Jakobson có viết: “Các ngôn ngữ khác nhau không phải ở chỗ ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được những ý nghĩa gì vì ngôn ngữ nào cũng có cách diễn đạt bất cứ ý nghĩa gì mà ngôn ngữ khác có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(((
NGUYỄN HOÀNG HIỆP
SO SÁNH PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
(TRONG DỊCH THUẬT ANH - VIỆT VÀ VIỆT –
ANH) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số : 5.04.27 Khoá học : 2001 -2004
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm
2005
Trang 2A Cách xác định thời đoạn, thời lượng, khoảng cách
thời gian, hoàn cảnh thời gian; cách xác định thời điểm
(ý nghĩa “THÌ”)
20
I Dùng khung đề thời gian (trạng ngữ) hay từ chỉ thời
gian ở ví trí khung đề để xác định mối quan hệ giữa các
thời điểm, thời đoạn
21
2 Kết hợp giữa các danh từ với các giới ngữ chỉ không
gian (trước/ sau, trong/ ngoài, đầu/ cuối…) để biểu thị
ý nghĩa thời gian
31
II Dùng các vị từ tình thái “đã”õ, “đang”, “sẽ”õ 35
Trang 3B Cách diễn đạt ý nghĩa về sự vận động, sự diễn
tiến…của các sự kiện thời gian (ý nghĩa “THỂ”)
Chương 3
SO SÁNH CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TRONG TIẾNG ANH
85
A Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Anh 85
I Dùng phương tiện từ vựng 86
Trang 41 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ về cách phân chia
THÌ trong tiếng Anh
88
4 Các chức năng của hình thức phối hợp giữa THỂ
Hoàn Thành (Perfect Aspect) và THỂ Tiếp Diễn
B So sánh cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng
Việt và trong tiếng Anh
123
I Sự khác nhau về đặc điểm loại hình 123
Chương 4
MỘT SỐ LƯU Ý VỀ CÁCH DỊCH Ý NGHĨA THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
163
I Dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt (chuyển từ ngôn 164
Trang 5ngữ VÔ THÌ sang ngôn ngữ HỮU THÌ)
KẾT LUẬN CHUNG 183
TÀI LIỆU THAM KHẢO 187
Trang 61 Tài liệu trích dẫn được ghi theo số thứ tự tương ứng của nó trong phần danh mục TÀI LIỆU THAM KHẢO và được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] ngay sau phần có liên quan; tiếp theo
số năm xuất bản tài liệu tham khảo, sau dấu hai chấm là số trang Nếu đoạn trích dẫn nằm ở hai ba trang liên tục thì giữa trang đầu bài trang cuối có ghi thêm dấu gạch ngang (-) Ví dụ: ([18]1998:
545 – 558) Thông tin đầy đủ về tài liệu trích dẫn được ghi trong mục TÀI LIỆU THAM KHẢO đặt cuối luận án
Đối với phần được trích dẫn từ nhiều tài liệu khác nhau, số thứ
tự của các tài liệu được đặt độc lập từng dấu ngoặc vuông, ví dụ:[4], [6], [63]
2 Xuất xứ các ví dụ trích dẫn từ các tác phẩm văn học, báo chí được ghi tắt ở sau mỗi ví dụ, sau đây là các qui ước viết tắt tên tác phẩm:
Trang 7the sea” của Ernest Hemingway sẽ được ghi (T.72)
Các ví dụ được in nghiêng, phần dịch những ví dụ bằng tiếng Việt được đặt trong hai dấu < >
- Những câu có dấu * là những câu không chấp nhận được
nhiên” hoặc “khó nghe”
không làm cho câu thay đổi về phương diện “có thể” hay “không có thể” được người bản ngữ chấp nhận được
Trang 8
PHẦN MỞ ĐẦU
I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, dịch thuật là một nghệ thuật, dịch thuật không đơn thuần là việc chuyển ngữ Thậm chí dịch còn đồng nghĩa với sự sáng tạo văn học Và sự sáng tạo ấy phải nằm trong chuẩn mực: trung thành với nguyên tác Điều này có nghĩa người dịch phải nắm vững cái thần của văn bản nguyên tác, nhưng dịch sát từng chữ cũng không phải là trung thành, việc dịch quá sát nghĩa sẽ làm méo
mó nghĩa thật của nguyên tác Đó là nhược điểm của một số bản dịch hiện nay Muốn cho một bản dịch của một văn bản tiếng Anh hoặc bất
cứ ngoại ngữ nào giống một văn bản tiếng Việt chứ không phải là một văn bản tiếng Việt dở đặc “văn Tây”, giống một văn bản tường thuật không hồn do một ông Tây mới học tiếng Việt hay một người Việt mới học tiếng Tây ngồi ghép chữ mà thành, người dịch phải hiểu thật đúng
và thật đầy đủ cái ý nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt, rồi tìm ra một phương tiện tối ưu mà tiếng Việt có thể dùng và phải dùng để truyền đạt cái ý nghĩa ấy như R Jakobson có viết: “Các ngôn ngữ khác nhau không phải ở chỗ ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được những ý nghĩa
gì (vì ngôn ngữ nào cũng có cách diễn đạt bất cứ ý nghĩa gì mà ngôn ngữ khác có thể diễn đạt) mà là ở chỗ có những ngôn ngữ bị bắt buộc phải diễn đạt những ý nghĩa mà các ngôn ngữ khác có thể không diễn đạt khi cần thiết”([19]1998:537)
Thấy được những khiếm khuyết đó cũng như tầm quan trọng, ý nghĩa thực tiễn của vấn đề trên, chúng tôi chọn việc miêu tả ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, đối chiếu với tiếng Anh về cách diễn đạt ý nghĩa thời gian làm đối tượng nghiên cứu
Trang 9Cũng không nằm ngoài nguyên tắc “Dịch là chuyển tải cái thần của nguyên bản“, đề tài “So sánh phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh (trong dịch thuật Anh – Việt và Việt – Anh)”, tập trung tìm hiểu sâu về cách diễn đạt ý nghĩa thời gian (ý nghĩa THÌ và THỂ) trong tiếng Việt và tiếng Anh, xem cách thể hiện ý nghĩa thời gian của hai ngôn ngữ này như thế nào qua phương tiện biểu đạt Trên cơ sở đo,ù đối chiếu phương tiện diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa tiếng Việt và tiếng Anh, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Từ đó hướng đến khắc phục những lỗi thường gặp ở các văn bản dịch, sách song ngữ thậm chí trong các khóa học tiếng Anh tại các trường phổ thông trong cách chuyển dịch ý nghĩa thời gian từ tiếng Anh sang tiếng Việt Nguyên nhân chủ yếu của những lỗi này, do người học và một số người dạy tiếng Anh vẫn còn khái niệm “tiếng Việt có THÌ (tense)” và không được trang bị một cách
