1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐÔ THỊ HỌC ***** ĐOÀN KHÁNH LINH ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TH[.]
Trang 1ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
(Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Chánh)
CHUYÊN NGÀNH ĐÔ THỊ HỌC
MÃ NGÀNH: 8580112
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS PHAN THỊ HỒNG XUÂN
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022
Trang 2ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
(Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Chánh)
CHUYÊN NGÀNH ĐÔ THỊ HỌC
MÃ NGÀNH: 8580112
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS PHAN THỊ HỒNG XUÂN
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022
Trang 3i
Mục lục
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
TÓM TẮT vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
2.1 Các nghiên cứu về quản lý đô thị 3
2.2 Nội dung về chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức 6
2.3 Những vấn đề về quản lý đô thị huyện Bình Chánh 8
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 10
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10
4.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 10
4.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 10
4.2 Khung phân tích 11
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
5.1 Đối tượng nghiên cứu 11
5.2 Khách thể nghiên cứu 11
5.3 Phạm vi nghiên cứu 11
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 11
6.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu 11
6.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 12
6.1.3 Phương pháp phân tích so sánh 12
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 12
7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 13
7.1 Ý nghĩa khoa học 13
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 13
8 KẾT CẤU LUẬN VĂN 14
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 15
1.1.1 Khái niệm cán bộ 15
1.1.2 Khái niệm công chức 16
Trang 4ii
1.1.3 Nguồn nhân lực, quản lý, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 18
1.1.4 Khái niệm quản lý đô thị 20
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ 28 1.2.1 Quan điểm chất lượng cán bộ, công chức quản lý đô thị 28
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức quản lý đô thị 29
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá cán bộ, công chức quản lý đô thị 33
1.3 CÁC LÝ THUYẾT 37
1.3.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 37
1.3.2 Lý thuyết hệ thống 39
1.3.3 Quan niệm phát triển nguồn nhân lực 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH 44
2.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN BÌNH CHÁNH 44
2.1.1 Vị trí địa lý 44
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 45
2.1.3 Cơ cấu hành chính 45
2.1.4 Quá trình tăng dân số 45
2.1.5 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật 46
2.2 HIỆN TRẠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH 47
2.2.1 Về số lượng và cơ cấu 47
2.2.2 Thực trạng về chuyên môn 53
2.2.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ 56
2.2.4 Khả năng đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu trong thực hiện công việc 62
2.2.5 Ý thức và thái độ phục vụ Nhân dân 63
2.2.6 Đánh giá đạo đức cán bộ quản lý đô thị 66
2.4 ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ HUYỆN BÌNH CHÁNH 67
2.4.1 Đánh giá năng lực quản lý 67
2.4.2 Những hạn chế, yếu kém 73
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ Ở HUYỆN BÌNH CHÁNH TRONG THỜI GIAN TỚI 77
3.1 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ Ở CÁC THÀNH PHỐ ASEAN 77
3.1.1 Singapore 77
3.1.2 Philippines 81
3.1.3 Malaysia 83
3.1.3 Thái lan 85 3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ
Trang 5iii
THỊ 85
3.2.1 Hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách về quản lý đô thị 89
3.2.2 Nâng cao năng lực thực thi quản lý đô thị 93
3.2.3 Tăng cường sự tham gia của cộng đồng chính sách 106
3.2.5 Giải pháp số hóa cán bộ quản lý đô thị 107
3.2.6 Tạo động lực làm việc 110
3.3 GIẢI PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ 114
3.3.1 Xây dựng khung năng lực số của cán bộ, công chức thực hiện mục tiêu chuyển đổi số 114
3.3.2 Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức dựa trên tiêu chuẩn năng lực chức danh 123 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 127
KẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
1 PHỤ LỤC 1 ĐỊNH LƯỢNG 134
2 PHỤ LỤC 2: ĐỊNH TÍNH 139
Trang 6iv
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp (Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Chánh)” là do tác giả thực hiện Tác giả cam kết không vi phạm đạo đức khoa học và các điều quy định của Nhà nước Việt Nam cũng như quốc tế về luật sở hữu trí tuệ, bản quyền
Tác giả luận văn
Đoàn Khánh Linh
Trang 7sĩ Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Cô bằng tất cả tấm lòng và sự biết ơn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đã tham gia giảng dạy tôi trong suốt chương trình đào tạo Cao học Đô thị học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành trong suốt thời gian học tập để tôi có được nền tảng kiến thức hỗ trợ trong quá trình làm luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin cảm ơn đến các đồng nghiệp, lãnh đạo chính quyền địa phương đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu, thông tin của luận văn
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè vì đã luôn hỗ trợ, khuyến khích tôi trong suốt những năm học tập và trong quá trình thực hiện luận văn này Thành tựu này sẽ không thể có được nếu không có họ
Trong bài luận, chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong quý Thầy Cô và bạn đọc góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống
Trân trọng cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 7 năm 2022
Tác giả luận văn
Đoàn Khánh Linh
Trang 8vi
TÓM TẮT
Thực tế cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh trong thời gian qua bên cạnh những mặt được vẫn còn một số cán bộ, công chức chưa làm tốt nhiệm vụ về quy hoạch, quản lý đô thị trên địa bàn huyện; tình trạng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và các kỹ năng cần thiết còn thiếu hoặc cán bộ có bằng cấp, chứng chỉ đúng chuyên ngành quản lý đô thị nhưng kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa đạt hiệu quả như mong đợi; hay cũng có một trường hợp một số cán bộ, đảng viên, trong
đó có người đứng đầu cấp ủy, chính quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được phân công để xảy ra vi phạm về quản lý đô thị nhưng không xử lý kịp thời, dứt điểm dẫn đến sai phạm phải bị thi hành kỷ luật gây bức xúc cho người dân, ảnh hưởng đến uy tín cũng như sự phát triển của huyện Bình Chánh nói riêng, sự phát triển nói chung của TP.HCM
Chương 1 tác giả đã thao tác hóa các nội dung của luận văn như các khái niệm về cán bộ, công chức, đô thị, quản lý nhà nước về đô thị, đánh giá và phân tích các tiêu chí đánh giá, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nước về đô thị Đồng thời, tác giả đưa ra các lý thuyết, cơ sở lý luận được sử dụng trong luận văn để làm rõ vấn đề đánh giá quản lý nhà nước đối với đô thị ở Bình Chánh Chương 2 tác giả đã giới tổng quan về huyện Bình Chánh và phân tích thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tư nguồn dữ liệu của các cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện Bình Chánh, khảo sát 200 bảng hỏi định lượng với người dân; cán bộ, công chức; lãnh đạo làm công tác quản lý đô thị Chương 3 tác giả nêu lên một số kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đô thị ở các thành phố Asean Từ đó, tác giả trình bày xây dựng khung năng lực số của cán bộ, công chức thực hiện mục tiêu chuyển đổi số, là nền tảng quan trọng để đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đánh giá công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh
Luận văn qua các thao tác khoa học đã góp phần phân tích, đánh giá thực trạng cán
bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh; bên cạnh đó dựa trên nền tảng của cơ
sở lý luận, các thang đo đã được kiểm chứng, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh nói riêng, TP.HCM nói chung trong thời gian tới, cũng là góp phần giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn trong quá trình thực hiện quản lý đô thị, đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay
Trang 9vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3 Trình độ ngoại ngữ và tin học của cán bộ quản lý đô thị 55
10 Đánh giá như thế nào về công tác đào tạo, bồi dưỡng 94
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh 2013 - 2021 47
3 Tuổi cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh qua các năm 2013 –
5 Thời gian công tác của cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh 51
6 Giới tính cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh năm 2012 52
7 Giới tính của cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh qua các năm
2013 – 2021
53
8 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý đô thị qua các năm 54
12 Ý kiến đánh giá hài lòng với năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ 70
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
2 Sơ đồ 2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá cán bộ, công chức quản lý đô thị 34
3 Hình 1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Bình Chánh 44
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quản lý nhà nước đối với đô thị là vấn đề quan trọng, trong đó có vấn đề đánh giá cán bộ viên chức quản lý đô thị Trong thời gian qua, lãnh đạo các cấp đã cố gắng tìm ra các giải pháp để phát triển các đô thị một cách bền vững nhưng kết quả đem lại còn rất hạn chế, nhiều đô thị đang phát triển thiếu tính bền vững
Tại sao vậy? Thực tiễn chỉ ra rằng nhiều vấn đề lý luận về phát triển đô thị và quản
lý phát triển đô thị ở Việt Nam vẫn chưa được thống nhất làm rõ Chẳng hạn, xác định vai trò và quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền như thế nào trong việc phát triển đô thị, nội dung quản lý nhà nước đối với đô thị ra sao; công tác đánh giá hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển đô thị được thực hiện tới đâu là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu nghiêm túc và chuyên sâu
Bên cạnh đó, đội ngũ quản lý đô thị còn nhiều hạn chế về biên chế, đặc biệt bộ phận chuyên môn về quản lý đô thị địa phương với số lượng biên chế ít nhưng phải thực thi nhiều nhiệm vụ của quản lý đô thị như: Giao thông đô thị, quy hoạch đô thị, quản lý trật tự đô thị, quản lý chuyên ngành về đầu tư theo phân cấp các hạng mục hạ tầng kỹ thuật đô thị, môi trường đô thị…
Huyện Bình Chánh là một trong 05 huyện ngoại thành, là cửa ngõ phía Tây Nam nối liền TP.HCM với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của huyện Bình Chánh diễn ra khá thuận lợi; mức sống, chất lượng sống của dân
cư từng bước được cải thiện; hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, dịch vụ công cộng đã được các thành phần kinh tế tập trung đầu tư hình thành hệ thống đô thị huyện Bình Chánh theo hướng văn minh hiện đại
Tuy nhiên, tại huyện Bình Chánh có tốc độ ĐTH quá nhanh nên công tác quản lý quy hoạch xây dựng ở huyện vẫn còn nhiều tồn tại và yếu kém Các hình thức tuyển dụng chưa xoá bỏ hoàn toàn cơ chế “quen biết”, “xin cho” và “chạy điểm”; chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, nên chưa thu hút người có năng lực thật sự tham gia ứng tuyển Tình trạng công chức phụ trách lĩnh vực quản lý đô thị chưa tập trung cho việc thực hiện nhiệm vụ chung mà lấy giờ công làm việc riêng còn khá phổ biến
Đô thị là đầu tàu trong phát triển kinh tế Quản lý nhà nước đối với đô thị đóng vai trò quan trọng đối với công tác quy hoạch và phát triển đô thị Trong những năm gần đây, đô thị Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã và đang phải đương đầu với nhiều vấn nạn về ô nhiễm môi trường, quá tải hạ tầng, thiếu nhà ở đạt chuẩn… gây nhiều hệ lụy cho cộng đồng và người dân sinh sống trong khu vực đô thị, nhất là những
Trang 12khu vực có tốc độ đô thị hóa cao như TP.HCM Công tác quản lý đô thị mà trong đó vai trò của đội ngũ cán bộ công chức chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý đô thị trên địa bàn, có vai trò vô cùng quan trọng, do là đội ngũ trực tiếp triển khai, thực hiện và xử lý các vấn đề của đô thị trên địa bàn
Đồng thời, chính quyền TP.HCM đang triển khai các đề án về đô thị thông minh Trong khi đó, các đô thị đang đối mặt với nhiều thách thức như: hạ tầng thành phố chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, số lượng phương tiện giao thông tăng quá nhanh, đường xá trở nên quá tải, hệ thống giao thông công cộng chưa phát huy hiệu quả như mong đợi… Các nguồn lực quản lý để phát triển hạ tầng, kinh tế - xã hội, công nghệ cao còn thiếu và chưa đáp ứng được với sự phát triển của đô thị
Qua thực tiễn công tác tại địa phương có điều kiện thuận lợi tiếp cận với nhiều nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp có cơ sở để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cán bộ công chức quản lý đô thị tại Bình Chánh theo
đó, tác giả mạnh dạn chọn chủ đề “Đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp (Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Chánh)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ ngành Đô thị học, Trường ĐHKHXH
và NV, ĐHQG – HCM
Chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn được dựa trên nền tảng các
lý thuyết và phân tích khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị hiện nay của huyện Bình Chánh, cũng là góp phần giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn trong quá trình thực hiện quản lý đô thị, đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay
2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức đô thị ở tại TP.HCM nói riêng, công chức quản lý hành chính Nhà nước nói chung không còn là vấn đề mới Ở nhiều nước trên thế giới đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý đô thị trong bộ máy quản lý nhà nước là chủ đề của nhiều môn khoa học như môn Quản lý hành chính công, chính sách công,…nhưng để đánh giá hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức đô thị luôn
là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp Vấn đề này đã được nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và khảo sát Để thực hiện luận văn này, tác giả đã tổng quan các tài liệu; công trình nghiên cứu về quản lý đô thị, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức; những vấn đề lịch sử, kinh tế, xã hội huyện Bình Chánh Bằng thao tác phân
Trang 13loại tài liệu liên quan đến nội dung luận văn, tác giả tạm chia các công trình nghiên cứu liên quan thành các tiểu mục sau:
2.1 Các nghiên cứu về quản lý đô thị
Vấn đề tổ chức và quản lý đô thị ở các nước đang phát triển thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, với các công trình tiêu biểu như Sam Romaya, Carole
Rakodi Sonst (1998): Building sustainable urban settlements: approaches and case
studies in the developing world (Xây dựng các khu định cư đô thị bền vững: tiếp cận và nghiên cứu trường hợp ở các nước đang phát triển); Mike Jenks, Rod Burgess (2000): Compact Cities: Sustainable Urban Forms for Developing Countries (Những thành phố đông dân: Hình thái đô thị bền vững cho các quốc gia đang phát triển); Roger Zetter
(2000): Planning in cities: sustainability and growth in the developing world (Quy
hoạch cho các thành phố: sự bền vững và tăng trưởng ở thế giới đang phát triển)…
Việt Nam cũng là đối tượng của các nghiên cứu nước ngoài về những vấn đề liên quan đến đô thị Sau hơn hai mươi năm thực hiện chính sách Đổi mới, Việt Nam với sự phát triển về kinh tế đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu đô thị Trong các công
trình về Việt Nam, đáng chú ý có công trình của Alexander Woodside (1971): The
development of social organizations on Vietnamese Cities in the Late Colonial Period (Sự phát triển các tổ chức xã hội ở các thành phố Việt Nam thời kỳ sau thuộc địa), tiếp
đó là Pedelahore Christian (1983): Les éléments constitutifs de la ville de Hanoi, villes
Vietnamiennes (Những yếu tố cấu thành của Hà Nội và những thành phố ở Việt Nam)
và Magin France (1994): Le mode colonial et son expression dans la ville Hanoi
(Vietnam) (Phương thức thuộc địa và sự hiện diện của nó ở thành phố Hà Nội - Việt Nam)… Hoặc sách Quản lí đô thị (Nguyễn Ngọc Châu, 2001), cung cấp những kiến
thức mới về quản lí các dịch vụ công cộng đô thị; (Tôn Nữ Quỳnh Trân, Nguyễn Thế
Nghĩa 2002): Phát triển đô thị bền vững, đưa ra những phương hướng giải quyết các
vấn đề đô thị theo nguyên tắc bền vững; Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Hữu Đoàn
(2003): Giáo trình quản lí đô thị là một tập hợp các bài học về đô thị và quản lí đô thị,
