Có những biến đổi nào đã xảy ra về cấu trúc và ngữ nghĩa ở lớp thành ngữ này để chúng tồn tại và được sử dụng hiệu quả trong tiếng Việt, nhất là trong ngôn ngữ viết?. Trong “Việt Nam vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Vế THỊ DIỆU HỒNG
CẤU TẠO, NGỮ NGHĨA VÀ VIỆC SỬ DỤNG
LỚP THÀNH NGỮ HÁN - VIỆT TRONG NGÔN NGỮ VIẾT
TIẾNG VIỆT
Chuyờn ngành: Ngôn ngữ học
Mó số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Minh
Vinh, 2010
Trang 2Lời cảm ơn
Trước hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Văn Minh- người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô trong tổ ngôn ngữ của trường Đại học Vinh đã có nhiều đóng góp và hướng dẫn khoa học giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp kết thúc khóa học, chúng tôi xin chân thành cảm ơn khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, Trường Đại học Vinh, tập thể cao học XVI Lí luận ngôn ngữ đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã thường xuyên an ủi, động viên chúng tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Do những điều kiện khách quan và chủ quan luận văn có thể còn những điểm cần bàn Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn đọc Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2010
Người thực hiện: Võ Thị Diệu Hồng
MụC LụC
Trang 3Trang
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: giới thuyết liên quan đến đề tài 1.1 Xung quanh khái niệm thành ngữ 1.1.1 Về định nghĩa thành ngữ 9
1.1.2 Về việc phân loại thành ngữ 11
1.1.3 Về nghĩa của thành ngữ 16
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 18
1.1.5 Giá trị sử dụng của thành ngữ trong hoạt động ngôn ngữ 24
1.2 Lớp thành ngữ Hán -Việt 1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt và việc mượn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt 26
1.2.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt 35
1.3 Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán –Việt trong tiếng việt 2.1 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt 2.1.1 Khái quát về cấu tạo của thành ngữ Hán - Việt 38
2.1.2 Các dạng cấu trúc của thành ngữ Hán - Việt 41
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán – Việt 2.2.1 Khái quát về nghĩa của thành ngữ Hán – Việt 50
2.2.2 Các kiểu Việt hóa về nghĩa của thành ngữ Hán – Việt 52
2.3 Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: Việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt
Trang 4trong ngôn ngữ viết Tiếng Việt
3.1 Việc dùng thành ngữ Hán - Việt trong thơ Nôm trung đại 3.1.1 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nôm trung đại 65
3.1.2.Thành ngữ Hán - Việt trong thơ Nôm trung đại 67
3.2 Thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận tiếng Việt 3.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ văn chính luận tiếng Việt 79
3.2.2 Hồ Chí Minh dùng thành ngữ Hán - Việt trong văn chính luận 80
3.3 Tiểu kết chương 3 93
Kết luận 95
Tài liệu tham khảo 97
Phụ lục 101
MỞ ĐẦU
Trang 51 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt và tiếng Hán cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, có lịch sử phát triển lâu đời Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu diễn ra từ vài thế kỷ trước Công nguyên và đã kéo dài hàng ngàn năm Qua quá trình tiếp xúc đó, bên cạnh việc mượn rất nhiều từ ngữ của tiếng Hán để góp phần làm phong phú, đa dạng kho từ vựng tiếng Việt, người Việt còn mượn từ tiếng Hán một số lượng khá lớn thành ngữ Những thành ngữ gốc Hán này khi
đã được mượn vào tiếng Việt được gọi là lớp thành ngữ Hán – Việt và trở thành một bộ phận đáng kể trong kho thành ngữ tiếng Việt Đến nay, bộ phận thành ngữ thuần Việt đã được sưu tầm, giới thiệu và được nghiên cứu tương đối toàn diện (cấu trúc, ngữ nghĩa, giá trị sử dụng, ); trong khi lớp thành ngữ Hán - Việt chưa được Việt ngữ học quan tâm đầy đủ Vì thế, việc khảo sát lớp thành ngữ Hán - Việt là cần thiết, nhằm xác định sự tương đồng và khác biệt giữa lớp thành ngữ này và bộ phận thành ngữ thuần Việt, mặt khác thấy được khả năng và giá trị của chúng trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt 1.2 Là một đơn vị trong hệ thống từ vựng, các thành ngữ thuần Việt và Hán – Việt đều có tính cố định về cấu trúc và ngữ nghĩa Tuy vậy, khi được người Việt mượn vào để sử dụng, các thành ngữ Hán – Việt đã chịu những tác động nhất định của quy luật tiếng Việt Có những biến đổi nào đã xảy ra
về cấu trúc và ngữ nghĩa ở lớp thành ngữ này để chúng tồn tại và được sử dụng hiệu quả trong tiếng Việt, nhất là trong ngôn ngữ viết? Đề tài luận văn
Cấu tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ Hán – Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt nhằm góp phần trả lời câu hỏi đó
2 Lịch sử vấn đề
Cũng như tục ngữ, thành ngữ thuộc loại đơn vị ngôn ngữ “làm sẵn” (với nghĩa: chúng đã được tiền nhân tạo ra từ bao giờ đó; các thế hệ sau đã có sẵn
để dùng) Cũng như từ, thành ngữ là một loại đơn vị từ vựng Nhưng so với
từ, thành ngữ có những khác biệt cả về hình thức lẫn nội dung Đến nay,
Trang 6thành ngữ tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu từ những góc độ khác nhau Dưới đây, chúng tôi điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt theo ba hướng
2.1 Việc sưu tầm, biên soạn và nhận diện đơn vị thành ngữ tiếng Việt a) Việc nhận diện, sưu tầm, biên soạn về thành ngữ trong nghiên cứu Văn học dân gian
Có lẽ công trình đầu tiên nghiên cứu thành ngữ ở nước ta là cuốn “Về
tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh (1921) Trong đó, thành ngữ được Phạm
Quỳnh nhắc đến trong sự đối chiếu, so sánh với ca dao, tục ngữ Trong “Việt
Nam văn học sử yếu” (Dương Quảng Hàm - 1951), ở phần đầu (Tìm hiểu về văn chương bình dân), tác giả đã xác định sự khác nhau giữa thành ngữ và tục
ngữ; từ đó chỉ ra 2 đặc trưng của thành ngữ tiếng Việt: a) Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ tồn tại dưới dạng sẵn có (mang tính tái hiện); b) Chức năng của thành ngữ là định danh (có cùng chức năng với từ, nhưng khác với từ cách thức định danh của thành ngữ bao giờ cũng mang màu sắc, hình ảnh có tính
ẩn dụ) Ngoài ra còn phải kể đến công trình “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt
Nam” của Vũ Ngọc Phan (1971)
Đây là những công trình nghiên cứu lớn về Văn học dân gian, trong đó các tác giả đều chỉ ra những nét cơ bản nhất của thành ngữ, giúp người đọc có thể nhận diện đơn vị này và tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu khác tiếp tục tìm hiểu đầy đủ các đặc trưng khác của thành ngữ tiếng Việt
b) Từ góc độ ngôn ngữ học, nhiều tác giả đã góp phần minh định khái niệm về đơn vị thành ngữ một cách cụ thể, rõ ràng hơn, nhất là qua việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ (hai đơn vị “làm sẵn” có những điểm gần gũi nhau)
Trong bài báo “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” (Tạp chí Ngôn
ngữ - 1972), Nguyễn Văn Mệnh nhấn mạnh: cần phải tìm cho ra ranh giới rõ
ràng giữa thành ngữ và tục ngữ Theo tác giả, cần dựa vào hai tiêu chí nội dung ngữ nghĩa và hình thái ngữ pháp để phân biệt thành ngữ và tục ngữ Nội
Trang 7dung của thành ngữ là tính hình ảnh; còn nội dung của tục ngữ là quy tắc, quy luật Về hình thái ngữ pháp, nói chung thành ngữ là cụm từ chứ không phải là câu; còn tục ngữ thì ngược lại, bất kỳ tục ngữ nào cũng là câu
Trong bài viết: “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ“ (1973), Cù Đình Tú cũng cố gắng phân định thành ngữ và tục ngữ Theo ông, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, thực hiện chức năng định danh, được sử dụng để gọi tên hiện tượng, tính chất, hành động Về phương diện này, thành ngữ tương đương với từ; còn tục ngữ cũng như những văn bản khác của sáng tác dân gian (như ca dao, truyện cổ tích) luôn luôn có những thông báo
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: Tục ngữ là một cấu trúc cố định trong đó nêu lên một cách đầy đủ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội của nhân dân lao động; quán ngữ là một cấu trúc cố định được sử dụng nhiều lần với những phong cách, chức năng nhất định; còn thành ngữ là đơn vị trung gian giữa một bên là quán ngữ, một bên là tục ngữ Nguyễn Thiện Giáp
đã dựa vào sự đối lập về hình thái và nội dung để phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ
Mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt là việc
Nguyễn Lực và Lương Văn Đang xuất bản cuốn Thành ngữ tiếng Việt