cơ bản, đầy đủ về ngữ pháp tiếng Việt đồng thời đã quen (khi học tiếng Anh) nghĩ rằng việc phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai là một điều rất quan trọng của con người trong cách tri giác thời gian và khó lòng
có thể tưởng tượng một thứ tiếng không có THÌ Song song đó, đề tài cũng hướng đến các biện pháp sử dụng triệt để và hiệu quả các vị từ tình thái như “đã”, “đang”,“chưa”, “rồi”, “sẽ”… và khung đề chỉ thời gian (trạng ngữ chỉ thời gian) để chuyển dịch đúng sang văn phong tiếng Việt của người Việt chứ không phải “văn bản Tây”
Đó là mục tiêu của đề tài Và đây cũng là hướng đề tài muốn phát triển
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học
Trang 10Hiện nay, trong giới Việt ngữ học có hai quan điểm về phạm trù THÌ và phạm trù THỂ: một nhóm cho rằng tiếng Việt có phạm trù THÌ
và pïhạm trù THỂ, nhóm còn lại cho rằng tiếng Việt không có phạm trù THÌ mà chỉ có phạm trù THỂ
1.1 Nhóm các nhà Việt ngữ cho rằng tiếng Việt có phạm trù THÌ và phạm trù THỂ (quan niệm truyền thống)
Cách đây hơn 315 năm, trong tiểu luận “Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh” (1651) của mình, A De Rhodes đã
đề cập đến cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt như sau “THÌ được nhận biết bằng cách thêm vào một vài phụ từ THÌ hiện tại không cần thiết một phụ từ nào, nhưng đôi khi cũng có, thí dụ: “Tôi mắc việc bây giờ” THÌ quá khứ - chưa hoàn thành:
“Hôm qua tôi mắc chép thơ, nói chẳng được” THÌ quá khứ – hoàn thành: đã về, đã nói… THÌ tiền quá khứ: hôm kia khi ông đến đã chép thư ” THÌ tương lai: sẽ đi…Cũng vậy, bởi chính cách nói mà hiểu ra THÌ quá khứ, THÌ hiện tại, THÌ tương lai”
Sau đó trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”(1883), Trương Vĩnh Ký cũng đề cập đến ý nghĩa thời gian và ý nghĩa THỂ Tuy nhiên cả A De Rhodes và Trương Vĩnh Ký đều không biệt THÌ với THỂ
Sau Trương Vĩnh Ký và A De Rhodes, hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ sau này cho rằng tiếng Việt đều có phạm trù THÌ như tiếng Châu Âu và được thể hiện qua các chỉ tố đã, đang, đương, sẽ Sau dây chúng tôi xin dẫn chứng một số nhà nghiên cứu Việt ngữ có quan điểm tiếng Việt có phạm trù THÌ như các ngôn ngữ Châu Âu:
• Bùi Đức Tịnh cho rằng đã chỉ quá khứ và cũng được dùng
để chỉ các sự việc xảy ra ở thời tương lai ([46]1952:194) Nguyễn Anh
Trang 11Quế và Hoàng Phê cũng cho rằng nét nghĩa cơ bản của đã biểu thị hành động xảy ra trong quá khứ
• Các nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hoà, Đào Duy Anh và Đào Thản đều cho rằng đa số các ngôn ngữ đều có ba THÌ phân biệt
rõ ràng và tiếng Việt cũng không nằm ngoài “quy luật” này Điều này
có nghĩa là tiếng Việt có 3 THÌ như các ngôn ngữ Châu Aâu và sử dụng các tiền động từ đã – vừa – đang – sẽ để phản ánh thời gian
• I.S.Bystrov và N.V.Xtankêvic viết: “Trong Việt ngữ, phạm trù THÌ không phải chỉ có động từ mới có mà là gắn với bất kỳ vị từ nào, kể cả đối với các từ tố có thuộc tính vị từ” Đã – đang – sẽ… là những yếu tố chỉ THÌ Khi đã đứng trước bất kỳ động từ nào đều chỉ hành động đó hoặc trạng thái đó đã bắt đầu trong quá khứ
• Giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại” (dùng cho sinh viên Cao Đẳng Sư phạm và giáo viên phổ thông – 1980:77 – 78) xếp
đã, đang, sẽ trong nhóm các trạng từ chỉ thời gian, thường đi với động
từ và tính từ, trong đó đã diễn đạt ý nghĩa quá khứ, đang biểu thị thời
hiện tại, sẽ biểu thị tương lai…
• Trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt”, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp khẳng định “THÌ và THỂ là hai phạm trù
trong tiếng Việt” ([66]1998:112)
Qua vài ví dụ dẫn chứng chúng ta nhận thấy rằng tiếng Việt vẫn còn quan niệm về phạm trù THÌ và vẫn còn cho rằng đã, đang, sẽ là những chỉ tố để thể hiện cách diễn đạt phạm trù THÌ vẫn không thay đổi so với những năm trứơc đó Dường như quan điểm xem tiếng Việt như một ngôn ngữ có đầy đủ 3 THÌ đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều
Trang 12người, trong đó có cả một số nhà nghiên cứu Việt ngữ lẫn người dạy
và học tiếng Việt
Việc xếp tiếng Việt như các ngôn ngữ Châu Aâu có phạm trù THÌ của các nhà nghiên cứu Việt ngữ trên có những điểm thuận lợi như tính đơn giản, gọn gàng, khiến người học và người dạy tiếp cận nhanh các cấu trúc ngữ pháp có liên quan đến ý nghĩa THÌ và THỂ cũng như làm người dạy và người học thấy được đã, đang, sẽ như các chỉ tố hình thái học đánh dấu ba THÌ như các ngôn ngữ Châu Aâu nhưng việc sắp xếp này không hoàn hợp lý nếu chúng ta xem xét vài câu ví dụ sau:
- Mới tháng trước, cây cối còn đang xanh, mà nay đã vàng rực ([19]1998:545)
- Hôm qua em đến trường ([14]2003:7)
- Ngày mai mẹ đi chợ ([14]2003:7)
- Ngày mai anh ấy đã bay rồi ([7]1998:116)
chúng ta thấy rằng đã, đang, sẽ của tiếng Việt rất tinh tế và không hề đơn giản như trên Do đó những quan niệm này nói chung chưa thực sự phản ánh được thực tế sử dụng tiếng Việt trong đời sống thường nhật
1.2 Nhóm các nhà Việt ngữ cho rằng tiếng Việt không có phạm trù THÌ mà chỉ có phạm trù THỂ
Quan niệm này xuất hiện và tồn tại đồng thời với quan niệm thứ nhất và có cách tiếp cận vấn đề tương đối khác biệt và mới mẻ so với cách tiếp cận của quan niệm thứ nhất Sau đây là một số ví dụ dẫn chứng từ những nghiên cứu Việt ngữ theo quan niệm thứ hai này:
Trang 13• Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm (1940) đã xử
lý vấn đề THÌ và THỂ như sau:
+ Về cách diễn đạt ý nghĩa thời gian, để nói rõ thời gian diễn ra sự việc so với thời điểm phát ngôn, người ta dùng từ chỉ thời gian làm trạng ngữ, ví dụ: Ngày mai toà soạn nhận thêm hai phóng viên trẻ, Hôm qua mẹ ghé thăm tôi, Hôm nay bố đi làm về sớm Như vậy người ta dùng phương tiện từ vựng để diễn đạt ý nghĩa thời gian, không phải bằng phương tiện ngữ pháp