bộ máy quản lí nhà nước về đô thị, Quản lí quy hoạch và kiểm soát phát triển đô thị, Quản lí kinh tế đô thị, Đất đai và nhà ở đô thị, Quản lí các công trình cơ sở kết cấu hạ
tầng đô thị, Quản lí môi trường đô thị, Quản lí tài chính đô thị; Quản lí đô thị thời kỳ
chuyển đổi (Võ Kim Cương, 2004): xác định các lĩnh vực của quản lí đô thị; Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lí đô thị (Nguyễn Đăng Sơn, 2006): đề xuất
phương pháp tiếp cận mới như Quy hoạch chiến lược hợp nhất, Kế hoạch đầu tư đa ngành, Quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng TP.HCM là đối tượng nghiên cứu của
Trang 14nhiều nhà khoa học một số sách khảo đáng chú ý là Dự án quốc gia VIE/95/051 (1998):
Nâng cao năng lực quản lí và quy hoạch đô thị tại TP.HCM; Nguyễn Thiện Nhân
(2003): TP.HCM thực hiện phân cấp quản lý; Diệp Văn Sơn (1997): Nghiên cứu mô
hình bộ máy chính quyền TP.HCM ; Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002-2004): Vấn đề phát triển đô thị bền vững tại TP.HCM - đối chiếu kinh nghiệm từ một số thành phố lớn ở Đông Nam Á; Tài liệu hội thảo khoa học (2003): Cơ sở khoa học và thực tiễn của quản
lí đô thị ở TP.HCM hiện nay;…
Sách Mega City Growth and the Future của Sabbir Cheema (1996), phần 16
“Priority Urban Management Issues in Developing Countries: The Research Agenda for 1990s” của tác giả Sabbir Cheema, đề cập đến xu hướng ĐTH tại các nước đang phát triển, những hệ quả tiêu cực của quá trình ĐTH, những thách thức trong quản lí đô thị
và đưa ra 6 vấn đề trọng yếu của việc quản lí đô thị Đó là: Tăng cường cấu trúc và quản
lí tài chính; Cung cấp nhà ở, dịch vụ và cơ sở hạ tầng; Tăng cường hệ thống thông tin
đô thị; Tăng cường vai trò của khu vực dân sự; Tăng cường năng lực thiết chế đô thị; Giữ gìn môi trường sinh thái đô thị Đặc biệt quan điểm của Sabbir Cheema về quản lí
đô thị rất thực tế và liên quan đến các nước đang phát triển là: “ĐTH nhanh trong các nước đang phát triển không phải là một cơn khủng hoảng hay một bi kịch Đó là một cơ hội để nhận diện và thực hiện những chính sách, chương trình đổi mới cho quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội” (Sabbir Cheema, 1996)
Sách Đô thị học nhập môn của tác giả Trương Quang Thao (2001), là tập sách phổ
biến khoa học nhưng nó vẫn mang tính khái quát cho cả một lĩnh vực rộng lớn là đô thị học và bổ ích cho những người tìm hiểu về đô thị Cũng trong quyển sách này Trương Quang Thao (2001) trong phần Thay lời kết luận: Ai là tác giả của đô thị đã đưa ra tất
cả chúng ta là tác giả của đô thị, tác giả của bộ mặt đất nước Trong đó, có người ấn định ra phương hướng phát triển đô thị, người nhận thấy được những cái lợi và không lợi của việc đề ra một chiều thế đi lên của nó trên cơ sở nhận định đúng đắn những đặc điểm về kinh tế - địa lý, về địa hình - cảnh trí, về truyền thống - lịch sử của nó; có người chịu trách nhiệm chính về những ý đồ quy hoạch, người nhạy cảm với những đòi hỏi của nó, người thấu hiểu những đặc thù của riêng nó trong cái chung của cả đất nước để làm cho nó trở thành một bộ phận của Việt Nam Qua những nhận định này, tác giả đã nêu rõ người giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý đô thị đó là “người chịu trách nhiệm chính về những ý đồ quy hoạch” hay nói cách khác đó là những người làm công tác quản lý đô thị
Trang 15Sách Metropolitan Governance in Germany của Dietrich Furst (2002), viết về
những vấn đề quản lí đô thị cơ bản tại Đức, đồng thời đưa ra nguyên tắc quản lí đô thị chung Lý thuyết quan trọng của công trình này nhấn mạnh đến mối liên kết giữa chính quyền và mạng lưới (government and network) Chính quyền là một hệ thống đẳng cấp liên kết cùng nhau gồm bốn mô hình: Giải pháp chính quyền đô thị thượng tầng; Giải pháp chính quyền đô thị liên kết, Giải pháp nặng về cấp quận, Phối hợp giữa những chính quyền địa phương Về mạng lưới (network) thì có: Các nhân vật quyền lực, Vấn
đề quy hoạch, Mối quan hệ giữa chính quyền và quản trị, Hợp lý tối ưu trong tổ chức
Nguyễn Minh Hòa (2004) đã Nghiên cứu tiến trình ĐTH của các nước châu Á
(chủ yếu là Đông Nam Á) với tiêu điểm là mô hình quản lý đô thị trong mối liên hệ với phát triển không gian đô thị Tác giả cũng đưa ra định nghĩa và quản lý đô thị như sau:
“Quản lý Nhà nước về đô thị là tổ chức và điều hành đối với các quá trình phát triển đô thị, thông qua các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn, nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho trong xây dựng đô thị, đảm bảo trật tự, an ninh, an toàn và vệ sinh đô thị phục vụ cho cuộc sống cộng đồng dân cư đô thị theo mục tiêu đề ra”(Nguyễn Minh Hòa, 2004, tr 18) Công trình này cũng nhấn mạnh đến tính tổng hợp của việc quản lý đô thị: “Quản lý đô thị là những hoạt động quản lý mang tính tổng hợp trên cơ sở quản lý các chuyên ngành kết hợp với quản lý lãnh thổ, bao gồm hệ thống các quy định, chính sách, tổ chức, cơ chế, biện pháp, phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện và kiểm soát quá trình tăng trưởng phát triển đô thị theo các mục tiêu định hướng đặt ra với hiệu quả cao nhất” (Nguyễn Minh Hòa, 2004, tr18-19)
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM khóa VIII (nhiệm kỳ 2006 - 2010) đã đề ra nhiệm vụ “kiện toàn và sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, chuẩn hóa… phù hợp với xã hội đô thị”, “làm thí điểm mô hình chính quyền đô thị” và
để thực hiện mục tiêu trên Viện nghiên cứu Xã hội TP.HCM đã tuyển chọn, sửa chữa, biên tập các bài tham luận gửi đến hội thảo khoa học với nội dung: “Xây dựng chính quyền đô thị TP.HCM - một yêu cầu cấp thiết của cuộc sống” thành cuốn sách Phan
Xuân Biên (2007): Một số vấn đề xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn TP.HCM
Các bài tham luận đã nêu lên những vấn đề lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, bài học rút ra trong công tác quản lý đô thị của TP.HCM; trong đó một phần đề cấp đến vấn đề cán bộ
và đào tạo cán bộ
Võ Kim Cương (2010), Chính sách phát triển đô thị, Nxb Xây dựng Cuốn sách đã
cho biết một trong những chính sách phát triển đô thị quan trọng là chính sách quản lý
Trang 16tài nguyên đất xây dựng và chính sách thu hút vốn đầu tư xây dựng đối với một đô thị
cụ thể Ngoài ra chính sách dân số và sức chứa của một đô thị luôn luôn có ý nghĩa quan
trọng Và cũng tác giả Võ Kim Cương (Chủ biên - 2013) Chính sách đô thị, tầm nhìn
bao quát hệ thống của nhà quản lý đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội Tác giả cuốn sách
đã đưa ra các chính sách phục vụ công tác quản lý đô thị, cung cấp những thông tin cơ bản về đô thị, các quan điểm, mục tiêu cũng như các giải pháp cơ bản của Nhà nước để quản lý đô thị Bên cạnh đó tác giả còn phân tích, nghiên cứu các quy luật đô thị, nắm được cơ sở khoa học của các chính sách đô thị để phục vụ công tác quản lý đô thị (Võ Kim Cương, 2013)
Phạm Đi (2016), Quản lý đô thị một góc nhìn, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Tác giả đã đưa ra những nhận định và phân tích về quản lý đô thị, trong đó tác giả đã nêu lên các vấn đề sự phát triển đô thị, cơ thể đô thị vốn đã phức tạp, càng phức tạp hơn khi chúng ta tiến hành các bước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và ĐTH Trong đó, bài toán đô thị được đặt ra như một nhiệm vụ trung tâm và cũng là thách thức đối với tiến trình ĐTH Bài viết đã phát họa được bức tranh sáng tối về quá trình ĐTH ở các đô thị lớn của Việt Nam, thể hiện một góc nhìn về quản lý đô thị
2.2 Nội dung về chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức
Hiện nay công tác quản lý nhà nước muốn thực hiện tốt phải có những giải pháp thiết thực, hiệu quả; bên cạnh việc cải cách thể chế thì đồng thời phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, lành mạnh, có trình trình độ, chất lượng cao, nhất là ở các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh trục lợi, tiêu cực, tha hóa, suy thoái như công tác quản
lý đô thị Phan Xuân Biên, Hồ Bá Thâm, Phan Minh Tân (2004): Nâng cao hiệu lực
hiệu quả quản lý đô thị TP.HCM thì công tác quản lý đô thị và môi trường là công tác
tổng hợp, bao gồm 6 đối tượng quản lý chính là: quản lý đất đai, quản lý môi trường, quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, quản lý quy hoạch và kiến trúc cảnh quan và quản lý kinh tế Tuy nhiên theo tác giả là chưa có sự phối hợp và điều phối từ một nhạc trưởng trong công tác quản lý đô thị
