ấy vào trong quá khứ hoặc trong tương lai Thời gian của góc nhìn “di động” ấy được gọi là thời gian quy chiếu (reference time)

Trang 22

Người nói chuyển góc nhìn đến sự tình đã qua (đến được ga) và từ thời gian quy chiếu này, anh ta nhìn lại thời gian để định vị một sự tình khác diễn ra trước sự tình “đến được ga”

1.1.4 Quan hệ thời gian trong ngôn ngữ không có thì

Các khái niệm thời gian phát ngôn, thời gian sự tình và thời gian quy chiếu

đều quan trọng trong cả các ngôn ngữ có thì lẫn các ngôn ngữ không có thì Trong các ngôn ngữ không có sự đánh dấu thời gian trực tiếp (thì), các giác độ thể (aspectual viewpoints) mã hóa quan hệ giữa thời gian quy chiếu và thời gian sự

tình Mối quan hệ cần yếu trong việc định vị thời gian của sự tình giữa thời gian quy chiếu và thời gian phát ngôn được suy ra dựa trên các yếu tố từ vựng, ngữ dụng và tình thái

Trong tiếng Việt – một ngôn ngữ hữu thể vô thì, việc xác định các mối quan

hệ thời gian trong một câu hay phát ngôn dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố từ vựng và yếu tố tình thái là quan trọng nhất Xét các câu dưới đây:

1 Hồi trẻ, tôi rất khỏe

2 Tôi gặp lại Hà hôm sinh nhật Hải

Trong (1), danh ngữ hồi trẻ hành chức như yếu tố thời gian quy chiếu, và nó được dùng để định vị sự tình “tôi rất khỏe” từng hiện thực trước thời gian phát ngôn Người nói “trở lại thời trẻ” của mình từ thời gian chỉ xuất hay thời gian phát ngôn để định vị sự tình liên quan Tương tự trong (2) danh ngữ "hôm sinh nhật Hải"

đã đặt sự tình “Tôi gặp lại Hà” trước thời gian phát ngôn Và như vậy, hai sự tình trong (1) và (2) đều được xem là sự tình được định vị trong quá khứ

Các thuộc tính thể như [±hữu đích] khi kết hợp với các phó từ tình thái chỉ mức độ như rất, quá, lắm, khá…cũng góp phần quan trọng trong việc định vị sự

tình trong tương quan với thời gian phát ngôn và thời gian quy chiếu

3 Nam vẽ tranh rất đẹp

4 Nam vẽ một bức tranh rất đẹp

Trang 23

Trong (3), ngữ nghĩa của danh ngữ không đếm được tranh được phóng chiếu trên ngữ nghĩa của vị ngữ vẽ tranh, vì vậy, vẽ tranh biểu thị một sự tình vô đích (atelic situation), tức một sự tình không có điểm kết trong cấu trúc nội tại của nó Trong khi đó, danh ngữ đếm được một bức tranh cho biết vị ngữ vẽ một bức tranh

là vị ngữ hạn định, miêu tả một sự tình hữu đích (telic situation), tức sự tình có kết

điểm trong cấu trúc nội tại của nó, khi đạt đến kết điểm đó, sự tình hoàn thành Dựa

vào sự tác động giữa thuộc tính [±hữu đích] và phó từ tình thái rất, người ta xác

định được sự tình trong (3) được định vị trong hiện tại, còn sự tình trong (4) được định vị trong quá khứ Phó từ tình thái mức độ triệt tiêu các khả năng phi thực, tức

về mặt cú pháp-ngữ nghĩa những phó từ này không kết hợp với yếu tố không miêu

tả một thuộc tính hiện thực nào đó

5 *Ngày mai Nam vẽ một bức tranh rất đẹp

6 *Nam muốn xây một cái nhà rất to

Các sự tình trong (5, 6) là những sự tình chưa hiện thực, tức cái thực thể mà danh ngữ biểu thị chưa tồn tại, vậy thuộc tính của thực thể đó cũng không tồn tại Như vậy, tính hiện thực cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng để định vị sự tình Xét thêm ví dụ sau:

7 Tôi quên đóng cửa

Khi người nói thực hiện phát ngôn (7) tại một thời gian nào đó, sự tình “quên X” mặc nhiên được định vị trước thời gian phát ngôn, và tất nhiên sự tình “quên X”