+ Về cách diễn đạt ý nghĩa THỂ của động từ, để biểu thị ý nghĩa đang tiếp diễn của một sự việc trong quá khứ hoặc trong hiện tại hoặc trong tương lai, người ta thêm phó từ đang, đương trước động từ Còn để diễn đạt một sự việc đã hoàn thành, người ta đặt đã, rồi, xong trước hoặc sau động từ (đã đặt trước động từ, còn rồi, xong được đặt sau động từ), ví dụ: Mẹ tôi đang nấu cơm, tôi đã hoàn thành xong luận văn, Anh Hai ngủ rồi…
Qua cách trình bày trên ta thấy các tác giả đã không khẳng định tiếng Việt có phạm trù THÌ
• Theo Nguyễn Kim Thản “không nên cho riêng những phụ
từ như đã, đang, sẽ biểu thị phạm trù THÌ của động từ Phạm trù THÌ không phải là phạm trù ngữ pháp đặc biệt của động từ tiếng Việt…” ([49]1977:176-178)
• Hoàng Tuệ cũng khẳng định “Trong Việt ngữ không có tính hình thức đặc biệt để biểu thị phạm trù thời gian”([64]1962:68)
• Cũng đồng quan điểm với Nguyễn Kim Thản và Hoàng Tuệ, Đái Xuân Ninh cũng cho rằng tiếng Việt không có phạm trù THÌ…
Trang 14Để diễn đạt ý nghĩa THÌ, tiếng Việt sử dụng phương tiện từ vựng ([38]1986:122)
• Từ góc độ logic, khi nghiên cứu về logic thời gian, sự biểu hiện và nhận diện thời gian trong tiếng Việt, Nguyễn Đức Dân ([7]1998:116) đã khẳng định “Trong tiếng Việt không có một lớp từ riêng biệt chuyên thể hiện thời gian như một phạm trù ngữ pháp Nói cách khác tiếng Việt không có phạm trù THÌ (tense) Nói rằng các từ
đã, đang, sẽ để trỏ các THÌ quá khứ, hiện tại và tương lai của sự kiện
là không thoả đáng”
• Trong cuốn “Tiếng Việt – mấy vấn đề về ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa”, Cao Xuân Hạo ([19]1998:536-573) đã trình bày khá kỹ về cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, trong đó tác giả khẳng định tiếng Việt tuyệt nhiên không có phạm trù THÌ Đồng thời tác giả nêu cách thể hiện ý nghĩa THÌ và THỂ trong tiếng Việt cũng như nguyên tắc dùng các vị từ tình thái đã, đang, sẽ (với ý nghĩa THỂ chứ không phải với vai trò là những chỉ tố chỉ thời gian ) trong tiếng Việt
• Một số nhà ngôn ngữ học nước ngoài khi nhiên cứu tiếng Việt như M.Grammont và M.B.Emeneau ([69]1951) cũng đều khẳng định: THÌ không phải là phạm trù của động từ tiếng Việt
Những quan niệm trên sẽ là những luận điểm khoa học chủ đạo
mà chúng tôi kế thừa và phát triển đề tài
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục đích so sánh – đối chiếu và tìm hiểu sâu về cách biểu thị
ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi đã thu thập
có lựa chọn các nguồn ngữ liệu khác nhau nhằm đảm bảo tính bao
Trang 15quát được các câu có ý nghĩa thời gian ở dạng biểu hiện tự nhiên, sinh động, trong nhiều ngữ cảnh khác nhau với phong cách khác nhau:
a Về nguồn ngữ liệu tiếng Việt: một số loại tác phẩm (văn xuôi) sau đây:
Văn bản xuôi:
1 Dế Mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài, NXB Đà Nẵng (2002), TP
Đà Nẵng
2 Nam Cao Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học (2004)
3 Trống Mái – Khái Hưng, NXB Văn học (2002), TP.HCM
4 Tư liệu luyện nghe đài VOA – Nguyễn Thành Khôi, NXB
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm các ví dụ dẫn chứng trích
từ sách ngữ pháp viết về tiếng Anh Những ngữ liệu này được dùng
cho việc so sánh - đối chiếu giữa hai ngôn ngữ về mặt loại hình
Trang 16Đề tài “So sánh phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh” chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp so sánh – đối chiếu, phân tích – tổng hợp, quy nạp Song song đó chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thống kê – phân loại, phân tích – miêu tả nhằm tạo nên một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề đang được nghiên cứu
V CẤÙU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố trí thành bốn chương như sau:
- Chương 1: Khái niệm về phạm trù THÌ và phạm trù THỂ
Chương 1 có mục đích hệ thống và điểm lược những quan điểm của ngữ pháp đại cương về THÌ và THỂ, về những đặc trưng nghĩa và hình thức biểu đạt hai khái niệm này trong ngôn ngữ Châu Âu
- Chương 2: Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt Căn cứ vào cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa của các câu biểu thị ý nghĩa thời gian cũng như trên cơ sở hệ thống xử lý các chỉ
tố diễn đạt ý nghĩa thời này về phương diễn ngữ nghĩa – ngữ dụng, chương II tập trung đi vào tìm hiểu cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt
- Chương 3: So sánh cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong
tiếng Việt và trong tiếng Anh
Chương 3 có mục đích so sánh: trước khi đi vào so sánh, chương này miêu tả sơ bộ về cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Anh Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích – đối chiếu về mặt loại
Trang 17hình, tìm ra những nét tương đồng, khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp
- Chương 4: Một số lưu ý về cách dịch ý nghĩa thời gian giữa tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 4 thể hiện việc ứng dụng những kết quả so sánh – đối chiếu về phương tiện diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa tiếng Việt và tiếng Anh vào việc phân tích lỗi và sữa lỗi trong quá trình dịch thuật giữa tiếng Việt và tiếng Anh Đồng thời qua đó phát hiện những trường hợp dịch sai, đưa ra cách hiểu đúng và dùng đúng các phương tiện diễn đạt
ý nghĩa thời gian trong từng văn cảnh cụ thể
Trang 18Vậy ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ là gì? Trước khi đi vào tìm hiểu
về phạm trù THÌ và phạm trù THỂ, chúng ta cần hiểu một số nét về ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ:
- Ý nghĩa THÌ là ý nghĩa có chức năng định vị một biến cố, một trạng thái hay một quá trình được đến cập đến tương ứng với một thời điểm hay một thời đoạn được chọn làm mốc
- Ý nghĩa THỂ là ý nghĩa về sự vận động, sự tiến triển bên trong của sự tình trong một khoảng thời gian, bất kể sự tình hay trạng thái
