Hiểu rõ được tầm quan trọng của giao thông vận tải cũng như ích lợi của việc phát triển hệ thống xe buýt, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn số 89/UB – ĐT ngày 09
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ 12 NĂM 2010
Ý THỨC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG VÀ VĂN MINH TRÊN XE BUÝT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Nhóm tác giả thực hiện : Hoàng Thị Thanh Mai – Trưởng nhóm
Đỗ Thanh Nam Người hướng dẫn:
Th.S Huỳnh Đức Thiện
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 14
1.1 Một số khái niệm 14
1.2 Tình hình nghiên cứu về giao thông đô thị 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG VÀ VĂN MINH TRÊN XE BUÝT Ở THÀNH PHỐ 22
HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 22
2.1 Khảo sát ý kiến của người dân Thành phố Hồ Chí Minh và người nước ngoài về việc chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt hiện nay 22
2.2 Nguyên nhân của những vấn đề tiêu cực còn tồn tại trên xe buýt hiện nay 30
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG VÀ XÂY DỰNG VĂN MINH TRÊN XE BUÝT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42
3.1 Các biện pháp về cơ sở hạ tầng 42
3.2 Các biện pháp về thông tin - tuyên truyền 46
3.3 Các biện pháp khác 47
KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 56
Hồ Nghĩa Dũng 57
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
MỞ ĐẦU
Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tuy nhiên quá trình đô thị hóa cũng tạo nên sức ép không nhỏ về nhiều mặt cho các đô thị, nhất là lĩnh vực giao thông vận tải Giao thông vận tải thuận lợi, thông suốt sẽ là một động lực lớn cho sự phát triển, ngược lại, nó sẽ trở thành lực cản cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Giao thông công cộng đang là lựa chọn rất hiệu quả, đảm bảo cho giao thông thông suốt, vận tải thuận lợi tại các thành phố lớn trên Thế giới.Ở nước ta, việc phát triển giao thông công cộng thông qua hệ thống xe buýt, không chỉ là lời giải cho bài toán giao thông mà còn có thể xem là tiền đề cho việc phát triển giao thông công cộng hiện đại sau này (tàu điện, tàu ngầm )
Thành phố Hồ Chí Minh - một trong những thành phố lớn của nước ta, đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, cũng là nơi có tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh chóng và vì thế, nhu cầu đi lại của người dân nơi đây cũng tăng cao lên từng ngày Hiểu rõ được tầm quan trọng của giao thông vận tải cũng như ích lợi của việc phát triển hệ thống xe buýt, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã
ban hành Công văn số 89/UB – ĐT ngày 09/01/2002 về việc thực hiện kế hoạch thể nghiệm nâng cấp mạng lưới vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt và Công văn số 1637/UB – ĐT ngày 17/05/2002 về chủ trương bán vé dài ngày và thời gian hoạt động thể nghiệm nâng cao chất lượng xe buýt Mục tiêu
của các tuyến xe buýt mẫu là “Lấy lại lòng tin của khách hàng; Tạo thói quen sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, làm việc, vui chơi giải trí…; Góp phần giảm ách tắc giao thông; và bước đầu hình thành nếp sống văn minh đô thị”
Tuy nhiên, việc phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là xe buýt trong các năm qua gặp rất nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của
Trang 4người dân Thành phố Xe buýt được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, nhưng lại không thu hút cũng như không đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, trong đó, nguyên nhân quan trọng là ý thức chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt của tài xế
tiếp viên lẫn hành khách hiện nay không tốt Vì thế việc nghiên cứu đề tài “Ý thức chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt ở Thành phồ Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp” là cần thiết nhằm tổng hợp nên bức tranh toàn
cảnh về việc chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Trên cơ sở đó xây dựng một số giải pháp thích hợp để nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông, xây dựng văn minh mới cho người dân khi
sử dụng loại phương tiện giao thông công cộng này
bộ phận người dân khi sử dụng xe buýt Từ đó từng bước góp phần nâng cao việc
sử dụng xe buýt làm phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Thành phố nhằm mang lại sự thông suốt, thuận lợi cho giao thông vận tải tại Thành phố Hồ Chí Minh
MỤC TIÊU CỤ THỂ
Xây dựng được những cơ sở lý luận làm công cụ cho nghiên cứu đề tài
Xác định được những lỗi vi phạm luật giao thông của tài xế xe buýt, những hành vi thiếu văn minh trên xe buýt của tài xế, tiếp viên và hành khách
Làm rõ các nguyên nhân của những hành vi vi phạm luật giao thông, biểu hiện thiếu văn minh trên xe buýt của tài xế, tiếp viên và hành khách
Trang 5 Xây dựng được các giải pháp nhằm khắc phục những hành vi không tôn trọng luật giao thông, những biểu hiện thiếu văn minh của một bộ phận người dân khi sử dụng xe buýt
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Tài xế, tiếp viên xe buýt đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh
Người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng xe buýt
Du khách nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống, học tập, hoặc làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng xe buýt làm phương tiện đi lại
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các phương pháp toán học
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua việc điều tra bảng hỏi của các đối tượng nghiên cứu, chúng tôi rút ra được bảng tổng kết các lỗi vi phạm luật giao thông phổ biến nhất của các tài xế xe buýt hiện nay (do người sử dụng xe buýt đánh giá)
THỨ BẬC
1 Sử dụng điện thoại khi đang lái xe 72 26,97 4
2 Chạy lấn tuyến vào làn xe 2 bánh 257 96,25 1
Trang 6Những hành vi kém văn minh của tài xế, tiếp viên xe buýt (do người sử dụng xe buýt đánh giá)
1 Nói chuyện điện thoại lớn tiếng 110 30,89 5
2 Không nhường ghế cho đối tượng được ưu
tiên
263 73,87 2
4 Gác chân lên hàng ghế phía trước 56 15,73 7
5 Đùa giỡn quá mức, văng tục, chửi thề 284 79,77 1
Trang 76 Không nghe theo hướng dẫn của nhân viên
phục vụ
68 19,10 6
7 Say xỉn, khạc nhổ bừa bãi, không giữ vệ sinh 38 10,67 8
9 Yêu cầu đón / xuống xe không đúng trạm 252 70,79 3
Nguyên nhân gây nên những hành vi vi phạm luật giao thông, những biểu hiện của sự thiếu văn minh trên xe buýt
BẬC
2 Tâm lý muốn yên ổn, sợ phiền toái, không
muốn nổi bật, cư xử hành động theo số đông
233 65,45 3
3 Ý thức tự giác chấp hành pháp luật còn thấp 285 80,06 2
4 Xử phạt chưa nghiêm minh, chưa cứng rắn 181 50,84 5
5 Công tác đào tạo nghiệp vụ lái xe quá dễ dãi 218 61,23 4
7 Trật tự giao thông chưa ổn định 118 33,15 8
8 Cường độ làm việc (nhân viên phục vụ) cao 128 35,95 7
Phương pháp khắc phục
Xây dựng làn đường riêng cho xe buýt trên toàn thành phố
Thay mới toàn bộ những xe không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, sử dụng rộng rãi xe buýt chạy bằng nhiên liệu sạch
Phân bố lại lộ trình các tuyến xe hợp lý hơn, tránh trùng lắp quá nhiều
Thông tin tuyên truyền về xe buýt rộng rãi hơn bằng phương tiện truyền thông đại chúng và thông qua các nhân vật được công chúng quan tâm
Điều chỉnh thời gian làm việc của nhân viên xe buýt hợp lý hơn
Trang 8 Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào việc quản lý, điều hành xe buýt
Tăng tính nghiêm minh, răn đe của pháp luật khi xử phạt vi phạm và trong công tác đào tạo lái xe
KẾT LUẬN
Xe buýt là một phương tiện giao thông vận tải tiện ích, đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân với giá cả hợp lý, nhanh, thuận lợi, góp phần giảm tải được lưu lượng xe hai bánh lưu thông trên đường và là một trong những giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông có hiệu quả Chủ trương khôi phục và phát triển xe buýt của TPHCM bắt đầu được thực hiện từ năm 2002 Vào thời điểm lúc bấy giờ, trên địa bàn TPHCM chỉ có khoảng 587 xe buýt loại từ 17 đến trên 39 ghế và đa phần những xe buýt này đều hết niên hạn sử dụng Sau đó, với hàng loạt chính sách khuyến khích đầu tư phương tiện, hỗ trợ lãi suất vay khi mua xe mới, bù lỗ giá vé, hiện nay trên địa bàn Thành phố có 3.225 xe buýt các loại hoạt động trên 151 tuyến Suốt nhiều năm qua, mỗi năm thành phố chi hàng trăm tỷ đồng trợ giá và liên tục tổ chức vận động cán bộ công chức, người dân đi xe buýt, nhưng thực tế
xe buýt mới chỉ đáp ứng được khoảng 5,4% nhu cầu đi lại của người dân