đã chấm dứt khi người nói biết anh ta quên làm cái gì đó Ngoài ra, tiếng Việt còn

có một số vị từ hàm hư như suýt, toan… hoặc một số kết cấu biểu thị ý nghĩa phi thực như đáng lẽ…, lẽ ra… cũng có thể được dùng để định vị sự tình liên quan

trong quá khứ

Nói chung, việc định vị sự tình trong tiếng Việt phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó, chu cảnh giao tiếp, ngữ cảnh của câu/phát ngôn, các chỉ tố tình thái… giữ vai trò quan trọng trong ngôn ngữ hữu thể vô thì như tiếng Việt

1.2 Quan hệ thời gian và khái niệm ý nghĩa quá khứ:

Trang 24

1.2.1 Mối quan hệ giữa thời gian quy chiếu, thời gian phát ngôn, và thời gian sự tình

Để xem xét vấn đề này, chúng ta áp dụng phương pháp truyền thống trong việc thể hiện sự tình trên trục thời gian Bernard Comrie và các nhà ngôn ngữ học truyền thống đều dựa vào biểu đồ sau:

Hình 2 Chúng ta giả sử rằng thời gian có thể được hình dung như là một đường thẳng, với quá khứ thông thường được biểu diễn ở bên trái và tương lai ở bên phải Thời điểm hiện tại sẽ được biểu hiện bởi một điểm đánh dấu 0 trên đường đó (hình 2) Cách biểu diễn này giúp cho chúng ta có thể biểu diễn theo biểu đồ một loạt những lời nhận định thông thường về thời gian Ví dụ như, để nói về một sự kiện xảy ra trong quá khứ thì ta định vị nó trên biểu đồ nằm bên trái của 0; để nói một sự kiện xảy ra sau một sự kiện khác thì ta nói rằng nó định vị trên biểu đồ bên phải của

sự kiện khác đó; để nói rằng một sự kiện xảy ra trong suốt một tiến trình nào đó khác, ta nói rằng sự định vị của sự kiện đầu thì theo biểu đồ nằm bên trong khoảng thời gian được định phần cho tiến trình thứ hai (vì một tiến trình cần phải chiếm một khoảng thời gian nào đó, nên nó sẽ được biểu hiện trên biểu đồ như là một đoạn của đường thời gian, hơn là chỉ một điểm)

Các sự tình điểm tính được trình bày bằng những điểm trên trục thời gian Những sự tình chiếm một khoảng thời gian sẽ được trình bày như một đoạn trên trục thời gian Vì thế trong hình 3, sự tình A xảy ra trước sự tình B, trong khi đó sự tình C theo sau sự tình B; sự tình D và E trùng nhau, F và G trùng nhau, H và I cũng vậy, dù rằng tính chất chính xác của việc trùng nhau có phần khác nhau (D và E phủ lên cùng một đoạn thời gian; F xuất hiện toàn bộ bên trong G; một phần của đoạn thời gian của H cũng là một phần của đoạn thời gian của I, trong khi cũng có một phần của đoạn thời gian của H thì không phải là phần của I và có phần của I thì không phải là phần của H) Để cho dễ nhìn, các sự tình được trình bày ở trên và ở

Trang 25

dưới đường thời gian, nhưng cần để chính xác hơn, chúng nên được nghĩ là chúng cùng ở trên đường kẻ

Hình 3

[Bernard Comrie, Tense, tr 5] Trong hình 3 không có sự định rõ của thời điểm hiện tại, cho nên chúng ta có thể nói việc định vị các sự tình (A-I) được thực hiện thông qua các mối liên hệ giữa chúng với nhau, như vậy các mối quan hệ kiểu như vậy được biểu thị bằng khái niệm tương đối, điều này khác với việc định vị sự tình trong tương quan với thời gian phát ngôn, trong ngữ pháp học khái niệm “tuyệt đối” dùng để biểu thị các mối quan hệ thời gian kiểu này

Hình 4 thêm vào sự định rõ thời điểm hiện tại, do đó ta có thể nói rằng A, B,

C, D và E ở trong quá khứ; F, H ở trong tương lai; trong khi đó G bao gồm cả thời điểm hiện tại, có nghĩa là đang tiến triển

Hình 4

[Bernard Comrie, Tense, tr 6]

Comrie khẳng định có hai cách cơ bản trong đó người ta có thể liên hệ một

sự tình với đường thời gian Cách thứ nhất là để định vị sự tình ở đâu đó trên trục thời gian, cần thiết là trong mối liên hệ đến một điểm hay một đoạn thời gian được định rõ, vì về một ý nghĩa nào đó, tất cả sự định vị thời gian đều là tương đối, không

có những điểm thời gian nào được định vị rõ ràng một cách tuyệt đối (Việc dùng thuật ngữ “tuyệt đối” để chỉ tới sự định vị những sự kiện trong mối liên hệ đến thời điểm hiện tại chỉ là một quy ước về mặt thuật ngữ) Khái niệm sự định vị thời gian

là cần thiết cho phạm trù ngôn ngữ học về thì

Comrie đưa ra khả năng thứ hai cho việc liên hệ sự tình với trục thời gian là người ta có thể quan tâm đến việc bàn luận về điệu hình thời gian nội tại của một sự