(1976) Tuy các soạn giả chưa sưu tập hết các thành ngữ tiếng Việt nhưng đây
là một nguồn ngữ liệu rất bổ ích đối với việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt một cách hệ thống và chuyên sâu hơn Trong lời nói đầu, các soạn giả nêu quan điểm về thành ngữ: giới hạn bên dưới của thành ngữ là cụm từ gồm hai
từ, còn giới hạn bên trên là câu; thành ngữ là đơn vị từ vựng trung gian nằm giữa hai giới hạn đó
Như vậy, khi phân định thành ngữ và tục ngữ, các tác giả trên đều dựa vào những đặc điểm sau đây của các đơn vị ngôn ngữ này: cấu trúc hình thái, nội dung ngữ nghĩa và chức năng của chúng trong hệ thống ngôn ngữ
Trang 82.2 Việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt nói chung trên các mặt: cấu tạo, ng333ữ nghĩa và sử dụng
Trước hết, có thể nhận thấy điều này trong nhiều giáo trình hoặc
chuyên luận về từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (chẳng hạn: Vấn đề cấu tạo từ
của tiếng Việt hiện đại (Hồ Lê - 1976); Từ và vốn từ tiếng Việt (Nguyễn Văn
Tu - 1985); Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (Đỗ Hữu Châu - 1987), Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1999); Từ vựng học tiếng Việt (Nguyễn
Thiện Giáp - 1998), v.v ) Trong những sách trên, các tác giả đều bàn về cụm
từ cố định nói chung và minh định khái niệm thành ngữ nói riêng
Nguyễn Văn Tu (Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại - 1985) dùng cả
chương 7 để khảo sát những vấn đề về cụm từ cố định (thành ngữ) Sau khi nêu khái niệm về thành ngữ, tác giả đã dựa vào kết cấu ngữ pháp để chia thành ngữ thành hai loại chính: thành ngữ có hình thức như câu đơn giản và thành ngữ có hình thức như câu phức hợp Tác giả tiếp tục chia nhỏ thành ngữ ra các các tiểu loại Khác với những người khác xem thành ngữ chỉ là những cụm từ cố định, Nguyễn Văn Tu xem thành ngữ là đơn vị thuộc bậc câu, nhưng phần lớn là những câu rút gọn
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt- 1998), dành khá
nhiều trang ở Chương 1 để nêu khái niệm và đi sâu phân loại thành ngữ tiếng Việt Bằng việc phân biệt thành ngữ hoà kết và thành ngữ hợp kết, đồng thời phân biệt ngữ định danh và cụm từ tự do, tác giả đã chỉ ra được nhiều đặc trưng về cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Có thể kể thêm một số tài liệu khác: “Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt” (Bùi Khắc Việt - 1978), “Tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt” (Phan Xuân Thành - 1999), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ
trong kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Nhã Bản - 2003), v.v
Trước khi xuất bản chuyên khảo Thành ngữ học tiếng Việt (2004), tác giả Hoàng Văn Hành cũng đã có các bài viết như: “Suy nghĩ về cách dùng
Trang 9thành ngữ qua văn thơ Hồ Chủ tịch” (1973), “Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hoá
đối xứng” (2001); “Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng trong tiếng Việt”
(2003) Cho đến nay, Thành ngữ học tiếng Việt là công trình chuyên sâu nhất
về thành ngữ tiếng Việt Ở cuốn sách này, tác giả đã khái quát các phương diện cơ bản của thành ngữ tiếng Việt về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và việc sử dụng thành ngữ trong giao tiếp Cuốn sách đã tạo một cơ sở lý thuyết đáng tin cậy cho những ai muốn tiếp tục khám phá kho tàng thành ngữ của dân tộc
Việt và của từng địa phương
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất rằng thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ nhưng có những đặc điểm riêng về cấu tạo, ngữ nghĩa
-2005), Các đề tài như trên ngoài việc xác định khái niệm, đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ đều tập trung chứng minh vai trò sử dụng của thành ngữ trong tác phẩm văn học Việt Nam
2.3 Những năm gần đây, một số người đã quan tâm đến lớp thành ngữ Hán - Việt Tuy nhiên phần lớn đó là những công trình sưu tập và giải nghĩa các
thành ngữ gốc Hán Chẳng hạn: Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán (Như
Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành - 1994), Từ điển thành ngữ, tục
ngữ Hán Việt (Nguyễn Văn Hằng, Trần Thanh Liêm - 2005) Các nghiên cứu
chuyên sâu về lớp thành ngữ Hán – Việt còn ít; đó thường là những bài viết
Trang 10nhỏ lẻ, hoặc là một chương, một mục trong giáo trình về tiếng Việt Chẳng hạn, “Bình diện ngôn ngữ văn hoá xã hội của các thành ngữ gốc Hán”
(Nguyễn Văn Khang, Văn hoá dân gian - số 1/1994) Hoặc trong Từ điển
thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang - 1993) có những đề cập
nhỏ đến bộ phận thành ngữ Hán - Việt
Có thể nói, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu lớp thành ngữ
Hán – Việt một cách hệ thống và chi tiết Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Cấu
tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng lớp thành ngữ Hán – Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt với dụng ý qua đó có được cái nhìn đầy đủ và kỹ càng hơn về lớp
thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt, nhất là những biến đổi của chúng dưới tác động của tiếng Việt khi chúng được mượn vào ngôn ngữ này
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu
Để đạt đến mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Xác định khái niệm thành ngữ Hán - Việt; sưu tập, thống kê và phân loại lớp thành ngữ Hán - Việt về mặt cấu tạo; xác định điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo giữa lớp thành ngữ Hán – Việt và bộ phận thành ngữ thuần Việt
- Khảo sát - so sánh cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp thành ngữ Hán - Việt với các thành ngữ Hán nguyên ngữ để xác định điểm bất biến và khả biến của thành ngữ Hán - Việt khi được mượn vào hệ thống từ vựng tiếng Việt
Trang 11- Khảo sát - phân tích việc sử dụng lớp thành ngữ Hán - Việt trong một
số phong cách chức năng của ngôn ngữ viết tiếng Việt (văn chính luận Hồ Chí Minh, thơ Nôm trung đại) để minh chứng cho giá trị sử dụng của lớp thành ngữ này
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Các thành ngữ Hán Việt có trong các tài liệu: 1- Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang - 1993); 2- Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt
Nam ( Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào - 2008); 3- Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán (Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành – 1994)
Ngoài ra, chúng tôi còn dùng Từ điển thành ngữ, tục ngữ Hán Việt (Nguyễn
Văn Hằng, Trần Thành Liêm - 2005) để đối chiếu giữa thành ngữ Hán - Việt
và thành ngữ Hán nguyên ngữ để tìm hiểu những biến đổi của chúng khi đi vào tiếng Việt
Để nghiên cứu việc sử dụng thành ngữ Hán – Việt trong ngôn ngữ viết
tiếng Việt, chúng tôi chọn Tuyển tập văn chính luận (Hồ Chí Minh), Quốc âm
thi tập (Nguyễn Trãi) và Truyện Kiều (Nguyễn Du) làm tài liệu khảo sát
chính
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nói trên của luận văn, chúng tôi dùng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại được dùng khi khảo sát sưu tập, thống kê, phân loại lớp thành ngữ Hán - Việt
4.2 Phương pháp miêu tả được dùng khi nghiên cứu miêu tả về cấu tạo, ngữ nghĩa của lớp thành ngữ Hán – Việt
4.3 Phương pháp so sánh được dùng khi tìm hiểu những biến đổi của thành ngữ Hán - Việt khi đi vào hệ thống tiếng Việt
Trang 124.4 Phương pháp qui nạp được dùng khi nêu đánh giá và khi viết tiểu kết các chương, viết phần kết luận của luận văn
5 Đóng góp của luận văn
Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về cấu tạo, ngữ nghĩa và việc sử dụng của lớp thành ngữ Hán – Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, luận văn góp phần vào tiến trình nghiên cứu về kho tàng thành ngữ tiếng Việt nói chung (với sự phong phú về số lượng, đa dạng về kiểu loại cấu tạo, ngữ nghĩa và cả
về nguồn gốc)
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục (danh sách thành ngữ Hán - Việt), phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
Chương 3: Việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong ngôn ngữ viết tiếng Việt
Trang 13
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Xung quanh khái niệm thành ngữ
Tác giả Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu - 1951), người
đầu tiên đề cập đến thành ngữ tiếng Việt, quan niệm: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè”
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1975) trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt
đã định nghĩa về thành ngữ rất ngắn gọn: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [ 10 ; tr 12]
Tiếp đó tác giả Nguyễn Văn Tu, trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
(1976) đã đưa ra ý kiến: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa kết hợp làm một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa từng yếu tố tạo ra
Có thể có hình tượng cũng có thể không có Nghĩa của chúng cũng khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [44; tr 189]
Trong chuyên khảo Vấn đề cấu tạo của tiếng Việt hiện đại, tác giả Hồ
Lê quan niệm : “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tính
Trang 14vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa để miêu tả một hình ảnh,
một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó” [21; tr 97]
Năm 1986, qua bài “Vài suy nghĩ góp phần xác định thành ngữ tiếng
Việt”, Nguyễn Văn Mệnh có lời khẳng định khi so sánh thành ngữ với tục
ngữ: “Về hình thức ngữ pháp nói chung mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa
phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ là một câu”
[26 ; tr 12]
Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt lại xác
định thành ngữ ở đặc tính tương đương với từ của chúng Ông cho rằng: “Cái
quyết định để xác định ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về
chức năng cấu tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không
phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc như từ mà còn vì ở trong câu chúng
có thể thay thế cho một từ, ở vị trị các từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo
câu” [6; tr 73]
Các tác giả Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học đưa ra định
nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ
nghĩa tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý
nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động
như một từ riêng biệt ở trong câu” [50; tr 271]
Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình
Sử đồng chủ biên - 1994) định nghĩa: “Thành ngữ tiếng Việt là đoạn câu, cụm
từ có sẵn, tương đối cố định, bền vững, không nhằm diễn đạt một ý, một nhận xét trọn vẹn như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm
dưới một hình thức sinh động, hấp dẫn Dù ngắn hay dài, xét về nội dung ý
nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tương đương như
từ, nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh
động có tính nghệ thuật” [11 ; tr 249]
Tác giả Hoàng Văn Hành, người được xem là giáo sư đầu ngành về
thành ngữ học tiếng Việt, đã định nghĩa về thành ngữ: “Thành ngữ là một tổ
Trang 15hợp từ cố định bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa Được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày đặc biệt là trong khẩu
ngữ” [13 ; tr 27]
Tóm lại, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về thành ngữ nhưng cũng có thể thấy rằng về cơ bản tất cả các khái niệm trên đều thống nhất với nhau ở nội hàm của nó Sự khác nhau chỉ là ở những khía cạnh thuộc ngoại diên của khái niệm Dựa vào định nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trước và qua quá trình khảo nghiệm, tìm hiểu, chúng tôi đi đến một cách hiểu khái quát về thành ngữ: đó là những cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có chức năng định danh và mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ
1.1.2 Về việc phân loại thành ngữ
Như đã nói, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ hết sức phức tạp Việc xác định đúng cái căn cứ (hoặc tiêu chuẩn) để phân loại thành ngữ là điều không dễ Vì thế, đến nay đã có nhiều cách phân loại khác nhau Dưới đây chỉ là một số trong những cách phân loại đã có:
a) Phân loại thành ngữ theo số lượng thành tố trong cấu tạo Các tác giả
Lương Văn Đang và Nguyễn Lực trong cuốn Thành ngữ tiếng Việt chia thành
ngữ thành 3 kiểu:
1/ Kiểu thành ngữ có kết cấu ba tiếng Ví dụ: ác như hùm; bé hạt
tiêu;…
2/ Kiểu thành ngữ có kết cấu bốn tiếng Ví dụ: bán vợ đợ con; ác giả
ác báo, ăn to nói lớn; … Đây là kiểu phổ biến nhất trong thành ngữ tiếng
Việt
Kiểu 2/ tiếp tục được chia ra 3 kiểu nhỏ:
2.1/ Kiểu thành ngữ ghép lặp (như: ăn bớt ăn xén;, chết mê chết mệt;
chúi đầu chúi mũi; )
2.2/ Kiểu thành ngữ là tổ hợp 4 từ đơn (như: nhắm mắt xuôi tay; nhà
tranh vách đất; ăn bờ ở bụi…)
Trang 163/ Kiểu thành ngữ có kết cấu 5 hay 6 tiếng cũng tương đương như kiểu
kết cấu trên (như: trẻ không tha, già không thương; treo đầu dê bán thịt
chó )
Một số thành ngữ có kết cấu từ bảy, tám, mười tiếng Chúng có thể do
2 hay 3 ngữ đoạn, hoặc do 2 hay 3 mệnh đề liên hợp tạo thành một tổ hợp
kiểu ngữ cú dài cố định (như: vênh váo như bố vợ phải đấm; vén tay áo xô đốt
nhà táng giấy,…)
Rõ ràng, dựa vào số lượng thành tố là chỉ dựa vào hình thức, nên cách phân loại này không phản ánh được tính chất quan hệ và đặc điểm bên trong của thành ngữ tiếng Việt
b) Phân loại thành ngữ theo kết cấu ngữ pháp
Dựa vào kết cấu ngữ pháp, tác giả Nguyễn Văn Tu chia thành ngữ ra làm các loại sau:
1/ Thành ngữ có cấu tạo là câu đơn giản Trong loại này, tác giả phân biệt 2 kiểu:
1.1/ Kiểu câu đơn giản có đủ 2 thành phần chủ yếu (có thể thêm thành phần thứ yếu) theo mô hình: [Chủ ngữ - Vị ngữ - Trạng ngữ (hoặc Bổ ngữ)]
Ví dụ: nước đổ lá khoai; chuột sa chĩnh gạo; …
1.2/ Kiểu câu đơn giản chỉ có 2 thành phần chính theo mô hình [Chủ
ngữ - Vị ngữ] Ví dụ: bốn biển là nhà; tấc đất tấc vàng; …
2/ Thành ngữ có cấu tạo là câu phức hợp Những thành ngữ này có mô hình [Chủ ngữ - Vị ngữ + Chủ ngữ - Vị ngữ] và không có liên từ Tác giả chia loại này thành 2 kiểu:
2.1/ Kiểu có mệnh đề phụ (như: bút sa gà chết; bụng làm dạ chịu; …) 2.2/ Kiểu gồm 2 mệnh đề đẳng lập (như: tai bay vạ gió; vườn không
nhà trống …)
3/ Ngoài ra, còn có loại thành ngữ với cấu tạo là tổ hợp các cụm từ
chính phụ Ví dụ: bán vợ đợ con; biệt tăm biệt tích; ăn tối lo mai; mang nặng
Trang 17đẻ đau; bạ ăn bạ nói; giòn cười giòn khóc; ba đầu sáu tay; ba chân bốn cẳng;…
Khi dựa vào cấu tạo ngữ pháp, tuy tác giả đã phân biệt khá cụ thể các loại, kiểu, nhưng cách phân loại này khó giúp khảo sát nội dung thành ngữ tiếng Việt triệt để và chính xác
c) Phân loại thành ngữ theo số lượng cụm từ
Dựa vào tiêu chí này, người ta chia thành ngữ tiếng Việt thành 2 loại: 1/ Loại thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ Loại này gồm 2 kiểu:
1.1/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ chủ – vị (C - V) Ví dụ:
gậy ông đập lưng ông; trứng khôn hơn vịt; …)
1.2/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ chính phụ Loại này gồm
- Thành ngữ có cấu tạo là một cụm tính từ; ví dụ: tối như bưng; nhanh
như cắt; chậm như rùa; …
2/ Loại thành ngữ có cấu tạo là liên hợp 2 cụm từ Loại này gồm các kiểu:
2.1/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo liên hợp 2 cụm từ chủ – vị [C - V + C -
V] Ví dụ: máu chảy đầu rơi; miệng nói tay làm; …
2.2/ Kiểu thành ngữ có cấu tạo là liên hợp 2 cụm từ chính phụ [C - P +
Trang 18- Liên hợp 2 cụm tính từ: bầm gan tím mật; mát lòng mát dạ;…
d) Phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo nghĩa
Trong chuyên luận Thành ngữ học tiếng Việt, dựa vào phương thức tạo
nghĩa, GS Hoàng Văn Hành phân biệt hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ; trong đó loại thứ hai gồm hai kiểu: thành ngữ ẩn dụ đối xứng và thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng Trong tư liệu 3.225 thành ngữ tiếng Việt (trong chuyên luận trên), chúng tôi thống kê được 494 thành ngữ so sánh (15,31 %), 1.891 thành ngữ ẩn dụ đối xứng (58,64 %) và 840 thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng (26,05 %)
1/ Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững bắt nguồn từ phép so sánh, mang nét nghĩa biểu trưng
Chúng ta cần phân biệt thành ngữ so sánh với tổ hợp so sánh tự do
Phép so sánh là [A t như B] trong thực tế có 4 dạng: 1- [A t như B], ví dụ:
“Đối với bộ đội, chính trị viên phải dịu hiền như một người cha”(Hồ Chí Minh); 2- [A như B], ví dụ: “Thế địch như lửa, thế ta như nước Nước nhất định thắng lửa” (Hồ Chí Minh); 3- [t như B], ví dụ: “Ấp úng như thúng đứt
vành / Trả lời không được phải đành ngậm câm” (Ca dao); 4- [như B], ví dụ:
“Như cá nằm trong chậu, quân địch bị chết và bị thương” (Hồ Chí Minh)
Còn cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tương ứng với dạng 3- và dạng
4-của phép so sánh: [t như B]: bạc như vôi; cứng như đá; gầy như hạc; lừ đừ