Trần Anh Tuấn (2012), Xây dựng môi trường làm việc tích cực nhằm phát huy
năng lực cán bộ, công chức huyện tại TP.HCM, luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính
công tại Học viện Hành chính Luận văn đi sâu nghiên cứu yếu tố môi trường làm việc tác động đến năng lực và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức phường Và đề ra một số nhóm giải pháp nhằm phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức
Vũ Kiều Oanh (2015), Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ
tại Ban Dân vận Trung ương, luận văn thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Hà Nội
Trang 17Tác giả đã phân tích thực trạng về năng lực, thực trạng về việc nâng cao năng lực của công chức quản lý tại Thanh tra Chính phủ, đồng thời tác giả cũng đưa ra những đánh giá chung về những mặt mạnh, điểm yếu và nguyên nhân tồn tại Trên cơ sở những thực trạng và vấn đề còn tồn tại, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức quản lý của Thanh tra Chính Phủ như: giải pháp về nâng cao trình độ chuyên môn, thực hiện luân chuyển công chức quản lý, hoàn thiện chế độ đãi ngộ, hoàn thiện nội dung đánh giá công việc, nâng cao đạo đức công chức
Dương Thanh Hậu (2015) với luận văn Năng lực cán bộ, công chức phường, quận
Bình Tân, TP.HCM, luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công tại Học viện Hành chính
Quốc gia, TP.HCM Luận văn nghiên cứu những mặt hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức huyện thuộc quận Bình Tân, TP.HCM và từ đó kiến nghị một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của đơn vị
Hoàng Mai Quỳnh Hoa (2016) với luận văn Nâng cao năng lực cán bộ chuyên
trách phường trên địa bàn quận Bình Thạnh, TP.HCM, luận văn Thạc sĩ Quản lý công
tại Học viện Hành chính TP.HCM Luận văn đi chuyên sâu nghiên cứu năng lực, những mặt mạnh và mặt hạn chế của nhóm cán bộ chuyên trách trường thuộc địa bàn quận Bình Thạnh làm cơ sở đề ra giải pháp nâng cao năng lực của cán bộ chuyên trách trên địa bàn quận Bình Thạnh
Hồ Bá Thâm (2017), Phát triển nguồn nhân lực trong quan hệ với tái cơ cấu kinh
tế hội nhập quốc tế và phát triển bền vững hiện nay (với thực tiễn TP.HCM) cũng đã có
đề cập đến vấn đề này và đưa ra một trong những giải pháp góp phần cho sự phát triển bền vững của TP.HCM đó là nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ đảng viên và công chức
Lê Thị Trúc Anh (2017): Văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính (Trường
hợp TP.HCM từ năm 1986 đến nay) có đề cập đến một số giải pháp hữu hiệu cho việc
nâng cao mối quan hệ giao tiếp của công chức và người dân nơi công sở, đó cũng là một phần để xây dựng những giá trị cho cán bộ, công chức nói chung và công chức làm công tác quản lý đô thị nói riêng
Luận văn Nâng cao chất lượng công chức quản lý đô thị làm việc tại phường
thuộc quận Bình Thạnh, TP.HCM của học viên Nguyễn Thị Cẩm Trang Tác giả phân
tích thực trạng chất lượng công chức địa chính, xây dựng, đô thị và môi trường của phường trên địa bàn quận Bình Thạnh bằng cách hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng công chức và chất lượng công chức phụ trách lĩnh vực địa chính, xây dựng, đô thị
và môi trường phường và tìm hiểu nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế về chất
Trang 18lượng công chức địa chính, xây dựng, đô thị và môi trường của phường trên địa bàn quận Bình Thạnh Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng của nhóm công chức này nhằm phục vụ có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực địa chính, xây dựng và môi trường tại quận Bình Thạnh
2.3 Những vấn đề về quản lý đô thị huyện Bình Chánh
Đã có rất nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về huyện Bình Chánh như Võ Thị
Hiệp và Tôn Nữ Quỳnh Trân (1996): Tiềm năng phát triển các xã - thị trấn huyện Bình
Chánh, TP.HCM là công trình nghiên cứu chi tiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
và một số định hướng phát triển của huyện đến năm 2000 Nguyễn Minh Hòa (2007):
Văn hóa ngoại thành TP.HCM (Từ góc nhìn thiết chế) đã nghiên cứu về các vùng ngoại
thành TP.HCM, quyển sách đã đề cập đến các giá trị của văn hóa ngoại thành và sự thay đổi của nó từ góc nhìn của việc nghiên cứu các cán bộ, công chức Văn hóa - Xã hội ở
các huyện ngoại thành Sách Nông dân ngoại thành TP.HCM trong tiến trình ĐTH (Lê
Văn Năm, 2007) đã đề cập đến những xáo trộn trong cuộc sống của người nông dân ngoại thành ĐTH diễn ra, lan tỏa từ khu vực trung tâm ra ngoại thành; tiến trình này làm người nông dân dần rời xa đồng ruộng và trở thành thị dân Quyển sách này đề cập đến người nông dân các vùng ngoại thành của TP.HCM trong đó có huyện Bình Chánh và tác giả đã nhận định tiến trình ĐTH mang lại cho ngoại thành bộ mặt văn minh, hiện đại hơn và cũng mang đến nhiều thay đổi trong cuộc sống của người nông dân ở đây
Trong phần giải pháp Báo cáo nghiệm thu Nghiên cứu giải pháp kiểm soát ĐTH tự
phát ở huyện Bình Chánh một huyện ngoại thành TP.HCM (Nguyễn Tiến Thành, 2007)
có nêu lên một giải pháp đó là yếu tố con người quyết định sự thành bại của công tác quản lý đô thị Cần tăng cường về nhiều mặt đội ngũ quy hoạch đến quản lý đô thị, đặc biệt nhân sự ở cấp cơ sở - phường, xã, thị trấn và quận, huyện
Luận văn Thạc sĩ Quá trình ĐTH Bình Chánh, TP.HCM (Nguyễn Tấn Tự, 2008)
nghiên cứu sự chuyển biến trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở huyện Bình Chánh trong quá trình ĐTH từ sau năm 1986 đến năm 2003, nghiên cứu góp phần rút ra một số đặc điểm trong quá trình ĐTH ở Bình Chánh, làm rõ những tác động của quá trình này đến sự phát triển của huyện và đề xuất một số giải pháp để làm nền tảng định hướng cho sự phát triển trong tương lai Luận văn này nghiên cứu về chiều dài lịch sử phát triển của huyện Bình Chánh, là một chiều hướng giúp tác giả làm rõ hơn trong việc đánh giá quá khứ so với hiện tại và đề ra giải pháp trong tương lai
Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị trên địa
bàn huyện Bình Chánh, TP.HCM: Thực trạng và giải pháp của Nguyễn Thành Công
Trang 19(2020)nghiên cứu tổng thể về tình hình trật tự xây dựng tại huyện Bình Chánh, trên cơ
sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về trật tự xây dựng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã tập trung giải quyết những vấn
đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với quản lý nhà nước về xây dựng nói chung và quản
lý nhà nước về xây dựng đô thị nói riêng Các công trình nghiên cứu về quản lý đô thị giúp tác giả bao quát các nội hàm quản lý nhà nước nhà nước nói chung, quản lý đô thị nói riêng, từ đó có thêm cơ sở lý luận vận dụng trong nghiên cứu nội dung luận văn Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, công chức là những tài liệu tham khảo quan trọng; tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu
về công tác cán bộ, phân tích những tồn tại, bất cập của đội ngũ làm công tác này tại một địa bàn có tốc độ ĐTH nhanh và phức tạp như huyện Bình Chánh trong 5 năm trở lại đây
Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các tác giả trên, luận văn này tập trung nghiên cứu vào đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh hiện nay, từ đó nêu ra những hạn chế, tồn tại và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đô thị hiện nay của huyện Bình Chánh nói riêng, cũng như của TP.HCM nói chung, góp phần giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn trong quá trình thực hiện quản lý đô thị, đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá năng lực cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh; trên cơ
sở lý luận, các thang đo KPI, góp phần đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị hiện nay của huyện Bình Chánh, hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 -
2025
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận về công tác đánh giá cán bộ, đội ngũ cán bộ công chức
- Khảo sát bảng hỏi, phân tích khách quan đánh giá thực trạng cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh hiện nay
- Chỉ ra những tồn tại, bất cập của cán bộ, công chức trong công tác quản lý đô thị
- Tham khảo các giải pháp đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 20- Đề xuất kiến nghị, giải pháp cho những tồn tại, bất cập
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1.1 Câu hỏi nghiên cứu
1 Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đô thị hiện nay tại huyện Bình Chánh như thế nào?