Trang 26

tình, ví dụ như quan tâm đến việc liệu nó được trình diễn như một điểm trên trục thời gian hay như một đoạn trên trục thời gian Cấu trúc thời gian nội tại của một sự tình cung cấp nền tảng về mặt khái niệm cho khái niệm thể

1.2.2 Khái niệm ý nghĩa quá khứ:

1.2.2.1 Cơ sở lý thuyết để phân tích ý nghĩa quá khứ:

Ý nghĩa quá khứ thể hiện quan hệ giữa thời điểm diễn ra sự tình (E) và thời

điểm phát ngôn (S): ý nghĩa quá khứ biểu hiện thời điểm sự tình xảy ra trước

thời điểm phát ngôn (E trước S)

Chúng tôi căn cứ vào khái niệm quá khứ này xuyên suốt luận văn, để thống nhất trong việc phân tích các vấn đề quy chiếu phức tạp được đề cập ở những phần sau Sở dĩ phải khẳng định như vậy, vì chúng ta cũng thấy các vấn đề nảy sinh như quá khứ trong quá khứ, quá khứ trong tương lai, một sự tình xảy ra trước một sự tình khác, Chúng tôi chỉ xét đến các định vị thời gian có hình thức E trước S và được xem như là quá khứ - vấn đề trọng tâm của đề tài Và thuật ngữ quá khứ được dùng chung cho cả luận văn này là mang nghĩa E xảy ra trước S, nếu như không có giải thích gì thêm

Ngoài ra, ý nghĩa quá khứ của một sự tình cần được hiểu là một sự tình bắt đầu và hoàn toàn kết thúc trước sự tình phát ngôn hoặc trước thời gian phát ngôn Một sự tình nếu bắt đầu trong quá khứ nhưng tại thời gian phát ngôn vẫn còn tiếp diễn hay tồn tại không thể xem là sự tình được định vị trong quá khứ Xét các câu sau:

8 (Trước đây) tôi học tiếng Nga 6 tháng

9 Tôi học tiếng Nga 6 tháng rồi

Sự tình trong (8) là sự tình được định vị trong quá khứ, tức sự tình quá khứ, còn sự tình trong (9) dù bắt đầu trong quá khứ nhưng tại thời gian phát ngôn vẫn tiếp diễn nên không thể xem là sự tình quá khứ Thuộc tính này có tính xuyên ngôn ngữ Trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, tình hình cũng tương tự:

Trang 27

10 a I studied Frenh for six months (Tôi có học tiếng Pháp 6 tháng)

b I have been studied French for six months (Tôi học tiếng Pháp 6

tháng rồi)

11 a J’ai étudié le Francais pendant six mois (Tôi có học tiếng Pháp 6

tháng)

b J’étudie le Francais depuis six mois (Tôi học tiếng Pháp 6 tháng rồi)

1.2.2.1 Sự khác biệt giữa ý nghĩa quá khứ với ý nghĩa hoàn thành và các

ý nghĩa thể liên quan khác

a Sự khác biệt giữa ý nghĩa quá khứ và ý nghĩa hoàn thành

Một sự tình quá khứ được định vị trước thời gian phát ngôn Vì vậy, trong

các ngôn ngữ hữu thì, ý nghĩa này do thì quá khứ biểu thị Trong khi đó, một sự tình hoàn thành (perfective situation) là một sự tình được nhìn trong toàn cục có khởi

điểm và kết điểm và không được định vị trên trục thời gian như một sự tình quá khứ So sánh các sự tình trong các ví dụ tiếng Anh sau:

12 a Mary ate an apple

(Mary ăn –quá khứ một –mạo từ táo) Mary có ăn một trái táo

(Mary ăn-quá khứ táo-số phức) Mary có ăn táo

Lúc ấy Mary đang ăn một trái táo.