Thực trạng trên xảy ra vì hoạt động xe buýt hiện nay vẫn còn một số điểm yếu cần khắc phục, đó là ý thức chấp hành luật lệ giao thông, tinh thần trách nhiệm, thái độ ứng xử của một số tài xế và nhân viên phục vụ đang gây bức xúc trong dư luận cần được chấn chỉnh Bên cạnh đó, văn minh của người dân khi chọn xe buýt là phương tiện di chuyển cũng cần được nhìn nhận lại một cách khách quan, công tâm, chính xác và cần được thay đổi
Qua quá trình nghiên cứu, dựa trên kết quả khảo sát của các đối tượng được lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên cũng như dựa trên những đánh giá, quan sát của nhóm tác giả thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tìm ra 8 lỗi vi phạm luật giao thông thường xuyên phổ biến nhất của các tài xế xe buýt, 9 hành vi của nhân viên phục
vụ (bao gồm cả tài xế và tiếp viên) và 9 hành vi của hành khách trên xe buýt được đánh giá là những biểu hiện của sự kém văn hóa, thiếu văn minh, cần được khắc
Trang 9phục sữa chữa Những lỗi vi phạm luật giao thông, cũng như những biểu hiện của
sự “văn minh” ấy được nảy sinh trong chính bản thân của những tài xế, tiếp viên, cũng như của một bộ phận không nhỏ hành khách sử dụng xe buýt, song nguồn gốc sâu xa của nó là từ những tác động bên ngoài của môi trường sống và hoạt động Việc khắc phục những điểm yếu đó phải được bắt đầu từ nguồn gốc hình thành nó, tức là từ những tác động của môi trường bên ngoài
Việc áp dụng các giải pháp do đề tài đề xuất có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp các tài xế, tiếp viên, hành khách khắc phục những khiếm khuyết trên để trả lại cho xe buýt một vị trí xứng đáng như nó đã từng được kỳ vọng, góp phần không nhỏ trong việc ổn định trật tự giao thông vận tải, phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung Để các giải pháp phát huy tác dụng đòi hỏi việc thực hiện chúng phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện, có hệ thống hướng vào tổ chức hiệu quả hoạt động tuyên truyền nhằm cải tạo và hạn chế tối đa nguyên nhân gây nên những điểm yếu trong hoạt động vân chuyển hành khách công cộng như thời gian vừa qua
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tuy nhiên quá trình đô thị hóa cũng tạo nên những sức ép lớn trên nhiều mặt cho đô thị Tại các đô thị lớn trong cả nước, cùng với nhịp độ tăng trưởng của kinh
tế là sự gia tăng nhanh về mật độ dân số, những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như việc làm, nhà ở, y tế, học hành và cả trên lĩnh vực giao thông vận tải cũng ngày càng trở nên cấp bách Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn của nước ta, một thành phố đa chức năng, là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, và cũng là nơi có tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh chóng Dân số của thành phố Hồ Chí Minh không ngừng gia tăng trong thời gian qua mà chủ yếu là gia tăng cơ học Mặt khác, thành phố cũng ngày càng được mở rộng, do
đó khoảng cách đi lại của người dân cũng ngày càng lớn Tuy nhu cầu đi lại của người dân tăng cao lên hằng ngày, nhưng nhu cầu này vẫn chưa được đáp ứng một cách thỏa đáng
Phương thức lưu thông chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay vẫn là đường bộ Bên cạnh sự yếu kém về hạ tầng giao thông, sự gia tăng không ngừng của các phương tiện cá nhân cả về số lượng và chủng loại, đều gây ra những hậu quả nghiêm trọng mang tính toàn cầu như ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông v.v… Đây là vấn đề đang được cơ quan Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, cũng như lãnh đạo Thành phố rất quan tâm không chỉ vì nó đang ảnh hưởng đến trật tự
an toàn xã hội, ảnh hưởng đến môi trường kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước mà còn vì nó tác động trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân Thành phố Nếu như vấn đề này được giải quyết triệt để thì đây sẽ là một động lực lớn cho sự phát triển, ngược lại, nó sẽ là một lực cản không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung
Giao thông công cộng đang là giải pháp trung gian giữa tất cả các phương tiện, nếu như nó đáp ứng được nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ, tốc
Trang 11độ, thuận tiện …Việc phát triển giao thông công cộng thông qua hệ thống xe buýt
có thể xem là tiền đề cho việc phát triển giao thông công cộng hiện đại (tàu điện, tàu ngầm …), đó là những bước đi đầu tiên cho việc xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại và phát triển bền vững
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn số 89/UB – ĐT ngày 09/01/2002 về việc thực hiện kế hoạch thể nghiệm nâng cấp mạng lưới vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt và Công văn số 1637/UB – ĐT ngày 17/05/2002 về chủ trương bán vé dài ngày và thời gian hoạt động thể nghiệm nâng cao chất lượng xe buýt Mục tiêu của các tuyến xe
buýt mẫu là “Lấy lại lòng tin của khách hàng; Tạo thói quen sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, làm việc, vui chơi giải trí…; Góp phần giảm ách tắc giao thông; và bước đầu hình thành nếp sống văn minh đô thị” Quy hoạch chung của
Thành phố đưa ra mục tiêu phát triển hệ thống giao thông công cộng đến năm
2010 đạt 30% và năm 2020 là 50% lượng hành khách di chuyển
Tuy nhiên, việc phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là xe buýt trong các năm qua gặp rất nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân Thành phố Dù đã có nhiều nỗ lực nhưng năng lực vận chuyển hành khách công cộng hiện còn thấp, đa số người dân vẫn sử dụng phương tiện giao thông cá nhân Xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hay trên cả nước nói chung đều đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, trong đó, nguyên nhân quan trọng chính là
ý thức chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt của tài xế tiếp viên lẫn hành khách hiện nay đang gây bức xúc trong dư luận.Vì vậy, vấn đề được đặt ra là
làm thế nào để nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông cho tài
xế, tiếp viên cũng như người dân khi sử dụng xe buýt ? Biện pháp nào để xây dựng văn minh xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay?
Đây là những câu hỏi cần được giải đáp để làm cho xe buýt trở thành một phương tiện giao thông thân thiện gần gũi cũng như cải thiện, nâng cao việc sử dụng xe buýt của người dân Thành phố Chính vì những lý do đó, chúng tôi thực
Trang 12hiện nghiên cứu đề tài “Ý thức chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt ở Thành phồ Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Đề tài hướng đến mục tiêu tìm hiểu thực trạng của việc chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt của tài xế, tiếp viên cũng như người dân Thành phố Hồ Chí Minh khi tham gia lưu thông bằng phương tiện này Để làm rõ mục tiêu đã đề ra, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
-
Phân tích thực trạng của việc chấp hành luật giao thông của những tàixế, tiếp viên và người dân khi sử dụng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời tìm hiểu thái độ phục vụ hành khách của tài xế, tiếp viên cũng như văn hóa ứng xử của hành khách trên xe buýt
-
Dựa trên những tìm hiểu về thực trạng đó, đề tài nghiên cứu sẽ đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giaothông, xây dựng văn minh trên xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Dựa trên các kết quả nghiên cứu và tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu: các tài liệu khoa học của các nhà văn hóa học, xã hội học…, thông tin Internet, tài liệu trên sách báo và các tạp chí
Phương pháp nghiên cứu:
-
Phương pháp quan sát thực địa: trực tiếp tham gia vào môi trường sinh hoạt xã hội của đối tượng nghiên cứu để rút ra nhận xét, đánh giá chủ quan của nhóm người nghiên cứu về đề tài nghiên cứu, đối chiếu với kếtquả khảo sát để kiểm chứng
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm ra cơ sở lý luận về mặt họcthuyết làm tiền đề cho những lý luận thực tiễn của vấn đề cần nghiên
cứu
Trang 13-
Phương pháp phân tích tổng hợp: tìm kiếm, phân loại các nguồn tài liệu, bổ túc tài liệu, lựa chọn và sắp xếp tài liệu cần dùng, chỉ lấy lại những tài liệu hay những bộ phận có trong tài liệu phục vụ cho mụcđích nghiên cứu
-
Phương pháp điều tra bảng hỏi: phát ngẫu nhiên phiếu điều tra bảng hỏi cho 400 người, trong đó: 300 phiếu phỏng vấn người dân đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhân viên phục vụ xe buýt (60 tàixế, 40 tiếp viên), 50 phiếu khảo sát người nước ngoài đang sinh sống hoặc làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và 50 phiếu dùng để khảo sát
đối tượng là người nước ngoài đang du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
-
Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn 4 người dân sử dụng thường xuyên và không thường xuyên xe buýt; 2 người nước ngoài sinh sống làm việc và du lịch tại Thành phố có sử dụng xe buýt; 4 nhân viên phụcvụ xe buýt