như từ vào đền; … và [như B]: như gà mắc tóc; như diều gặp gió; như mèo thấy mỡ; …
Tiếng Việt có nhiều từ biểu thị quan hệ so sánh: như, tày, như thể, tựa,
tựa như, nhưng trong thành ngữ so sánh chủ yếu dùng từ như Ví dụ: dai như đỉa; béo như con cun cút; như môi với răng; coi người như rác; …
Trong thành ngữ so sánh, vế B (chỉ cái so sánh) có vai trò quan trọng Qua nó, chúng ta nhận thấy cách nhìn, cách nghĩ mang dấu ấn của cảnh sắc
Trang 19thiên nhiên, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi địa phương được phản ánh vào trong thành ngữ Vì vậy, tuy nội dung so sánh như nhau, nhưng các ngôn ngữ khác nhau dùng hình ảnh so sánh (vế B) khác
nhau Ví dụ: đắt như tôm tươi (Việt) - đắt như bánh nóng (Anh); rẻ như bèo (Việt) – rẻ như rác (Anh); đẹp như tiên (Việt) - đẹp như giọt sương (Bun ga ri); như ngàn cân treo sợi tóc (Việt) – như hòn đá treo sợi tơ cuống sen (Nhật
Bản); v.v
Vế [t] (chỉ cái được so sánh) tuy thuộc cấu tạo thành ngữ so sánh,
nhưng không phải khi nào cũng có mặt Ở các thành ngữ như: đỏ như son,
cười như nắc nẻ thì [t] bắt buộc có mặt; nhưng lại vắng mặt ở các thành ngữ
như: như chim sổ lồng; như nước vỡ bờ; như voi uống thuốc gió; …
2/ Thành ngữ ẩn dụ
2.1/ Thành ngữ ẩn dụ đối xứng
Điểm nổi bật về cấu trúc của loại thành ngữ này là tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ Chẳng hạn, trong thành
ngữ mẹ tròn con vuông, mẹ tròn đối xứng với con vuông, hay trong thành ngữ
đầu tắt mặt tối, đầu tắt đối xứng với mặt tối
Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thành ngữ đối xứng được thiết lập nhờ vào những thuộc tính nhất định về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các yếu tố được đưa vào trong hai vế đó Phép đối xứng ở đây được xây dựng trên hai bình diện: đối ý và đối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế, còn đối lời là đối ở cấp
độ yếu tố
Trong ví dụ đầu voi đuôi chuột ta thấy: đầu voi đối xứng với đuôi chuột
đây là đối xứng ở cấp độ vế, một bên là điều đề ra thì rất to tát rất hay ho nhưng kết cục khi kết thúc, điểm lại thì mới chỉ làm được một phần rất nhỏ, méo mó, không đáng kể
Nhưng để có được quan hệ đối xứng về ý này là nhờ vào quan hệ đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của thành ngữ gọi là quan hệ đối lời Chẳng
Trang 20hạn trong thành ngữ trên nhờ có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố đầu và đuôi, chuột và voi mà ta suy ra được ý nghĩa của thành ngữ
Hay trong thành ngữ mẹ tròn con vuông sở dĩ ta nhận ra quan hệ đối ý
(sau khi sinh mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh) là nhờ quan
hệ đối xứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông Cũng như thế, nhờ có quan hệ đối xứng giữa đầu với đuôi, xuôi với lọt trong thành ngữ đầu xuôi
đuôi lọt mà ta có được ý niệm về sự suôn sẻ, trót lọt
Vấn đề là để xác lập quan hệ đối xứng giữa từng yếu tố trong hai vế của thành ngữ thì cần những điều kiện gì Trước hết, trong quan hệ đối lập nội dung và ngữ nghĩa của các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế ở phần lớn các thành ngữ phản ánh những đặc trưng thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa:
Ví dụ: mẹ / con, tròn / vuông, đầu / đuôi, xuôi / lọt
Cần chú ý các yếu tố đối xứng với nhau phải cùng một phạm trù từ loại, tức có cùng một thuộc tính ngữ pháp
Ví dụ: Trong thành ngữ: cà chua mắm mặn các yếu tố ở hai vế của thành ngữ này đều thuộc một phạm trù từ loại cụ thể: cà, mắm đều là danh từ,
chua, mặn đều là tính từ Hay trong thành ngữ mẹ tròn con vuông ở trên, mẹ, con là danh từ , tròn, vuông đều là tính từ
Tóm lại, để có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố trong thành ngữ thì các yếu tố trong hai vế phải có sự tương đồng về ngữ pháp, ngữ nghĩa
2.2 / Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Về mặt cấu tạo, kiểu thành ngữ này không có tính đối xứng và do được cấu tạo giống hệt như những cấu trúc ngữ pháp bình thường nên còn gọi là những thành ngữ thường Nếu đi sâu hơn nữa về cấu trúc thì chúng ta nhận thấy những thành ngữ này được cấu tạo theo hai kiểu kết cấu ngữ pháp phổ biến: kết cấu có một trung tâm và kết cấu có hai trung tâm
- Kết cấu một trung tâm gồm 3 kiểu sau: * Kết cấu danh ngữ (ví dụ:
bạn nối khố; cá mè một lứa; quân sư quạt mo; nước mắt cá sấu; mặt sắt đen
Trang 21sì ;… * Kết cấu động ngữ (ví dụ: bở hơi tai; trơ mắt ếch;… * Kết cấu tính
ngữ (ví dụ: gan cóc tía; nghèo rớt mùng tơi, giàu nứt đố đổ vách …
- Kết cấu hai trung tâm (kết cấu chủ- vị) Ví dụ: anh hùng mạt lộ; chó
cắn áo rách; gái đĩ già mồm; ăn mày cầm tinh bị gậy
Trong 4 cách phân loại thành ngữ tiếng Việt nêu trên, cách phân loại của Hoàng Văn Hành dựa vào phương thức tạo nghĩa là hợp lý nhất Vì thế, trong luận văn, chúng tôi dựa vào cách phân loại này để thống kê, phân tích đặc điểm của thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
1.1.3 Về nghĩa của thành ngữ
Khi nghiên cứu về thành ngữ, ngoài đặc điểm cấu tạo, còn cần xem xét
về mặt biểu hiện nghĩa của chúng bởi thành ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa
Trên thực tế đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nhưng trong các công trình nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa nói chung và thành ngữ nói riêng, các nhà Việt ngữ học đều nhất trí ở quan niệm chung rằng nghĩa của thành ngữ có tính chất biểu trưng, có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy
Theo Lương Văn Đang và Nguyễn Lực:… “ Một bộ phận thành ngữ tiếng Việt cũng có tính đa nghĩa nhưng trong đó nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả… Nghĩa này có tính khái quát, tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp” [25; tr.8] Nghĩa là ý nghĩa của thành ngữ là sự hòa hợp, chung đúc nghĩa của các yếu tố tạo thành nhưng đó không phải là sự hòa hợp như một phép cộng giản đơn nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ mà qua những hình ảnh, sự vật, hiện tượng bên ngoài cuộc sống để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động phổ quát Nói cách khác, nghĩa của thành ngữ là một chỉnh thể được khái quát từ nghĩa của các yếu tố tạo thành
Nghĩa của thành ngữ được xác định như một chỉnh thể định danh tương đương với từ song khác với các đơn vị từ vựng khác, thành ngữ là loại định danh bậc hai Nghĩa là “Nội dung của thành ngữ không hướng tới điều
Trang 22được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì
đó suy ra từ chúng” [11 ; tr 29]
Ví dụ: Nghĩa của thành ngữ “cá nằm trên thớt” không phải miêu tả
một con cá nằm trên thớt như quyển sách nằm trên bàn mà ngụ ý nói tới trạng
thái nguy hiểm đến sự sống còn; hay thành ngữ “mèo mù vớ cá rán“ không
phải đơn thuần là một con mèo bị mù lấy được một con cá rán nào đó mà nó chỉ sự may mắn đặc biệt bất ngờ
Cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thường được diễn giải bằng một cụm
từ tự do trong đó có một từ trung tâm (hay một cụm từ trung tâm) và những thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm với những sắc thái phụ Thành phần trung tâm là ý nghĩa nòng cốt, ý nghĩa cơ bản của thành ngữ
Ngữ nghĩa của thành ngữ thường được nhắc đến với những đặc điểm như: tính biểu trưng, tính hình tượng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc Tất cả những đặc điểm này làm nên giá trị ngữ nghĩa độc đáo của thành ngữ trong các hoạt động ngôn ngữ Trong số các đặc điểm nói trên các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến nghĩa biểu trưng Tính biểu trưng được xem là đặc
tính bản chất nhất của thành ngữ Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ
nghĩa tiếng Việt đã khẳng định: “Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định
và từ vựng phải ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn.” [6, tr 82]
Tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng nhất của thành ngữ làm nên nét khác biệt quan trọng giữa thành ngữ với đơn vị tương đương với
nó là từ Đặc điểm nổi bật trong nghĩa của từ là tính võ đoán còn trong thành ngữ là tính biểu trưng Vấn đề biểu trưng hóa làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩa của thành ngữ Như vậy, có nghĩa là nghĩa của thành ngữ được hình thành bằng cơ chế biểu trưng hóa
Giáo sư Hoàng Văn Hành đã nhấn mạnh điều này trong Thành ngữ học
tiếng Việt: “Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả của hai hình
Trang 23thái biểu trưng hóa hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm)” [13; tr 31]
Với so sánh ta có những thành ngữ như: như chó với mèo; béo như bồ