Trang 28

b Mary was eating apples

Các sự tình trong (12) đều được biểu thị bằng thì quá khứ Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ thể thì (12a) là sự tình hoàn thành, còn (12b) lại không được xem là sự

tình hoàn thành Trong (12b), Mary không ăn nữa, chứ không phải Mary ăn hết số

táo nào đó Các vị từ trong (13) cũng đều được biểu thị bằng thì quá khứ, nhưng (13a) là một sự tình có khả năng hoàn thành vì có một kết điểm cụ thể (một trái táo)

khi sự tình liên quan đạt đến kết điểm này (Mary ăn hết trái táo), sự tình được xem

là hoàn thành, trong khi đó (13b) chỉ miêu tả một hoạt động không tương hợp với

khái niệm hoàn thành vì không có kết điểm cụ thể Vì vậy, trong các ngôn ngữ hữu

thì, các thì hình thái học là phương tiện biểu thị giá trị thể, tức biểu đạt cấu trúc thời gian bên trong của sự tình, còn bản thân thì lại được xem là thời gian được nhìn từ

bên ngoài sự tình

b Ý nghĩa quá khứ và ý nghĩa dĩ thành

Ý nghĩa của hai hình thái vị từ này giống nhau ở chỗ là đều miêu tả những sự tình diễn ra trước thời gian phát ngôn:

Taxi có đến đây

b The taxi has arrived

Taxi đã đến rồi

Trang 29

Trong (14a), taxi có đến trước thời gian phát ngôn và không cho biết taxi còn

ở đó hay không, trong khi (14b) cho biết taxi đến trước thời gian phát ngôn và hình thái này hàm ý taxi vẫn còn ở đó Vì vậy, sự khác biệt giữa ý nghĩa quá khứ và ý nghĩa dĩ thành nằm ở hàm ý của ý nghĩa dĩ thành

c Ý nghĩa quá khứ và ý nghĩa khởi phát

Ý nghĩa khởi phát là một ý nghĩa thể, miêu tả sự bắt đầu của một sự tình động Mặc dù được đánh dấu bằng thì quá khứ, nhưng sự tình khởi phát không cho

biết sự tình đã hoàn thành hay chưa Xét các câu sau:

15 a John wrote this letter

(John viết-quá khứ này thư) John viết bức thư này

Cả hai sự tình đều diễn ra trước thời gian phát ngôn, nhưng (15b) chỉ cho biết sự tình “viết bức thư này” bắt đầu lúc 9 giờ và không cho biết sự tình đã kết thúc hay chưa (vì dù bức thư còn dang dở nhưng trong đầu người phát ngôn vẫn suy được đó là bức thư)

Như vậy, thì và thể đều biểu thị những giá trị thời gian của sự tình do vị từ biểu thị, nhưng hình thái của các thì đồng thời là phương tiện biểu thị giá trị thể Thì

chỉ định vị sự tình trong tương quan với thời gian phát ngôn hoặc thời gian quy

chiếu trên trục thời gian, trong khi đó các giá trị thể của sự tình lại được biểu thị với những hàm ý khác nhau và những thông tin thời gian khác với thì

Trang 30

CHƯƠNG HAI:

CÁCH BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA QUÁ KHỨ TRONG TIẾNG ANH

Ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh chủ yếu được biểu đạt bằng các thì hình

thái học Ý nghĩa này của một sự tình được xác định trên mối quan hệ giữa thời gian phát ngôn (Speech/Utterance Time –ST) và thời gian của sự tình động từ biểu thị (Event Time – ET) Như vậy, Một sự tình E được xác định là một sự tình đã diễn ra

và kết thúc trong quá khứ sẽ được biểu thị như trong sơ đồ sau:

Hình 5

Ý nghĩa quá khứ này có thể là sự định vị thời gian của một sự tình đơn lẻ trong tương quan với thời gian (ST), nhưng cũng có thể là sự định vị của hai sự tình trong tương quan với (ST) và trong tương quan với nhau như trong sơ đồ sau:

Hình 6 Trong sơ đồ trên, cả hai sự tình đều diễn ra và kết thúc trong quá khứ, nhưng việc sử dụng hình thái nào để định vị thời gian của từng sự tình phải dựa trên tương quan thời gian giữa hai sự tình Sự tình diễn ra và kết thúc trước khi sự tình diễn ra và kết thúc, vì vậy, sự tình diễn ra trước có thể được dấu bằng past perfect,

sự tình quy chiếu được đánh dấu bằng simple past như trong ví dụ sau:

Hình 7

Trang 31

Như vậy, ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh có thể được đánh dấu bằng các thì hay hình thái quá khứ như sau: thì quá khứ đơn (simple past), quá khứ tiếp diễn (past continuous), quá khứ dĩ thành (past perfect), và hình thái used to Dưới đây,

chúng tôi lần lượt khảo sát cách thức biểu đạt ý nghĩa quá khứ của từng hình thái trong tiếng Anh