4 Phương pháp thu thập thông tin
Nguồn số liệu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này bao gồm số liệu sơ cấp thu thập từ điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát thực địa và các tài liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan chức năng, các tạp chí chuyên ngành, báo chí
và các trang web Ngoài ra, đề tài còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành xã hội học, như:
4.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Bằng cách phỏng vấn dựa trên bảng hỏi, thông tin định lượng được thu thập
sẽ phản ánh thực trạng của việc chấp hành luật giao thông cũng như văn minh trên
xe buýt của tài xế, tiếp viên và người dân Thành phố sử dụng xe buýt
Để thông tin được thu thập mang tính đại diện thì số liệu mẫu được chọn phải có những thống kê xã hội học đáng tin cậy Vì vậy việc chọn mẫu nghiên cứu
là những người thường xuyên, cũng như không thường xuyên sử dụng xe buýt trên các địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Dung lượng mẫu: số lượng bảng hỏi được dự tính là 400 phiếu trong đó 300 phiếu phỏng vấn người dân đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhân viên phục vụ xe buýt (gồm 60 tài xế và 40 tiếp viên), 50 phiếu khảo sát người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và 50 phiếu dùng để khảo sát đối tượng là người nước ngoài đang du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu dung lượng mẫu có sự điều chỉnh sao cho phù hợp
Cấu trúc bảng hỏi: được thiết kế gồm các phần cơ bản sau:
+ Thông tin cá nhân
+ Thực trạng việc chấp hành luật giao thông của tài xế, tiếp viên trên xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
+ Thực trạng văn minh trên xe buýt tại Thành phố hiện nay
+ Quan điểm, nguyện vọng của người dân
4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp phỏng vấn sâu: bằng cách phỏng vấn sâu, nghiên cứu định tính
nhằm hỗ trợ trong việc khai thác sâu các khía cạnh như tâm tư tình cảm cũng như nguyện vọng … bằng cách chọn mẫu phi xác suất từ những người cung cấp thông tin ngẫu nhiên của nhóm bảng hỏi
+ Hình thức: phỏng vấn bán cấu trúc, dựa theo danh mục các câu hỏi mà đề tài nghiên cứu quan tâm
+ Phương pháp chọn mẫu:
- Người dân: Chọn hai người sử dụng thường xuyên và hai người
không sử dụng thường xuyên đã có trong mẫu bảng hỏi, ở các độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau
- Người nước ngoài: Chọn một người sinh sống và làm việc lâu năm
tại Thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng xe buýt và một người là du khách đến tham quan du lịch tại Thành phố
Trang 15- Nhân viên xe buýt: Chọn bốn nhân viên phục vụ trên xe buýt bao
gồm tài xế và tiếp viên phục vụ trên xe buýt để thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu rõ hành vi thực tế của người sử dụng xe
buýt, nhân viên phục vụ…
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tài xế, tiếp viên xe buýt đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và những người dân Thành phố cũng như một số
du khách nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống và học tập, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng xe buýt làm phương tiện đi lại
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài được chia thành 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý thuyết về giao thông đô thị và hệ thống giao thông đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương II: Thực trạng việc chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương III: Giải pháp nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông và xây dựng văn minh trên xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh
7 Đóng góp mới của đề tài
Sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện, song đề tài của chúng tôi phần nào đã vẽ nên bức tranh toàn cảnh về việc chấp hành luật giao thông cũng như về văn minh trên xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Dựa trên những tìm hiểu về thực trạng đó, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những hành vi không tôn trọng luật giao thông, những biểu hiện thiếu văn minh của một bộ phận người dân khi sử dụng xe buýt Từ đó từng bước góp phần nâng cao việc sử dụng xe buýt làm phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Thành phố nhằm mang lại sự thông suốt, thuận lợi cho giao thông vận tải tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
VÀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Vận tải hành khách công cộng
Vận tải hành khách công cộng là một bộ phận không thể tách rời khỏi hệ thống giao thông vận tải đô thị Lịch sử phát triển của vận tải hành khách công cộng gắn liền với lịch sử phát triển của Thành phố cũng như lịch sử phát triển của giao thông vận tải
Có nhiều định nghĩa khác nhau về vận tải hành khách công cộng Nếu xét
về tính chất phục vụ của vận tải thì Vận tải hành khách công cộng là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu của mọi tầng lớp dân
cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và tuyến
ổn định trong thời kỳ nhất định Còn xét theo tính chất của đối tượng phục vụ thì Vận tải hành khách công cộng là loại hình vận tải phục vụ chung cho xã hội mang tính công cộng trong đô thị bất luận nhu cầu đi lại là gì Thiên về mặt ý nghĩa xã hội, Vận tải hành khách công cộng được hiểu là một hoạt động trong đó sự vận chuyển được cung cấp cho hành khách để thu tiền cước bằng những phương tiện không phải của họ.1
Theo quy định của Cục đường bộ (Bộ Giao thông Vận tải), Vận tải hành khách công cộng là tập hợp các phương thức, phương tiện vận tải để vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố ở cự ly nhỏ hơn 50km và có sức chứa trên 8 hành khách.2
Vì vậy, vận tải hành khách công cộng là tập hợp các phương thức vận tải thực hiện chức năng vận chuyển số lượng lớn hành khách, phục vụ sự đi lại của người dân trong thành phố trong một khoảng thời gian đã được quy định sẵn Những phương thức vận tải hành khách công cộng đề cập đến đó là tàu điện ngầm, vận tải đường sắt và xe buýt …
1Lê Trung Tính, 2000, trang 4-5
2Nguyễn Thị Hồng Mai, 1998, trang 11
Trang 17Với định nghĩa đó thì vận tải hành khách công cộng mang một ý nghĩa to lớn đối với Thành phố cũng như đối với hệ thống giao thông đô thị Vận tải hành khách công cộng không những đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong Thành phố mà còn là giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, giảm tai nạn và ô nhiễm môi trường, giảm mật độ phương tiện giao thông cũng như góp phần tiết kiệm chi phí chung cho toàn xã hội
Tại Thành phố, hệ thống vận tải hành khách công cộng gồm nhiều loại, được phân chia theo những phương thức khác nhau, được thể hiện bằng sơ đồ bên
dưới (xem trang 17)3
Trong hệ thống các phương thức vận tải hành khách công cộng thì xe buýt đóng vai trò quan trọng trong việc trung chuyển hành khách, làm cầu nối tạo mối liên hệ đảm bảo sự liên thông của cả hệ thống vận tải hành khách công cộng ở các
đô thị Tại Thành phố của các nước phát triển, xe buýt chiếm một tỷ lệ khá cao
Xe buýt là hoạt động vận tải hành khách ô tô theo tuyến cố định, có các điểm dừng, đón, trả khách Đặc điểm nổi bật của xe buýt là có tính cơ động cao, hệ thống điều hành khá đơn giản, thời gian đầu tư nhanh chóng và có thể thay đổi linh hoạt để phù hợp với công suất hành khách khác nhau Vận tải xe buýt có vốn đầu tư thấp hơn so với các loại hình vận tải hành khách công cộng khác, chi phí khai thác cũng tương đối thấp nên thích hợp với đại bộ phận là học sinh – sinh viên và những người đi làm thường xuyên.4 Nhược điểm của xe buýt là năng suất vận chuyển không cao, tốc độ khai thác còn thấp (12-15km/giờ) nhưng xe buýt vẫn đóng một vai trò quan trọng nên việc phát triển nó là vấn đề cấp thiết, nhất là đối với Thành phố Hồ Chí Minh, khi mà các loại hình vận tải hành khách công cộng khác chưa có điều kiện phát triển trong khi nhu cầu đi lại ngày càng tăng
3 Nguyễn Thị Hồng Mai, Hoàn thiện phương pháp xây dựng mạng lưới tuyến vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt trong Thành phố, Hà Nội, 1998
4Nguyễn Thị Hồng Mai, 1998, trang19
Trang 181.1.2 Các từ ngữ trong vận tải hành khách bằng xe buýt 5
- Tuyến xe buýt là tuyến đường được xác định để vận chuyển hành khách
bằng xe buýt đi từ một địa điểm này đến một địa điểm khác trong Thành phố hoặc tỉnh liền kề Ngoài các tuyến xe buýt có chế độ chạy xe thông thường còn có các
tuyến xe buýt có chế độ chạy riêng được quy định như sau: tuyến chạy nhanh là
tuyến xe chạy suốt từ điểm đầu đến điểm cuối tuyến, không hoặc chỉ dừng ở một
5Quy định về tổ chức quản lý hoạt động vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn Tp.HCM