2 Vấn đề đạo đức của cán bộ, công chức có đáp ứng yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ không?
3 Làm sao để nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh trong thời gian tới?
4.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giải thuyết 1: Đội ngũ cán bộ, công chức huyện Bình Chánh có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý đô thị; tuy nhiên trong bối cảnh xây dựng thành phố thông minh, định hướng phát triển thành thành phố của huyện Bình Chánh thì một phần đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế về trình độ chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại
Giải thuyết 2: Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức huyện Bình Chánh được đánh giá có thái độ, phẩm chất đạo đức tốt; tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số cán
bộ, công chức quan điểm chính trị chưa vững vàng, dễ dẫn đến tiêu cực
Giải thuyết 3: Để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh cần có sự kết hợp của nhiều nhóm giải pháp và xây dựng Bảng tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ cho nhóm đối tượng này nói riêng để cải tiến công tác đánh giá cán bộ hàng năm
Trang 214.2 Khung phân tích
Sơ đồ 1 Khung phân tích Nguồn: Tác giải
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực của cán bộ làm công tác quản lý đô thị bao gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hiện nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức khi thực hiện công vụ
- Phạm vi không gian: Huyện Bình Chánh, TP.HCM
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đội ngũ cán bộ đến đang công tác tại cấp huyện
và xã của huyện Bình Chánh từ năm 2018 đến nay
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
6.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu
Trang 22Tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tham khảo gồm sách, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn, các bài nghiên cứu khoa học về đô thị, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đô thị tại Việt Nam, TP.HCM và thế giới từ nguồn tài liệu in và nguồn học liệu mở trong các thư viện sau: Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Thư viện Trung tâm ĐHQG TP.HCM, Thư viện Đại học Kiến trúc TP.HCM, Thư viện Khoa Đô thị học và các thư viện trực tuyến nước ngoài có liên kết với nguồn này Bên cạnh đó, đề tài sử dụng có chọn lọc một số thông tin trên Internet về việc quản lý đô thị, đánh giá cán bộ, công chức và hình ảnh minh họa; tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về đô thị, quản lý đô thị, luật công chức tại Việt Nam Trên cơ
sở các số liệu và dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu, tiến hành thống kê,
so sánh để đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh
6.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu đối với 5 đối tượng: công chức Địa chính - Xây dựng - Môi trường các xã tại huyện Bình Chánh; công chức Phòng Quản lý đô thị huyện; lãnh đạo chuyên trách lĩnh vực quản lý đô thị gồm Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách đô thị; Chủ tịch UBND xã và Trưởng Phòng Quản lý đô thị huyện
Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu những thực trạng về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ công tác của công chức cấp xã và huyện trong quản lý đô thị và những đánh giá của lãnh đạo trực tiếp đối với những đối tượng này Các câu hỏi sẽ được phát triển trong quá trình phỏng vấn Kết quả phỏng vấn sẽ được ghi âm và rã băng sau
đó Kết quả của phương pháp phỏng vấn sâu sẽ góp phần làm cụ thể hơn những tư liệu được tổng hợp, các quan sát từ thực tế của tác giả trong quá trình nghiên cứu
Đối với trường hợp phỏng vấn sâu với các câu hỏi mở, sẽ tiến hành rã băng ghi âm nguyên văn và tổng hợp ý kiến
6.1.3 Phương pháp phân tích so sánh
Luận văn này có tìm hiểu, đúc kết kinh nghiệm của một số quốc gia ASEAN trước yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 như Singapore, Malaysia, Thái Lan để so sánh mô hình với Việt Nam Tác giả thực hiện so sánh đối chiếu các tư liệu của UBND huyện Bình Chánh với thực tiễn thông qua khảo sát phiếu hỏi định lượng và định tính để so sánh với các địa phương khác và làm
rõ những thực trạng về năng lực của cán bộ viên chức quản lý đô thị
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Để có được số liệu thống kê cụ thể, tác giả đã tiến hành phát bảng hỏi đối với
Trang 23những người dân trong khu vực nghiên cứu Về công thức chọn mẫu, tác giả lấy hình thức chọn mẫu được sử dụng trong khảo sát này là chọn mẫu phi xác suất và phương pháp chọn mẫu thuận tiện phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Số lượng mẫu dự kiến của luận văn là 250 mẫu, tuy nhiên với sự hạn chế về thời gian (bối cảnh nghiên cứu đúng vào thời gian đại dịch Covid - 19 nên việc tiếp xúc, phỏng vấn với đối tượng nghiên cứu gặp khó khăn) và sau khi lọc lại các phiếu khảo sát hợp lệ, số phiếu khảo sát hoàn chỉnh là 200 phiếu, bao gồm người dân đến UBND thực hiện các thủ tục thuộc lĩnh vực quản lý đô thị và cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh
Bảng 1 Tỷ lệ lấy mẫu khảo sát các bên liên quan
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu cung cấp những số liệu, kết quả thực tế cho việc thực hiện công tác cán bộ đối với khía cạnh quản lý đô thị, bên cạnh đó đề tài cũng góp phần cung cấp những giải pháp cho huyện Bình Chánh nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị
Trang 24Đề tài góp phần làm phong phú hơn nguồn tài liệu, thông tin về vấn đề đội ngũ cán
bộ làm công tác quản lý đô thị, giúp cho sinh viên, học viên cao học khi nghiên cứu về vấn đề này
Nội dung luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý, khoa học quản lý nhà nước ở các khía cạnh nội dung liên quan Cung cấp thống kê phân tích thực trạng kết quả nghiên cứu đề tài luận án có thể cung cấp một số luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về xây dựng đô thị trong quản
lí nhà nước về đô thị ở Việt Nam hiện nay
8 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài được kết cấu thành
03 chương; với nội dung từng chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị tại huyện Bình Chánh
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đô thị ở huyện Bình Chánh trong thời gian tới
Phụ lục
- PHỤ LỤC 1: ĐỊNH LƯỢNG
- PHỤ LỤC 2: ĐỊNH TÍNH
Trang 25PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm cán bộ
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở huyện, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc huyện (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Luật Cán
bộ, công chức, 2019)
Cán bộ là công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thông qua hình thức đó là bầu cử, hay phê chuẩn, hay qua hình thức bổ nhiệm để giữ một chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hoặc tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp trung ương, cấp huyện, thành phố trực thuộc trung ương, cũng như cấp huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc huyện Là đối tượng thuộc trong biên chế của Nhà nước và hưởng lương từ quỹ lương của ngân sách Nhà nước (Luật Cán bộ, công chức, 2019)
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ
Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Luật Cán bộ, công chức, 2019)
Trang 26Một vấn đề cần lưu ý về đội ngũ cán bộ mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc đó là cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn Đây là đội ngũ được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ tại hội đồng nhân dân, UBND, bí thư, phó bí thư Đảng ủy, hay người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; những người này phải là công dân Việt Nam đã được tuyển dụng theo tiêu chuẩn của pháp luật để giữ một chức danh nhất định về chuyên môn họ đăng ký ứng tuyển và sắp xếp của cơ quan có thẩm quyền Cán bộ cấp xã là đội ngũ trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đúng theo cấp bậc tương ứng với vị trí phụ trách
Khi thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải xem xét về các tiêu chuẩn, chức danh, chức vụ, cũng như các yêu cầu nhiệm vụ đảm bảo phù hợp với quy hoạch cán bộ theo đúng nhu cầu Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng như Chính phủ sẽ quy định chi tiết về các chế độ trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Việc luân chuyển, điều động cán bộ sẽ được căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ hoặc trong kế hoạch quy hoạch và thực hiện trong khối cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam cũng như các tổ chức chính trị – xã hội
1.1.2 Khái niệm công chức
Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định: hệ thống thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, sự phát triển kinh tế - xã hội, tính truyền thống và các yếu tố văn hóa (Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương, 2011)
Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bản phương
Tây Từ nửa cuối thế kỷ XIX, tại nhiều nước đã thực hiện chế độ công chức thời gian
tương đối lâu, công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm
giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương, 2011)
Công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm qui một quốc gia quan niệm về cán bộ, công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau Sau đây là một số quan niệm và định nghĩa cán bộ, công chức có tính đặc trưng
Luật cán bộ, công chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 tại kỳ
họp thứ 4 Theo Khoản 2, Điều 4 của luật định nghĩa "Công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng
Trang 27Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp huyện, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật" Đến năm 2019, Quốc hội sửa đổi bổ sung