sứt cạp; bạc như vôi; chậm như rùa; coi người như rác, như gà mắc tóc …
Với ẩn dụ ta có những thành ngữ như: Sắc nước hương trời, nước sông
gạo chợ, mướp đắng mạt cưa, nát đá vàng phai …
Ngoài ra trên thực tế còn có một số thành ngữ dùng các hoán dụ để biểu
trưng hóa ngữ nghĩa cho mình Ví dụ: mồm năm miệng mười; tai to mặt lớn
… Hay một số thành ngữ khác nghĩa của nó được biểu trưng hóa dựa trên cơ
sở điển tích, điển cổ: Bá Nha Tử Kỳ; Ngưu Lang Chức Nữ; nợ như chúa chổm
v v
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ được xem là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, đơn vị có tính chất trung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp Nghĩa là một mặt thành ngữ được cấu tạo theo những mô hình cú pháp, mặt khác nó lại hoạt động như một đơn vị từ vựng Do đó cần phải phân biệt với các đơn vị liên quan như thành ngữ với tục ngữ, quán ngữ… Trong luận văn này, để thuận lợi cho việc khảo sát, phân loại thành ngữ, chúng tôi tập trung phân biệt hai đơn vị có quan hệ gần gũi với nhau nhất đó là thành ngữ và tục ngữ
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề này, có thể điểm qua các công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã
khẳng định: “ Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng, mà diễn đạt một ý hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè”
Theo Vũ Ngọc Phan, “ Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán Còn thành
Trang 24ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn”.[32; tr 31-32]
Ngoài ra, một số công trình khác như: Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri – 1975), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Văn Tu - 1978), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại (Hồ Lê -
1976) cũng chú ý phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Tạp chí Ngôn ngữ cũng đã đăng nhiều bài viết về vấn đề này Chẳng
hạn, Nguyễn Văn Mệnh trong bài:”Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”
(Ngôn ngữ,số 3, 1972) đã chỉ ra rằng: “Nội dung của thành ngữ mang tính
chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính quy luật”
Cù Đình Tú trong bài “Góp ý về sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ”
(Ngôn ngữ, số 1, 1973) đã nêu: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục
ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất hành động
Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương với từ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo, nó thông báo một nhận định nào đó của thế giới khách quan
Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” Ở đây tác giả đã nêu ra những tiêu chí về mặt ngôn ngữ để phân biệt,
cụ thể là: sự khác nhau về cấu tạo ngữ pháp và về vị trí trong lời nói giữa thành ngữ và tục ngữ
Theo GS Hoàng Văn Hành, thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hoá lẫn nhau nhưng về mặt bản chất là không giống nhau, xét về mọi phương diện: hình thức cấu trúc, ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Ông đã phân biệt hai đơn
vị này theo 4 tiêu chí sau:
Trang 25- Về mặt hình thái cấu trúc: Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định (hoặc kết cấu chủ vị) quan hệ hình thái; còn tục ngữ là câu (phát ngôn) cố định (cả đơn và phức) quan hệ cú pháp
- Về chức năng biểu hiện nghĩa định danh: Thành ngữ có chức năng định danh sự vật, hiện tượng, quá trình; còn tục ngữ có chức năng định danh
sự kiện, sự tình, trạng huống
- Về chức năng biểu hiện hình thái nhận thức: Thành ngữ biểu hiện khái niệm bằng hình ảnh biểu trưng; còn tục ngữ biểu hiện phán đoán bằng hình tượng biểu trưng
- Về đặc trưng ngữ nghĩa: thành ngữ và tục ngữ đều có 2 tầng nghĩa được tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ hoá
Như vậy, các nhà nghiên cứu từ trước đến nay đã đưa ra nhiều cách thức khác nhau để phân biệt hai đơn vị có quan hệ rất gần gũi nhau đó là thành ngữ và tục ngữ Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi xin đưa ra một số tiêu chí cụ thể sau nhằm phân biệt
rõ hơn về hai đơn vị ngôn ngữ này
1.1.4.1 Về cấu trúc
Thành ngữ và tục ngữ đều là những tổ hợp từ cố định song chúng khác nhau về cấp độ Thành ngữ tồn tại dưới dạng cụm từ, có thể là cụm danh từ
(ví dụ: lều tranh vách đất; anh hùng rơm; mắt bồ câu…), có thể là cụm động
từ (ví dụ: chẻ đôi sợi tóc; lấp biển vá trời; đem con bỏ chợ…), có thể là cụm tính từ (ví dụ: no xôi chán chè; bé hạt tiêu; héo ruột héo gan…); còn tục ngữ
là một câu hoàn chỉnh Theo GS Hoàng Văn Hành “ tục ngữ không những là một câu hoàn chỉnh mà còn có thể nhận định tục ngữ là thông điệp nghệ
thuật” [11 ; tr 32) Còn tác giả Nguyễn Văn Mệnh thì khẳng định: “Về hình
thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu
Trang 26hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, thành ngữ luôn có cấu trúc đề thuyết (thí
dụ: gần mực thì đen) Ngay cả những câu tục ngữ tồn tại như cụm từ cố định thì bản chất vẫn là cấu trúc đề thuyết, ví dụ: Cây cau, rau cải, nhân ngãi vợ,
đầy tớ con
Nhưng vấn đề nhập nhằng là ở một số thành ngữ có hình thức cấu tạo
như một câu đơn (một kết cấu C-V), ví dụ: áo gấm đi đêm; cá nằm trên thớt;
chó ngáp phải ruồi; thậm chí là một câu ghép (hai kết cấu C-V), ví dụ: mưa dập gió vùi Đối với những thành ngữ này nếu chỉ dựa vào tiêu chí cấu trúc
thì không thể phân biệt được với tục ngữ, mà cần phải dựa vào tiêu chí khác nữa đó là chức năng ngữ nghĩa
1.1.4.2 Về chức năng ngữ nghĩa
Điểm khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ về chức năng ngữ nghĩa là ở chỗ, thành ngữ chỉ có nghĩa định danh, còn tục ngữ phải có nghĩa thông báo Nói cách khác, thành ngữ có nghĩa tương đương với từ còn tục ngữ
có nghĩa tương đương với câu Về điều này, Cù Đình Tú đã khẳng định rất rõ:
“Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở sự khác nhau về chức năng: Thành ngữ là những đơn vị định danh, về mặt này thành ngữ tương đương với từ, còn tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo (“Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ
và tục ngữ.” (Ngôn ngữ, số 1, 1973))
Thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, do vậy nó cũng có tính hoàn chỉnh về nghĩa như từ và có chức năng định danh, hiển thị khái niệm thông qua các hình ảnh biểu trưng Ngay cả thành ngữ có cấu trúc hình thức như
một câu, ví dụ: chuột sa chĩnh gạo thì nghĩa mà ta tri nhận được từ thành ngữ
này không phải là một phán đoán mà chỉ là một biểu đạt cho cái được biểu đạt
là “sự may mắn” Như vậy, nghĩa của thành ngữ chuột sa chĩnh gạo là sự
Trang 27định danh cho một khái niệm cụ thể Tóm lại, thành ngữ là những tổ hợp chỉ
có nghĩa định danh
Tục ngữ thì khác hẳn nó không biểu thị khái niệm như thành ngữ mà biểu thị những phán đoán, miêu tả một sự vật, một hoàn cảnh cụ thể Nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, sự khẳng định về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hoá nào đó Nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh [6 ; tr 75] Tục ngữ biểu thị phán đoán bằng hình tượng biểu trưng Ví
dụ: “Quá mù ra mưa” không dừng lại ở sự miêu tả một hiện tượng cá biệt của
thiên nhiên Tính chân thực và điển hình của nó đã khiến người ta liên tưởng
từ những mối quan hệ tất yếu giữa cái cụ thể của thiên nhiên đến những mối quan hệ tương tự trong đời sống, trong tư duy của con người, nhiều khi nâng lên thành triết lí sâu sắc Đó là: mỗi sự vật có một chừng mực nhất định, nếu vượt qua giới hạn đó thì sự vật này chuyển thành sự vật kia Đó chính là điều người ta muốn thông báo
Như vậy, đặc trưng ngữ nghĩa cho phép chúng ta phân biệt được thành ngữ với tục ngữ ở nét bản chất nhất của nó và giáo sư Hoàng Văn Hành đã khái quát xác đáng rằng: “Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy còn tục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [13 ; tr 31]
Tuy nhiên, có một số đơn vị thực sự gây khó khăn cho việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ Đó là những đơn vị mang tính chất trung gian Có khi được dùng như một thành ngữ có khi lại được dùng như một tục ngữ Theo chúng tôi, đối với những đơn vị này cần phải vận dụng thêm một tiêu chí nữa
là tiêu chí chức năng dụng học
1.1.4.3 Chức năng dụng học
Trên thực tế, chúng ta thấy thành ngữ và tục ngữ có sự chuyển hoá cho nhau, trong những trường hợp này tiêu chí dụng học sẽ cho phép chúng ta xác định được tư cách của các đơn vị này Tiêu chí này chỉ áp dụng lâm thời khi các đơn vị đang hành chức