đó được xác định như thế nào trong thời gian: quá khứ hay hiện tại hay tương lai
Đối với các ngôn ngữ Châu Âu nói chung và tiếng Anh nói riêng, hai ý nghĩa này được ngữ pháp hoá, bắt buộc phải thể hiện trong mọi trường hợp xuất hiện bằng một hình thức chung nhất, thông thường được thể hiện qua hình thái của động từ Và những ý nghĩa được diễn
Trang 19đạt qua hai phạm trù:THÌ và THỂ Riêng đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập – phân tích tính, ý nghĩa THÌ không được ngữ pháp hoá như tiếng Anh Nhưng điều này không có nghĩa là tiếng Việt không thể hiện được ý nghĩa THÌ mà tiếng Việt dùng phương tiện khác, không phải phương tiện ngữ pháp để diễn đạt ý nghĩa THÌ Đó là phương tiện từ vựng
I KHÁI NIỆM THÌ
THÌ là cách định vị được ngữ pháp hoá của một sự tình trong thời gian - tense is a grammaticalized location of an event
in time (B.Comrie, dẫn theo Cao Xuân Hạo [19]1998:538)
Cách diễn đạt của các ngôn ngữ có THÌ là cách diễn đạt trực chỉ (deictic), nghĩa là lúc nào cũng cần lấy một điểm hay thời điểm nào đó
để làm điểm mốc hay căn cứ để định vị sự tình Thông thường các ngôn ngữ có THÌ lấy thời điểm phát ngôn để làm điểm mốc, tức lấy làm điểm quy chiếu cố định trong thời gian (tuy nhiên cũng có những ngôn ngữ lấy thời điểm khác làm điểm mốc nhưng điểm mốc này lại được quy chiếu vào thời điểm phát ngôn) THÌ thực hiện việc định vị một sự tình so với một điểm quy chiếu cố định trong thời gian rồi nêu
rõ mối quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một cái hướng và mộït khoảng cách nào đó (Frawley, dẫn theo Cao Xuân Hạo [19]1998:539)
Từ tiêu điểm – điểm mốc được dùng để định vị – chúng ta có thể xác định thời điểm diễn ra sự kiện theo mối quan hệ tương quan giữa các sự kiện Ví dụ, lấy thời điểm phát ngôn (thời hiện tại) làm tiêu điểm cho việc định vị thời gian các sự kiện thì ta sẽ có ba ý nghĩa:
Trang 20- Ý nghĩa về một hành động diễn ra trước thời điểm phát ngôn được gọi là ý nghĩa quá khứ (biểu thị qua THÌ quá khứ)
- Ý nghĩa về một hành động diễn ra ngay tại thời điểm phát ngôn được gọi là ý nghĩa hiện tại (biểu thị qua THÌ hiện tại)
- Ý nghĩa về một hành động diễn ra sau thời điểm phát ngôn được gọi là ý nghĩa tương lai (biểu thị qua THÌ tương lai)
Các ý nghĩa quá khứ, hiện tại, tương lai thường được ngữ pháp truyền thống Châu Âu diễn đạt bằng ba THÌ (THÌ quá khứ, hiện tại, tương lai)
Qua trên ta nhận thấy việc xác định quy điểm thời gian chính là việc xác định thời gian diễn ra sự kiện, xác định thời điểm phát ngôn cũng như mối quan hệ giữa thời gian diễn ra sự kiện và thời điểm phát ngôn
Như chúng ta biết, người Châu Âu quen lối suy nghĩ việc phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai là một điều gì rất quan trọng của con người khi tri giác về thời gian vì thế người Châu Aâu có thói quen chia thời gian thành 3 khúc phân biệt, phản ánh trong ngôn ngữ qua 3 THÌ:
- THÌ quá khứ (past tense) đánh dấu một sự tình diễn ra trước thời điểm phát ngôn (điểm quy chiếu thời gian) với hàm ý sự việc đã hoàn thành so với thời điểm hiện tại
- THÌ hiện tại (present tense) đánh dấu một sự tình diễn ra ngay tại thời điểm phát ngôn (điểm quy chiếu thời gian) với hàm ý sự việc đang diễn ra so với cái chưa được thực hiện trong tương lai
Trang 21- THÌ tương lai (future tense) đánh dấu một sự tình diễn ra sau thời điểm phát ngôn (điểm quy chiếu thời gian) với hàm ý sự việc chưa được hiện thực hoá
Tuy nhiên chúng ta cần biết rằng không phải ngôn ngữ nào cũng
có THÌ, số ngôn ngữ có đầy đủ ba THÌ (THÌ quá khứ, hiện tại, tương lai) một cách rõ ràng không nhiều “Trong số các ngôn ngữ biết gần chắc có 3 THÌ, có tiếng Litva, tiếng Hausa, tiếng BerBer, tiếng Eskimo, tiếng Haida, tiếng Hupa, tiếng Bassa, tiếng Cuna, tiếng Tlingit” (Ultan, Bybee, dẫn theo Cao Xuân Hạo [19]1998:541) Có nhiều trường hợp chúng ta xem xét một hình thái ngữ pháp tưởng chừng như diễn đạt ý nghĩa THÌ, nhưng thật ra lại diễn đạt một ý nghĩa khác hoàn toàn mà chúng ta không dễ dàng nhận ra, nhất là ý nghĩa ấy không cần thiết diễn đạt ở tiếng Châu Aâu Nguyên nhân khiến cho chúng ta luôn có suy nghĩ các ngôn ngữ đều có THÌ vì người Châu Aâu dễ nhìn thấy THÌ ở bất cứ nơi đâu mà khi dịch ra tiếng Châu Aâu cần phải phân biệt ý nghĩa THÌ
Một điều mà chúng ta cần biết là: “Tất cả các ngôn ngữ Ấn – Âu đều là những ngôn ngữ tiêu biểu cho loại hình phân biệt hai THÌ [±Quá khứ] (Quá khứ / Phi Quá khứ)…”([19]1998:541) Vì thế trên thực tế thường chỉ có sự phân định Quá khứ/ Phi Quá khứ, trong đó THÌ Quá khứ nói về sự tình chỉ có hiệu lực trong quá khứ và sự tình đó không còn diễn ra nữa Còn THÌ Phi Quá khứ có thể dùng cho sự tình hiện thực trong hiện tại (ví dụ: I live here) và trong quá khứ (ví dụ:I lived here( hiện tại bây giờ tôi không còn sống ở đây) hay một chân lý phi thời gian tính (“vĩnh hằng”) mà không kèm theo một hàm ý gì về tính không hiện thực của sự tình trong quá khứ
Trang 22II KHÁI NIỆM THỂ
1 THỂ là hình thức diễn đạt ngữ pháp hoá của cấu trúc thời gian bên trong một sự tình hay một trạng thái (nó kết thúc hay đang tiếp diễn, nó diễn ra một lần hay nhiều lần hoặc nó diễn thường xuyên hay chỉ trong một khoảnh khắc), bất kể sự tình hay trạng thái đó được xác định như thế nào trong thời gian cũng như không cần quy chiếu thời gian (time reference) trong phát ngôn THỂ không cần thiết phải thông báo chúng ta biết một sự tình hay một hành động nào đó trong phát ngôn hay trong văn bản đã thật sự kết thúc THỂ không chỉ ra sự kết thúc của một sự tình hay của một hành động Vấn đề mà THỂ chỉ tập trung vào là khoảng thời gian mà một sự tình hay một hành động tồn tại chứ không phải là tập trung vào sự mở đầu hay kết thúc của sự tình hay hành động nào đó Hay nói một cách khác “THỂ diễn đạt cách tri giác một sự tình “từ bên trong”, nghĩa là cách tri giác sự tình như một tiến trình có chiều dài hay không trong thời gian, vào lúc bắt đầu, vào lúc kết thúc hay vào lúc đang tiến triển, diễn
ra một lần hay lặp lại mấy lần, thành tập quán hay không, được nhìn như một biến cố trọn vẹn hay đang dở dang, v.v…,không liên hệ với vị trí thời gian của nó so với lúc phát ngôn”(Comrie
1979, dẫn theo Cao Xuân Hạo ([19]1998:535) Nói tóm lại, THỂ phản ánh “cấu trúc thời gian bên trong” của một sự tình – Aspect describes the internal time structure of an event ([73]2003:212)
Mặc dù cũng phản ánh những thuộc tính của thời gian nhưng nội dung của THỂ không phải là định vị một hành động, một biến cố
Trang 23hay trạng thái của sự vật trong thời gian như THÌ mà có những điểm khác với THÌ như sau:
- THỂ phản ánh các đặc trưng “bên trong sự tình”, cách diễn biến của một hành động, một trạng thái, xem xét sự tình như một tiến trình có chiều dài hay không trong thời gian, vào lúc bắt đầu, vào lúc kết thúc hay vào lúc đang tiến triển, diễn ra một lần hay lặp lại mấy lần, thành tập quán hay không….Trong khi đó THÌ có chức năng là định vị thời gian “bên ngoài sự tình”, xem xét sự tình diễn ra vào thời điểm nào trên trục thời gian: trước hay sau hay trùng tiêu điểm (điểm quy chiếu
cố định trong thời gian) để thấy được mối quan hệ thời gian giữa thời gian diễn ra sự kiện với tiêu điểm
-THỂ không định vị thời gian của hành động, một biến cố, trạng thái của sự vật hay sự tình như THÌ mà nhiệm vụ đặc trưng của nó là phân loại tình huống dựa trên ý nghĩa THỂ của vị từ…., không liên hệ
gì với vị trí thời gian của sự tình so với lúc phát ngôn Trong khi đó THÌ định vị sự tình một cách trực chỉ, điều này có nghĩa bao giờ THÌ cũng lệ thuộc vào thời điểm phát ngôn
2 Như đã trình bày ở phần trên, một ngôn ngữ có THÌ hoặc
có THỂ hoặc có cả hai là một ngôn ngữ mà THÌ hoặc THỂ là những
ý nghĩa bắt buộc phải được diễn đạt bằng phương tiện ngữ pháp (thông thường được thể hiện bằng hình thái học) hay bằng một phương tiện ngữ pháp tương đương khác (một từ chức năng (function word) hay hư từ) Đây là những quy tắc bắt buộc, mặc dù
có khi nó không đem lại một thông tin nào vì ý nghĩa của nó được làm rõ nhờ phương tiện từ vựng hoặc ngôn cảnh Do đó khi so sánh phương thức diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa các ngôn ngữ, không phải chúng ta xem xét ngôn ngữ đó có diễn đạt được sự
Trang 24phân biệt về thời gian hay không mà là phải xem ngôn ngữ đó có
bị bắt buộc phải diễn đạt ý nghĩa đó hay không, ngay cả không cần thiết
Những luận điểm trên là nền tảng để chúng tôi có thể tiến hành việc phân tích, miêu tả, cũng như so sánh – đối chiếu phương tiện biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh
CHƯƠNG 2:
Trang 25CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT
Như chúng ta biết, tiếng Việt tuyệt nhiên không có phạm trù THÌ Nhưng điều này không có nghĩa là tiếng Việt không thể không diễn đạt được ý nghĩa thời gian Thực ra trong tiếng Việt các phương tiện biểu thị ý nghĩa thời gian rất đa dạng và phong phú; số lượng các chỉ tố dùng để diễn đạt ý nghĩa này được thể hiện rất khác nhau; tính chất
và cách dùng cũng không giống nhau Khi cần định vị một sự tình trong thời gian quá khứ hay hiện tại hoặc tương lai, tiếng Việt bao giờ cũng dùng phương tiện từ vựng, tức là dùng khung đề thời gian để chỉ thời gian mà người phát ngôn cần diễn đạt Việc sử dụng các khung
đề thời gian để biểu thị ý nghĩa thời gian là cách dùng chủ đạo trong tiếng Việt và điều này được thể hiện trong các văn bản lịch (nêu các niên đại, thời gian diễn ra sự kiện lịch sử…), văn bản hành chính, văn bản pháp luật, báo chí (ghi lại thời hạn có hiệu lực của một điều khoản, quy chế nào đó…) Tuy nhiên bên cạnh đó trong văn bản nghệ thuật, trong hội thoại hàng ngày, ý nghĩa thời gian có thể dùng đến khung đề thời gian nhưng cũng có khi không dùng đến khung đề thời gian vì lúc đó ý nghĩa thời gian đã được làm rõ nhờ ngữ cảnh nên không cần thiết phải xác định thời gian
A CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐOẠN, THỜI LƯỢNG, KHOẢNG CÁCH THỜI GIAN, HOÀN CẢNH THỜI GIAN; CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM (Ý NGHĨA “THÌ”)
chúng ta cần xác định đúng thuộc tính về lượng hay chất của thời
Trang 26gian, tức là cần phải nắm được các loại ý nghĩa thời gian: ý nghĩa thời đoạn, thời điểm, thời hạn, ý nghĩa về khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian…vì khi nắm được các loại ý nghĩa thời gian, chúng ta mới có thể sử dụng các phương tiện từ vựng, cụ thể là khung đề thời gian, một cách chuẩn xác và hợp lý
lượng, về độ dài; là cách phân định các thời khoảng trong hiện tại – quá khứ – tương lai Thời đoạn có thể không xác định hoặc có thể xác định khi nó gắn với thuộc tính của sự việc, của quá trình, của một hoạt động nào đó hoặc là chiều dài của một sự kiện từ khi nó bắt đầu cho đến khi nó kết thúc
- Thời điểm là khoảng thời gian ngắn, được hạn định chính xác Thời điểm có thể là một điểm trên trục thời gian, ví dụ: 19 giờ tối nay, 30 phút nữa, sáng mai, trưa qua…
một sự tình diễn ra hay xuất hiện chỉ trong phạm vi đó Ví: một tuần , 5 ngày, 2 tiếng đồng hồ, 24 tiếng đồng hồ…
ngôn và thời điểm diễn ra sự kiện hoặc là khoảng thời gian giữa hai
sự kiện ở hai thời điểm khác nhau Ví dụ: Tôi sống ở Thành phố Hồ Chí Minh được 25 năm
- Hoàn cảnh thời gian chính là “điểm nhìn” của người phát ngôn Tức là thời điểm, thời đoạn đều được định vị, xác định theo cái nhìn của chủ thể phát ngôn Điều này có nghĩa là dưới góc độ chủ quan của chủ thể phát ngôn thì hoàn cảnh thời gian này vừa có thể là quá khứ cũng có thể là tương lai Ví dụ:Khi còn là trung đội trưởng, tôi chê