2.1 Cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ bằng phương tiện hình thái (morphology) trong tiếng Anh

Chúng tôi phân tích cách biểu đạt ý nghĩa quá khứ bằng phương tiện hình

thái (morphology) trong tiếng Anh từ hai góc độ: cách thức mà các hình thái vị từ

thì quá khứ và các hình thái vị từ thì phi quá khứ biểu đạt sự định vị sự tình trước thời điểm hiện tại/ thời điểm phát ngôn (S)

2.1.1 Thì quá khứ (past tense) biểu đạt ý nghĩa quá khứ

2.1.1.1 Hình thái simple past (quá khứ đơn)

Hình thái quá khứ đơn (simple past) trong tiếng Anh dùng để đánh dấu một

sự tình diễn ra và kết thúc ở một thời gian nào đó trước thời gian phát ngôn, thường trùng với thời gian quy chiếu (RT) Sự tình (E) xảy ra trước thời gian (ST)

16 I took notes, the elements of the story

(Tôi ghi chép các chi tiết của câu chuyện)

[Yann Martel, Life of Pi, tr x]

Vị từ took (note) (ghi chép) là hình thái quá khứ đơn của hình thái nguyên mẫu to take (note) Câu ví dụ này diễn tả một sự tình xảy ra ở bên trái của trục thời gian, trước thời gian phát ngôn (S)

Hình 8

Trang 32

Về mặt ngữ nghĩa, việc sử dụng các hình thái thì quá khứ, mà cụ thể là hình thái quá khứ đơn, đều cho biết sự tình liên quan được đánh dấu không còn diễn ra tại thời gian phát ngôn Phân tích điều này, Comrie đưa ra ví dụ sau:

17 John used to live in London

(John từng sống ở Luân Đôn)

[Comrie, Tense, tr 24] Ông nhận định: nếu câu này được dùng mà không có sự phủ nhận nào thì nó

sẽ có thể được sử dụng để thông tin rằng John không còn sống ở London

Đó chỉ là một hàm ngôn, và không phải là một phần của nghĩa của hình thái simple past Điều đó có thể dễ dàng được nhận ra khi phần thông tin hàm ngôn này

có thể được hủy bỏ Ông đưa thêm vào ví dụ trên một ngữ cảnh mới:

18 John used to live in London and he still does

(John từng sống ở London và hiện giờ anh ấy vẫn sống ở đó.)

hay như ví dụ trong (19) dưới đây:

19 John used to live in London and as far as I am aware he still does

(John từng sống ở London và theo chỗ tôi biết thì anh ta vẫn sống ở đó.)

[Comrie, Tense, tr 24] Theo hai ví dụ mới này thì hàm ngôn “John không còn sống ở London” đã không thể tồn tại

Như vậy, theo Comrie hình thái simple past chỉ giới hạn ở nghĩa cho biết sự tình (E) xảy ra trước thời gian phát ngôn (TS) Sự tình đó có còn tồn tại đến hiện tại hoặc tương lai hay không, thì chỉ là hàm ngôn và không phải là nghĩa của của hình

thái simple past Chính vì thế, với ví dụ She was married, hình thái quá khứ của vị

từ cho ta biết là trong quá khứ người phụ nữ này có lập gia đình, nhưng hiện nay người này có còn ở tình trạng hôn nhân đó (có chồng) hay không, rõ ràng hình thái simple past không cho biết

Trang 33

Tuy nhiên, theo chúng tôi, một trong những đặc trưng của hình thái simple

past là sự tình được đánh dấu bằng simple past thường cách ly khỏi thời gian hiện

tại (để phân biệt với hình thái present perfect – thường miêu tả trạng thái kết quả trong hiện tại, tức miêu tả một sự tình quá khứ nhưng kết quả của sự tình này vẫn

còn nằm trong hiện tại) Đặc trưng cách ly với hiện tại của sự tình được đánh dấu

bằng simple past có thể được miêu tả trong sơ đồ của câu (20) dưới đây:

20 Last year, I travelled to Japan

(Năm ngoái tôi đi du lịch ở Nhật)

Hình 9

Sơ đồ trên cho biết sự tình E bắt đầu, diễn tiến và kết thúc trong quá khứ và

thời gian quá khứ này được biểu thị bằng phó từ last year (năm trước) và trên sơ đồ