Trang 28Ví dụ: Tổ hợp “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau” vốn là tục ngữ bởi nó
biểu thị một phán đoán, một chân lý, một lẽ thường có tính kinh nghiệm trong cuộc sống cũ, và đó là một lời khuyên: trong đời sống xã hội cũ nên tính sao cho mình đựơc lợi nhất và gặp ít thiệt thòi nhất còn ai sao thì mặc Nhưng trong ngữ cảnh: “Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước
nhà Chớ nên ăn cỗ đi trước lội nước theo sau “ (Hồ Chí Minh) Lúc này câu
tục ngữ đã mất đi tính chất của một lời khuyên, một nhận xét, một chân lý mà hiển thị một thái độ sống đáng phê phán: thái độ tư lợi chỉ biết có mình còn ai
ra sao thì mặc Lúc này câu tục ngữ hoạt động như là thành ngữ
Ngược lại, tổ hợp đàn gảy tai trâu vốn là một thành ngữ, chỉ việc làm
vô ích, không có tác dụng vì người tiếp thu không hiểu Nhưng khi đi vào ngữ cảnh:
Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi
(Ca dao) Thành ngữ này không còn là một tổ hợp định danh nữa mà ý nghĩa của
nó phát triển thành một phán đoán có tính chất khuyên răn của tục ngữ Câu
ca dao khuyên ta đừng làm những việc hảo huyền, mất công, vô ích
Qua việc phân tích ở trên chúng ta nhận thấy rằng giữa thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hoá cho nhau nhưng về bản chất là khác nhau về cả mặt hình thái, cấu trúc, chức năng ngữ nghĩa và chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp Vì vậy mặc dù không phải đơn giản nhưng chúng ta có thể nhận diện được hai đơn vị này dựa trên những tiêu chí cụ thể vừa nêu
1.1.5 Giá trị sử dụng của thành ngữ trong hoạt động ngôn ngữ
Có thể nói rằng thành ngữ là một phương tiện đắc dụng của tiếng Việt phổ thông Thành ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ văn chương, trong ngôn ngữ chính luận, báo chí… thành ngữ trở thành một bộ phận từ vựng vô cùng quan trọng trong tiếng Việt
Trang 29Sở dĩ thành ngữ được ưa dùng như vậy là do chính những khả năng ưu việt của nó Trước hết, thành ngữ là đơn vị từ vựng tương đương như từ nên
sự vận dụng nó vào trong câu là hợp lô gích và khá dễ dàng Thứ hai, thành
ngữ có cấu trúc đặc biệt, cấu trúc mang tính chất điệp - đối như: nhà tranh
vách đất; đi ngược về xuôi; một mất một còn Điệp và đối chính là yếu tố làm
nên tính cân đối hài hòa, nhịp nhàng của chúng Mặt khác, đối kết hợp với việc lặp lại một từ đơn tiết lồng vào một từ ghép song song tạo nên hiện tượng
điệp, ví dụ: nói thánh nói tướng; một mất một còn Sự cấu tạo theo cách lồng
chéo này càng làm cho các yếu tố của thành ngữ kết hợp lại với nhau tạo thành một thể thống nhất có âm điệu uyển chuyển, nhịp nhàng, có hình ảnh sinh động, giàu giá trị biểu cảm Đây chính là ưu điểm nổi bật khi nó sử dụng trong ngôn ngữ thơ Nó góp phần làm cho câu thơ cân đối, nhịp thơ uyển chuyển, nhịp nhàng, giàu nhạc điệu, hình tượng thơ được khắc họa sinh động,
có giá trị biểu cảm cao Câu thơ trở nên dễ thuộc, dễ nhớ, gây ấn tượng mạnh khi tiếp xúc
Mặt khác, thành ngữ có khả năng ngữ nghĩa vượt trội so với các đơn vị
từ vựng tương đương Một trong những đặc điểm quan trọng tạo nên khả năng
đó của thành ngữ là tính biểu trưng Ví dụ: thành ngữ múa rìu qua mắt thợ
không chỉ nói đến việc một người nào đó cầm rìu múa qua mắt một người thợ
mà nó biểu trưng cho ý nghĩa “trổ tài, khoe tài, tỏ ra hiểu biết trước người tài
giỏi, thông minh hơn mình” Hay thành ngữ mèo mù vớ cá rán không phải
đơn thuần là một con mèo bị mù lấy được con cá rán nào đó mà hình ảnh này biểu trưng cho “sự may mắn đặc biệt bất ngờ”
Đặc tính này của thành ngữ rất phù hợp với đặc trưng của ngôn ngữ văn chương, đặc biệt là tính hàm súc cô đọng, giàu hình ảnh, nhạc điệu và có giá trị biểu đạt cao
Ví dụ: Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt chè tươi mặc sức say
Trang 30Hay Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Nguyễn Trãi) Với những ưu điểm trên, thành ngữ được vận dụng nhiều trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt nó đã trở thành một phương tiện ngôn ngữ quan trọng góp phần làm nên giá trị của tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ ca
Trong thành ngữ tiếng Việt tồn tại một bộ phận các thành ngữ gốc ngoại khá lớn, trong đó đa phần là thành ngữ gốc Hán Hầu hết các thành ngữ Hán-Việt được vay mượn vào tiếng Việt đều có thành ngữ thuần Việt đồng nghĩa với nó Tuy nhiên, lớp thành ngữ Hán-Việt này không bị thay thế mà còn phát huy tác dụng của nó trong những hoàn cảnh sử dụng nhất định Điều này có thể giải thích được Cũng giống như các cặp từ Hán- Việt và thuần Việt đồng nghĩa, tuy thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt có điểm tương đồng với nhau về nghĩa nhưng giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau trong sắc thái nghĩa, dẫn đến phạm vi sử dụng của chúng cũng khác
nhau Cụ thể, theo Trần Anh Tư (trong luận văn Thành ngữ đồng nghĩa và
trái nghĩa trong tiếng Việt) thì thành ngữ Hán-Việt thường mang sắc thái
trang trọng, màu sắc văn chương, có tính trừu tượng, tĩnh tại; trong lúc đó thành ngữ thuần Việt lại sinh động, mang màu sắc tự nhiên dễ hiểu, dễ tiếp thu Do đó, trong giao tiếp hằng ngày và trong thơ ca dân gian người Việt chủ yếu sử dụng lớp thành ngữ thuần Việt Còn trong văn học viết Việt Nam thì các tác giả đã sử dụng bộ phận thành ngữ Hán - Việt với tần số nhiều hơn và
đã tạo nên những sắc thái riêng, giá trị riêng mà nhiều lúc thành ngữ thuần Việt không thể chuyển tải được
Chính vì vậy, khi tìm hiểu về cách vận dụng thành ngữ tiếng Việt (thành ngữ thuần Việt) thì theo chúng tôi sự vận dụng thành ngữ trong ca dao được xem là chuẩn mực Còn khi tìm hiểu về cách vận dụng thành ngữ Hán - Việt thì chúng ta nên tìm hiểu trong văn học viết Với lí do đó, trong đề tài này khi nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ Hán - Việt trong hoạt động
Trang 31ngôn ngữ của người Việt chúng tôi khảo sát một số tác giả lớn của nền văn học viết Việt Nam; đó là những người sử dụng thành công thành ngữ trong tác phẩm của mình
1.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt
1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt và việc mượn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt
1.2.1.1 Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán -Việt
Hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến của tất cả các các ngôn ngữ
Phân tích vốn từ về mặt nguồn gốc, chúng ta thấy trong tiếng Việt hiện đại cùng tồn tại những đơn vị có nguồn gốc khác nhau, như gốc Nam Á, gốc Hán, gốc Ấn - Âu Đó chính là hệ quả của những cuộc tiếp xúc ngôn ngữ đã diễn ra trong lịch sử tiếng Việt Trong đó, những đơn vị có nguồn gốc Hán chiếm số lượng nhiều nhất Có thể nói hệ thống từ và ngữ Hán -Việt đã đi sâu vào hệ thống từ vựng tiếng Việt Trong tiếng Việt không có lĩnh vực nào lại không sử dụng hệ thống các đơn vị vay mượn này: từ hành chính – công vụ, chính luận, báo chí đến ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Đó là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán -Việt gắn liền với tiếp xúc văn hoá dân tộc trong những hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội và văn hoá cụ thể
a) Hoàn cảnh lịch sử
Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt đã xảy ra từ thời Thượng cổ Ban đầu chỉ là sự tiếp xúc lẻ tẻ giữa cư dân người Việt ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta với cư dân người Hán Nhưng muốn nói đến một cuộc tiếp xúc quy
mô, lưu lại ảnh hưởng sâu đậm thì phải bắt đầu tính từ thời kì Bắc thuộc Gần
10 thế kỉ từ khi Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc (-179) và nhất là từ khi nhà Hán đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân (-111) đến năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán giành lại độc lập Đây là một đợt tiếp xúc lâu dài, sâu rộng, liên tục
Trang 32Bộ máy cai trị của nhà Hán trong giai đoạn đầu còn lỏng lẻo, chỉ mới được hình thành và chưa có tác dụng chiều sâu Về thực chất bộ máy chính quyền người Hán lúc này mới chủ yếu tập trung quyền lực ở trung ương còn
từ huyện trở xuống thì thực quyền vẫn nằm trong tay người Việt
Đến đầu công nguyên Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán lập ra nhà Tần Sau đó nhà Đông Hán thay nhà Tần cử Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú ở nước ta Lúc này bộ máy cai trị của chúng đã rất chặt chẽ, chúng tăng cường bóc lột của cải và ra sức đồng hoá nhân dân ta Đến năm 679 lại đổi thành "An Nam đô hộ phủ" Đến đây, bộ máy cai trị của nhà Đường đã đi sâu xuống tận cơ sở để bóp ngẹt tinh thần quật khởi của người Việt Cuối thế