Trang 27tất cả mọi người, coi ai cũng không ra gì, sao lúc ấy tôi ngạo mạn quá! (ý nghĩa quá khứ); Đến năm 2009 nếu không có gì thay đổi, lúc ấy tôi
đã là Bí thư Thành Đoàn (mang ý nghĩa tương lai)
Để diễn đạt các những ý nghĩa thời gian này trong tiếng Việt chúng ta có các phương tiện sau :
I DÙNG KHUNG ĐỀ THỜI GIAN (TRẠNG NGỮ) HAY TỪ CHỈ THỜI GIAN Ở VÍ TRÍ KHUNG ĐỀ ĐỂ XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THỜI ĐIỂM, THỜI ĐOẠN
1 Dùng danh từ, danh ngữ
Như đã nêu ở phần mở đầu chương II, trong những trường hợp nhất thiết cần định vị một sự tình trong thời gian quá khứ hay hiện tại hoặc tương lai, tiếng Việt bao giờ cũng dùng khung đề có nghĩa từ vựng như trước kia, trước đây, thuở trước, hồi ấy, hồi trước, ngày xưa, ngày kia, dạo ấy, dạo nọ, lúc bấy giờ, lúc ấy, khi ấy, ngày trước, hôm nay, hiện nay, bây giờ, sáng nay, ngày mai…(thường gọi là những trạng ngữ thời gian) ([19]1998:549) để chỉ thời gian mà người phát ngôn cần diễn đạt Nhưng để dễ dàng cho việc phân loại, nhóm các khung đề thời gian, chúng ta có thể chia các khung đề thời gian thành nhóm theo danh từ chỉ đơn vị Theo cách này chúng ta có thể chia các nhóm như sau:
1.1 Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa chỉ thời đoạn hiện tại hoặc nối liền quá khứ với hiện tại hoặc nối liền giữa hiện tại
với tương lai hoặc nêu một nhận định tổng quát về thời gian
a Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa nối liền quá khứ với hiện tại như bấy lâu, bấy nay, bấy lâu nay, xưa nay, trước nay, bao lâu
nay, cho đến bây giờ …
Trang 28- Bấy lâu, bấy nay, bấy lâu nay, bao lâu nay đều có nghĩa giống nhau (bấy lâu, bấy nay và bấy lâu nay giống nghĩa bao lâu nay), đều cùng chỉ một khoảng cách thời gian dài giữa thời điểm phát ngôn đến thời điểm diễn ra sự kiện nào đó cho đến bây giờ Ví dụ:
Xưa nay nàng vẫn hay nghĩ đến những sự khác
thường Thích làm những việc mà người ta không làm được hay không dám làm (O.96)
Bấy lâu chú đi làm ăn đâu mà những đứa độc miệng
bảo chú chết rồi? (M.58)
Thì ra chú Trũi nhà tôi bấy lâu vẫn còn căm nhà Bọ
Muỗm.(M.112)
hoặc ý nghĩa quá khứ
-Bấy giờ hai người đã trèo hết con đường dốc bên cái miếu con (O.147) - biểu thị ý nghĩa quá khứ , lúc này bấy giờ có ý nghĩa tương
đương với khi ấy, lúc ấy…
- Bấy giờ chỉ mang ý nghĩa tương lai khi nó được dùng cấu trúc: bao giờ A thì sẽ bấy giờ B hoặc trong câu ghép điều kiện – nhân quả
Trang 29- Ta cấm từ giờ không được đòi nợ Nhà Trò nữa (M.52)
ngày nay, hiện nay, bây giờ, giờ đây… Nhóm các danh từ mang nét nghĩa chung là biểu thị ý nghĩa hiện tại Tuỳ vào từng ngữ cảnh cụ thể
và cũng tuỳ vào khoảng thời gian ngắn hay dài mà chúng ta sử dụng các danh từ này:
- Bây giờ, giờ đây thường được dùng ngay tại thời điểm phát ngôn vì chúng đều biểu thị ý nghĩa thời điểm Ví dụ:
Bây giờ hắn đã trở thành người không tuổi rồi (N.30)
Còn thầy u bây giờ hay gắt quá (N.356 )
Bây giờ Hồng chỉ còn được chơi với cây giờ soan, cây
chuối, cây cam (N 358)
nghĩa thời đoạn khái quát như hiện nay, ngày nay, thời nay, thời buổi này Nhưng nét nghĩa cơ bản của bây giờ vẫn là biểu thị ý nghĩa thời điểm ngay lúc phát ngôn
lên mọi thời điểm hiện tại Hiện nay có thời lượng ngắn hơn ngày nay,
cả hai đều không biểu thị sự tình diễn ra trong khoảnh khắc, hoặc các
sự tình có tính chất nhất thời theo tâm trạng của chủ thể phát ngôn Thông thường hiện nay, ngày nay diễn đạt những sự kiện, biến cố diễn ra trong bối cảnh rộng lớn của xã hội, thế giới, thời đại và được
dư luận trên thế giới quan tâm vì sự kiện hay biến cố đó mang tính chất thời đại, có tầm ảnh hưởng đến xã hội hiện tại
gian, như bao giờ, bao giờ cũng…
Trang 30- Bao giờ biểu thị ý nghĩa không cụ thể, có thể dùng cho mọi thời điểm trong quá khứ, hiện tại, tương lai… Với đặc điểm ý nghĩa này, bao giờ có thể dùng biểu đạt ý nghĩa thời gian với hai ý nghĩa khác nhau, phụ thuộc vào vị trí của bao giờ đứng ở đầu câu hay cuối câu
tức biểu thị một sự việc sẽ xảy ra sau thời điểm phát ngôn Ví dụ: -Tại sao mà hắn cứ long đong mãi thế? Bao giờ thì đứng số?(N.173)
- Bao giờ anh đi?(- Mai, Va- li- a ạ, vào lúc tờ mờ sáng) (Đ.168)
tức biểu thị một sự việc xảy ra trước thời điểm phát ngôn Ví dụ:
- Ông về bao giờ thế?(N.162)
- Bao giờ cũng (sẽ trình bày chi tiết ở mục phần B, I “Đã” với ý nghĩa thể của ngữ vị từ hữu đích và vô đích, 6.Cách diễn đạt THỂ “lặp lại” trong tiếng Việt)
1.2 Nhóm gồm các từ định vị ý nghĩa thời gian quá khứ một cách tổng quát
Nhóm này gồm các danh từ chỉ đơn vị như thời, đời, thuở, dạo, hồi…có tác dụng định vị ý nghĩa thời gian quá khứ một cách tổng quát
và có thể kết hợp với các danh từ, đại từ khác để chỉ ý nghĩa thời gian thời đoạn quá khứ
Trang 31- Thời là khoảng thời gian dài, có tính xác định, gắn liền với các
sự kiện, biến cố lớn nào đó hoặc gắn liền với các đặc điểm nổi bật nào đó đánh dấu một giai đoạn phát triển của xã hội như :thời phục hưng, thời hoàng kim, thời Vua Hùng dựng nước, thời xưa, thời nay,
thời sinh viên, thời trai trẻ…
ý nghĩa này, thuở thường được sử dụng trong lịch sử, chuyện cổ tích như thuở giặc Ân xâm lược nước ta, thuở Thánh Gióng chưa sinh ra,
thuở còn những con khủng long ăn cỏ…
-Hồi được dùng chỉ thời lượng, chỉ khoảng thời gian tương đối ngắn như một hồi sau, chạy một hồi, phát biểu một hồi…hoặc nó có thể nói về thời điểm đã qua (thuộc quá khứ ) hay một thời điểm đang diễn ra một sự việc nào đó như hồi này Ngoài ra hồi còn có thể phản ánh một chiết đoạn thời gian cụ thể như hồi sáng nay, hồi 9 giờ sáng nay …
-Độ có thời lượng như hồi, chỉ một thời gian nào đó nhưng nó
không thể biểu hiện ý nghĩa quá khứ xa nhất như hồi
- Dạo có thể kết hợp với các đại từ chỉ thời đoạn chỉ quá khứ như: dạo ấy, dạo nọ hay hiện tại như dạo này…Cũng giống như độ, dạo không thể phản ánh một ý nghĩa quá khứ xa nhất như dạo
1.3 Nhóm các danh từ có ý nghĩa chỉ thời điểm, chỉ khoảng thời gian ngắn có độ chính xác tương đối
Nhóm các danh từ này thường được bắt đầu bằng lúc, khi, lần, dịp, chốc, tý, chút…biểu thị ý nghĩa chỉ thời điểm, chỉ khoảng thời gian ngắn được xác định tương đối chính xác Một điều chúng ta cần chú ý: nhóm các danh từ bắt đầu bằng lúc, khi không có ý nghĩa thời đoạn
Trang 32chỉ chiều dài thời gian và nhóm các danh từ bắt tí, chút, chốc không có
ý nghĩa thời lượng đáng kể
mốc thời gian cụ thể trong ngày thông qua kết hợp với số từ như lúc 4 giờ sáng, lúc này, lúc nãy, lúc bấy giờ…và thời điểm được diễn đạt này diễn ra rất gần với lúc phát ngôn Vì vậy điều này chứng tỏ nó vừa mới diễn ra Trong khi đó khi chỉ biểu thị thời điểm diễn ra sự kiện, tức
là biểu thị thời điểm của một hoạt động hay quá trình, ít xác định và cụ thể và thông thường thời điểm đã qua từ lâu so với thời điểm phát ngôn Ví dụ:
-Khi tôi cất tiếng to thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại (M.9 -10) (
biểu thị thời điểm của một hoạt động
-…hắn hiểu những nỗi khổ đau của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách (N.274)( biểu thị thời điểm xảy ra sự việc
hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rối cũng mang vạ vào mình đấy (M.19) ( biểu thị thời điểm ít xác định cụ thể và
đã qua từ lâu
- Quả đạn M79 nổ lúc 13h30 trưa nay( biểu thị thời điểm được xác định cụ thể
Với những đặc trưng trên, lúc có thể kết hợp những từ thể hiện
ý nghĩa hiện tại như lúc này hoặc xác định thời điểm nêu ra một cách chính xác như đúng lúc, giữa lúc, vào lúc…Còn đối với khi, với đặc trưng thể hiện ý nghĩa thời điểm cách xa thời điểm nói, nên có thể kết hợp với xưa như khi xưa (không ai lại nói lúc xưa) để biểu thị thời
đoạn khái quát trong quá khứ
Trang 33Qua trên ta thấy thời điểm mà lúc biểu thị là một thời điểm cụ thể, xác định, đã diễn ra đồng thời vừa mới qua, rất gần với thời điểm phát ngôn
- Lát, chốc, tý, chút biểu thị thời điểm không xác định, là khoảng thời gian rất ngắn, sát cạnh với thời điểm phát ngôn, thuộc về tương lai gần (nếu xét trên trục thời gian thì nó ở ngay sát sau thời điểm phát ngôn) Do đó với khoảng thời gian rất ngắn (thời lượng không đáng kể), ở liền ngay lúc nói nên thời điểm xảy ra sự kiện gần như trùng với thời điểm phát ngôn như một chút, một lát một tý, một chốc, chút nữa,
tý nữa, chốc nữa…
1.4 Nhóm danh từ, danh ngữ kết hợp với đại từ chỉ xuất, xác định vị trí của thời điểm, thời đoạn
Tiếng Việt thường sử dụng đại từ chỉ xuất trong các danh ngữ
để chỉ rõ hướng thời gian, định hướng thời gian hay xác định vị trí của thời điểm, thời đoạn trong việc phân chia thời gian thành các chiết đoạn khác nhau như: hồi ấy, lúc đó, khi nãy, năm qua, lúc nãy, ngày
ấy, hôm nào…
1.4.1 Nhóm ấy, đó, nọ, qua, nào
Sắc thái nghĩa chung của các đại từ chỉ xuất ấy, đó, nọ, qua, nào…là định vị thời gian quá khứ, không xác định, không chính xác và không cụ thể, biểu thị cho các biến cố, sự kiện đã xảy ra “rất xa” so với thời điểm phát ngôn của chủ thể Các từ trong nhóm này đều có thể kết hợp với các danh từ chỉ thời gian ở những thời đoạn, thời điểm khác nhau Ví dụ:
- Hồi ấy, tôi đang giữa tuổi thanh xuân (M.33)
- Hôm nay mới thấy mặt ông ếch ngồi đáy giếng(M.95)
Trang 34- Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, những ao hồ quanh bãi trước mặt,
nước dâng trắng mênh mông (M.14)
- Ngày nào, đêm nào và chiều nào cũng ngần ấy thứ việc,
vào ngữ cảnh và quan điểm chủ quan của chủ thể phát ngôn) Ví dụ:
-Hồi ấy hắn hai muơi tuổi (N.43)
- Chúng ta sẽ tổ chức một loạt những cuộc mít tinh, những cuộc hội nghị, những cuộc đại hội Ban chính trị đang mở hội nhà hát mùa hè ở trên ga Ít lâu nữa sẽ có một chuyến tàu tuyên truyền đến Lúc đó chúng ta có thể phát triển phong trào (Đ.187)( biểu thị ý nghĩa tương lai
định rõ ràng trong quá khứ, có vị trí rất gần với thời điểm phát ngôn như hôm qua, đêm qua, tuần qua…hoặc biểu thị một thời đoạn quá khứ khái quát, cách xa lúc nói: mười năm qua, thế kỷ qua…hoặc biểu thị ý nghĩa quá khứ mang tính chất chung chung, không xác định: mấy
ngày qua, vài ngày qua, mấy tháng qua…
1.4.2 Nhóm nay, này, nãy, đây
- Có thể xếp nay, này vào nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa chỉ thời đoạn hiện tại hoặc nối liền quá khứ với hiện tại hoặc nối liền giữa hiện tại và tương lai (xem phần 1.1 trang 20) Ví dụ:
Trang 35• Biểu thị thời điểm đang diễn ra sự kiện, một cách xác định
và cụ thể (đối với này) như ngày này, tháng này, năm này, giờ này…
• Biểu thị ý nghĩa nối liền quá khứ với hiện tại như bấy nay,
bấy lâu nay, xưa nay, trước nay, bao lâu nay, dạo này, hồi này…
• Biểu thị ý nghĩa nối liền quá khứ với hiện tại như bấy nay,
bấy lâu nay, xưa nay, trước nay, bao lâu nay, …
• Biểu thị ý nghĩa nối liền giữa hiện tại và tương lai từ nay, (từ rày) về sau …
Tuy nhiên nay không thể kết hợp với những từ chỉ chiết đoạn thời gian quá ngắn
- Nãy chỉ khoảng thời gian ngắn trong phạm vi một ngày, vừa mới qua như lúc nãy, vừa nãy, hồi nãy…
- Đây được dùng để nhấn mạnh ý nghĩa hiện tại; thường nó kết hợp với các ngữ đoạn danh từ như những ngày bộ đội sống đây, bây giờ mới thấy đây…Bên cạnh việc đây biểu thị ý nghĩa hiện tại, có lúc đây biểu thị ý nghĩa tương lai như ngày mai đây, sắp tới đây, rồi đây…Cũng có lúc đây biểu thị ý nghĩa quá khứ khi thời điểm diễn ra
sự việc gần với thời điểm nói như gần đây, mới đây, trứơc đây…
1.4.3 Nhóm kia, mai:
Nhóm này biểu thị ý nghĩa thời đoạn khái quát tương lai Xét trên trục thời gian thì mai luôn đứng trước kia Ví dụ: Ngày mai tiểu đội trinh sát đặc nhiệm đi trước để thực địa, ngày kia trung đội hoả lực
mới xuất quân
Trang 36Tuy nhiên đôi lúc kia cũng biểu thị ý nghĩa quá khứ như hôm kia, bữa kia…(biểu thị ý nghĩa quá khứ gần); trước kia, xưa kia…(biểu thị ý nghĩa quá khứ khái quát)
Ngoài ra khi nói đến các từ diễn đạt ý nghĩa thời gian chúng ta cần phải đề cập đến các nhóm từ sau:
• Những từ có ý nghĩa khái quát về thời gian và có thể sử dụng trong mọi thời điểm trong quá khứ hay hiện tại hoặc tương lai như ngày ngày, đêm đêm, tối tối, hàng ngày…
• Những từ biểu thị ý nghĩa thời gian có tính chất đo ước chừng: khoảng hai tuần, hơn hai mươi bốn tháng, ít lâu sau, nhiều khi, lắm lúc, nhiều lúc, chừng 7 ngày…
• Những từ biểu thị trạng thái, đặc điểm của thời gian như tờ
mờ sáng, nhập nhoạng tối, ban ngày, ban đêm, xế chiều, xế trưa, nhá
nhem tối,chạng vạng tối…
• Những danh từ đã được lượng hoá bằng số từ hay một lượng từ khác như sáu ngày bảy đêm, hai mươi bốn tiếng đồng hồ, hàng đêm, cả tháng (trời), hàng tháng liền, hết năm, trọn năm, suốt ngày đêm
2 Kết hợp các danh từ với các giới ngữ chỉ không gian (trước/ sau, trong/ ngoài, đầu/cuối, đến, tới, vào, qua…) để biểu thị ý nghĩa thời gian
2.1 Dùng các danh ngữ được bắt đầu bằng các cặp từ trái nghĩa “trước”/“sau”, “đầu”/“cuối”, “trong”/ “ngoài”… để biểu thị
ý nghĩa thời gian
a.Trước/sau
Trang 37Trước là khoảng thời gian thuộc quá khứ, trong khi một thời điểm được lấy làm mốc nào đó chưa đến Sau là khoảng thời gian bắt đầu từ thời điểm được lấy làm mốc nào đó trở đi (thuộc
về tương lai) Trước/sau thường đứng trước danh từ hay số từ
cụ thể nào đó: Trước năm 1975, sau hai tháng, trước bảy ngày… Ngoài ra trước/sau có thể kết hợp với các đại từ chỉ xuất như trước đây, sau đó, trước đó, sau này…dùng để biểu thị ý nghĩa một khoảng thời gian tổng quát trứơc hoặc sau thời gian được lấy làm mốc Bên cạnh đó chúng ta cần chú ý với cách dùng trước lúc, sau lúc, trước khi, sau khi khác với cách dùng của trước/sau ở chỗ trước lúc, sau lúc, trước khi, sau khi thường đứng trước một ngữ vị từ hay một cấu trúc chủ – vị:
- Thầy lúc nào cũng cau có đăm chiêu, nhất là sau khi đọc xong nhật trình (N.359)
- Nhưng mấy hôm trước khi anh ấy chết, anh ấy đã trở lại vui vẻ
như xưa (O.290)
Trang 38định những mốc thời gian nhất định, mặc dù trong một số trừơng hợp đầu/cuối và trứơc/sau có ý nghĩa tương đương như đầu tiên – trước tiên, cuối cùng – sau cùng
c Trong/ngoài
Trong là khoảng thời gian mà sự việc diễn ra trước thời điểm được chọn làm mốc không lâu, ví dụ: hồi trong năm; đồng thời trong cũng là một thời đoạn vừa qua không bao lâu như trong hai tiếng đồng hồ, trong năm…Còn ngoài là khoảng thời gian sau thời điểm được lấy làm mốc không lâu Thông thừơng trong/ngoài đứng trước danh từ như trong/ngoài năm, trong/ngoài lễ, trong/ngoài giờ làm việc, trong/ngoài tết…
đã bao độ hoa tàn (N.383), từ sáng đến giờ tao ngồi trầy trấy bên khung cửi, mới được chừng một đồng hào….(N.389)
2.2.2 Để biểu thị một sự tình có chiều dài ở lúc xuất phát, ta kết hợp danh từ với từ dẫn nhập là từ, kể từ Ví dụ: Kể từ ngày tôi đi bộ
đội…, từ hôm ấy…, từ sáng tinh mơ…
2.2.3 Để biểu thị một sự tình có chiều dài ở lúc kết thúc, lúc chấm dứt sự tình, ta có thể hiện sự tình này bằng việc kết hợp danh
Trang 39từ với từ dẫn nhập đến, tới như cho đến bây giờ…, cho đến tận bây
giờ, mãi đến hai mươi tuổi…
2.3 Dùng các danh từ được dẫn nhập bằng “trong”, “trong vòng”, “vào” để chỉ khoảng thời gian của một sự tình
Khi được dùng độc lập với cặp từ trong/ngoài thì trong biểu thị một giới hạn về một khoảng thời gian mà một sự tình chỉ diễn ra trong phạm vi thời gian này Với tính chất này, trong có thể kết hợp với bất
kỳ danh từ chỉ thời gian nào kể cả những từ có thời lượng dài hoặc ngắn như trong nhiều thế kỷ qua, trong nhiều thập niên qua, trong
chốc lát, trong vài giây, trong tích tắc, trong chớp mắt …
2.4 Dùng các danh ngữ được bắt đầu bằng các từ “qua”,
“sang”, “ở”û, “đến”, “tới” để biểu thị một sự tình có khoảng thời gian chưa kết thúc, vẫn còn đang tồn tại và tiếp diễn
Như đã trình bày ở phần trên, đến, tới biểu thị ý nghĩa của một thời điểm kết thúc Ngoài ra đến, tới giống với sang ở nét nghĩa “sự bắt đầu của một khoảng thời gian nào đó, ở liền ngay sau thời điểm hiện tại như đến giờ học chiến thuật, tới giờ nghĩ giải lao, sang năm mới….Trong khi qua chỉ sự bước vào một thời gian nào đó sau khi sự việc đã diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ: qua một mùa xuân, qua một tuần, qua 3 tháng huấn luyện tân binh…
II DÙNG CÁC VỊ TỪ TÌNH THÁI ĐÃ, ĐANG, SẼ
1 Về ý nghĩa và cách dùng của “đã”
a Tiếng Việt không có một phương tiện ngữ pháp riêng nào hay một hình thức riêng nào như cách dùng “THÌ” trong tiếng Anh để diễn đạt ý nghĩa quá khứ nói chung mà thừơng
Trang 40dùng đến phương tiện từ vựng, khung đề thời gian, trạng ngữ thời gian hay bằng niên đại cụ thể để diễn đạt ý nghĩa quá khứ:
- Hôm qua, sư đoàn phó chính trị gọi tôi lên sở chỉ huy
- Mùa Xuân năm 1975, Việt Nam hoàn toàn thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà
- Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
b Đã có thể xuất hiện trong những câu biểu thị mọi thời, thời đoạn trong quá khứ – hiện tại – tương lai nhưng ý nghĩa thời gian vẫn được định vị thông qua việc dùng các khung đề thời gian, mà không phải do đã Ví dụ:
-Hôm trước tôi đã vướng điều lầm lỗi (M.40)
- Bây giờ thì Chí Phèo đã mửa xong (N.39)
-Có lẽ hôm nay đã mồng hai, mồng ba tây rồi mình nhỉ?(N.280)
- …chỉ còn sáu tiếng nữa thôi, hai người đã phải xa nhau…(Đ.168)
- Sáng mai lúc tám giờ cậu đã ăn sáng chưa? ([19]1998:553)
- Đã sắp có cá chưa, anh Vọi? (O.117)
Tuy nhiên có những câu mà đã không thể đưa vào sử dụng mặc
dù ý nghĩa trong câu nói về quá khứ Ví dụ:
- Nero là hoàng đế La Mã, chứ không thể nói * Nero đã là hoàng
đế La Mã vì đã là hoàng đế La Mã có thể dùng khi có tiền giả định là trước kia chưa phải là hoàng đế La Mã