được biểu thị bằng vạch màu đỏ Như vậy, thời gian của sự tình nằm trong thời gian

quy chiếu last year và hoàn toàn cách ly với thời gian phát ngôn hay nói khái quát

hơn là thời gian hiện tại

Hình thái simple past không chỉ đánh dấu thời gian quá khứ của một sự tình riêng lẻ mà nó còn có thể biểu thị thời gian quá khứ của một chuỗi các hành động diễn ra theo trật tự tuyến tính trong thời gian Mặc dù diễn ra tuần tự nhưng liên tiếp tựa như không tạo ra những khoảng thời gian “trống” giữa hai sự tình, nên các sự tình liên quan vẫn được xem diễn ra cùng một thời gian nào đó trước thời gian phát ngôn:

21 They smiled at me (1), shook my hand (2), patted me on the head (3),

left gifts of food and clothing on my bed (4)

(Yann Martel, Life of Pi, tr 8) (Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các món quà, thức

ăn và quần áo lại trên giường tôi.)

Trang 34

Chuỗi sự tình quá khứ trong ví dụ trên có thể được miêu tả như sau qua sơ đồ dưới đây:

Hình 10 Như vậy, có thể chuỗi bốn sự tình động trên được xem như diễn ra trong

“cùng” một khoảng thời gian nằm trước thời gian phát ngôn và có thể xem như những sự tình bộ phận cấu thành một sự tình lớn hơn (macro-event), cũng như có

thể xem cả bốn sự tình trên là sự tình của sự tình “đón tiếp”: They received me very warmly Giá trị này của simple past thường được dùng trong văn tự sự (narrative)

• Mối quan hệ giữa ý nghĩa quá khứ và ý nghĩa phi thực

Trong tiếng Anh, ý nghĩa phi thực (counterfactual meaning) thường được biểu thị bằng hình thái quá khứ (quá khứ đơn hoặc quá khứ dĩ thành), vì vậy, chắc hẳn sẽ có một mối quan hệ nào đó giữa hai loại ý nghĩa này Dưới góc nhìn ẩn dụ, Fleischman (1989) cho rằng khoảng thời gian từ điểm “now” của người nói dọc theo trục thời gian được hoán đổi thành khoảng cách được khái niệm hóa trong một miền trừu tượng hơn Và như vậy, ý nghĩa quá khứ được mã hóa lại thành ý nghĩa phi thực Tuy nhiên, Givón (1994) lại cho rằng cơ chế ngữ pháp hóa cần một điểm xuyên nhập (a point of penetration) Nếu xuất phát từ cái hiểu biết về ngữ pháp hóa, người nói không thể nhận biết sự tương đồng hoàn toàn giữa hai miền Sự mở rộng nghĩa ẩn dụ là thẩm nhập vào một miền mới tại điểm mà sự tương đồng với miền xuất phát là rõ rệt nhất Do đó, ông cho rằng sự dịch chuyển từ ý nghĩa quá khứ sang ý nghĩa phi thực nảy sinh từ sự “suy giảm niềm tin” vào tính hiện thực của sự tình được biểu đạt (a decreased belief in the reality of state of event expressed)

22 If I were young, I would be happier

Trong (22), ý nghĩa phi thực được biểu thị bằng hình thái simple past were,

và trong câu này ý nghĩa quá khứ không được đánh dấu và có thể nói ý nghĩa này bị đẩy vào sâu trong hậu cảnh của phát ngôn này Câu này hàm ý “I am already old”

Trang 35

(Tôi đã già rồi) hay “I am not young any more” (Tôi không còn trẻ nữa) Cả hai

hàm ý này đều cho biết sự tình tĩnh be young không còn hiện hữu tại thời điểm phát

ngôn (vì đã kết thúc), và do vậy “If I were young…” là sự tình phi thực

2.1.1.2 Ý nghĩa quá khứ và hình thái past progressive (quá khứ tiếp diễn)

Hình thái past progressive diễn tả một sự tình đang diễn tiến hay một sự tình làm “nền” (background) cho một sự tình khác diễn ra (24 & 25) tại một thời gian quy chiếu nào đó trong quá khứ

23 He was eating the hyena by great chunks, voraciously

(Lúc ấy, nó đang ngấu nghiến từng miếng thịt lớn của con linh cẩu.)