ban hành kèm theo Quyết định số 321/2003/QĐ-UB ngày 30/12/2003 của UBND Thành phố
Giao thông vận tải đô thị
Hệ thống giao thông động
Hệ thống giao thông tĩnh
Vận tải hàng hóa
Vận tải hành khách
Vận tải chuyên dụng
Đường sá và các công trình phục vụ trên đường
Bãi đậu xe;
bến đầu, cuối; Điểm dừng dọc đường
Vận tải công cộng
Sức chứa nhỏ hơn 8 người Sức chứa lớn hơn 8 người
Xe
đạp
Xe máy
Taxi Xe
lam
Xe thô
sơ
Các loại khác
Ô tô buýt
Các loại khác
Tàu điện bánh hơi
Tàu điện trên cao
Ô tô
con
Tàu điện bánh sắt
Tàu điện ngầm
Trang 19vài trạm trên tuyến; tuyến xe chạy đêm; tuyến xe đưa rước học sinh – sinh viên,
công nhân viên chức…;tuyến xe buýt được chạy trên làn đường riêng Tuyến xe buýt thử nghiệm là tuyến mới đưa vào hoạt động thử trong một thời gian nhất định
hoặc là tuyến xe buýt được áp dụng các chính sách ưu đãi hoặc ưu tiên do thành phố tổ chức;
- Lịch trình chạy là thời gian xác định cho một hành trình chạy xe từ điểm
xuất phát đến khi kết thúc của một chuyến xe buýt, trong đó quy định cụ thể thời gian dừng lại tại mỗi trạm, nhà chờ dọc đường để đón, trả khách;
- Biểu đồ chạy xe là tổng hợp các lịch trình chạy xe của các chuyến xe buýt
được tham gia khai thác trên cùng một tuyến xe buýt;
- Sổ nhật trình chạy xe là sổ do doanh nghiệp cấp cho xe để ghi chép hành
trình, lịch trình chạy xe theo từng chuyến có xác nhận của doanh nghiệp tại điểm đầu và điểm cuối của tuyến, cơ quan quản lý tuyến xe buýt thực hiện nhiệm vụ tái xác nhận;
- Cơ sở hạ tầng xe buýt là hệ thống các điểm đầu, điểm cuối, trạm dừng,
nhà chờ, đầu nối trung chuyển hành khách, bãi kỹ thuật (bãi hậu cần), bãi giữ xe
cá nhân, hệ thống trang thiết bị thông tin trên tuyến
1.2 Tình hình nghiên cứu về giao thông đô thị
Vận tải hành khách công cộng tại các đô thị là một vấn đề cấp thiết do đó
đã được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn, nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống vận tải hành khách công cộng, trong đó có xe buýt đã được thực hiện Trong phạm
vi hiểu biết của nhóm thực hiện đề tài, chúng tôi có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
1.2.1 Hệ thống giao thông đô thị trên Thế giới
Năm 1826, hệ thống vận chuyển công cộng (sử dụng omnibus ) có thể đã được ra đời đầu tiên tại Nantes, Pháp 6.Omnibus ban đầu là một tuyến xe ngắn, chỉ
đề vận chuyển hành khách từ trung tâm thành phố đến các nhà tắm công cộng ở
6http://vi.wikipedia.org
Trang 20ngoại ô do một cựu viên chức xây dựng Khi nhận ra rằng, hành khách lên xe của ông chỉ xuống ở những điểm giữa đường, người cựu viên chức ấy đã chú tâm đến việc phát triển tuyến xe đó Điều này cho thấy omnibus có tác động rất lớn đến xã hội, nó đã thúc đẩy sự phát triển của các thành thị Sau năm 1905, omnibus có động cơ được gọi là autobus ra đời, đánh dấu sự ra đời và phát triển của hệ thống vận tải hành khách công cộng – xe buýt hiện nay
Để khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông và thiếu bãi đậu xe, chính phủ Hàn Quốc đã quy định các tuyến đường chỉ dành riêng cho xe buýt và áp dụng thẻ giao thông nhằm cải tiến dịch vụ chuyên chở bằng xe buýt 7 Hiện tại Hàn Quốc có
ba loại xe buýt chính phục vụ trên các tuyến đường trong khu trung tâm thành phố, ngoài ra còn có tuyến xe buýt thành phố, xe buýt tốc hành và xe buýt chở khách ra sân bay
Tại Thái Lan, Chính phủ đã thông qua kế hoạch thuê khoảng 6.000 xe buýt chạy bằng khí đốt tự nhiên để đối phó với tình trạng giá nhiên liệu leo thang cũng như giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường cho hoạt động giao thông công cộng tại thủ đô 8
Các tác giả của những bài viết trên đều sử dụng những khía cạnh khác nhau
để nghiên cứu và phân tích, đánh giá vấn đề giao thông đô thị Tại Hàn Quốc, Thái Lan, nơi mà tốc độ đô thị hóa cao, tình trạng người dân sử dụng phương tiện cá nhân rất nhiều gây ách tắc giao thông trong thành phố Tùy theo đặc điểm từng nơi
mà các quốc gia này có các biện pháp khác nhau nhưng mục đích cuối cùng vẫn là hạn chế phương tiện cá nhân và tạo điều kiện cho hệ thống vận tải hành khách công cộng ngày càng phát triển
1.2.2 Hệ thống giao thông đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 2.095.239 km2 bao gồm 19 quận và 5 huyện Từ thế kỷ XVIII, Thành phố phát triển và trở thành điểm buôn bán quan trọng với Chợ Lớn là trung tâm Vào năm 1862, Đô đốc Bonard đã thông qua bản
7http://www.hanquocngaynay.com
8http://giaothongvantai.com.vn
Trang 21quy hoạch đầu tiên, nhằm xây dựng Sài Gòn thành một thành phố có hai trung tâm
là Sài Gòn và Chợ Lớn, quy mô nửa triệu dân Từ đó, mạng lưới giao thông dần dần được hình thành và lan ra các vùng lân cận 9
Các hoạt động về kinh tế, thương mại, văn hóa, tài chính, giáo dục của Sài Gòn trước năm 1975 chủ yếu tập trung ở quận 1, 3 và một phần quận 5 Tình trạng
di cư ồ ạt vào nội đô Thành phố từ miền Trung, Đông Nam Bộ để tránh chiến tranh lại gây thêm sự quá tải rất lớn cho Thành phố Thời kỳ suy thoái kinh tế vào những năm 1975 đến 1985, áp lực quá tải tại Thành phố vẫn còn song không quá nặng nề Từ năm 1990 đến nay, dân cư nhanh chóng tăng không chỉ ở khu vực nội thành mà cả ngoại thành vì đang bước vào thời kỳ đô thị hóa
Tốc độ tăng trưởng của dân số và kinh tế đã vượt quá sự phát triển của cơ
sở hạ tầng và chính điều này đã ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến giao thông đô thị và chất lượng môi trường đô thị Đô thị hóa nhanh, trong khi cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông vận tải yếu kém và không đồng bộ, càng làm cho giao thông đô thị trở nên khó khăn và cũng chính điều này sẽ làm chậm lại sự phát triển kinh tế
Cơ sở hạ tầng giao thông của Thành phố Hồ Chí Minh ban đầu vốn được người Pháp thiết kế cho một Thành phố với quy mô dân số nhỏ, nửa triệu dân, và cũng do ảnh hưởng của chiến tranh, quá trình cơ giới hóa của Thành phố đã diễn
ra chậm chạp trong vòng 50 năm trở lại đây, sau đó còn là một giai đoạn ngắn bị
cô lập về kinh tế 10 Vì vậy, xe đạp đã trở thành phương tiện đi lại phổ biến nhất đối với người dân Thành phố trong khi xe buýt cũ được tận dụng tối đa
Việt Nam tái hòa nhập vào nền kinh tế Thế giới, chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa nhờ chính sách đối nội đối ngoại tích cực, đem lại nhiều thay đổi lớn cho ngành giao thông vận tải Các công ty xe buýt của Thành phố giải thể, chuyển thành những doanh nghiệp tư nhân, vì thế mà các chính sách hỗ trợ bị ngừng đột ngột nhưng lại không có sự thay đổi nào để điều
9Sài Gòn Đầu tư & Xây dựng, 1998, số 3 - 5
10Đoàn Nghiên cứu Houtrans, 2004, trang 3
Trang 22tiết, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống vận tải hành khách công cộng của Thành phố, dẫn đến việc người dân Thành phố chuyển sang sử dụng xe gắn máy
Theo bản dự thảo về Kế hoạch giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 – 2010 của Ủy ban
Nhân dân Thành phố đã chỉ ra thực trạng của hệ thống giao thông đường bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Thành phố có tổng cộng 3.365 con đường với tổng chiểu dài khoảng 3.223km, mật độ diện tích đường trên đầu người chỉ là 1,48m2/người trong khi theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến thì con số đó phải là 6-10m2/người Chất lượng kỹ thuật của mạng lưới giao thông Thành phố hiện nay còn thấp, phương tiện vận tải lạc hậu, quỹ đất dành cho giao thông quá nhỏ, sản lượng xe lưu thông thì quá tải…Do đó có thể nói, giao thông đô thị tại Thành phố
Hồ Chí Minh đang đứng trước những thách thức lớn
Đầu năm 2002, Thành ủy và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra thông báo số 219/TB – VP ngày 10 tháng 12 năm 2001 của Văn phòng Hội đồng Nhân dân và Úy bản Nhân dân Thành phố về nội dung kết luận của Thường trực Thành úy cho thực hiện kế hoạch củng cố các tuyến xe buýt và Văn bản số 89/UB – ĐT ngày 09 tháng 01 năm 2002 của Ủy ban Nhân dân Thành phố về việc thực hiện kế hoạch thể nghiệm nâng cấp mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt Chủ trương đề ra là nâng cấp hoạt động xe buýt trên cơ sở nâng cao chất lượng phục vụ như đúng giờ, cải thiện mạng lưới tuyến xe buýt chính, hỗ trợ giá vé …
Sau một thời gian dài hoạt động, dù các tuyến xe buýt đã được đầu tư và
mở rộng, hiện có khoảng 112 tuyến đang hoạt động, vận chuyển 17.492 chuyến/ngày, nhưng cũng mới đáp ứng được 4.3% nhu cầu đi lại của người dân Thành phố 11 Theo Sở Giao thông công chánh 12 thì tình trạng vắng khách hiện nay của các tuyến xe buýt còn do chất lượng xe xuống cấp, đồng thời phải kể đến chất lượng phục vụ của nhà xe như thái độ của tiếp viên, lái xe trong việc phục vụ
11http://www.buyttphcm.com.vn
12http://www.tuoitre.vn
Trang 23hành khách đi xe buýt và việc thực hiện dừng, đỗ xe không đúng nơi quy định Xe buýt chạy ẩu, dàn hàng ngang trên đường gây mất an toàn giao thông Tuy nhiên, hoạt động tiếp nhận và trả lời các phản ánh, khiếu nại của hành khách từ đường dây nóng chưa được thực hiện tốt
Qua những phân tích trên, để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa và phân tích đánh giá các kết quả đạt được Việc đánh giá này dựa trên kết quả cuộc khảo sát những người sử dụng xe buýt bằng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu Bên cạnh đó, chúng tôi còn lấy ý kiến của tài xế
xe buýt, nhân viên phục vụ và cả những người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 24CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG
VÀ VĂN MINH TRÊN XE BUÝT Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1 Khảo sát ý kiến của người dân Thành phố Hồ Chí Minh và người nước ngoài về việc chấp hành luật giao thông và văn minh trên xe buýt hiện nay 2.1.1 Ý thức chấp hành luật giao thông hiện nay
Sau khi phát ra tổng cộng 400 phiếu khảo sát, trong đó 300 phiếu phỏng vấn người dân đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng nhân viên phục vụ
xe buýt (tài xế, tiếp viên xe buýt), 50 phiếu khảo sát người nước ngoài sinh sống
và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và 50 phiếu dùng để khảo sát đối tượng là người nước ngoài đang du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh Sau quá trình phát phiếu khảo sát, nhóm chúng tôi thu về được 97 phiếu khảo sát dành cho người nước ngoài trong đó có 95 phiếu hợp lệ và thu về 278 phiếu khảo sát dành cho người dân Việt Nam hiện đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có
261 phiếu hợp lệ (trong đó gồm 55 phiếu của tài xế và 34 phiếu của tiếp viên xe buýt)
Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng và sức mua sắm của số đông người dân tại Thành phố Khả năng mua sắm phương tiện giao thông
cá nhân như xe gắn máy, ôtô con … do vậy cũng ngày càng tăng cao, kéo theo đó
là xu hướng giảm của việc sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng, điển hình là xe buýt Vào năm 1996 – 1998, một cuộc điều tra về số lượng xe đã được tiến hành Kết quả cho thấy có 65% - 72% xe máy ra vào khu vực trung tâm
và 0,3% - 1% xe buýt, xe lam, xe bốn bánh nhỏ … vận chuyển hành khách công cộng 13 Điều đó cho thấy việc đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Thành phố
trong thời gian qua chủ yếu là xe đạp và xe gắn máy (Xem biểu đồ 1)
13
Báo cáo “Nghiên cứu chính sách trợ giá và cơ chế trợ giá cho xe buýt tại Tp.HCM 2003” của UBND TPHCM
Trang 25Biểu đồ 1: Việc sử dụng phương tiện giao thông tại Tp.HCM
32
64
0 10 20 30 40 50 60 70
Xe đạp Xe gắn
máy
Xe hơi Phương
tiện VTHKCC
Các phương tiện khác
Khảo sát từ 95 người nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh về mức độ thường xuyên sử dụng xe buýt, kết quả thu được chỉ có 19 người (20%) trả lời rằng thường xuyên đi xe buýt, 36 người (38%) thỉnh thoảng có sử dụng, 27 người (29%) chỉ đôi khi đi xe buýt và 13 người (13%) trả lời rằng họ không sử dụng xe
buýt (Xem biểu đồ 2 – Trang 3 Phụ lục 2)
Tuy nhiên kết quả khảo sát dành cho người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh thì cho kết quả ngược lại Trên tổng số phiếu khảo sát hợp lệ là 172 có đến 98 người trả lời thường xuyên sử dụng xe buýt chiếm tỉ lệ khoảng 57%, 22 người (13%) thỉnh thoảng sử dụng xe buýt, 41 người (24%) đôi khi sử dụng và 11 người
(6%) không xử dụng xe buýt (Xem biểu đồ 3 – Trang 3 Phụ lục 2)
Tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt” do HĐND TP.HCM
tổ chức ngày 24/3/2009, Ban kinh tế - ngân sách HĐND thành phố cho biết trong năm 2008 mức độ hài lòng của người dân đối với xe buýt đã giảm còn 49,5% so với 78,9% năm 2006 14 Kết quả khảo sát do nhóm đề tài thực hiện trong năm nay
cũng cho ra đáp án tương tự (Xem biểu đồ 4 – Trang 4 Phụ lục 2) Chỉ 48 người
trên tổng số 267 người chiếm tỉ lệ 18% trả lời hài lòng, 70 người (26%) cho rằng tạm chấp nhận và có đến 149 người (56%) trả lời không hài lòng khi sử dụng xe
buýt
14www.toquoc.gov.vn
Trang 26Trong quá trình tiến hành khảo sát, một trong những nguyên nhân khiến hành khách không hài lòng khi sử dụng xe buýt đó là vì tính an toàn của loại
phương tiện này
Trên tổng số 55 tài xế xe buýt tham gia quá trình khảo sát, ngoài 2 tài xế từ chối trả lời thì chỉ duy nhất 1 tài xế khẳng định mình chưa hề vi phạm luật giao thông (2%), còn lại 98% trả lời có vi phạm với các mức độ như: thường xuyên vi phạm 11% (6 tài xế), thỉnh thoảng 42% (22 tài xế) và vi phạm một vài lần 45% (24
tài xế) (Xem biểu đồ 5 – Trang 4 Phụ lục 2)
Theo số liệu của Phòng CSGT đường bộ, Công an TP.HCM, trong năm
2008 trên địa bàn xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông do xe buýt gây ra, làm 38 người chết, 7 người bị thương; và 129 vụ va chạm khiến 111 người bị thương Đáng lưu
ý, 15/38 vụ tai nạn giao thông chết người do xe buýt gây ra có nguyên nhân xe buýt lưu thông không đúng phần đường 15
Một người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh kể lại “Tôi còn nhớ rất rõ hôm
đó, khi đi xe buýt về nhà, tài xế điều khiển xe chạy với tốc độ rất nhanh, khi tránh một vụ va quẹt trên đường đã phanh gấp khiến cho một hành khách trên xe đập đầu vào kính xe nằm bất tỉnh tại chỗ Từ đó tôi cũng hạn chế đi xe buýt, chỉ khi không còn lựa chọn nào khác tôi đành phải đi xe buýt” (Minh Thu, 27 tuổi, nhân
viên văn phòng)
Chuyện xe buýt ở TP.HCM chạy ẩu, gây tai nạn không phải bây giờ mới xảy ra, mà đã tồn tại nhiều năm qua khiến dư luận bức xúc Nhiều người còn gọi loại phương tiện này là “hung thần đường phố” để biểu thị sự bức xúc khi lưu
thông trên đường “Thú thực, khi lưu thông trên đường, mỗi lần thấy xe buýt là tôi lại mất bình tĩnh vì không biết tài xế sẽ cho xe tấp vào lề khi nào Đường phố thì hẹp, lưu thông hỗn hợp mà họ chạy cứ như trong sân nhà, thích tấp vào là tấp, chẳng cần xin đường, quan sát… Chạy vậy không gây tai nạn mới lạ” (Đoàn
Tiến, 37 tuổi, quận Tân Bình)
15www.toquoc.gov.vn
Trang 27Nhóm tác giả thực hiện đề tài đã tiến hành khảo sát trên tổng số 300 hành khách sử dụng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổng hợp kết quả từ 267 phiếu khảo sát hợp lệ, chúng tôi rút ra được 8 lỗi vi phạm luật giao thông phổ biến nhất
của các tài xế xe buýt hiện nay (Xem bảng 1)
THỨ BẬC
1 Sử dụng điện thoại khi đang lái xe 72 26,97 4
2 Chạy lấn tuyến vào làn xe 2 bánh 257 96,25 1
4 Dừng tấp lề / rẽ trái phải đột ngột 62 23,22 5
7 Không dừng hẳn xe khi đón trả khách 246 92,13 2
8 Không tuân thủ tín hiệu đèn giao thông 48 17,98 6
Bảng 1: Các lỗi vi phạm luật giao thông phổ biến nhất của tài xế xe buýt
2.1.2 Ý thức văn minh trên xe buýt
Một nguyên nhân nữa khiến cho số lượng hành khách không hài lòng về xe buýt cao cũng như không sử dụng xe buýt thường xuyên chính là “văn minh xe buýt” hiện nay vẫn còn rất kém Kết quả khảo sát của 149 phiếu trả lời “không hài lòng” khi sử dụng xe buýt, có đến 52 người (chiếm tỷ lệ 35%) không hài lòng về thái độ phục vụ, 34 người (23%) trả lời vì mức độ an toàn, 57 người (38%) cho rằng cả hai lý do trên và 6 người (4%) trả lời với một vài ý kiến khác (như tính cơ
động của phương tiện này không cao, giá vé không hợp lý v.v…) (Xem biểu đồ 6 – Trang 5 Phụ lục 2)
Chúng tôi tiếp tục tổng hợp ý kiến trên tổng số 109 phiếu trả lời “không hài lòng” vì “thái độ phục vụ” và “cả hai lý do” (bao gồm cả lý do vì mức độ an toàn),
có đến 53 người (49%) trả lời rằng họ không hài lòng về cách phục vụ của tiếp viên, 20 người (18%) không hài lòng về thái độ phục vụ của tài xế và 36 người
Trang 28(33%) không hài lòng vì thái độ phục vụ của cả tài xế lẫn tiếp viên trên xe buýt
hiện nay (Xem biểu đồ 7 – Trang 5 Phụ lục 2) 9 hành vi mà các hành khách đánh
giá là rất bất lịch sự, thiếu văn minh của tài xế tiếp viên trên xe buýt hiện nay được chúng tôi tổng hợp lại trong bảng sau:
Bảng 2: Những hành vi kém văn minh trên xe buýt hiện nay của nhân viên
phục vụ xe buýt hiện nay
Qua việc tổng hợp ý kiến từ phiếu khảo sát của hành khách, chúng tôi ghi nhận rằng đa số họ đều rất bức xúc trước việc tài xế thường xuyên bỏ trạm, dừng
sai trạm (Xem thêm bảng 3 và 4 – Trang 9 Phụ lục 2), ngoài ra cũng không hài
lòng trước thái độ dửng dưng vô cảm của nhân viên phục vụ khi họ nhìn thấy hành
khách “say xe”, nôn mửa v.v… Chú Thắng, 41 tuổi, công nhân viên kể lại “Trên
xe khi đó có một cô gái say xe nên nôn ra sàn, chẳng những tiếp viên không đến
Trang 29giúp đỡ, xem cô gái ấy có sao không thì lại hét lên “Trời ơi”, còn tài xế thì lắc
đầu văng tục…Tôi không hiểu đó là thứ văn minh văn hóa gì !?”
Đó là tổng hợp các ý kiến khảo sát từ hành khách sử dụng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh về văn minh trên xe buýt của tài xế, tiếp viên hiện nay Để đề tài mang tính khách quan hơn, chúng tôi cũng tiến hành lấy ý kiến khảo sát từ tài xế
và tiếp viên xe buýt cũng như từ ý kiến của người dân, người nước ngoài sinh sống, làm việc, du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh về thái độ, cũng như sự “văn minh” của hành khách sử dụng xe buýt
Một cử chỉ rất đơn giản nhưng rất nhân văn là nhường ghế cho người già, người lớn tuổi, phụ nữ, trẻ nhỏ,… nhưng rất ít được hành khách thực hiện Tài xế
Hưng, 40 tuổi, chạy tuyến 52 (S09 cũ, tuyến phục vụ sinh viên) kể “Sinh viên nhưng cũng … tệ lắm! Tôi vẫn phải nhắc hoài việc nhường ghế cho thầy cô và người lớn tuổi, chứ chưa bao giờ thấy mấy đứa tự giác cả”
Khảo sát từ 89 tài xế tiếp viên cho kết quả về ý thức của hành khách sử dụng xe buýt về việc nhường ghế cho những đối tượng ưu tiên, có 6 người (7%) trả lời rằng thường xuyên thấy hành khách nhường ghế, 28 người (31%) cho rằng thỉnh thoảng, 30 người (34%) trả lời chỉ đôi khi và 25 người (28%) cho rằng hiếm
khi thấy hành khách tự giác nhường ghế (Xem biểu đồ 10 – Trang7 Phụ lục 2)
Nhận xét về hành khách của mình, một số tài xế và tiếp viên cho rằng, bên cạnh một số người rất văn minh lịch sự khi sử dụng xe buýt thì vẫn còn một bộ phận không nhỏ rất thiếu ý thức Nhiều người vẫn còn gác chân lên ghế, hút thuốc,
ăn uống trên xe gây mùi khó chịu, lắm người còn khạc nhổ bừa bãi, nói chuyện lớn tiếng, không ít lần còn gây nhau “trong điện thoại” khiến mọi người xung quanh đều khó chịu Vài người khách lên xe trong tình trạng “nửa tỉnh nửa mê” vì rượu bia, có khi thì chọc ghẹo tiếp viên, lúc thì gây nhau với tài xế, nói năng rất thiếu văn hóa
Phàn nàn về hành khách của mình, tiếp viên Xuân Thắng, 24 tuổi cho biết
“Suốt ngày ngồi xe đã mệt lắm rồi, vậy mà có nhiều người rất thiếu ý thức, lên xe buýt – một nơi công cộng mà cứ như ở nhà mình vậy, nói chuyện cười đùa rất lớn
Trang 30tiếng, có người còn nồng nặc mùi rượu nói chuyện thiếu lịch sự…nhiều lúc tôi thấy mệt mỏi ghê gớm”
Một số tài xế tiếp viên kể lại rằng, không ít lần họ bị hành khách cho là “lừa đảo” khi chạy xe không dừng đúng … nhà của họ, hay vì tình trạng giao thông tắc nghẽn buộc tài xế phải chạy tuyến đường khác, không đúng lộ trình của hành
khách “Họ đi xe buýt mà cứ tưởng đi taxi, bắt phải dừng lại ngay khi họ muốn trong khi trạm gần nhất cũng phải cách đó 60-70m Có lúc tôi phải chạy sang một tuyến đường khác do tránh kẹt xe, có nói rõ ràng với hành khách trên xe, thế mà còn… bị cho là “lừa đảo”” (Tài xế Tuấn Anh, 28 tuổi, lắc đầu ngán ngẩm)
Khảo sát về vấn đề văn minh trên xe buýt hiện nay của hành khách, 22 người cho rằng hành khách của họ lịch sự nhã nhặn văn minh, 37 người trả lời hành khách của họ bình thường nhưng có đến 30 người phàn nàn họ phải phục vụ
hành khách bất lịch sự và thiếu văn hóa (Xem biểu đồ 11 – Trang 7 Phụ lục 2 )
Cô Vicente, người Bồ Đào Nha, đã sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí
Minh 5 năm, thường xuyên sử dụng xe buýt, nhận xét rằng “Văn minh trên xe buýt của người Việt các bạn cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa Tôi cũng đôi lần gặp những hành khách thiếu lịch sự trên xe Họ không những làm phiền tiếp viên tài xế mà còn gây khó chịu cho những hành khách khác nữa.”
Nếu như an toàn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi hành khách thì an ninh trên xe buýt là một vấn đề cũng quan trọng không kém Tuy rằng đã giảm nhưng vẫn còn tiếp diễn trên các tuyến xe buýt hiện nay là nạn trộm cắp móc túi Kết quả khảo sát từ 267 hành khách đi xe buýt thì có 64 người (24%) trả lời rằng đã từng
bị trộm cắp khi sử dụng xe buýt, 203 người (76%) trả lời chưa bị trộm cắp trên xe
(Xem biểu đồ 12 – Phụ lục 2) Tiếp tục khảo sát 203 hành khách trả lời chưa bị
trộm cắp trên xe về vấn đề đã từng chứng kiến trộm cắp trên xe buýt chưa thì có đến 116 hành khách (57%) trả lời đã từng chứng kiến, 87 hành khách (43%) trả lời không
Phần lớn những hành khách đã từng bị mất cắp trên xe buýt nhận xét, họ thường chỉ biết mình bị kẻ gian trộm cắp khi đã xuống xe, đến trình báo với Trung
Trang 31tâm Điều hành Vận tải hành khách công cộng thì cũng không nhận được sự giúp
đỡ thật thỏa đáng từ tài xế, tiếp viên hay chính những người tại nhà điều hành để tìm lại vật mất cắp hay thất lạc trên xe buýt Còn với những người chứng kiến (116 người), theo kết quả khảo sát, chỉ 3 người (3%) trả lời ngăn chặn hành vi trộm cắp,
13 người (11%) báo cho người bị hại biết, 22 người (19%) báo cho tiếp viên hoặc tài xế biết và có đến 78 người (67%) chọn giải pháp xem như không nhìn thấy
(Xem biểu đồ 13 – Trang 8 Phụ lục 2)
Khảo sát tài xế và tiếp viên, hầu hết họ đều trả lời rằng thỉnh thoảng có nhìn
thấy vài vụ trộm cắp trên xe nhưng “… bọn chúng nó đi từng đám ba, bốn người, mình cũng sợ nên không dám phản ứng Chỉ dám nhắc nhở hành khách cẩn thận
đồ đạc mà thôi” (Tuyết Anh, 26 tuổi, tiếp viên ) Những biểu hiện thiếu văn minh
trên xe buýt hiện nay của hành khách được chúng tôi tổng hợp lại dựa trên kết quả khảo sát từ 356 phiếu hợp lệ thành bảng tổng kết sau:
BẬC
1 Nói chuyện điện thoại lớn tiếng 110 30,89 5
2 Không nhường ghế cho đối tượng được ưu tiên 263 73,87 2
4 Gác chân lên hàng ghế phía trước 56 15,73 7
5 Đùa giỡn quá mức, văng tục, chửi thề 284 79,77 1
6 Không nghe theo hướng dẫn của nhân viên
phục vụ
68 19,10 6
7 Say xỉn, khạc nhổ bừa bãi, không giữ vệ sinh 38 10,67 8
9 Yêu cầu đón / xuống xe không đúng trạm 252 70,79 3
Bảng 5: Những hành vi kém văn minh của hành khách sử dụng xe buýt (do tài xế,
tiếp viên và hành khách sử dụng xe buýt đánh giá)
Trang 322.2 Nguyên nhân của những vấn đề tiêu cực còn tồn tại trên xe buýt hiện nay
Qua quá trình phát phiếu khảo sát về những khía cạnh khác nhau của ý thức chấp hành luật giao thông cũng như văn minh trên xe buýt hiện nay ở Thành phố
Hồ Chí Minh, chúng tôi đã rút ra được các số liệu cụ thể như đã trình bày trong mục trên Từ các số liệu cũng như một số phản ánh thu được, chúng ta không khỏi băn khoăn lo lắng về những tồn tại còn tồn đọng trên xe buýt – một góc văn hóa nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Để có thể tìm ra biện pháp khả thi cụ thể và hiệu quả nhất trong khả năng của mình, nhóm chúng tôi thiết nghĩ phải đi sâu vào phần tìm hiểu và phân tích nguyên nhân của những vấn đề đó 8 nguyên nhân dưới đây được chúng tôi tổng hợp lại từ rất nhiều ý kiến của các đối tượng nghiên cứu:
BẬC
2 Tâm lý muốn yên ổn, sợ phiền toái, không
muốn nổi bật, cư xử hành động theo số đông
233 65,45 3
3 Ý thức tự giác chấp hành pháp luật còn thấp 285 80,06 2
4 Xử phạt chưa nghiêm minh, chưa cứng rắn 181 50,84 5
5 Công tác đào tạo nghiệp vụ lái xe quá dễ dãi 218 61,23 4
7 Trật tự giao thông chưa ổn định 118 33,15 8
8 Cường độ làm việc (nhân viên phục vụ) cao 128 35,95 7
Bảng 6: Nguyên nhân gây nên những hành vi vi phạm luật giao thông, những biểu hiện của sự thiếu văn minh trên xe buýt
2.2.1 Nguyên nhân khách quan
2.2.1.1 Cơ sở hạ tầng giao thông
Thành phố Hồ Chí Minh không những đảm nhiệm vai trò của một trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực miền Nam mà còn là của cả nước Kinh tế Thành phố phát triển, do đó nguồn ngân sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Thành phố
Trang 33cũng tăng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực hạ tầng giao thông vận tải nhằm tạo động lực thúc đẩy sự phát triển chung của Thành phố Có nhiều phương thức vận tải khác nhau tại Thành phố, được kết nối với nhau bởi các đường quốc lộ, hệ thống cảng biển, một sân bay quốc tế và ga tàu hỏa Nhưng chủ yếu tại Thành phố hiện nay, đường bộ gần như là phương thức duy nhất đáp ứng nhu cầu giao thông đô thị, hệ thống được thủy và đường sắt có vai trò rất hạn chế
Trên địa bàn Thành phố hiện nay có khoảng 3.365 con đường, tổng chiều dài là 3.223 km, tổng diện tích mặt đường là 2.095 km2, mật độ diện tích mặt đường trên đầu người là 1,48m2/người, mật độ diện tích đường giao thông so với tổng diện tích của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới đạt 1,5km/km2 Theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, để đáp ứng nhu cầu giao thông thì mật độ diện tích đường so với diện tích chung phải đạt từ 10 – 20%, chỉ số mật độ diện tích trên đầu người phải đạt từ 6 – 10m2/ người16
Như vậy, diện tích đất dành cho giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh còn quá thấp Mạng lưới đường còn thiếu, không đồng đều và tình trạng lấn chiếm đường hiện nay đang rất phổ biến17
Theo kết quả phân loại và đánh giá của Houtrans (2003, trang 4 – 34), hệ thống đường bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh được phân thành bốn khu vực:
- Khu vực nội thành cũ (gồm quận 1 và quận 3) nhìn chung đã phát
triển với hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ khá tốt, chiếm 6% diện tích đất
Có nhiều đại lộ lớn và mạng lưới khá liên thông với nhau, có nhiều đường một chiều đáp ứng được nhu cầu giao thông hiện đại Mạng lưới đường ở khu vực này dạng ô bàn cờ, tuy được quy hoạch khá hoàn chỉnh nhưng trong nhiều năm qua việc đầu tư phát triển, mở rộng nâng cấp cũng như
chỉnh trang còn nhiều hạn chế
- Khu vực nội thành mới giới hạn bởi sông Sài Gòn, kênh Bến
Nghé, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và quận Bình Tân Tuy rằng khu vực
16Dự thảo UBND Tp.HCM, 2007
17Lê Trung Tính, 2000, trang 28
Trang 34này đã phát triển song mạng lưới đường chưa đủ, xét về chiều rộng và mật
độ đường Tại khu vực này, xe tải, xe ôtô chỉ chiếm một lượng nhỏ trong
luồng giao thông
- Khu vực ngoại thành đang được phát triển song song với quá trình
mở rộng Thành phố Hầu hết những khu vực này đều bị tách biệt khỏi khu
vực đã được đô thị hóa bởi sông ngòi và kênh rạch
- Khu vực ngoại vi và khu vực nông thôn cũng nằm trong quy
hoạch phát triển Song nhiều vùng chưa có quy hoạch cụ thể mà chỉ cải tạo
đường hiện có, chủ yếu là đường nông thôn
Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường bộ cũng có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực Đường ở khu vực tiếp giáp khu trung tâm, một số đường hướng tâm chính được xây dựng và bão dưỡng khá tốt Trái lại, phần lớn các con đường đều hẹp, chỉ khoảng 14% số đường có lòng đường trên 12m có thể tổ chức vận chuyển bằng xe buýt, 51% số đường rộng từ 7m – 12m chỉ thích hợp cho ôtô con lưu thông, trong khi đó, 35% số đường còn lại có lòng đường dưới 7m chỉ phù hợp cho xe hai bánh lưu thông
Nhìn chung các con đường trong Thành phố đang được nâng cấp và cải tạo,
do đó đường hẹp (do dựng các hệ thống lô cốt) và mặt đường rất xấu Ở những quận đã được đô thị hóa thì mạng lưới đường cơ bản được quy hoạch và xây dựng
từ thời Pháp thuộc, khá dày đặc Tuy mạng lưới đường tương đối phát triển nhưng vẫn có sự chênh lệch về tiêu chuẩn ở những điểm trên mạng lưới Hệ thống đường
ở các khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh vẫn còn thiếu, nếu xét về mạng lưới tuyến, số lượng, chất lượng đường Các đường trong khu vực nội thành chủ yếu là đường hai làn, ngay một số ít đường 6 làn và 4 làn, số làn xe đó cũng bị giảm ở một vài đoạn Đường một làn tập trung giữa khu vực đô thị hóa và quốc lộ 1A, nhất là ở quận Bình Thạnh và Phú Nhuận Tình trạng đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển của xe buýt.18
18Houtrans, 2003, trang 4 – 15
Trang 35Mạng lưới đường bộ chưa đầy đủ và kết cấu còn yếu kém, thêm vào đó là việc phân bố luồng tuyến giao thông chưa phù hợp, gây ra cản ngại không nhỏ cho
sự lưu thông của xe buýt Anh Hoàng, 29 tuổi, tài xế xe buýt cho biết “Đường ở Thành phố thì quá chật trong khi xe cộ thì quá đông, một số tuyến đường quy định
xe buýt nằm ngoài làn bìa, còn trạm thì ở làn trong từ làn bìa vô tới làn trong thì vướng phải luồng giữa nên rất khó vào Nhiều khi đang chạy mà có hành khách ngoắc vào nhưng vướng một chiếc container nên đành chịu vậy Còn nếu chạy ở làn giữa để dễ ra vào đón khách thì bị công an phạt”
Các tài xế chẳng những phải luồn lách giữa những con đường không rộng trong Thành phố, liên tục phải vào ra đón trả khách tại các điểm dừng đỗ, ngoài ra
họ còn phải đối mặt với những người đồng hành “chỉ biết chen và không biết nhường” dù tín hiệu xin vào đã được bật từ rất lâu Khi điểm dừng đã đến, không thể không vào, các lái xe buộc phải “tạt đầu”, “cắt mặt” thậm chí làm đám xe máy loạng choạng phi lên vỉa hè Sau rất nhiều lần như vậy, gây tai nạn cũng là điều
khó tránh “Nếu em là anh, em sẽ làm thế nào?” - một lái xe buýt đã bất ngờ hỏi
chúng tôi như vậy khi đang cố tìm cách len vào điểm đón trả khách trong khi một rừng xe máy nhất quyết không nhường đường
Một hệ thống hạ tầng còn nhiều bất cập đã và đang ảnh hưởng lớn đến sự
an toàn của xe buýt Hiện nay, cả thành phố chỉ có duy nhất một hệ thống đường dành riêng cho xe buýt đã xuống cấp rất nhiều Đáng nói hơn, tất cả các điểm đón trả khách đều không đủ độ an toàn để xe ra vào Điều đó lý giải cho tình trạng
“không hài lòng” của hành khách vì mức độ an toàn của xe buýt hiện nay Nó cũng là lời giải cho câu hỏi, tại sao tài xế xe buýt lại không vào trạm đón khách
Quyết định số 34/2006/QĐ – BGTVT của Bộ Giao thông vận tải ban hành
ngày 16 tháng 10 năm 2006 về “Quy định quản lý vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt”, tại mục 1 và 2, điều 6, chương II:
1 Tiêu chuẩn điểm dừng xe buýt:
a) Điểm dừng xe buýt trên đường bộ phải đảm bảo đúng Luật Giao thông đường bộ;
Trang 36b) Phạm vi điểm dừng xe buýt, phải sơn vạch phản quang để người điều khiển các phương tiện giao thông khác nhận biết;
c) Khoảng cách tối đa giữa hai điểm dừng trong đô thị là 700m, ngoài đô thị là 3000m;
d) Tại vị trí mỗi điểm dừng phải có biển báo hiệu điểm dừng xe buýt theo quy định; Trên biển báo hiệu phải ghi số hiệu, tên tuyến (điểm đầu-điểm cuối), lộ trình của các tuyến xe buýt dừng tại vị trí đó;
đ) Tại các vị trí điểm dừng xe buýt: Trong đô thị nếu có bề rộng hè đường
từ 4m trở lên, ngoài đô thị nếu có bề rộng lề đường từ 1,5m trở lên phải xây dựng nhà chờ xe buýt;
e) Tại vị trí các điểm dừng phục vụ người tàn tật sử dụng xe lăn phải xây dựng lối lên xuống thuận tiện cho xe lăn
2 Tiêu chuẩn nhà chờ xe buýt:
a) Nhà chờ xe buýt phải có ghế để khách ngồi chờ, mẫu nhà chờ theo quy định của Sở Giao thông vận tải (Sở Giao thông công chính);
b) Các nhà chờ phục vụ người tàn tật đi xe lăn phải xây dựng lối lên xuống thuận tiện cho xe lăn và vị trí dành riêng cho người tàn tật;
c) Trong nhà chờ xe buýt phải niêm yết đầy đủ các thông tin về các tuyến
xe buýt: Số hiệu tuyến, tên tuyến, lộ trình tuyến, tần suất xe chạy, thời gian hoạt động trong ngày của tuyến, số điện thoại liên hệ;
d) Tại nhà chờ xe buýt, các thông tin phục vụ việc quảng cáo mà nội dung không liên quan đến hoạt động của xe buýt chỉ được thực hiện khi đã thông tin đầy
đủ nội dung nêu tại điểm c khoản 2 Điều này Các thông tin quảng cáo phải thực hiện theo đúng quy định hiện hành về quảng cáo
Toàn Thành phố hiện nay có khoảng 365 nhà chờ, 1900 trụ dừng, 600 bảng treo và 3800 ô sơn Nếu so sánh giữa các năm thì số lượng nhà chờ không tăng trong hai năm 2002 và 2003, năm 2004 có tăng nhưng rất ít, chỉ khoảng 2,5 lần so
Trang 37với năm 2002 Trong khi nhà chờ tăng chậm thì trụ dừng, trạm chờ tăng nhanh
Nguồn: Báo cáo tham luận của Trung tâm Quản lý và Điều hành Vận tải Hành khách Công
cộng tại Hội thảo “Làm gì để xe buýt Tp.HCM phát triển bền vững” tháng 01/2008
Trang 38thấy nhưng cho rằng thông tin không được cập nhật và 36% (96 hành khách) trả lời rằng nhìn thấy rất rõ ràng
Tương tự như vậy, đối với các thông tin về lộ trình của xe buýt, khoảng 8% (21 hành khách) trả lời không nhìn thấy, 18% (48 hành khách) cho rằng họ nhìn thấy nhưng không đọc được lộ trình rõ, 24% (64 hành khách) trả lời họ đọc được thông tin về lộ trình nhưng thông tin ấy không được cập nhật mới và 50% (134 hành khách) trả lời rằng mình nhìn thấy rõ ràng
Trong khi các lái xế than thở “hành khách khi đến trạm dừng thì không chịu kêu, đến khi chạy quá rồi mới cằn nhằn, đương nhiên tôi không thể dừng lại ngay cho họ xuống được Cũng có khách không chịu ngoắc chúng tôi từ đầu, đợi
xe chạy qua trạm rồi mới ngoắc, thành ra phải đón sai trạm, không đón không được, mà đón thì bị Công an và Nhà điều hành phạt…” (Tuấn, tài xế), thì chị Liên, công nhân nhận xét: “Tôi đứng ở trạm căng mắt ra đọc mà không thấy nổi dòng chữ ghi trên bảng, trời lại tối nữa, xe tới không thấy, mãi khi nó chạy qua mới nhìn rõ Chưa kể trạm đặt chỗ khuất nữa chứ”
2.2.1.2 Trật tự giao thông
Quỹ đất dành cho giao thông không nhiều, hệ thống giao thông tĩnh không tăng, trong khi đó thì các phương tiện giao thông đường bộ tăng nhanh đột biến Chỉ riêng số liệu xe đăng ký mới, mỗi ngày trên địa bàn Thành phố có thêm gần
100 xe ôtô và trên 900 xe môtô, xe gắn máy (Dự thảo UBND Tp.HCM, 2007, trang 4)
Việc cho xây dựng quá nhiều các khu chung cư mới, cao ốc văn phòng ngay tại khu vực trung tâm, các siêu thị, trung tâm ngoại ngữ ngày càng được xây dựng nhiều tập trung ngay tại các giao lộ có mật độ xe lưu thông cao đã thu hút giao thông vào khu trung tâm và cận khu trung tâm Thành phố ngày càng tăng Diện tích dành cho giao thông hoàn toàn bị thu hẹp bởi mật độ xây dựng quá tràn lan, dàn trải… gây khó khăn cho việc tổ chức các dịch vụ xe buýt công cộng
Tại những thành phố khác trên Thế giới, ùn tắc giao thông là tất cả các xe đều đứng im, dòng xe xếp hàng dài trên đường Nhưng tại Thành phố Hồ Chí
Trang 39Minh, khi ùn tắc giao thông, dòng xe máy đông nghịt vẫn tiếp tục nhích từng bước
do xe hai bánh linh hoạt hơn nhiều và có thể tránh được những chướng ngại Hành
vi đó của những người đi xe máy góp phần làm giảm ách tắc của luồng phương tiện, tận dụng triệt để phần diện tích đường bộ, nhưng họ cũng gây ra tiêu cực là vi phạm luật giao thông, ảnh hưởng đến người đi bộ Trong khi đó, xe buýt không thể
cơ động và linh hoạt như thế được Để đối phó với tình trạng kẹt xe thường xuyên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, rất nhiều tài xế xe buýt lựa chọn giải pháp là
đi sang một tuyến đường khác Điều này lý giải cho hiện trạng chạy sai tuyến của
xe buýt, và việc xe không đảm bảo giờ giấc như đã được quy định từ trước
“Quy định là xe về bến lúc 17h15, trễ nhất là 17h45 phải về đến bến Nhưng thật tế là 18h cũng chưa đến nơi vì kẹt xe nghiêm trọng Về như thế thì bị phạt Vì vậy buộc lòng tôi phải chạy sai tuyến, chạy nhanh hơn để đảm bảo thời gian thôi” (Tài xế Tiến, 37 tuổi)
2.2.1.3 Cường độ làm việc của nhân viên phục vụ trên xe buýt
Giờ hoạt động của xe buýt bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối Điều này cũng có nghĩa là lái xe buýt sẽ phải bắt đầu ngày làm việc của mình từ khoảng 4 rưỡi sáng và chỉ kết thúc công việc không trước 10 giờ tối Tất nhiên, thông thường, khoảng thời gian này sẽ được chia làm 2 ca và bình quân mỗi ca sẽ kéo dài 8 tiếng
Nếu cộng cả thời gian lấy xe, đưa xe đến một trong hai đầu bến lấy khách
và trả xe về nơi tập kết, một ngày làm việc của lái xe buýt có thể kéo dài tới hơn 9 tiếng Theo biểu đồ vận hành, giữa mỗi ca, lái xe buýt thường có khoảng 5 - 10 phút để nghỉ ngơi, thư giãn Lý thuyết là thế song thực tế lại không phải vậy Tình trạng ùn tắc thường xuyên xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh đã làm mất đi thời gian nghỉ ngơi giữa 2 lượt chạy xe của các lái xe Để có thể nghỉ ngơi giữa 2 lượt
xe, rất nhiều lái xe buýt đã “tăng tốc, về đích” nhằm bù lại khoảng thời gian bị lấy mất bởi tắc đường Tai nạn cũng từ đây mà phát sinh Cụm từ “xe buýt phóng nhanh vượt ẩu” cũng từ đây mà ra đời Đây cũng là nguyên nhân lý giải cho việc
Trang 40vì sao lái xe buýt dù không bị phạt khi về chậm, thậm chí còn bị phạt nếu về sớm
so với quy định lại vẫn phóng nhanh vượt ẩu
Ngoài việc phải tính toán, cân đối sao cho đảm bảo lộ trình, thời gian, như trên đã nói, đầu óc của lái xe buýt luôn “căng như dây đàn” để xử lý những tình
huống xảy ra trên đường “Với hệ thống giao thông rối như tơ vò hiện nay, đi xe máy cũng khó chứ chả nói gì xe buýt” (Văn Trọng, 44 tuổi, lái xe buýt) Cũng theo
lái xe này, để đảm bảo an toàn giao thông, nhà nước quy định lái xe khách đường dài không được chạy quá 4 tiếng song lái xe buýt thì lại chạy liền 8, 9 tiếng
“Chạy đường dài chắc gì đã căng thẳng bằng chạy nội đô”
Phải chạy trong một khung thời gian có hạn, với tình trạng cơ sở hạ tầng và trật tự giao thông tại Thành phố còn quá nhiều bất cập, tài xế xe buýt ngoài giải pháp phóng nhanh ra còn tiết kiệm thời gian bằng cách không dừng xe hẳn khi đón trả khách Phần đông tài xế cho xe chạy chậm chậm, sau khi hành khách bước xuống xe thì lập tức tăng ga chạy với tốc độ cũ Điều này không ít lần gây ra tai nạn cho hành khách như một số vụ việc đã được xã hội phản ánh gần đây
Không quá chịu áp lực như tài xế nhưng tiếp viên cũng có cái khó riêng của mình Ngoài việc phải thức khuya dậy sớm, trên một số tuyến đông khách, tiếp viên liên tục phải đứng suốt lộ trình Làm việc căng thẳng, mệt mỏi, đó là lý do khiến họ cảm thấy bực bội, khó chịu, họ vẫn chỉ là những con người bình thường,
sức chịu đựng có hạn “Chưa kể nhiều khi gặp những hành khách thiếu ý thức, những lúc đó thật tình tôi không biết phải xử trí ra sao, đầu óc căng thẳng tột cùng” (Thu Phương, 26 tuổi, tiếp viên xe buýt)
Nói về tình trạng phân biệt đối xử với hành khách đi vé lượt và vé tập, một
nữ tiếp viên tên Lan kể lại “Xe đông người, chật chội, ngột ngạt, thế mà nhiều người đi vé tập cũng khiến tôi thấy khó chịu Có học sinh hay sinh viên đi vé tập
mà không trình thẻ học sinh – sinh viên, đợi khi tôi nhắc nhở thì lại phản ứng “tôi
đi vé tập tháng chị nhìn không biết sao mà cứ đòi thẻ hoài vậy”, đến mức đó thì tôi không biết làm thế nào để kìm chế nổi nữa”