luật cán bộ, công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp huyện, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”
(Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019)
Như vậy, khái niệm công chức có các đặc trưng sau:
❖ Thứ nhất, công chức là công dân Việt Nam
Muốn trở thành công chức thì phải là công dân Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện
do pháp luật quy định: Có quốc tịch Việt Nam, có nơi cư trú tại Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên, có lí lịch rõ ràng, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn phù hợp, có sức khỏe để hoàn thành tốt công vụ, nhiệm vụ của chức danh, chức vụ, ngạch công chức được đảm nhận
❖ Thứ hai, con đường hình thành công chức là do tuyển dụng, bổ nhiệm
Việc tuyển dụng công chức do cơ quan có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế Người có đủ các điều kiện quy định tại Điều 36 Luật cán bộ công chức thì được đăng ký dự tuyển công chức Việc tuyển dụng công chức được thực hiện chủ yếu thông qua thi tuyển trừ quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật cán bộ công chức
❖ Thứ ba, về nơi làm việc của công chức rất đa dạng
Nếu như cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở huyện, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc huyện thì công chức còn làm việc ở cả cơ
Trang 28quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập
❖ Thứ tư, về chế độ lương và nguồn kinh phí trả lương cho công chức
Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị theo quy định của pháp luật
Tóm lại, công chức là thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước Họ được tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc ổn định theo những chuyên môn nhất định, được nhà nước trả lương và đảm bảo điều kiện vật chất, tinh thần để thi hành công vụ Lao động của công chức mang tính nghề nghiệp và chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức
1.1.3 Nguồn nhân lực, quản lý, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
1.1.3.1 Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn lực là "các nguồn năng lực" hay các nguồn tạo ra sức mạnh" sẵn có có thể khai thác được Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, bao gồm: lao động, trí tuệ và sức mua (Võ Kim Cương, 2020) “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” (Liên hiệp quốc) Hay nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân (Ngân hàng thế giới)
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động (Nguyễn Sinh Cúc, 2014)
1.1.3.2 Quản lý, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực nói chung là một hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội
Trang 29dung từ khâu khảo sát lên kế hoạch, tuyển dụng, bố trí, phân công, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật,… đến khâu quy hoạch, điều động, luân chuyển công tác,… và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước đối với cán bộ công chức gần như là một quy trình khép kín, mỗi nội dung có một vị trí nhất định và có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đánh giá là khâu tiền đề, có ý nghĩa quan trọng và
là cơ sở của các khâu khác
Trong Đại Từ điển tiếng Việt, đánh giá có nghĩa là nhận định giá trị Đánh giá là
quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc (Nguyễn Như Ý, 2013) Đánh giá còn được hiểu là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện được đo lường qua các kỳ kiểm tra, lượng giá trong quá trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định trước đó trong các mục tiêu
Theo tác giả Trần Xuân Cầu (2002), xác định Đánh giá là quá trình so sánh, đối
chiếu thực tế với những tiêu chuẩn đã định sẵn để rút ra mức độ phù hợp của các bộ phận, các mối liên kết bên trong sự vật với những chuẩn mực, quy định của nó (Trần
Xuân Cầu, 2002, tr.7) Như vậy, có thể hiểu đánh giá là quá trình thu thập dữ liệu, xử lý thông tin để nhận định tình hình, kết quả công việc so với những tiêu chí, tiêu chuẩn, mục tiêu đã đề ra trước đó về mức độ hoàn thành, chất lượng, hiệu quả công việc Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp, mức độ hoàn thành các mục tiêu Vì vậy, đánh giá là một hoạt động quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý và phát triển của một tổ chức
Đánh giá cán bộ, công chức nói chung là một trong các biện pháp quản lý thông qua việc sử dụng những tiêu chí và phương thức nhất định nhằm làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; là một hoạt động cơ bản, là khâu quan trọng trong quá trình sử dụng cán bộ, công chức, là cơ sở để bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp nhân sự trong quản lý hành chính nhà nước Đánh giá cán bộ, công chức chính xác, khách quan giúp cải tiến công tác lập kế hoạch, là cơ sở để kế hoạch hóa nguồn nhân lực nhằm hạn chế tình trạng thiếu năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoặc lãng phí năng lực trong cơ quan hành chính Nhà nước Đánh giá là công cụ để phản hồi kết quả quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức giúp tổ chức điều chỉnh quá trình thực thi nhiệm vụ một cách phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra Đánh giá là cơ sở để phân loại cán bộ, công chức và
Trang 30áp dụng chế độ tiền lương, chính sách khuyến khích, phát huy tài năng và sức sáng tạo Đồng thời, là cơ sở để sắp xếp, bố trí, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm nhân sự hợp lý; xác định đúng người không có khả năng thực thi, động cơ xấu để
loại bỏ
1.1.4 Khái niệm quản lý đô thị
1.1.4.1 Quản lý nhà nước về đô thị
Quản lý nhà nước đô thị là một lĩnh vực hoạt động phức tạp, đa ngành nên có
nhiều cách định nghĩa khác nhau Quản lý Nhà nước về đô thị là “sự tổ chức, điều hành,
điều chỉnh và tác động của chính quyền nhà nước và các cơ quan chức năng chuyên môn các cấp từ trung ương tới địa phương vào quá trình xã hội, vào các hành vi, hoạt động của các tổ chức, cá nhân, nhóm cộng đồng dân cư nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm cho các đô thị phát triển ổn định, trật tự, bền vững và trường tồn trong quá trình tạo lập môi trường sống cho dân
cư đô thị” (Phạm Kim Giao, 2006 tr 45) Như vậy, thực chất quản lý nhà nước về đô
thị là sự can thiệp của chính quyền bằng quyền lực vào các quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở đô thị với mục đích làm cho các đô thị trở thành những trung tâm hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế của mỗi vùng lãnh thổ
Võ Kim Cương cho rằng quản lý đô thị là “một quá trình hoạt động để đi đến mục
tiêu bảo đảm cho đô thị phát triển ổn định, bền vững; bảo đảm hài hòa các lợi ích quốc gia, cộng đồng, cá nhân, cả trước mắt và lâu dài Định nghĩa này có tính khái quát cao,
đã nêu rõ mục tiêu quản lý đô thị nhưng chưa rõ hành động quản lý, chưa nêu được thực chất của hoạt động quản lý đô thị và Quản lý đô thị là một quá trình hoạt động liên tục của Nhà nước để huy động các nguồn lực và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm thỏa mãn không ngừng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trong sự hài hòa các lợi ích” (Võ Kim Cương 2020) Định nghĩa của Võ Kim Cương đã khái quát hai
hoạt động cơ bản, chủ yếu của Nhà nước (cụ thể là chính quyền đô thị), một là huy động nguồn lực, hai là thực hiện các giải pháp quản lý Không có nguồn lực thì không thể thực hiện được các giải pháp quản lý và trong các giải pháp quản lý có giải pháp thực hiện việc huy động nguồn lực
Qua hai định nghĩa trên chúng tôi nhận thấy nội hàm của quản lý đô thị là quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội và môi trường đô thị Trong sự nghiệp quản lý đô thị đó, quản lý phát triển đô thị là một nội dung có tính then chốt, cơ bản; vì quản lý phát triển
đô thị trước hết là phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo nên cấu trúc không gian vật chất
đô thị Toàn bộ nền kinh tế - xã hội sẽ tồn tại và phát triển trên nền tảng không gian vật
Trang 31chất này Chính vì vậy trách nhiệm huy động nguồn lực để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị trở thành trách nhiệm then chốt của chính quyền đô thị
❖ Quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị
Chính phủ thống nhất quy định về lập, trình và xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị trong phạm vi cả nước như sau:
- UBND huyện và thành phố trực thuộc Trung ương trình Chính phủ phê duyệt
đồ án quy hoạch chung đô thị loại đặc biệt, loại I và II
- Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đồ án quy hoạch khác theo
sự ủy quyền của Thủ tướng
UBND các thành phố thuộc huyện, thị xã, huyện trình UBND huyện và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung các đô thị còn lại (từ loại III đến loại V) và các quy hoạch chi tiết của các đô thị Trước khi UBND huyện và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung đô thị loại III,
IV, quy hoạch chi tiết trung tâm đô thị loại đặc biệt, I, II và các quốc lộ đi qua các đô thị huyện lỵ phải có ý kiến của Bộ Xây dựng bằng văn bản Trách nhiệm và quyền hạn quản lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị của các cấp chính quyền:
- Chính phủ thống nhất quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị trên địa bàn cả nước
- Các Bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương giúp Chính phủ quản lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị trong phạm vi cả nước, trong đó Bộ Xây dựng có trách nhiệm ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện các quyết định của Chính phủ về quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị
- UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị trên địa bàn mình phụ trách
- Các sở, ban, ngành của địa phương, trong đó có Sở Quy hoạch Kiến trúc và
Sở Xây dựng có trách nhiệm giúp UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Chính