[Yann Martel, Life of Pi, tr 193] Tuy nhiên, hình thái past progressive không cho ta biết sự tình đó có còn tiếp diễn sau thời gian quy chiếu hay không Thời gian quy chiếu này có thể được đánh dấu bằng một sự tình khác diễn ra trong thời đoạn của sự tình nền

24 I was watching TV when she called

(Tôi đang xem truyền hình thì cô ta gọi)

25 While we were having the picnic, it started to rain

(Chúng tôi đang dã ngoại thì trời đổ mưa)

Ta có thể miêu tả mối quan hệ thời gian giữa hai sự tình trong (24) như sau:

Hình 11

Trong (24) và (25), các sự tình đánh dấu bằng simple past she called và it started to rain là những yếu tố khiến các sự tình đang diễn tiến (đánh dấu bằng past

Trang 36

progressive) I was watching TV và While we were having the picnic bị gián đoạn, và

những hình thái này không cho biết sự tình liên quan có tiếp diễn sau điểm gián

đoạn hay không và điều này thể hiện qua các chấm vuông màu đỏ Hay như ví dụ

của Comrie dưới đây:

26 John was eating his lunch (when I looked into his room)

(John đang ăn trưa (lúc tôi nhìn vào phòng anh ấy.))

Rõ ràng tại một thời đoạn nào đó trong quá khứ (trong ví dụ này, cụ thể là thời điểm

tôi nhìn vào phòng của John), mệnh đề John was eating his lunch (John đang ăn

trưa) là đúng Nó không nói gì về liệu tình huống đó vẫn còn tiếp tục sau thời điểm tôi nhìn vào phòng John hay không

Comrie nhận xét là bất kì hàm ngôn nào có tính không quan yếu tại thời gian quy chiếu có thể dễ dàng được hủy bỏ bằng ngữ cảnh; để mà, nếu ai đó hỏi liệu John có đang ăn trưa vào lúc này hay không, ta có thể trả lời:

27 He was eating his lunch five minutes ago when I looked into his room, but he may have finished by now

(Anh ấy đang ăn trưa năm phút trước, lúc tôi nhìn vào phòng anh ấy, nhưng có lẽ lúc này anh ấy đã ăn xong.)

[Bernard Comrie, Tense, tr 42] Vậy rõ ràng nghĩa của hình thái quá khứ tiếp diễn (past progressive) chỉ giới hạn trong việc cho biết sự tình đang diễn tiến trong quá khứ, nó không cho biết sự tình có còn đang tiếp diễn đến hiện tại hay không Mọi hàm ngôn khác nảy sinh là tùy vào ngữ cảnh như ví dụ trong (28) dưới đây:

28 While I was sleeping last night, someone stole my car

(Tối qua tôi đang ngủ, có kẻ đánh cắp xe hơi của tôi)

Và mối quan hệ của hai sự tình (E1) và (E2) được miêu tả như sau qua sơ đồ dưới đây:

Trang 37

Hình thái quá khứ tiếp diễn trong tiếng Anh chuyển tải hai giá trị: giá trị thì

và giá trị thể Hình thái này định vị sự tình liên quan tại một thời gian quy chiếu nào

đó nằm trước thời gian phát ngôn, đó là ý nghĩa quá khứ Và tại thời gian quy chiếu

đó, nó cho biết sự tình đang diễn tiến, đó là giá trị thể, và cụ thể là ý nghĩa tiếp diễn (progressive meaning)

2.1.1.3 Hình thái past perfect (quá khứ dĩ thành)

a Sự định vị sự tình (E) của hình thái past perfect (quá khứ dĩ thành)

Hình thái past perfect định vị thời gian trong quá khứ tương đối phức tạp vì ngoài sự tình E và thời điểm hiện tại S, ta lại có một điểm quy chiếu R nằm trong

quá khứ Hình thái này là sự kết hợp của had với một quá khứ phân từ (past

participle)

29 It was early and the zoo hadn't opened yet to the public

(Hãy còn sớm và vườn thú còn chưa mở cửa cho công chúng vào.)

[Yann Martel, Life of Pi, tr 41]

30 One of our sloth bears became seriously ill with severe hemorrhagic

enteritis after being given fish that had gone putrid by a man who was

convinced he was doing a good deed

Trang 38

(Một con culi của chúng tôi bị ốm nặng với chứng viêm ruột chảy máu sau khi ăn một con cá thiu do một người nhét cho, mà người này nhất định tin rằng ông ta chỉ làm tốt cho con vật mà thôi.)