kỉ IX, nhà Đường suy yếu Đến năm 917 triều đình Nam Hán được thành lập, năm 930 nhà Nam Hán đem quân tiến đánh nước ta và cử Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu
Như vậy, nước ta đã bị phong kiến phương Bắc đặt ách thống trị trong suốt mười thế kỉ Bộ máy cai trị và chủ trương đồng hoá của các đế chế phương Bắc ngày càng mở rộng và phát triển Lúc này, do có sự phân hoá xã hội, các tầng lớp quý tộc phong kiến Việt Nam dần dần đã trở thành đại diện tiêu biểu cho lực lượng phát triển xã hội Họ đã đứng ra tập hợp lực lượng và kêu gọi quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh
b) Hoàn cảnh xã hội
Bộ máy chính quyền của người Hán đã được thiết lập ở nước ta trong một thời gian dài, và ngày càng được thắt chặt kéo theo sự thâm nhập của người Hán vào các hoạt động quan trọng của người Việt ngày càng ảnh hưởng sâu đậm Từng đợt, từng đợt một người Hán đã thâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau, sống trà trộn với người Việt Nam, kẻ thì đi theo người nhà, người thì đi sang lánh nạn vì chính quốc loạn lạc, có kẻ vì phạm tội bị chính quốc bắt đi lưu đày, có người sang để làm ăn buôn bán Ngoài ra những "kiều nhân" vốn là quan chức của chính quyền đô hộ, sau khi
Trang 33thôi làm quan, ở lại sinh cơ lập nghiệp Đây là lực lượng đông đảo với con số lên đến hàng vạn người, đó cũng là chủ trương của người Hán đưa cư dân sang định cư ở lẫn với người Giao Chỉ Một sự thâm nhập ngược lại, đó chính
là con em người Việt đi lính cho người Hán nên cùng sinh sống với người Hán Tất cả những tầng lớp cư dân người Hán này đã ở lẫn với người Việt, gắn bó chặt chẽ với người Việt trong mọi hoạt động xã hội, tạo nên một quá trình tiếp xúc lâu dài và bền chặt giữa các tầng lớp cư dân trong xã hội Việt Nam
c) Hoàn cảnh văn hóa
Đây là thời kì truyền bá mạnh mẽ nền văn hoá Hán trong toàn vùng làm cho nền văn hoá đã thấm sâu vào mọi hoạt động và đời sống xã hội trong cộng đồng người Việt
Lúc Triệu Đà kéo quân sang xâm lược thì Âu Lạc đang ở vào thời kì phân hóa xã hội, có sự hình thành của một cơ cấu nhà nước đầu tiên Trên cơ
sở những điều kiện nội tộc, với việc bị thu hút vào ảnh hưởng văn hoá Hán,
xã hội Âu Lạc đang chuyển biến dần và đi vào một quá trình phong kiến hóa lâu dài Chính cơ sở kinh tế xã hội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu văn hóa Hán và làm cho ảnh hưởng của nền văn hoá này ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam Lực lượng góp phần đắc lực nhất cho quá trình Hán hóa này trước hết là bộ máy quan lại Trung Quốc và tầng lớp đông đảo kiều nhân người Hán, về sau còn có thêm vai trò của tầng lớp quyền quý người Việt Nam Hai thái thú đầu tiên đẩy mạnh chính sách đồng hóa nhân dân Việt Nam theo nền văn hóa Hán chính là Tích Quang và Nhâm Diên, sau đó đến
Mã Viện - đây là kẻ có nhiều âm mưu xảo quyệt nhất trong việc đồng hóa xã hội Việt Nam trên con đường "Hán hóa", từ cách ăn mặc, lấy vợ, lấy chồng đến các nghi lễ trong làng xã Chúng mở các trường học, một mặt để dạy cho con em lớp sĩ phu người Hán, người Việt nhưng mặt khác lại kìm hãm, hạn chế việc học hành cũng như tuyển dụng Phải nhờ đến cuối đời Đông Hán, Tam Quốc thì mới có thêm dịp nữa để cho việc học hành ở Giao Chỉ mới
Trang 34được đẩy mạnh thêm một bước Lúc này ở Trung Nguyên tình hình rất rối loạn, bọn quý tộc sĩ phu kéo nhau sang Giao Chỉ rất đông Bọn này nhờ vào Thái thú Nhiếp và Sĩ Nhiếp cũng dựa vào bọn này Sau đó ít lâu có nhiều người khác cũng mở trường học Với không khí học hành như vậy nên về sau
sử gia phong kiến mới xem đây là một thời kỳ mở đầu cho nền học vấn ở Việt Nam và người chủ trì là Sĩ Nhiếp được họ tôn là : "Nam Giao học tổ"
Phổ biến chữ Hán tức là phổ biến Nho giáo, vì vậy thời kì này Nho giáo được truyền vào nước ta một cách mạnh mẽ Đồng thời việc phổ biến chữ Hán còn gắn với phổ biến Đạo giáo, Phật giáo Ngược lại việc phổ biến Nho, Đạo, Phật chính cũng lại là nhân tố thúc đẩy chữ Hán ngày càng phổ biến ở Giao Châu
Sang đến thời Tuỳ Đường, tầng lớp phong kiến Việt Nam đã tương đối
có thế lực lúc này chế độ khoa cử cũng đã được dùng để thay thế chế độ sĩ tộc ngày trước Do đó, con cái của những gia đình có thế lực nhiều người đã được học hành đỗ đạt Trình độ Hán học của nho sĩ Việt Nam ngày càng được nâng cao (Khương Công Phụ thi đỗ Tiến sĩ, làm đến chức tể tướng ở Trung Nguyên; nhiều cao tăng ở Việt Nam tinh thông cả Nho giáo, Đạo giáo, biết chữ Phạn, giỏi chữ Hán, đã từng tham gia dịch thuật, trong đó có vị đã sang tận kinh đô Tràng An để giảng kinh phổ cho vua Đường )
Rõ ràng đến thời kì này nền văn hóa Hán nói chung, nền ngôn ngữ, văn
tự Hán nói riêng đã có được một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam Nhất là những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ Trong giai cấp phong kiến Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo, am hiểu Hán học và thông qua Hán học nắm được cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Chính đây là một trong những lực lượng ra sức bảo vệ duy trì những gì tiếp thu được trước đó về mặt văn hóa nhất là về mặt ngôn ngữ, văn tự và đã góp phần trong việc củng cố, tuyên truyền cho vai trò của văn ngôn chữ Hán
1.2.1.2 Việc vay mượn từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt
Trang 35Những nhân tố về chính trị xã hội và văn hóa như đã trình bày ở trên đã đưa đến một cuộc tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra trong quá trình kéo dài hàng ngàn năm giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt đã làm cho vốn từ tiếng Việt phong phú lên do có sự bổ sung một số lượng lớn các từ gốc Hán bao gồm lớp từ tiền Hán - Việt, lớp từ Hán - Việt, lớp từ Hán - Việt Việt hóa, lớp từ mượn qua khẩu ngữ Trong đó lớp từ Hán - Việt (gồm những
từ mượn tiếng Hán từ đời Đường trở về sau, đọc theo âm Hán - Việt) chiếm
số lượng nhiều nhất và có những giá trị nhất định trong cộng đồng người Việt Chúng đã trở thành một bộ phận của vốn từ tiếng Việt nên chịu sự chi phối
và vận hành của quy luật tiếng Việt cả về ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Ta gọi đó là quá trình Việt hóa các yếu tố vay mượn và các từ Hán - Việt có mức
độ Việt hóa khác nhau
a) Về ngữ âm
Trên cơ sở Đường âm được dạy ở Giao Châu, dưới tác động của hệ thống ngữ âm tiếng Việt, người Việt đã tạo ra một hệ thống ngữ âm riêng để đọc lớp từ này, cách đọc đó ngày càng xa dần cách đọc Đường âm, trở thành cách đọc hệ thống mà các nhà ngôn ngữ gọi là cách đọc Hán Việt Rồi cũng
do sự phát triển và biến đổi của ngữ âm tiếng Việt, một số từ Hán - Việt nhất
là những từ thường dùng hàng ngày đã thay đổi diện mạo của mình, không giống với dạng ngữ âm Hán - Việt ban đầu nữa và bắt đầu xuất hiện cách đọc Hán - Việt Việt hóa Chẳng hạn:
gác
gan
gấp
Trang 36Từ Hán Việt cũng như từ thuần Việt đều có những đặc điểm cấu tạo giống nhau, về số lượng yếu tố cấu tạo cũng như phương thức cấu tạo Sự khác nhau chỉ là trật tự của các yếu tố trong kiểu loại từ ghép phân nghĩa Vì vậy hầu hết các từ Hán - Việt hoạt động trong tiếng Việt ở dạng nguyên khối
cả mô hình cấu tạo và yếu tố cấu tạo Tuy nhiên có một số trường hợp khi đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt đã có sự thay đổi
Trong từ ghép đẳng lập, trật tự của các yếu tố thường là cố định nhưng cũng có một số từ có thể đảo trật tự yếu tố mà nghĩa vẫn không thay đổi Ví
dụ: tàn bạo = bạo tàn; giản đơn = đơn giản; tranh đấu = đấu tranh
Ngoài ra còn một số từ mượn nguyên khối từ tiếng Hán nhưng khi đi vào tiếng Việt trật tự các yếu tố đã có sự thay đổi so với nguyên ngữ Ví dụ:
nhiệt náo (Hán) -> náo nhiệt (Việt); thích phóng (Hán) -> phóng thích (Việt); cáo tố (Hán) -> tố cáo (Việt); thương tang (Hán) -> tang thương (Việt)
Hay trong từ ghép chính phụ có nhiều từ ghép được sử dụng ở dạng rút gọn Ví dụ: thừa trần -> trần( nhà); lạc hoa sinh -> lạc; hồng huyết cầu -
> hồng cầu; bạch huyết cầu -> bạch cầu; vật lý học -> vật lý; tuyên truyền huấn luyện -> tuyên huấn; mĩ nghệ phẩm -> mĩ nghệ; v.v
c) Về ngữ nghĩa
Từ gốc Hán nói chung, từ Hán - Việt nói riêng khi trở thành từ của tiếng Việt đều chịu sự chi phối của quy luật tiếng Việt trong đó có phương diện ngữ nghĩa So với tiếng Hán, diện mạo của ngữ nghĩa của từ Hán - Việt trong tiếng Việt cũng có những thay đổi theo 3 hướng sau đây nhằm đáp ứng nhu cầu hành chức của tiếng Việt