Trang 32phủ, UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương và bộ, ngành về quản
lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị theo sự ủy quyền của UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương
- Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp UBND các cấp tương ứng quản lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị theo sự ủy quyền của UBND
và các cơ quan chuyên môn cấp trên
❖ Quản lý nhà nước về nhà ở, đất đai tại đô thị
Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị
Cơ sở pháp lý để quản lý nhà nước về nhà ở đô thị là Pháp lệnh nhà ở năm 1991, Nghị định 30/CP ngày 5/7/1994 về nhà ở, đất ở; Nghị định 61/CP ngày 5/7/1994 về mua bán, kinh doanh nhà ở; Quyết định số 27/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở đô thị và các văn bản pháp quy khác của Trung ương và địa phương Nội dung quản lý nhà nước về nhà ở đô thị gồm có:
- Lập quy hoạch và kế hoạch xây dựng phát triển nhà ở đô thị
- Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương hay cơ quan quản lý nhà, đất được ủy quyền cấp cho chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp, người thay mặt đại diện hợp pháp cho các tổ chức, người nước ngoài định cư tại Việt Nam có nhà ở hợp pháp
- Quản lý việc mua bán nhà và chuyển nhượng nhà ở, hình thành và phát triển thị trường nhà ở, thị trường thuê nhà ở chính thức
- Xây dựng nhà ở, quỹ nhà ở cho đối tượng chính sách ưu đãi hoặc người có thu nhập thấp: Nhà nước quản lý việc huy động, khai thác, xây dựng quỹ hỗ trợ nhà ở cũng như vốn đầu tư xây dựng nhà ở cho các thành phần thuộc diện chính sách, ưu đãi, cho người thu nhập thấp theo hình thức quà biếu, tặng hay hỗ trợ một phần kinh phí
Quản lý nhà nước về đất đai đô thị
Cơ sở pháp lý để quản lý đất đô thị là Luật Đất đai năm 2003, các Nghị định số
181, 182, 188, 197 của Chính phủ và các văn bản khác, Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về quản lý sử dụng đất đô thị Nội dung quản lý nhà nước về đất đai đô thị bao gồm:
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính và bản đồ đất đai ở đô thị
- Lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đô thị
Trang 33- Giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị
- Thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị
+ UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà đất
đô thị trong phạm vi mình phụ trách - Sở Địa chính - Nhà đất, Tài nguyên - Môi trường, Sở Xây dựng và Sở Tài chính giúp UBND huyện, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà đất đô thị theo thẩm quyền được giao
❖ Quản lý nhà nước về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông vận tải, cấp, thoát nước, cấp điện, năng lượng,
xử lý rác thải, v.v ) có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của người dân đô thị Nhà nước cần phải đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở đô thị để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đô thị Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm:
- Quản lý nhà nước về giao thông đô thị
- Quản lý nhà nước về cung cấp nước sạch đô thị
- Quản lý nhà nước về thoát nước đô thị
- Quản lý nhà nước về cấp điện, chiếu sáng công cộng và thông tin liên lạc
❖ Quản lý nhà nước về bảo vệ cảnh quan và môi trường đô thị
Quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị
- Chính quyền đô thị xây dựng định hướng phát triển kiến trúc đô thị mang tính đa dạng trong sự thống nhất, ban hành các chính sách, quy chế và kế hoạch đầu tư phát triển cảnh quan đô thị vừa đảm bảo hiện đại, văn minh, vừa bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc
- Các cơ quan chức năng cần xây dựng định hướng kiến trúc cho các thể loại công trình trong đô thị, quy hoạch mỹ quan các đường phố
Trang 34- Các cấp chính quyền địa phương cần tăng đầu tư bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, có chính sách hỗ trợ dân duy tu, bảo trì các công trình văn hóa có giá trị, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ của nước ngoài
- Tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong xây dựng, phá vỡ cảnh quan đã được quy hoạch
- Các tổ chức và cá nhân khi xây dựng, cải tạo các công trình kiến trúc văn hóa phải đảm bảo được tính lịch sử, văn hóa của công trình và phải được các cơ quan quản lý nhà nước phê duyệt đồng ý; hạn chế chặt bỏ cây xanh khi xây dựng các công trình mới
Quản lý nhà nước về môi trường đô thị
- Nhà nước và các cấp chính quyền các địa phương cần hoạch định chiến lược bảo vệ môi trường trong phạm vi quốc gia cũng như trong từng địa phương,
có kế hoạch tăng ngân sách đầu tư
- Cụ thể hóa Luật Môi trường, ban hành các chính sách, quy chế, quy định cụ thể về quản lý và bảo vệ môi trường đô thị
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý môi trường đô thị Nhà nước và chính quyền các huyện, thành phố giao việc quản lý nhà nước về môi trường cho
Bộ và Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, tăng cường phối hợp giữa các
cơ quan ban hành hữu quan
- Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ môi trường về chuyên môn và nghiệp vụ
- Thanh tra, kiểm tra, xử phạt nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường đô thị theo luật định, tuyên truyền phổ biến nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sống, khai thác sự đóng góp của các tổ chức xã hội, kinh tế và dân cư
- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ môi trường, đặc biệt các công nghệ mới trong thu gom, xử lý các chất thải sinh hoạt, hạn chế ô nhiễm môi trường không khí
❖ Quản lý tài chính, kinh tế đô thị
Quản lý kinh tế đô thị là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống bộ máy quản lý đô thị Chính quyền đô thị cần có kế hoạch phát triển tài chính Tài Chính đô thị lấy từ các nguồn: đầu tư ngân sách, vốn của các doanh nghiệp và các cá nhân, đầu tư nước ngoài Mục đích của việc quản lí tài chính là phát triển nhằm tạo ra một chính sách, một cơ chế tài chính hợp lý để tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát triển kinh tế
Trang 35Việc trước tiên của quản lí tài chính đô thị là xác định chính sách tài chính Quá trình này bao gồm việc sưu tầm các số liệu về các nguồn quỹ chủ yếu, phân tích xu thế phát triển, dự đoán sự phát triển, quyết định về tiềm năng tài chính và thiết lập kế hoạch tài chính hợp lý Kế hoạch tài chính là khâu quan trọng nhưng việc quản lý, thực thi nó còn quan trọng hơn nhiều Các cơ quan tài chính chuyên trách cần giúp chính quyền đô thị theo dõi quá trình thực thi kế hoạch tài chính, đề xuất những điều chỉnh cần thiết nhằm đáp ứng tốt những tình huống thực tiễn phát triển
❖ Quản lý nhà nước về một số lĩnh vực khác
Quản lý nhà nước về hạ tầng xã hội
Ngoài nhà ở, nhà nước, chính quyền ở các đô thị phải quản lý một số lĩnh vực khác về hạ tầng xã hội, như giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao, vui chơi giải trí… Nội dung của quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên bao gồm các nội dung sau:
- Soạn thảo và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định cơ cấu
tổ chức và đề ra các quy định quản lý đối với từng ngành cụ thể
- Xây dựng các mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển cho từng ngành, đồng thời đề ra các chính sách, biện pháp thực hiện
- Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng và phát triển, nhất là cho giáo dục và y
tế ở các đô thị
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đồng thời
có kế hoạch cải tạo, nâng cấp các cơ sở, hiện đại hoá trang thiết bị và phương tiện
- Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức, xây dựng các quy định, quy chế đối với đội ngũ bác sĩ, giáo viên, diễn viên
- Đổi mới công tác tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước phù hợp với
cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước
- Thanh tra, kiểm tra và xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật và các quy định
về quản lý nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục,
y tế
Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn đô thị
Quản lý trật tự, an toàn đô thị là bảo đảm và duy trì sự ổn định bền vững của đô thị, bao gồm trật tự công cộng, trật tự giao thông, phòng chống cháy nổ, phòng chống tệ
Trang 36nạn xã hội, phòng chống thiên tai bão lụt, đăng ký hộ khẩu, tạm vắng, tạm trú, vãng lai, v.v Nội dung quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này chủ yếu là:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy về quản
lý nhà nước đối với các lĩnh vực của an ninh và trật tự an toàn đô thị
- Xây dựng những định hướng, chương trình, mục tiêu và biện pháp để bảo vệ
an toàn đô thị, tăng ngân sách và huy động khai thác các nguồn tài chính khác do công tác quản lý an toàn đô thị
- Tổ chức xây dựng hệ thống các ban ngành, cơ quan quản lý đô thị và lực lượng bảo vệ an toàn đô thị cũng như các phương tiện, thiết bị đủ mạnh để có thể hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ được chính quyền giao cho
- Thanh tra, kiểm tra, xử phạt các vi phạm về an toàn đô thị, nhất là về trật tự giao thông, trật tự công cộng đô thị và tệ nạn xã hội, v.v
- Xây dựng các chính sách và biện pháp giảm vãng lai và trẻ em lang thang ở nông thôn đi vào các đô thị, kết hợp với các địa phương là nơi xuất phát, tìm giải pháp ngăn ngừa
Quan điểm phát triển đô thị Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị phục vụ mục tiêu xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Việc hình thành và phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 phải bảo đảm:
- Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất, với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế;
- Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng Coi trọng mối liên kết đô thị - nông thôn, bảo đảm chiến lược