[Yann Martel, Life of Pi, tr 38] Chúng ta đã biết đến các thì tuyệt đối với sự quy chiếu thời gian tuyệt đối, nơi mà tình huống được định vị tại, trước, hoặc sau thời gian phát ngôn (ST), còn các thì tương đối miêu tả sự tình được định vị trong tương quan với thời gian quy chiếu (RT) được cho bởi ngữ cảnh (36:58) Về mặt hình thức của vị từ, trong chừng mực nào đó, sự phân biệt giữa thì tuyệt đối và thì tương đối trùng với sự phân biệt giữa hình thức hữu tận (finite verbal form) và hình thức phi hữu tận (nonfinite verbal form) của vị từ Như vậy, hình thái past perfect có hình thức phi hữu tận và

là một thì tương đối Cấu trúc ngữ nghĩa của hình thái past perfect là sự kết hợp các mối quan hệ thời gian: ET > RT (thời gian sự tình trước thời gian quy chiếu) và RT

> ST (thời gian quy chiếu trước thời gian phát ngôn)

Hình thái past perfect có thể được miêu tả qua sơ đồ sau của Reichenbach:

Hình 13 Nhìn biểu đồ, ta nhận ra một cách rõ ràng rằng hình thái past perfect định vị (E) trong quá khứ Và đây là nghĩa gốc của hình thái past perfect, nó không bao hàm nghĩa quá khứ xa

b Điểm quy chiếu (R) của hình thái past perfect (quá khứ dĩ thành)

Nói về điểm quy chiếu, hình thái past perfect có một điểm quy chiếu trong quá khứ Sự thiết lập của điểm quy chiếu này là tùy thuộc vào ngữ cảnh Chúng ta xem xét các ví dụ mà Comrie đưa ra để phân tích:

31 John had already left at ten o'clock

(10 giờ thì John đã đi rồi)

Trang 39

Câu này có thể có hai cách hiểu:

- Cách hiểu thứ nhất: 10 giờ là điểm quy chiếu (R) mà trước điểm quy chiếu

đó John đã rời khỏi Có thể miêu tả cách hiểu thứ nhất như sơ đồ sau:

John had already left at ten o’clock

32 The clock struck twelve; John had already departed at ten o'clock

(Đồng hồ điểm 12 giờ, John đã rời khỏi lúc 10 giờ.)

Tuy nhiên, trong ví dụ kế tiếp, để cho văn bản có nghĩa, at ten o'clock phải được

xem như điểm quy chiếu (R) mà trước điểm quy chiếu (R) đó John đã rời khỏi:

33 Mary came to visit John at ten o'clock; but John had already left at ten

o'clock

(Mary đến thăm John lúc 10 giờ; nhưng lúc 10 giờ John đã đi rồi.)

[Bernard Comrie, Tense, tr 66] Như vậy, đối với hình thái quá khứ dĩ thành (past perfect), sự thay đổi ngữ cảnh sẽ làm thay đổi điểm quy chiếu (R) Nghĩa của quá khứ dĩ thành chỉ còn giới

hạn lại ở việc: tình huống (E) xảy ra trước một điểm quy chiếu (R) trong quá

khứ, còn thời điểm nào được chọn làm điểm quy chiếu (R) là tùy thuộc vào ngữ

cảnh

Trang 40

2.1.1.4 Hình thái past perfect progressive:

Đây là hình thái mở rộng của hình thái past perfect, hình thái past perfect progressive nhấn mạnh đến diễn trình của sự tình Nói chính xác, hình thái này miêu

tả một sự tình bắt đầu trong quá khứ và tiếp diễn cho đến khi một sự tình khác diễn

ra cũng trong quá khứ:

34 They had been talking for over an hour before Tony arrived

(Họ nói chuyện cả tiếng đồng hồ trước khi Tony đến.)

Hình 15 Hình thái này được Reichenbach biểu diễn bằng biểu đồ như sau:

Hình 16 [Davis, Steven and Gillon, Brendan S., Semantics: A Reader, tr 528] Reichenbach xem hình thái past perfect progressive là hình thái past perfect, extended Ở đây, sự tình được nghĩ đến trong đầu không như là một điểm trên trục thời gian mà được nghĩ đến trong đầu như là một đoạn trên trục thời gian Sự tình

đó được mở rộng, được kéo dài ra, nhấn mạnh sự diễn tiến

2.1.2 Thì phi quá khứ (non-past tense) biểu đạt ý nghĩa quá khứ

Ý nghĩa quá khứ trong tiếng Anh, ngoài các hình thái quá khứ hay thì quá khứ, còn được biểu thị bằng hình thái phi quá khứ, đặc biệt các hình thái hiện tại (present forms) Đây là cách dùng đặc biệt và có tính chất tu từ của các hình thái hiện tại Hình thái hiện tại trong cách dùng này miêu tả một sự chuyển dịch từ thời gian quá khứ trở lại hiện tại, song sự chuyển dịch này diễn ra trong thời gian tâm lý

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w