Trang 371.- Hướng thu hẹp ý nghĩa
Nhiều yếu tố tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt, tiếng Việt chỉ tiếp nhận một số nghĩa nào đó chứ không tiếp nhận tất cả các nghĩa vốn có của nó Ví
dụ: từ nhất trong Từ điển Từ Hải có 12 nghĩa: 1- tên chữ số; 2- tất cả; 3-thống
nhất; 4- đều; 5- cùng; 6- một mình; 7- hoặc; 8- lên; 9- thật; 10- tên của một
loài nhạc phổ; 11- biểu thị thanh điệu; 12- trợ từ Trong tiếng Việt, nhất chỉ
được dùng với 2 nghĩa: 1) chỉ số thứ tự (thứ nhất, thứ hai ); 2) vị trí cao nhất
về danh dự (học nhất lớp, thứ nhất bảng, ) Tương tự, từ thu trong Hán ngữ
có 10 nghĩa, nhưng vào tiếng Việt chỉ có 4 nghĩa được dùng là: 1) lấy vào
(quần áo phơi chưa thu vào); 2) lấy những vật vốn thuộc quyền (thu nợ); 3) ghi lại hình ảnh, âm thanh (thu âm, thu băng); 4) cất dấu (địa phương - nó thu cái túi không tìm được) Từ tảo trong tiếng Hán có nghĩa là sáng sớm, vào tiếng Việt có nghĩa là sớm (tảo hôn); cước trong tiếng Hán có nghĩa là chân,
bàn chân, vào tiếng Việt có nghĩa chân núi (vùng sơn cước)
2.- Hướng mở rộng nghĩa, phát triển thêm nghĩa mới
Một số yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt, bên cạnh nghĩa gốc như
trong tiếng Hán, còn phát triển thêm nghĩa mới Ví dụ: can (gan) vốn có nghĩa chỉ một bộ phận của cơ thể, sang tiếng Việt có thêm nghĩa là sự dũng cảm; từ
khám, ngoài nghĩa coi, xem, trong tiếng Việt còn có thêm nghĩa lục soát với thái độ nghi ngờ; từ bì có nghĩa là vỏ, da, vào tiếng Việt có có thêm nghĩa chỉ cái bao để đựng; từ tâm vốn có nghĩa chỉ tim, sang tiếng Việt có thêm nghĩa lòng dạ con người .v.v
Các yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt được Việt hoá về nghĩa theo hướng mở rộng, phát triển nghĩa; đấy là một xu hướng phát triển mạnh Với nghĩa gốc (như trong tiếng Hán), yếu tố Hán - Việt đó thường phải hoạt động hạn chế, nhưng với nghĩa mới được tạo ra trong tiếng Việt, nó lại hoạt động tự
do với tư cách là từ Chúng ta có thể khái quát thành mấy xu hướng phát triển nghĩa như sau:
Trang 38- Với yếu tố Hán - Việt là danh từ: nghĩa gốc chỉ loại sự vật (như trong tiếng Hán), xung đột đồng nghĩa với từ thuần Việt nên với nghĩa này nó phải hoạt động hạn chế, nhưng chúng có thể phát triển thêm nghĩa mới (không có trong tiếng Hán), theo hướng chuyên môn hoá (so với nghĩa gốc), chỉ một tiểu loại cụ thể Với nghĩa phái sinh này yếu tố Hán Việt hoạt động tự do với
cương vị là từ Ví dụ: bố có nghĩa là vải, có thêm nghĩa mới là một loại vải
thô (vải bố); côn có nghĩa là gậy, có thêm nghĩa mới là một loại gậy để múa
võ, đánh võ (đánh côn, múa côn); đao có nghĩa là con dao, có thêm nghĩa mới
là một loại dao to dùng làm vũ khí (đánh bằng đao, vung đao giết giặc); địa
có nghĩa là đất, có thêm nghĩa mới là chỉ môn học về đất (học địa, môn địa);
mã có nghĩa là con ngựa, có thêm nghĩa mới là tên một con cờ trong bộ cờ
tướng, một con bài trong bộ tam cúc (lên xe ăn mã); mộc có nghĩa là cây, có thêm nghĩa mới là đồ làm bằng gỗ, nghề liên quan đến gỗ (đồ mộc, nghề
mộc); thủ có nghĩa là cái đầu, có thêm nghĩa mới là cái đầu gia súc đã giết thịt (thủ lợn, thịt thủ); trà có nghĩa là chè, có thêm nghĩa mới là loại chè được sao chế từ búp lá non của cây chè (trà Thái Nguyên, uống trà) v.v
- Với yếu tố Hán - Việt là tính từ: nghĩa gốc chỉ tính chất, trạng thái vật chất (như trong tiếng Hán), xung đột đồng nghĩa với từ thuần Việt nên với ý nghĩa này, yếu tố Hán - Việt đó phải hoạt động hạn chế, nhưng chúng có thể phát triển thêm nghĩa mới (không có trong tiếng Hán), theo hướng chỉ trạng
thái tinh thần, hoặc chuyên biệt hoá (so với nghĩa gốc) Thí dụ: bạc vốn có nghĩa là mỏng, có thêm nghĩa mới là vô ơn, phụ tình, nhạt nhẽo (ăn ở bạc bẽo); bạch vốn có nghĩa là trắng, có thêm nghĩa mới là trắng toàn một màu,
rõ (trắng bạch, sáng bạch); hắc vốn có nghĩa là đen, có thêm nghĩa mới là mùi, tính cách khó chịu (mùi hắc, tính hắc); hoạt vốn có nghĩa là trơn, có
thêm nghĩa mới là nhanh nhẹn (hoạt bát, làm hoạt); hồng vốn có nghĩa là đỏ,
có thêm nghĩa mới màu đỏ nhạt (đỏ hồng, vải hồng); khinh vốn có nghĩa là
nhẹ, có thêm nghĩa mới là coi thường, không tôn trọng (khinh người); minh
vốn có nghĩa là sáng, có thêm nghĩa mới là sáng suốt (cụ còn minh); thâm vốn
Trang 39có nghĩa là sâu, có thêm nghĩa mới là bụng dạ ác, hiểm độc khó lường (nói
thâm, ăn ở thâm); trọng vốn có nghĩa là nặng, có thêm nghĩa mới là tôn quý,
đề cao (trọng nghĩa, trọng chữ tín) v.v
- Với yếu tố Hán - Việt là động từ: chúng có thể phát triển thêm nghĩa mới theo một trong hai hướng: thêm nghĩa chuyên môn hoá (như danh từ) hoặc thêm nghĩa chỉ tinh thần (như tính từ) Ví dụ:
Phi vốn có nghĩa là bay, có thêm nghĩa mới là động tác chạy nhanh của ngựa, hoặc chạy nhanh như bay (khẩu ngữ), (ngựa phi lên dốc, nó phi về
nhà); tẩu vốn có nghĩa là chạy, có thêm nghĩa mới là chạy trốn vì làm điều trái (tẩu khỏi làng); tống có nghĩa là tiễn đưa, có thêm nghĩa mới là đuổi (tống
ra khỏi nhà, tống vào tù); thính vốn có nghĩa là nghe, có thêm nghĩa mới là
tinh tường (tai thính); đả vốn có nghĩa là đánh, có thêm nghĩa mới là phê phán, chỉ trích (đánh về mặt tinh thần - đả cho nó một mẻ)
3.- Hướng chuyển nghĩa, biến đổi nghĩa
Có một số từ tiếng Hán khi trở thành yếu tố, hoặc từ Hán - Việt trong tiếng Việt, nghĩa của chúng chuyển nghĩa rất xa hoặc thay đổi hẳn nghĩa so
với nghĩa trong tiếng Hán Thí dụ: bồi hồi (Hán) vốn có nghĩa là đi đi lại lại, vào tiếng Việt là có nghĩa là xao xuyến, xốn xang, không yên trong lòng (lòng
bồi hồi); dã tâm (Hán) vốn có nghĩa là khát vọng, tham vọng, vào tiếng Việt
lại có nghĩa là lòng dạ, ý muốn độc ác nhằm mưu hại người khác (dã tâm của
kẻ thù); đáo để (Hán) vốn có nghĩa là cuối cùng, đến cùng, đến tận cùng; vào tiếng Việt có nghĩa là: 1) đanh đá, quá quắt (gặp phải người đanh đá); 2) mức
độ cao hơn hẳn bình thường (đẹp đáo để, vui đáo để); giang hồ (Hán) vốn có
nghĩa là sông hồ, sau chuyển nghĩa chỉ cuộc sống phóng túng, tự do nay đây mai đó, vào tiếng Việt lại có nghĩa với hàm ý xấu, chỉ gái mại dâm, (gái giang
hồ); khôi ngô (Hán) vốn có nghĩa là người to lớn, cao lớn, vào tiếng Việt có
nghĩa là mặt mũi trông sáng sủa, thông minh, đẹp (cậu bé khôi ngô); khốn nạn (Hán) vốn có nghĩa là khó khăn, vào tiếng Việt có nghĩa là nhân cách hèn
Trang 40mạt, tồi tệ (lũ khốn nạn); khúc chiết (Hán) vốn có nghĩa là cong queo, gãy khúc; sự việc tình tiết ẩn dấu không lộ ra, vào tiếng Việt có nghĩa là rành mạch, gãy gọn (trình bày khúc chiết); lịch sự (Hán) vốn có nghĩa là từng trải, thạo việc, vào tiếng Việt có nghĩa lại có nghĩa là giao thiệp phù hợp văn hoá
(nói năng, đón tiếp lịch sự); thủ đoạn (Hán) vốn có nghĩa là cách thức,
phương pháp làm việc, vào tiếng Việt có nghĩa là mánh khoé khôn ngoan, xảo trá, đầy toan tính, lợi mình hại người; tử tế (Hán) vốn có nghĩa là ti mỉ, kỹ lưỡng, chú ý, vào tiếng Việt có nghĩa: 1) nghiêm chỉnh, coi là đầy đủ, không
sơ sài, lôi thôi (ăn mặc, cơm nước tử tế); 2) có lòng tốt trong đối xử với nhau
(sống tử tế với mọi người)
1.2.2 Lớp thành ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, tuyệt đại đa số thành ngữ gốc ngoại được mượn từ tiếng Hán Đó chính là hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc văn hóa diễn ra rất sớm, rất lâu dài giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa, đưa đến một cuộc tiếp xúc mạnh mẽ giữa hai ngôn ngữ Hơn nữa vay mượn là hiện tượng tất yếu trong tiếp xúc ngôn ngữ, vay mượn xảy ra do nhu cầu khách quan của giao tiếp Một khi ngôn ngữ cần phải bổ sung những thiếu hụt của mình về từ, ngữ, hoặc cấu trúc ngữ pháp Nhưng lí do cơ bản chính là tính chất gần gũi về loại hình giữa tiếng Hán và tiếng Việt (đều thuộc cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập) Đây là thuận lợi đáng kể cho việc tiếp nhận các đơn
vị vay mượn từ tiếng Hán
Thành ngữ Hán -Việt trong tiếng Việt được chia làm 2 loại nhỏ: loại có gốc Hán và loại thành ngữ do người Việt tạo lập bằng chữ Hán Loại có gốc Hán là những thành ngữ du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, thông qua con đường trích từ Kinh sử là chủ yếu Là những đơn vị thành ngữ được nhập vào tiếng Việt thông qua cách đọc Hán - Việt Người truyền đạt những thành ngữ này là tầng lớp trí thức phong kiến hay "nói chữ" rồi lan dần ảnh hưởng sang một bộ phận trong nhân dân Còn loại thành ngữ do người Việt tạo lập bằng chữ Hán thì xuất hiện thưa thớt hơn trong vốn từ vựng tiếng Việt, có thể do