an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng đô thị, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp từng giai đoạn phát triển chung của đất nước;
- Phát triển ổn định, bền vững, trên cơ sở tổ chức không gian phù hợp, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tiết kiệm năng lượng; bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái;
- Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật với cấp độ thích hợp hoặc hiện đại, theo yêu cầu khai thác, sử dụng và chiến lược phát triển của mỗi đô thị;
Trang 37- Kết hợp chặt chẽ với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng và an toàn xã hội; đối với các đô thị ven biển, hải đảo và dọc hàng lang biên giới phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia
Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại;
có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc
1.1.4.2 Vai trò quản lý nhà nước về đô thị
Tham mưu, giúp UBND huyện Bình Chánh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng
kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (bao gồm: Cấp nước, thoát nước
đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm
đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông
Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực như Kiến trúc, quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị, nhà ở và công sở, giao thông, hạ tầng kỹ thuật đô thị gồm cấp thoát nước, vệ sinh môi trường đô thị, công viên, cây xanh, đèn chiếu sáng, rác thải, bến, bãi đỗ xe đô thị Trực tiếp quản lý, điều hành đội kiểm tra trật tự đô thị Chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế hoạt động của cấp trên, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở xây dựng, Sở Quy hoạch Kiến trúc
Triển khai thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống các đô thị, các điểm dân cư tập trung (bao gồm cả điểm dân cư công nghiệp, điểm dân cư) trên địa bàn quản lý, đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch xây dựng vùng, địa bàn quản lý đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng các cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm thu hút, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư xây dựng và phát triển các
đô thị trên địa bàn quản lý được đồng bộ, các khu đô thị mới kiểu mẫu, các chính sách, giải pháp quản lý quá trình đô thị hoá, các mô hình quản lý đô thị, tổ chức thực hiện sau khi được cấp quản lý phê duyệt và ban hành
Trang 38Tham gia thực hiện các chương trình, dự án đầu tư phát triển đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo sự phân công của cấp trên (các chương trình nâng cấp đô thị, bảo tồn và chỉnh trang đô thị cổ; các dự án cải thiện môi trường đô thị, nâng cao năng lực quản lý đô thị, các dự án đầu tư phát triển khu đô thị mới…)
Phối hợp thực hiện việc đánh giá, phân loại đô thị hàng năm theo các tiêu chí đã được Chính phủ quy định và chuẩn bị hồ sơ để trình các cấp có thẩm quyền quyết định công nhận loại đô thị trên địa bàn quản lý
Hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, khai thác sử dụng đất xây dựng đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt, việc thực hiện quy chế khu
đô thị mới, hướng dẫn quản lý trật tự xây dựng đô thị
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu
tư phát triển đô thị, tổ chức vận động, khai thác, điều phối các nguồn lực trong và ngoài nước cho việc đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống đô thị trên địa bàn quản lý theo sự phân công của UBND cấp quản lý
Tổ chức xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tình hình phát triển đô thị trên địa bàn quản lý
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
1.2.1 Quan điểm chất lượng cán bộ, công chức quản lý đô thị
Chất lượng là một phạm trù rộng và có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Hiện nay, một số chuyên gia, tổ chức định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” (theo European Organization for Quality Control); “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (theo Philip
B.Crosby); theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng
xuất bản vào năm 2000 “chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu người sử dụng Nếu không được người sử dụng chấp nhận thì coi như chất lượng kém
- Chất lượng luôn biến động theo thời gian, không gian vì chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng, mà nhu cầu của con người thì ngày càng cao nên chất lượng cũng phải thay đổi đáp ứng yêu cầu của xã hội
Trang 39- Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa cụ thể mà còn có thể áp dụng cho con người, sự việc, dịch vụ…
Chất lượng cán bộ, công chức nói chung và chất lượng công chức quản lý đô thị nói riêng trước hết biểu hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm
vụ, hiệu quả công tác; khả năng phối kết hợp với đồng nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói người cán bộ, công chức tốt phải là người “vừa hồng, vừa chuyên”, vì thế chất lượng cán bộ, công chức không chỉ thể hiện ở kết quả công việc mà còn được đánh giá ở bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và uy tín trước tập thể, nhân dân (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011) Như vậy, chất lượng công chức quản lý đô thị là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, bản lĩnh chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được phân công Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức quản lý đô thị là làm tăng cả về giá trị trí tuệ lẫn giá trị tâm hồn của người công chức, làm cho người công chức trở thành người lao động chuyên nghiệp có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của xã hội
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức quản lý đô thị
Tiêu chí đánh giá chất lượng là tập hợp các dấu hiệu, điều kiện, đặc trưng, các chỉ
số định tính, định lượng làm căn cứ để nhận biết, đánh giá thực tế Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về đánh giá cán bộ, căn
cứ vào Quy chế đánh giá cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, Luật Cán bộ, công chức… và từ quan niệm về chất lượng công chức quản lý đô thị, có thể xác lập hệ tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng công chức này bao gồm các tiêu chí sau:
1.2.2.1 Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Phẩm chất chính trị là tổng hợp các đặc tính cá nhân về mặt chính trị, bao gồm
các yếu tố cơ bản như nhận thức chính trị, thái độ chính trị và hành vi chính trị Đây là tiêu chí đầu tiên và cơ bản để đánh giá người công chức bởi lẽ họ được sử dụng quyền lực nhà nước để phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc cho nên phẩm chất đầu tiên cần
có của người công chức chính là phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị của người công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh được thể hiện ở mức độ nhận thức chính trị của họ Đó là sự hiểu biết về đường lối, quan điểm chính trị, về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng; sự hiểu biết và tin tưởng vào mục đích, lý tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Từ nhận thức chính trị đúng đắn, người công chức sẽ có thái độ và hành vi chính trị mẫu mực, thể hiện ở cử chỉ, lời nói, việc làm, sự gương mẫu, tiên phong trong công
Trang 40tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng
và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị
Bên cạnh tiêu chí phẩm chất chính trị thì Phẩm chất đạo đức cũng là một tiêu chí
quan trọng cần được xem xét khi đánh giá công chức quản lý đô thị Là người trực tiếp làm việc và sinh hoạt với người dân, đặt biệt là làm việc trong lĩnh vực liên quan đến đất đai, xây dựng nếu người công chức quản lý đô thị huyện Bình Chánh không có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức trong sáng thì rất dễ vi phạm quy định của nhà nước
về lĩnh vực mà mình phụ trách
Phẩm chất đạo đức bao gồm các yếu tố ý thức đạo đức, thái độ đạo đức và hành vi
đạo đức Ý thức đạo đức của người công chức quản lý đô thị thể hiện ở quan niệm, sự hiểu biết về đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng, ý thức giữ gìn sự liêm chính trong khi xử lý công việc Thái độ đạo đức của người công chức quản lý đô thị do ý thức đạo đức quy định, biểu hiện ra bên ngoài là sự yêu hay ghét, ủng hộ hay phê phán đối với những hành động chưa đúng mực; nghiêm túc hay không nghiêm túc với công việc, nghề nghiệp, với đồng chí, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và quần chúng nhân dân… Tất cả ý thức và thái độ đó
sẽ biểu hiện qua hành vi đạo đức của họ thông qua lời nói, việc làm liên quan đến đạo đức công vụ, biểu hiện thông qua thái độ tiếp xúc và giải quyết công việc cho người dân cũng như biểu hiện thông qua thái độ thực hiện nhiệm vụ
Lối sống của người công chức là những hình thức, cung cách sinh hoạt, làm việc,
những hoạt động, cách xử sự đã trở thành ổn định, thành đặc điểm riêng của cá nhân Lối sống do nhiều yếu tố quy định như giáo dục, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội, và sự rèn luyện của cá nhân… Lối sống gắn liền và là một biểu hiện đậm nét của đạo đức cá nhân, vì vậy, khi nhận diện và đánh giá phẩm chất đạo đức của cán bộ nhất thiết phải xem xét lối sống của họ Lối sống của người công chức quản
lý đô thị thể hiện ở sự giản dị trong sinh hoạt cuộc sống, tiết kiệm trong chi tiêu, mối quan hệ với đồng nghiệp và quần chúng nhân dân nơi sinh sống,
Phẩm chất đạo đức, lối sống của người công chức quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị chi phối, quy định phẩm chất đạo đức; phẩm chất đạo đức tác động tới sự phát triển phẩm chất chính trị Người có phẩm chất chính trị sẽ giúp họ
có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung, hiếu, dũng, liêm,… sẽ giúp người công chức củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị