Đề tài nghiên cứu “Nhà vệ sinh công cộng Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp Nghiên cứu trường hợp các NVSCC tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” tiến hành khảo sát thực trạng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN ĐÔ THỊ HỌC VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC EURÉKA NĂM 2012
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Trần Thanh Trúc Duy Lớp ĐTH 02 Khóa học 2009 – 2013
Thành viên:
Trần Liễu Anh Lớp ĐTH 02 Khóa học 2009 – 2013
Võ Ngọc Lê Anh Lớp ĐTH 02 Khóa học 2009 – 2013
Mai Hoàng Oanh Lớp ĐTH 02 Khóa học 2009 – 2013
Nguyễn Thanh Thảo Lớp ĐTH 02 Khóa học 2009 – 2013
Người hướng dẫn: Th.S Trương Nguyễn Khải Huyền
Trang 2TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
1.1 Dẫn nhập 28
1.2 Số lượng 28
1.3 Vị trí phân bố 30
1.4 Hình thức bên ngoài và chất lượng sử dụng 67
1.5 Tình hình NVSCC ngầm tại TP HCM 70
1.6 Hình thức quản lý 72
1.7 Tiểu kết 73
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG TẠI ĐỊA BÀN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 75
2.1 Dẫn nhập 75
2.2 Lý do nghiên cứu trường hợp các NVSCC tại Quận 1, TP.HCM 75
2.3 Số lượng ít và phân bố chưa hợp lí 76
2.4 Hình thức bên ngoài chưa thu hút và chất lượng chưa cao 78
2.5 Quản lý chưa hiệu quả 86
2.6 Thái độ và ý thức sử dụng của người dùng 87
2.7 Nguyện vọng và xu hướng sử dụng của người dùng 89
2.8 Ảnh hưởng của thực trạng NVSCC đến các mặt văn hóa, xã hội, sức khỏe, kinh tế và môi trường tại Quận 1, TP.HCM 91
2.9 Tiểu kết 95
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO THỰC TRẠNG NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG 97
3.1 Dẫn nhập 97
3.2 Cải tạo NVSCC hiện hữu và xây mới NVSCC tại những khu vực hiếm có 97
3.3 Mô hình NVSCC ngầm tại khu vực trung tâm TP.HCM 111
3.4 Tiểu kết 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC 136
Trang 3TÓM TẮT
Nhà vệ sinh công cộng (NVSCC) là một trong những dịch vụ công ích cơ bản của một đô thị NVSCC hoạt động hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân còn là biểu hiện của một xã hội phát triển, văn minh Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam thế nhưng vẫn còn tình trạng người dân đi vệ sinh bừa bãi trên vỉa hè, góc phố và cả ngay bên cạnh NVSCC Những mâu thuẫn và khó khăn trong hoạt động của các NVSCC tại TP.HCM không chỉ về quản lý, vị trí phân bố, số lượng, chất lượng NVSCC… mà còn cả văn hóa
sử dụng và thái độ nhìn nhận của người dùng về NVSCC Đề tài nghiên cứu “Nhà vệ sinh công cộng Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp (Nghiên cứu
trường hợp các NVSCC tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)” tiến hành khảo sát thực
trạng hoạt động các NVSCC ở TP.HCM, thái độ sử dụng của người dùng và mong muốn của họ đối với NVSCC, trong đó đi sâu nghiên cứu trường hợp các NVSCC tại Quận 1, TP.HCM để phân tích và đưa ra giải pháp cụ thể cho một quận trung tâm, mang tính chất đại diện cho toàn Thành phố Các phương pháp nghiên cứu khoa học sử dụng trong đề tài bao gồm thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp để tìm hiểu và tổng kết các kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến NVSCC ở trong và ngoài nước; thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp qua hình thức quan sát tham dự, khảo sát trực tiếp các NVSCC trên các tuyến đường Thành phố, ghi lại hình, khảo sát bằng bảng hỏi trực tiếp và bảng hỏi online cho người sử dụng nhằm thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động của các NVSCC cũng như thái độ, tâm lí của người sử dụng đối với NVSCC Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy các quận, huyện trên địa bàn TP.HCM có rất ít NVSCC, thậm chí có nơi hoàn toàn không
có NVSCC trên các tuyến đường; vị trí phân bố không hợp lý; chất lượng và hình thức NVSCC còn thấp; quản lý thiếu chặt chẽ và văn hóa sử dụng NVSCC của người dùng chưa cao Qua đó, bài nghiên cứu trình bày những ảnh hưởng nhất định của NVSCC lên các mặt của Thành phố, bao gồm kinh tế, văn hóa - xã hội, sức khỏe và môi trường Từ thực trạng trên, nhóm nghiên cứu đề xuất các định hướng giải pháp cho NVSCC trên các
Trang 4mặt văn hóa, xã hội, kinh tế, quản lý và kỹ thuật Trong đó có các đề xuất chung cho các NVSCC ở TP.HCM và những đề xuất dành riêng cho trường hợp nghiên cứu Quận 1
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
TP.HCM là một trong những đầu tàu kinh tế của Việt Nam Với các loại hình kinh tế
đa dạng diễn ra đan xen nhau thì loại hình kinh tế vừa và nhỏ đang chiếm ưu thế - loại hình này cần người dân tham gia lao động bên ngoài căn nhà của họ nhiều hơn Bên cạnh
đó, cùng với lối sống đô thị hiện nay và nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện thì nhu cầu đi lại cũng như nhu cầu tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí bên ngoài của các cá nhân và hộ gia đình ở TP.HCM ngày càng tăng Theo đó, nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ công cộng ngày càng cao như phương tiện giao thông công cộng, bãi giữ xe, nhà ăn tập thể, công viên, khu vui chơi giải trí… Trong đó, phải kể đến NVSCC là một loại dịch vụ không thể thiếu nhằm đáp ứng nhu cầu
cá nhân của người dân khi ra đường, khi tham gia vào các hoạt động bên ngoài phạm vi nhà ở của mình Tại TP.HCM đã có nhiều NVSCC được xây dựng nhưng trên thực tế chưa có cơ sở pháp lý quy định về số lượng, chất lượng NVSCC để cung ứng cho người dân cũng như những quy định vệ sinh khi sử dụng Theo báo cáo của Cục Thống kê TP.HCM, dân số TP.HCM tăng trung bình 208.000 người một năm nhưng số lượng NVSCC chỉ có 3.320 (bao gồm tất cả NVSCC trong các khu siêu thị, khu thương mại, khu chợ, trạm xăng và các bến xe) trên gần tám triệu dân1, với số lượng NVSCC trên một lượng dân số ngày càng tăng như vậy thì cung chưa đủ cầu, chưa đáp ứng được nhu cầu
sử dụng NVSCC của người dân Thành phố, đó là chưa kể khách vãng lai, khách du lịch TP.HCM là một thành phố trung chuyển lượng khách lớn, bao gồm cả khách trong nước
và quốc tế Số lượng du khách và khách vãng lai đông, thêm vào đó là nhóm người nhập
cư từ các tỉnh thành khác vào TP.HCM sinh sống và làm việc Với áp lực dân số ngày càng tăng, nhu cầu sử dụng NVSCC là rất lớn
1
Quyết định về ban hành kế hoạch “Năm 2010 - năm thực hiện nếp sống văn minh - mỹ quan đô thị”, Sở Văn hóa - thông tin trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6Không chỉ là khu vực có nền kinh tế năng động, TP.HCM còn là một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục, xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến các đô thị khác trong nước Thế nhưng, bản thân Thành phố cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề về mỹ quan
đô thị, văn minh đô thị Trong đó có vấn đề đi vệ sinh bừa bãi Thực trạng một số người
đi đường tiểu tiện và đại tiện bừa bãi trên hè phố, ở góc cây, trong khu vực dân cư, thậm chí ngay bên ngoài NVSCC, vẫn còn tồn tại và hầu như không có dấu hiệu sẽ thuyên giảm hay chấm dứt hẳn Điều này làm cho đường phố mất vệ sinh, tạo ra những hình ảnh xấu và phần nào gây cản trở việc xây dựng văn minh đô thị cho Thành phố
Ngoài ra, các NVSCC hiện hữu chưa chú ý đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội Không ít người già, phụ nữ mang thai và người khuyết tật gặp khó khăn trong việc tìm kiếm NVSCC hợp tiêu chuẩn Đây là nhóm đối tượng cần những nhà vệ sinh có thiết kế đặc biệt, phù hợp với tình trạng sức khỏe và tình trạng khuyết tật của họ Mặc dù vấn đề vệ sinh là nhu cầu cần thiết của mỗi cá nhân bình thường và cá nhân thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhưng vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ và kịp thời Các
cơ quan chức năng những năm qua đã quan tâm và đề xuất các giải pháp xây dựng NVSCC hướng đến cộng đồng nhưng tất cả vấn đề nói trên vẫn chưa nhận được quan tâm đúng mức và thiếu sự liên kết chặt chẽ trong công tác quản lí, nên việc tiếp cận NVSCC vẫn chưa hiệu quả và chưa thân thiện với người sử dụng
Mặc dù tồn tại những vấn đề trên, nhưng các đề tài nghiên cứu về NVSCC, các giải pháp xây dựng NVSCC vẫn chưa nhiều, chưa được áp dụng triệt để vào thực tiễn TP.HCM Trong khi đó, từ khi Hội nghị thượng đỉnh về Phát Triển Thiên Niên Kỷ được
tổ chức năm 2000, 189 lãnh đạo các nước (trong đó có Việt Nam) đã cam kết hoàn thành tám Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ (MDGs), với điều 10 trong mục tiêu thứ bảy là cải thiện vệ sinh môi trường, bao gồm cải thiện các công trình vệ sinh và đáp ứng nhu cầu
vệ sinh của người dân ở mỗi quốc gia
Với những lí do nêu trên, đề tài “Nhà vệ sinh công cộng Thành phố Hồ Chí Minh:
Thực trạng và giải pháp (Nghiên cứu trường hợp các Nhà vệ sinh công cộng tại Quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh)” được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng hoạt động và sử
dụng NVSCC tại TP.HCM cũng như thái độ và nguyện vọng của người sử dụng đối với
Trang 7NVSCC Từ đó, đưa ra các định hướng giúp NVSCC hoạt động hiệu quả, thân thiện và đến gần với người sử dụng hơn.Về phương pháp tiến hành, đề tài sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, bao gồm thu thập dữ liệu sẵn có, quan sát tham dự, điều tra bảng hỏi online, bảng hỏi trực tiếp và phỏng vấn người sử dụng NVSCC tại TP.HCM
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Các thuật ngữ, khái niệm liên quan đến NVSCC
Nhà vệ sinh công cộng, Không gian công cộng, Dịch vụ công cộng
Theo định nghĩa trong Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư và tác giả Olga Gershenson và
Barbara Penner trong bài “Ladies and gents: public toilets and gender”, Nhà xuất bản
Temple University Press, ngày xuất bản 28/7/2009, có thể định nghĩa NVSCC là một căn phòng hay một tòa nhà có diện tích tương đối nhỏ có chứa một hoặc nhiều phòng vệ sinh
và có thể có cả bệ đi tiểu, bồn cầu hay bồn tắm sử dụng vào mục đích chung, phục vụ cho cộng đồng, áp dụng hình thức miễn phí (trong một số trường hợp) hoặc thu phí trên cơ sở các dịch vụ Định nghĩa về NVSCC ở trên sẽ được sử dụng xuyên suốt cho các chương của đề tài nghiên cứu này
Khái niệm NVSCC thường gắn với các thuật ngữ, khái niệm liên quan khác như là
Không gian công cộng và Dịch vụ công cộng Theo J Jacobs, trong Từ Điển Bách Khoa
Toàn Thư thì không gian hè phố là không gian công cộng rất quan trọng tạo ra bộ mặt của đô thị Có thể thấy, trong các loại hình dịch vụ công trên đường phố hiện nay thì NVSCC là một hình thức dịch vụ công tiêu biểu, chiếm một khoảng không đặc trưng trong không gian chung của các đô thị Vì vậy, việc xây dựng và bố trí các NVSCC không chỉ cần phù hợp với kiến trúc của công trình và cảnh quan đường phố mà còn phải tạo được sự thoải mái và thuận tiện đối với người sử dụng, đảm bảo sự hài hòa giữa không gian riêng xung quanh NVSCC và không gian chung đặc trưng của đường phố Ngoài ra, bên trong không gian công cộng của một đô thị luôn tồn tại những khoảng không gian quy định dành cho các hình thức dịch vụ công cộng Đồng thời, tính hiện đại
và thang đo cho sự phát triển của một quốc gia không chỉ thể hiện ở các hoạt động kinh tế
Trang 8mà còn được đánh giá qua các dịch vụ công, cụ thể là NVSCC Theo TS Phạm Sỹ Liên
thuộc Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng, trong bài “Vai trò không gian công
cộng trong đô thị nước ta”, của cuốn “Khái niệm chung về dịch vụ công cộng và không gian dịch vụ công cộng”, đã định nghĩa:
“Theo các nhà quản lý đô thị dịch vụ công cộng là từ thường được dùng để chỉ các
dịch vụ mà chính phủ cung ứng cho các công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hay là cấp tài chính cho khu vực tư nhân cung ứng Từ này kết hợp với một
sự đồng thuận xã hội rằng một số dịch vụ trong đó phải đến được với tất cả mọi người, bất kể thu nhập bao nhiêu Cho dù dịch vụ công cộng không phải do chính phủ cung ứng hay cấp tài chính đi nữa nhưng vì các lý do xã hội và chính trị mà chúng vẫn có khuôn khổ pháp lý khác với phần lớn các ngành kinh tế khác…và chúng có thể gắn với quyền cơ bản của con người”
Dựa trên quan điểm về dịch vụ công cộng trên, có thể thấy, trong đề tài này, NVSCC
ở TP.HCM là một loại dịch vụ công cộng về vệ sinh môi trường do Nhà nước cung ứng đến người dân Các NVSCC này do các cơ quan nhà nước (như UBND Phường) và các công ty công ích do nhà nước ủy quyền xây dựng và quản lí (Công ty Cây xanh TP.HCM, Công ty Dịch vụ công ích của mỗi quận, huyện và Công ty Dịch vụ Thanh niên xung phong) hoặc do doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực tài chính xây dựng và quản lí theo chủ trương xã hội hóa (Ngân hàng Sacombank) Các NVSCC trên phục vụ cho mọi đối tượng, có thu phí hoặc không thu phí
Như vậy, NVSCC ngoài việc là một bộ phận quan trọng của không gian đô thị cần đảm bảo tính hài hòa giữa không gian và kiến trúc riêng của NVSCC với không gian, kiến trúc chung đặc trưng của đường phố xung quanh, thì NVSCC còn đóng vai trò là một dịch vụ công ích phục vụ cộng đồng với mục đích là hướng đến mọi đối tượng sử dụng bao gồm người bình thường, người khuyết tật và tất cả tầng lớp khác nhau trong xã hội Những đặc điểm, tính chất trên của NVSCC sẽ đươc áp dụng phân tích về thực trạng NVSCC cũng như những đề xuất định hướng giải pháp trong đề tài nghiên cứu này
Trang 92.2 Lịch sử hình thành NVSCC
2.2.1 NVSCC thời Cổ Đại
Theo tác giả Bindeswar Pathak đã nêu trong “Bài báo cáo: Lịch sử NVSCC” tại Hội
thảo Quốc Tế tổ chức tại Hồng Kông từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5 năm 1995, NVSCC được cho là đã xuất hiện trước thời Ai Cập, Hy Lạp và La Mã Cổ Đại, từ năm 2500 trước Công Nguyên (CN) vào thời Mohenjodaro và năm 1000 trước CN, NVSCC đầu tiên ở đảo Bahrein thuộc Vịnh Ba Tư được cho là có hệ thống thoát nước phát triển Bên cạnh
đó, vào thời Ai Cập Cổ Đại, La Mã Cổ Đại đã xuất hiện nhà tắm và NVSCC phục vụ cộng đồng hướng đến đối tượng chính là các tầng lớp thấp trong xã hội và chức năng này của NVSCC kéo dài cho đến thế kỷ XIX Các NVSCC được quản lý bằng hình thức thu phí Theo Sciencemuseum, trong thời Ai Cập cũng như La Mã cổ đại, các phòng tắm công cộng, NVSCC, hệ thống thoát nước đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển trong thời
kỳ này
Ngoài ra, trong bài viết “Themes & Topics: Public Health”, đăng trên trang
www.sciencemuseum.org.uk đã trình bày, vào thế kỷ II trước công nguyên, phòng tắm
công cộng còn được xem là một không gian đặc trưng, nơi người dân gặp gỡ nhau2 Và
theo tác giả Sitwell, trong cuốn “Roman Roads of Europe”, của Nhà xuất bản New York:
St Martin's Press, năm 1981 cho biết, vẫn còn di tích của các phòng tắm, NVSCC ở Ostia và dấu ấn văn hóa La Mã vẫn có thể được phản ánh qua các NVSCC ở các nước
Tây Âu như Anh, Pháp, Hy Lạp qua nhiều thời kỳ
2
Sciencemuseum (nd), “Themes & Topics: Public Health” , nguồn:
http://www.sciencemuseum.org.uk/broughttolife/themes/publichealth.aspx (ngày truy cập 23/01/2012)
Trang 10Hình 01 Di tích NVSCC ở Ostia thời kỳ La Mã Cổ Đại (Nguồn Tổ chức Ostia Antica, http://www.ostia-antica.org/intro.htm)
2.2.2 NVSCC từ thời Trung Cổ đến thế kỷ XIX của các nước Tây Âu
Theo tác giả Bindeswar Pathak đã nêu trong “Bài báo cáo: Lịch sử NVSCC” tại Hội
thảo Quốc Tế tổ chức tại Hồng Kông từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5 năm 1995, từ thế kỷ
V đến thế kỷ XV, tuy sự sụp đổ của thời kỳ La Mã đã kéo theo việc các công trình xây dựng bị mai một nhưng các NVSCC vẫn được bảo tồn và phát triển qua các triều đại phong kiến ở Châu Âu Cụ thể như vào năm 1214 sau công nguyên các NVSCC đầu tiên
ở châu Âu đã được xây dựng và quản lý bởi những người lao công, tiếp theo vào năm
1824 sau công nguyên, tại Paris, NVSCC đầu tiên đã được xây dựng Cũng trong giai đoạn này và đặc biệt là vào thời Nữ Hoàng Victoria, theo tài liệu Historic Toilet Tour của công ty Yorkwalk, NVSCC ở Anh Quốc được cải thiện và xây dựng nhiều Hiện nay, tại thành phố York và vùng Yorkshire, khách du lịch có thể đăng ký tham quan các di tích lịch sử của các NVSCC cổ3 Tuy nhiên, tác giả Greed C đã viết trong cuốn “Inclusive
Urban Design: Public Toilets”, Nhà xuất bản Architecture Press, năm 2003, thì bên cạnh
cuộc cách mạng diễn ra trong thời kỳ này nhằm phát triển hệ thống xử lý chất thải và cấu tạo bồn vệ sinh, vẫn có ý kiến cho rằng mật độ NVSCC ở Anh Quốc không đáp ứng được nhu cầu và sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự gia tăng dân số
3
Historic Toilet Tour của công ty Yorkwalk, nguồn:
http://www.visityork.org/media/factsheets/historic-toilet-tour.aspx (ngày truy cập 23/01/2012)
Trang 11Hình 02 Nhà tắm công cộng & NVSCC ở thành phố Hull, Anh Quốc được xây từ thế
kỷ XII và đóng cửa vào thế kỷ XVI (Greed, C (2003), “Inclusive Urban Design:
Public Toilets”, NXB Architecture Press)
2.2.3 NVSCC trên thế giới từ thời Cận Đại đến nay
Tại Anh, các NVSCC được xây dựng và phát triển không chỉ trên mặt đất mà còn tại các ga tàu điện ngầm
Hình 03 NVSCC dành riêng cho từng giới tính ở Anh Quốc (Greed, C (2003),
“Inclusive Urban Design: Public Toilets”, NXB Architecture Press.)
Trang 12Việc Hiệp hội NVSCC Thế Giới được thành lập vào năm 2001 đã cho thấy tầm quan trọng của NVSCC, tại các nước phát triển hoặc đang phát triển trên thế giới cụ thể như ở các nước Anh, Mỹ, Ấn Độ NVSCC đang được quan tâm, bảo trì và xây dựng
Trong bài viết của Relief Works (2006), “Going Public! Stratregies for Meeting
Public Restrooms Need in Portland’s Central City” năm 2006, của tác giả Relief Works,
cho biết tại Mỹ, cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, làn sóng nhập cư vào các thành phố công nghiệp đã gia tăng áp lực lên các dịch vụ công cộng ở Mỹ Nhu cầu đi lại, giải trí, sinh hoạt của người dân đã khiến cho hệ thống nhà tắm công cộng và NVSCC trở thành những nơi đáp ứng vấn đề cá nhân; chẳng hạn như người dân có thể mua thuốc lá, giày ống hoặc các vật dụng trong NVSCC tại các khu giải trí dẫn đến việc phát sinh các tệ nạn
xã hội nhiều hơn và kết quả là việc phải đóng cửa các NVSCC vào thập niên 1970 và
1980 Cho đến năm 1994, sự xây dựng và phát triển các NVSCC sạch thông qua việc mua và áp dụng công nghệ NVSCC làm sạch tự động (APTs) của thành phố San Francisco; tiếp theo là thành phố Seattle và toàn thành phố Denver đã hoàn thành kế hoạch xây dựng mô hình NVSCC ở các công viên vào năm 2005 Tiêu biểu cho quá trình hình thành và phát triển NVSCC này, thành phố Portland đã tiến hành kế hoạch xây dựng NVSCC nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ người dân về các mặt môi trường, y tế và phát triển cộng đồng4
4
Relief Works (2006), “Going Public! Stratregies for Meeting Public Restrooms Need in Portland’s
Central City”, Prepared for the Office of Mayor Tom Potter; nguồn:
http://www.americanrestroom.org/us/portland/psu_gopubliccvr9.pdf (ngày truy cập 23/01/2012 )
Trang 13Hình 04 NVSCC ở thành phố Portland
(nguồn http://www.americanrestroom.org/us/portland/psu_gopubliccvr9.pdf) Tại Ấn Độ, các hóa đơn vệ sinh đầu tiên được sử dụng vào năm 1878 Tổ chức Quốc
tế Sulabh được thành lập vào năm 1970 tại một ngôi làng nhỏ ở Patna đã đưa ra hình thức nhà vệ sinh sử dụng có thu phí đầu tiên tại Ấn Độ Ngoài ra, cũng vào năm 1970, tổ chức Sulabh còn giới thiệu một nhà vệ sinh đôi với công nghệ xả nước và chất thải dựa trên cơ
sở khí sinh học, từ đó xây dựng 650.000 khu phức hợp nhà vệ sinh, nhà tắm và 62 nhà vệ sinh dựa trên cơ sở này, hướng tới giải pháp trong tương lai về việc xử lý và tái chế chất thải của con người thành phân bón, điện hoặc khí gas Tuy nhiên, số lượng NVSCC hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân tại Ấn Độ cũng như ở các nước đang phát triển.5
2.2.4 Lịch sử hình thành NVSCC tại Việt Nam
Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy tài liệu đầy đủ nào về giai đoạn hình thành các NVSCC đầu tiên ở Việt Nam mà chủ yếu là những thông tin, nhận xét về NVSCC trong thời kỳ Pháp thuộc vào năm 1901 tại Việt Nam Theo Nguyễn Ngọc Tiến trong bài viết
“Chuyện vệ sinh ở Hà Nội”, sau khi chiếm hoàn toàn Hà Nội vào năm 1883 và sau đó dẹp
được nạn cướp phá của quân Cờ đen, Công sứ Hà Nội là Bonnal đã cho làm đường quanh
Bờ Hồ, xây tòa đốc lý, bưu điện thì nhà vệ sinh hầm đã xuất hiện Năm 1902, Hà Nội
5
Bindeswar Pathak, “Bài báo cáo: Lịch sử NVSCC tại Hội thảo Quốc Tế tổ chức tại Hồng Kông từ 25-27
tháng 5 năm 1995”, nguồn: http://www.sulabhtoiletmuseum.org/pg02.htm, (ngày truy cập 23/01/2012)
Trang 14trở thành trung tâm Đông Dương, một loạt tòa nhà công vụ như Dinh Thống sứ, Phủ Khâm sai, Nhà băng và khách sạn Chính quốc (nay là Metropole) được xây dựng ở phía đông Hồ Gươm phục vụ cho việc cai trị Đông Dương, đồng thời đây cũng là những nơi
có hố xí tự hoại đầu tiên Thống kê cho thấy trước năm 1930, số hố xí máy chủ yếu là ở các tòa nhà hành chính và công thự ở đường Phan Đình Phùng, Chu Văn An, hay tư gia của người Pháp ở các phố mới xây phía nam Hồ Gươm Ngay từ đầu thế kỷ XX, khi xây
ga Hàng Cỏ, ga Long Biên và ga Vọng, chính quyền cũng đã cho làm nhà vệ sinh thùng Sau đó, tại những khu vực nhiều khách vãng lai qua lại, chính quyền thành phố cũng cho xây nhà vệ sinh Cho đến thời kỳ bao cấp, những nhà vệ sinh công cộng sơ khai dưới dạng nhà vệ sinh thùng đã được xây ở bến xe Kim Liên, Kim Mã, Bến Nứa nhằm đáp ứng và phục vụ cho nhu cầu người dân.6
Còn ở Sài Gòn thời Pháp thuộc, theo trang thông tin điện tử của UBND TP.HCM
(trích dẫn lại bài viết “Cống rãnh ở Sài Gòn xưa” – Thời báo Kinh tế Sài Gòn) về hố xí,
trong những thập niên đầu thế kỷ XX được biết đến như sau:
“…dân cư Sài Gòn vẫn áp dụng phổ biến phương pháp "đổ thùng" Cuối năm 1906,
một nhà kinh doanh người Pháp Bonnet đến đề nghị với Hội đồng Thành phố cho áp dụng một phương pháp mới mang tên Rivoli Septic Tank Đây là kỹ thuật hố xí tự hoại, nhằm diệt khuẩn trong phân Ông đã làm thử thành công một số hố xí ở Chợ Lớn để chứng minh Chính quyền thành phố đã xem xét vài lần đề nghị này, nhưng lúc đó đã không đi đến quyết định dứt khoát”7
2.3 Tình hình nghiên cứu NVSCC trong nước và trên thế giới
2.3.1 Tình hình nghiên cứu NVSCC trong nước
“Nhà vệ sinh công cộng: Thực trạng và giải pháp” là một trong những vấn đề thu hút
sự quan tâm xã hội trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, theo cuộc khảo sát đến năm 2012 của nhóm nghiên cứu, tình hình NVSCC đa số chỉ phản ánh qua các bài viết trên báo chí,
6
Nguyễn Ngọc Tiến, “Chuyện vệ sinh ở Hà Nội”, nguồn:
http://www.tonghoixaydungvn.org/default.aspx?Tab=442&Tinso=5555, (ngày truy cập 23/01/2012)
Trang 15chỉ có một số dự án, công trình nghiên cứu NVSCC và các vấn đề liên quan NVSCC trên toàn quốc như sau:
2.3.1.1 Công trình nghiên cứu “Nhà vệ sinh công cộng nổi”, năm 2010
Công trình nghiên cứu do nhóm sinh viên Đại học Kiến Trúc thực hiện Đây là công trình đạt giải Nhất ứng dụng của giải Holcim Prize năm 2010
Công trình NVSCC nổi được xây dựng ở Chợ nổi Cái Răng, thành phố Cần Thơ, thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Công trình có diện tích 24m2, thiết kế bởi các vật liệu thân thiện với môi trường, được trang bị đầy đủ trang thiết bị bên trong để phục vụ người
sử dụng Đây được đánh giá là một công trình mang ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần giải quyết thực trạng thiếu NVSCC tại khu vực Chợ nổi Cái Răng – vốn là nút vận chuyển đường thuỷ quan trọng, đồng thời cũng là địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Cần Thơ Việc xây dựng NVSCC nổi đã góp phần thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân, nâng cao ý thức sử dụng, bảo vệ nguồn nước cũng như góp phần mang lại hình ảnh đẹp cho thành phố, và thu hút khách du lịch đến Cần Thơ Ông Lê Thanh Tâm, Phó Chủ tịch
UBND Quận Cái Răng, cho biết: “Công trình nhà vệ sinh nổi chợ Cái Răng sẽ mang đến
những thay đổi tích cực cho Chợ nổi Cái Răng nói riêng và thành phố Cần Thơ nói chung.” 8
Công trình Nhà vệ sinh nổi Chợ nổi Cái Răng đã được Công ty Xi măng Holcim Việt Nam và Công ty Cổ phần khoa học công nghệ Petech tổ chức lễ nghiệm thu và bàn giao cho Ban Quản lý Dự án quận Cái Răng, vào ngày 25/05/2012
2.3.1.2 Đề tài nghiên cứu khoa học “Nhà vệ sinh công cộng trong đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế và vận hành”, năm 2009
Đề tài nghiên cứu do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái – Phó Viện trưởng Viện khoa học và kỹ thuật môi trường thuộc Trường Đại học Xây dựng làm chủ nhiệm đề tài
8
Thông tấn xã Việt Nam, “Chợ nổi Cái Răng đã có Nhà vệ sinh thân thiện môi trường”, đăng ngày
25/05/2012, nguồn: moi-truong_6_13574_1.html.
Trang 16http://www.tinmoitruong.vn/nuoc/cho-noi-cai-rang-da-co-nha-ve-sinh-than-thien-Từ thực trạng ở Việt Nam chưa có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật về NVSCC trong đô thị, đề tài nghiên cứu đã đề xuất xây dựng tiêu chuẩn quốc gia NVSCC nhằm phục vụ quản lý
đô thị ở nước ta Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu về quy hoạch, thiết kế và vận hành NVSCC trong đô thị Sản phẩm của đề tài bao gồm thuyết minh Tiêu chuẩn quốc gia về NVSCC trong đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế và vận hành; bản thảo Tiêu chuẩn quốc gia về NVSCC trong đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế và vận hành
Ngày 21 tháng 04 năm 2009, tại Bộ Xây dựng Hội đồng KHKT chuyên ngành Bộ
Xây dựng đã tổ chức nghiệm thu tiêu chuẩn “Nhà vệ sinh công cộng trong đô thị – Tiêu
chuẩn thiết kế và vận hành” và công trình nghiên cứu đã được Hội đồng nhất trí nghiệm
thu và đánh giá đạt loại xuất sắc Tiêu chuẩn này sẽ được đưa vào quy hoạch chi tiết theo yêu cầu quy hoạch tổng thể của Thành phố
2.3.1.3 Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu và thiết kế WC công cộng trong thành phố (Hiện trạng và giải pháp thiết kế)”, năm 2009.
Đề tài được thực hiện năm 2009 bởi nhóm sinh viên lớp MT06NT2 trường đại học Kiến trúc TP.HCM: Lâm Lệ Thanh, Nguyễn Thị Hoài Huyên, Quách Thúy Vy Nghiên cứu của nhóm sinh viên đưa ra bức tranh tổng quát về thực trạng NVSCC và giải pháp cho vấn đề này tại TP.HCM Về khảo sát thực trạng, đề tài đưa những nhận xét cho một
số NVSCC trong Thành phố (không có địa chỉ, vị trí), không có số liệu và không có hệ thống thông tin cụ thể, tập trung mô tả những tệ nạn xảy ra năm 2010 với tình hình NVSCC Về giải pháp, đề tài đưa ra giải pháp gồm quản lý và kĩ thuật Đối với quản lý, nhóm nghiên cứu trình bày một số kiến nghị về phương pháp quản lý lên cấp lãnh đạo Đối với giải pháp kĩ thuật, nhóm tập trung đi sâu vào mô hình NVSCC kiểu mới hiện đại
và tiện nghi, với đầy đủ số liệu kĩ thuật cụ thể cũng như bản vẽ thiết kế NVSCC
Đề tài nghiên cứu trên đã được nhóm sinh viên thực hiện khá tốt, tuy nhiên vẫn còn hạn chế về phần thực trạng: chưa có số liệu thống kê cụ thể về số lượng NVSCC hoặc những số liệu liên quan khác, nghiên cứu chỉ trích dẫn và liệt kê một số địa điểm NVSCC trong Thành phố không theo hệ thống hay thứ tự dẫn đến sự thiếu thuyết phục của bài viết Phần trình bày về giải pháp quản lý còn sơ sài, chưa chặt chẽ so với giải pháp kĩ thuật đã được nhóm sinh viên trình bày chi tiết
Trang 172.3.1.4 Dự án “WC công cộng sạch”, năm 2007
Dự án đoạt giải Vàng trong cuộc thi Nhà doanh nghiệp tương lai HSBC tổ chức
năm 2007, do nhóm sinh viên đại học Kinh tế - Luật, TP.HCM thực hiện
Dự án “WC công cộng sạch” được tiến hành khảo sát chất lượng NVSCC cũng
như ý thức người dân khi sử dụng tại hai khu vực: công viên Đầm Sen và Khu du lịch văn hóa Suối Tiên Dự án đưa giải pháp cụ thể nhằm xây lại hệ thống WC tại các công viên cũng như khu du lịch, đường phố, sử dụng hệ thống bỏ tiền xu tự động, WC thường xuyên được làm sạch bởi đội dọn vệ sinh di động Trong bản kế hoạch kinh doanh, nhóm sinh viên nêu ý tưởng cung cấp dịch vụ nhà vệ sinh sạch cho những cá nhân hay tập thể có nhu cầu
Dự án có ý tưởng, giải pháp và kết cấu khá tốt Nhưng phạm vi nghiên cứu của dự
án còn hẹp, chỉ khảo sát thực tế tại hai khu vực công viên Đầm Sen và Suối Tiên, chưa phản ảnh tổng thể thực trạng NVSCC trên Thành phố
2.3.1.5 Đề tài nghiên cứu khoa học “Công trình vệ sinh trong du lịch ở Đà Nẵng”, năm 2010. 9
Đề tài nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm sinh viên khoa Lịch sử trường đại học Sư phạm Đà Nẵng: Lê Thị Lài, Lê Thị Thúy Nga
Nghiên cứu đã tìm hiểu thực trạng các công trình vệ sinh trong du lịch tại Đà Nẵng
và đưa ra các giải pháp Về thực trạng, nhóm sinh viên đã thống kê số lượng công trình
vệ sinh công cộng tại Đà Nẵng, tình hình các công trình vệ sinh công cộng tại các địa điểm thuộc các khu du lịch, điểm lưu trú (khách sạn) trong thành phố Về giải pháp, nghiên cứu đặt ra mục tiêu nâng cao chất lượng công trình vệ sinh trong du lịch ở Đà Nẵng thông qua giải pháp quy hoạch, giải pháp về chính sách vốn đầu tư cho công trình
9
Lê Thị Lài, Lê Thị Thúy Nga,“Công trình vệ sinh trong du lịch ở Đà Nẵng”, Tuyển tập Báo cáo Hội
nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010, nguồn:
http://www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/21.tbKHXHNV3/07.su.r.lai-nga.pdf (ngày truy cập 09/10/2011)
Trang 18vệ sinh, giải pháp về tổ chức, quản lý, và đề nghị tổ chức cuộc thi thiết kế công trình vệ sinh cho du lịch
Đề tài nghiên cứu khoa học “Công trình vệ sinh trong du lịch ở Đà Nẵng” đã khảo
sát thực trạng NVSCC tại các khu du lịch thuộc thành phố Đà Nẵng, đề ra các giải pháp
cụ thể cho thực trạng này Mục đích của đề tài nghiên cứu là cải thiện chất lượng và hình ảnh NVSCC nhằm mang lại bộ mặt đẹp, văn minh cho khu du lịch trong mắt du khách Việt Nam và quốc tế, tạo nền tảng ứng dụng mô hình NVSCC cho các điểm du lịch khác trên cả nước
2.3.1.6 Dự án Phát triển nhà vệ sinh công nghệ cao (CNC) 10 , năm 2006
Dự án do KTS Phan Trí Dũng - Giám đốc Công ty Kỹ thuật điện tử PETECH làm chủ nhiệm
Tác giả Phan Trí Dũng đã đưa ra mô hình NVSCC kiểu mới với các tính năng hiện đại vượt trội: thu phí tự động, cửa tự đóng mở, phục vụ giấy, xà phòng, sấy khô tay tự động, tiết kiệm nước (chỉ tiêu tốn 1 lít nước/1 ngày để hòa trộn với gel vệ sinh), sử dụng tia cực tím liều cao khử mùi, CNC có tính linh động: dễ dàng lắp đặt trên đất, tàu thủy du lịch, ô tô Tháng 4/2006, Petech đã cho lắp đặt thử nghiệm 4 nhà vệ sinh thông minh trên các tuyến đường trung tâm Thành phố trước Bảo tàng Tôn Đức Thắng, công trường Mê Linh, đường Nguyễn Văn Chiêm (sau Diamond Plaza), đường Nguyễn Du (trước Trung tâm thể thao Nguyễn Du) Qua theo dõi hoạt động, Petech đã chỉnh sửa và hoàn thiện nhà
vệ sinh thông minh với ký hiệu GC-707 Dự án nhà vệ sinh GC-707 được hội đồng nghiệm thu và tiến hành quan sát thực tế những nhà vệ sinh đã được đặt trên một số đường phố và trên xe lửa
NVSCC thông minh GC-707 của Việt Nam được đánh giá đạt đẳng cấp công nghệ ngang với sản phẩm cao cấp của các quốc gia phát triển trên thế giới, trong khi giá lại rẻ hơn gấp 3 đến 4 lần (39000 USD/1 NVSCC đơn) Tuy nhiên, đây vẫn là chi phí quá cao
10
Tường Lâm,“Nhà vệ sinh thông minh GC-707 cải thiện môi trường, mỹ quan”, nguồn:
http://www.petech.com.vn/vi-vn/item/547/printversion.cco (ngày truy cập 09/10/2011)
Trang 19so với NVSCC thường được sử dụng ở nước ta (trung bình 10 triệu đồng/1 NVSCC), do
đó, dự án này vẫn chưa được áp dụng tại Việt Nam
2.3.2 Tình hình nghiên cứu NVSCC trên thế giới
2.3.2.1 Các công trình NVSCC trong chiến dịch “Làm mới nhà vệ sinh (Reinvent the Toilet Challenge)”, do Quỹ Bill and Melinda Gates tài trợ, năm 2012. 11
Trước thực trạng có khoảng 2.5 tỉ người trên thế giới hiện nay không được sử dụng NVSCC đạt tiêu chuẩn an toàn, cũng như thiếu nhà vệ sinh, đã khiến hệ thống vệ sinh trở thành vấn đề cần được quan tâm cấp bách tại nhiều quốc gia Điều này đã làm Bill Gates muốn tìm ra một hệ thống xử lý vệ sinh cũng như mô hình nhà vệ sinh mới, hoạt động hiệu quả, kinh phí thấp, thân thiện với môi trường và người sử dụng Đó là lý do ông tổ chức chiến dịch “Làm mới nhà vệ sinh (Reinvent the Toilet Challenge)” với các tiêu chí như nhà vệ sinh không cần dùng đến nước, điện, không gây ô nhiễm, không tạo ra chất thải, tạo ra năng lượng hoặc các chất có ích, và chi phí hoạt động chỉ ở mức 5 cent/ngày Cuộc thi đã thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu khoa học và sinh viên từ các trường đại học trên thế giới Ngày 14/08/2012, tại Seatle (Mỹ), chiến dịch đã kết thúc với giải Nhất thuộc về thiết kế nhà vệ sinh hoạt động bằng năng lượng mặt trời, có khả năng tạo ra điện và hydro của Caltech Các công trình nhà vệ sinh khác cũng được trao giải, bao gồm:
- Công trình Nhà vệ sinh có khả năng biến chất thải của người thành than sinh học, khoáng chất và nước sạch, của Đại học Loughborough
- Hệ thống nhà vệ sinh có thể biến chất thải người thành than sinh học, của Đại học Stanford
- Nhà vệ sinh có thể biến chất thải người thành khí đốt, Trường Công nghệ Delft của Hà Lan
- Nhà vệ sinh có thể tự diệt khuẩn trong 24 giờ, Đại học Toronto
11Sifter,“Bill Gates wants to reinvent the toilet”, đăng ngày 16/08/2012, nguồn:
http://twistedsifter.com/2012/08/bill-gates-reinvent-the-toilet-challeng/
Trang 20- Hệ thống phân hủy chất thải an toàn và tái tạo nước từ chất thải trong các NVSCC, Đại học Nam Phi
- Nhà vệ sinh chiết xuất nước sạch từ chất thải, Đại học Quốc gia Singapore
Chiến dịch đã kết thúc thành công khi tìm ra những mô hình nhà vệ sinh hiện đại, có tính thực tiễn cao, có thể áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Các thiết kế được dự định đưa vào sử dụng trong ba năm tới, với chi phí tài trợ là 370 triệu đô-la từ Quỹ Bill and Melinda Gates
2.3.2.2 Công trình nghiên cứu: “Hệ thống nhà vệ sinh sử dụng nước miễn phí và không cần kết nối hệ thống thoát nước”, Đại học KwaZulu-Natal, Nam Phi, châu Phi,
năm 201112
Công trình nghiên cứu do Giáo sư Chris Buckley - người đứng đầu nhóm nghiên cứu
Đại học KwaZulu-Natal chủ nhiệm, là một trong tám đề tài thắng giải trong cuộc thi “Tái
tạo lại các nhà vệ sinh công cộng” do Quỹ Bill & Melinda Gates tổ chức giữa các trường
đại học trên thế giới Giáo sư Chris Buckley cho biết công trình nghiên cứu này là "một
sáng kiến sáng tạo và đột phá sẽ đưa công nghệ vệ sinh phát triển lên một bước mới"
Mô hình NVSCC trên sẽ được sử dụng rộng rãi và miễn phí, đặc biệt là những người không có điều kiện về kinh tế ở khu vực Châu Phi Trường đại học KwaZulu - Natal đã nhận được 3 triệu USD tiền thưởng và 400.000 USD được cấp để hỗ trợ ứng dụng cho công trình nghiên cứu này
Đây là công trình nghiên cứu có ứng dụng thiết thực, đặc biệt với tình hình TP.HCM khi mà việc quy hoạch NVSCC không được thiết kế trước khi xây dựng, thì ứng dụng NVSCC không cần kết nối hệ thống thoát nước là một sáng kiến quan trọng và có tính ứng dụng cao, và nghiên cứu trên còn đặc biệt phù hợp với tình hình kinh tế và đời sống còn khó khăn của người dân Việt Nam
12
“Innovative Toilet Technology for the 21st Century”, đăng ngày 19/06/2011, nguồn:
http://www.gatesfoundation.org/press-releases/Pages/ukzn-reinvent-the-toilet.aspx
Trang 212.3.2.3 Nghiên cứu về tình hình NVSCC trong thành phố Dhaka, Bangladesh, Nam
Á, năm 2007
Nghiên cứu được tiến hành năm 2007 bởi Trung tâm Nghiên cứu đô thị phối hợp với WaterAid ở Bangladesh Nghiên cứu thực hiện khi tốc độ đô thị hóa của khu vực này diễn ra mạnh mẽ và Dhaka trở thành thành phố phát triển nhanh nhất thế giới, với hơn 14 triệu dân và hơn một triệu khách du lịch mỗi ngày Điều này yêu cầu tiến hành một cuộc nghiên cứu chính thức về hệ thống NVSCC: tình hình của các loại hình NVSCC (tình hình hoạt động, điều kiện vật chất, tình hình an ninh, doanh thu được tạo ra từ các NVSCC) một cách chính xác, chi tiết và tìm hiểu khung pháp lý về vấn đề này Qua đó nhằm giúp chính quyền và các cơ quan chức năng của thành phố đưa ra các chính sách và chương trình hướng về NVSCC phù hợp Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu bị đánh giá là vẫn chưa đạt được hiệu quả sâu rộng
Tốc độ phát triển đô thị và thực trạng NVSCC tại thành phố Dhaka có những nét tương đồng với TP.HCM trong thời gian gần đây (2006 - 2011) nên cuộc nghiên cứu trên
là một bài học tiêu biểu cho vấn đề NVSCC - thực trạng và giải pháp cho Thành phố ta Việc tiến hành cuộc khảo sát về tình hình NVSCC của thành phố này cho thấy tính cấp thiết về vai trò của NVSCC đối với sự phát triển của đô thị, cũng như yêu cầu về một cuộc nghiên cứu có quy mô và hiệu quả về NVSCC là một trong những vấn đề xã hội có
trường trên toàn thế giới
Tổ chức Nhà vệ sinh Thế giới bắt đầu Hội nghị thượng đỉnh Toilet Thế giới vào năm
2001 để cung cấp một nền tảng chung cho các bên liên quan để kết nối, chia sẻ, học hỏi
và hợp tác để đáp ứng các mục tiêu toàn cầu cho vệ sinh Mỗi hội nghị thượng đỉnh nhằm
13
Worldtoilet, nguồn: http://www.worldtoilet.org (ngày truy cập 09/10/2011)
Trang 22mục đích giải quyết các vấn đề nhà vệ sinh và vệ sinh môi trường trên tất cả phương diện như: công nghệ, kinh phí, phát triển, thiết kế, bảo trì, tinh thần kinh doanh xã hội, xây dựng năng lực, đồng thời nghiên cứu các chủ đề khác nhau liên quan, tạo ra phương tiện truyền thông lớn tạo động lực thúc đẩy cung cấp vệ sinh môi trường bền vững
Đây là một tổ chức nghiên cứu và hoạt động có ý nghĩa to lớn đối với vấn đề vệ sinh công cộng nói chung cũng như vấn đề NVSCC nói riêng cho các quốc gia trên thế giới Bằng cách nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống NVSCC sẽ góp phần nâng cao mức sống và nhận thức xã hội của người dân ở những nơi mà vệ sinh công cộng được đảm bảo
và phục vụ người dân có hiệu quả
2.3.2.5 Nghiên cứu về NVSCC dành cho người khuyết tật
Nghiên cứu được thực hiện bởi các tác giả Nhật Bản: Kashihara Shiro (Đại học phụ
nữ Mukogawa) và Nakashima Sachiko, Yoshimura Hidemasa, Yokota Takashi, Iida Tadasu, Matsuo Tetsuhiko (cùng học Đại học Osaka, Trường Đại học Kỹ thuật)
Mục đích của nghiên cứu này là để làm rõ các vấn đề NVSCC cho người khuyết tật bằng các cuộc phỏng vấn, quan sát hành vi, và điều tra khả năng sử dụng NVSCC, từ đó
Ngoài ra còn có thể tham khảo Nghiên cứu về NVSCC dành cho người khuyết tật của Jo-Anne Bichard, sinh viên trường Bartlett, vương quốc Anh14
14
“A Research on Problems of Public Toilet for the People with Severe Physical Disabilities”, nguồn:
http://sciencelinks.jp/jeast/display.php?id=000020061406A0495878 (ngày truy cập 09/10/2011)
Trang 232.3.2.6 Những nghiên cứu về giải pháp kĩ thuật cho NVSCC
Mỹ
NVSCC thân thiện môi trường, năm 201115
Eddie Gandelman, sinh viên thiết kế công nghiệp tại Đại học Cincinnati, thiết kế nhà nhà vệ sinh cho nam với bốn bệ tiểu đứng, ở giữa bên trong mỗi bệ tiểu có kèm cây xanh Đây là thiết kế độc đáo mà đơn giản: nước tiểu được thu thập, tinh chế qua các cấp độ khác nhau bên trong cấu trúc và sau đó được sử dụng như yếu tố dinh dưỡng cho cây Nước tiểu đi qua than, đá vôi nghiền và mức cát màu xanh lá cây trước khi tiếp cận cây xanh
Ý tưởng này góp phần quan trọng thúc đẩy khái niệm NVSCC thân thiện với sinh thái
Nhà vệ sinh như vậy người dùng sẽ không cần lo lắng về ba điều nữa: một chỗ ngồi lạnh, dội nhà vệ sinh và đóng nắp sau khi người dùng hoàn thành
Trang 24Ấn Độ
NVSCC sử dụng năng lương mặt trời 17 , năm 2011
Giám đốc bộ phận bảo trì chung tại Dubai, Ấn Độ - ông Juma Khalifa Al Fugae cho rằng Nhà vệ sinh thường bao gồm đèn chiếu sáng, quạt hút và máy bơm nước, tất cả đều đòi hỏi một lượng điện lớn để chạy, do đó nên chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời thay thế điện Ông nói ý tưởng này nên thử nghiệm trên một dự án thí điểm và nếu thành công, năng lượng mặt trời sẽ được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các nhà vệ sinh của các tiểu vương quốc
Hàn Quốc
Bồn vệ sinh đa năng (Sang Eun Young thiết kế) 18 , năm 2009
Ban đầu thiết kế này dành riêng cho người nam sử dụng, nếu muốn bồn vệ sinh thực hiện chức năng khác người dùng ấn nút điều chỉnh bên trên, lập tức chuyển sang bồn ngồi Hơn nữa, bồn vệ sinh có hệ thống ánh sáng tia cực tím và bên trong có hệ thống nóng khử trùng toàn diện Thiết kế kiểu dáng đẹp, sang trọng và tiết kiệm không gian cho NVSCC
Hệ thống Eco Bath (Jang Wooseok thiết kế) 19 , năm 2009.
Eco Bath là một bể nước kép được thiết kế chủ yếu để tái sử dụng nước lăn xuống từ chậu rửa Nó bao gồm hai phần chính: một phần bên trái chứa nước tái chế, phần bên phải chứa nước máy Khi đèn LED chuyển màu xanh là đang chứa đầy nước tái chế để người dùng kéo đòn bẩy xả nhà vệ sinh Mặt khác, đèn LED chuyển sang màu đỏ, cho thấy nước tái chế chưa đủ, người dùng sẽ kéo đòn bẩy bên chứa nước máy để dội nhà vệ sinh Hệ thống Eco Bath nếu được ứng dụng rộng rãi sẽ mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn
và tiết kiệm khối lượng nước sử dụng đối với NVSCC
Nghiên cứu khoa học về giải pháp kỹ thuật của NVSCC đã xuất hiện và đạt được nhiều thành công trên các quốc gia trên thế giới Tính hiện đại, tiện dụng của những thiết
Trang 25bị NVSCC đã được nghiên cứu phát triển và đạt hiệu quả ứng dụng cao Tuy nhiên, mặc
dù sản phẩm không thiếu nhưng vấn đề giá cả của những NVSCC cao cấp lại là trở ngại lớn để các quốc gia đang phát triển có thể tiếp cận - trong khi đây chính là thị trường lớn với nhu cầu sử dụng NVSCC cao
Tóm lại, tổng quan về tình hình nghiên cứu NVSCC trong và ngoài nước cho thấy,
NVSCC mang ý nghĩa quan trọng và thu hút được sự quan tâm của chính quyền và các nhà nghiên cứu tại các nước trên thế giới Hiện nay đã xuất hiện nhiều mô hình NVSCC hiện đại, phù hợp, nhằm đáp ứng và phục vụ nhu cầu người sử dụng, thích hợp với điều kiện từng khu vực, quốc gia Mặc dù vậy, tại Việt Nam các đề tài nghiên cứu khoa học chính thức về NVSCC vẫn còn rất ít Nếu có thì hầu hết tập trung mặt kỹ thuật, nhằm phát triển các NVSCC hiện đại và đầy đủ chức năng Bên cạnh đó, đa số những phát minh này đều không được ứng dụng vào thực tế bởi chi phí lắp đặt và thiết kế không phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước Trong khi những giải pháp quản lý cho thực trạng NVSCC lại không có và hầu như chỉ được phản ánh riêng lẻ trên báo chí Chính vì vậy, việc tìm hiểu tổng quan về thực trạng NVSCC, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp, đặc biệt là giải pháp về mặt quản lý, là cần thiết đối với tình hình xã hội tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung
Ngoài ra, đề tài với hướng tiếp cận phát triển đô thị và áp dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học (quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, điều tra bảng hỏi online và bảng hỏi trực tiếp người sử dụng) về các vấn đề hoạt động, sử dụng và quản lý các NVSCC cũng là nét mới so với các đề tài nghiên cứu trước Thông qua nội dung nghiên cứu và
các kết quả nghiên cứu, đề tài “Nhà vệ sinh công cộng Thành phố Hồ Chí Minh: Thực
trạng và giải pháp (Nghiên cứu trường hợp các Nhà vệ sinh công cộng tại Quận 1, TP.HCM)” mong muốn đóng góp vào nguồn tài liệu tham khảo vốn rất ít về lĩnh vực xây
dựng và quản lí NVSCC tại TP.HCM nói riêng và các đô thị Việt Nam nói chung
Trang 263 Mục tiêu – Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu
Đi sâu nghiên cứu trường hợp các NVSCC tại địa bàn Quận 1, TP.HCM nhằm tìm hiểu chi tiết hơn nữa thực trạng hoạt động các NVSCC
Dựa trên kết quả khảo sát, đưa ra những định hướng giải pháp và mô hình NVSCC phù hợp giúp NVSCC thân thiện, hoạt động hiệu quả, nâng cao chất lượng quản lý,
và đáp ứng hiệu quả nhu cầu của người sử dụng khi cần, cũng như phù hợp với cảnh quan bố trí xung quanh, góp phần làm cho không gian công cộng đô thị thêm xanh - sạch - đẹp
3.2 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm tất cả NVSCC cố định nằm trên các tuyến đường thuộc 19 quận và năm huyện của TP.HCM Đây là những NVSCC thuộc quản lý của Nhà nước, do Công ty Cây xanh Thành phố, các Công ty Dịch vụ công ích của mỗi quận huyện và các UBND Phường trực tiếp quản lí (ngoại trừ hai NVSCC theo mô hình
“Chung tay cộng đồng” do ngân hàng Sacombank xây dựng và quản lý, đặt tại Quận Tân Phú) Các NVSCC này dành cho mọi đối tượng sử dụng, với hình thức có thu phí hoặc không thu phí
Đề tài không nghiên cứu các NVSCC nằm trong bến xe, trạm xăng, siêu thị, khu thương mại, hay nhà hàng khách sạn Đây là những nhà vệ sinh do các chủ doanh nghiệp bến xe, trạm xăng, siêu thị, nhà hàng, khách sạn xây dựng và quản lí Các nhà vệ sinh này
là dịch vụ phụ, kèm theo, chủ yếu phục vụ cho khách hàng sử dụng các dịch vụ chính của các doanh nghiệp như đổ xăng, mua sắm, ăn uống tại khu vực hoạt động của mình khi có nhu cầu
Trang 273.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Thu thập và phân tích dữ liệu sẵn có: tham khảo, tra cứu thông tin từ các nguồn tài
liệu khác nhau trong và ngoài nước (sách, báo chuyên ngành, đề tài nghiên cứu Khoa học, dự án khoa học, thông tin internet…) về công tác quản lý, các chính sách áp dụng và tình trạng chung của NVSCC từ năm 2005 đến năm 2011, từ đó có được định hướng hợp
lý trong quá trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp của NVSCC
Tiến hành tra cứu, tham khảo thông tin trên mạng
Tổng kết số liệu tại các đơn vị quản lý NVSCC trong TP.HCM: Công ty TNHH
MTV DV Công Ích tại 19 quận và năm huyện trong TP.HCM; công ty TNHH MTV
DV Công Ích TNXP, TP.HCM; công ty Cây Xanh TP.HCM; UBND phường 6, Quận
4, TP.HCM; UBND phường 8, Quận 4, TP.HCM; UBND phường 10, Quận 4, TP.HCM; UBND phường 18, Quận 4, TP.HCM; UBND phường 12, Quận 11 TP.HCM và UBND các huyện tại TP.HCM
Tham khảo tài liệu tại thư viện các trường Đại học: Thư viện trường Đại học Kiến
trúc TP.HCM, thư viện Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, thư viện tổng hợp Đại học Quốc Gia TP.HCM
Tra cứu, tham khảo số liệu bài Báo cáo tổng kết các năm 2008, 2009, 2010 về kế hoạch triển khai thực hiện nếp sống văn minh - mỹ quan đô thị trên địa bàn TP.HCM
do Sở Văn hóa - thông tin trực thuộc UBND TP.HCM thực hiện
3.3.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp quan sát tham dự: Các thành viên trong nhóm nghiên cứu đã tiến
hành thống kê, quan sát và chụp hình các NVSCC nằm trên các tuyến đường của 24 quận, huyện Không chỉ quan sát, nhóm nghiên cứu còn trực tiếp sử dụng các NVSCC và ghi lại hình ảnh trang thiết bị và vật dụng bên trong các NVSCC cũng như tình trạng hoạt động của các nhà vệ sinh này Từ đó đưa ra các phân tích về thực trạng của NVSCC năm
2011 - 2012 trên các tuyến đường chính của 24 quận, huyện thuộc TP.HCM và nghiên cứu trường hợp các NVSCC Quận 1, TP.HCM
Trang 28Tất cả hình ảnh sử dụng trong đề tài này là do nhóm nghiên cứu chụp hình, những hình ảnh nào không phải do nhóm ghi lại thì sẽ có ghi chú tên tác giả và nguồn dẫn ngay bên dưới
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi online: tiến hành khảo sát ý kiến 207 người
dân cư trú tại địa bàn TP.HCM (bao gồm cả đối tượng có và không có sử dụng NVSCC) đồng thời sử dụng phần mềm excel để thống kê kết quả và tổng hợp cho các câu trả lời Bảng hỏi được đăng tải trên hệ thống mạng của google tại đường link sau:
https://docs.google.com/spreadsheet/viewform?formkey=dEVraUduLUdCbkpwa3JtVGNXeG9fX1E6MQ
40 cán bộ - công nhân viên,
123 sinh viên (trường Cao đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, trường Đại học Kinh tế, trường Đại học Kiến trúc, trường Đại học Ngoại
Thương,…) (Xem phụ lục, bảng 12, trang 2)
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi trực tiếp: tiến hành phát 104 phiếu khảo sát
thực tế cho người dân đã sử dụng NVSCC tại địa bàn Quận 1, TP.HCM, đồng thời sử dụng phần mềm SPSS để tổng hợp kết quả và phân tích mối quan hệ giữa các biến, với mục đích tìm hiểu ý kiến tổng quan về nhu cầu, nguyện vọng và đánh giá của người dân đối với thực trạng và các giải pháp đề xuất cho đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, trong bảng hỏi trực tiếp, có những câu hỏi mở nhằm để nhóm nghiên cứu tiếp tục phỏng vấn sâu, khai thác thông tin người sử dụng NVSCC các vấn đề tại sao, như thế nào và cho các ví dụ liên quan đến các vấn đề của NVSCC mà các câu hỏi lựa chọn trắc nghiệm chưa khai thác sâu được
Trang 29Đối với 104 bảng hỏi dành cho đối tượng có sử dụng NVSCC trên địa bàn Quận 1,
đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bao gồm:
5 người dân thuộc thành phần lao động phổ thông (người lái xe ôm, thợ hồ, bán vé
số, thầy tu,…),
8 người dân buôn bán nhỏ,
7 học sinh,
33 cán bộ công nhân viên,
43 sinh viên (trường Cao đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, trường Đại học Kinh tế,…) (Xem phụ lục, bảng 01, trang 1)
4 Nội dung – Kết quả nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Dẫn nhập
TP.HCM là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam
Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố ngày nay bao gồm 19 quận và năm huyện, tổng diện tích
là 2.095,01 km2 Cùng vị trí địa lí thuận lợi, sự phát triển về giao thông và giao lưu kinh
tế - văn hóa, TP.HCM trở thành khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất, và được biết đến là nơi có điều kiện sống cao trên cả nước Tuy nhiên, các dịch vụ công cộng tại đây vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, đặc biệt là thực trạng NVSCC vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Sự thiếu thốn hệ thống NVSCC chất lượng tốt không chỉ thể hiện sự yếu kém trong cơ sở vật chất mà còn làm giảm giá trị và chất lượng sống của người dân Thành phố, phản ánh tình trạng cung ứng dịch vụ công của cơ quan chức năng đến với người dân chưa thực sự đầy đủ và chưa hiệu quả Vì vậy, yêu cầu nắm bắt cụ thể và chính xác thực trạng NVSCC tại TP.HCM là điều quan trọng để có được một bức tranh tổng quát làm nền tảng đưa ra các giải pháp phù hợp về sau
Chương 2 trình bày thực trạng hoạt động, sử dụng và quản lý các NVSCC tại TP.HCM thông qua các vấn đề cụ thể như sau: số lượng NVSCC, vị trí phân bố các NVSCC, hình thức bên ngoài cũng như chất lượng sử dụng của NVSCC, hình thức quản
lý các NVSCC Bên cạnh phương pháp phân tích dữ liệu sẵn có, phương pháp nghiên cứu chính sử dụng trong chương này là quan sát tham dự, khảo sát bằng bảng hỏi online trên
207 người tại TP.HCM (bao gồm cả đối tượng có sử dụng và không sử dụng NVSCC)
Trang 31khách đến TP.HCM trung bình 206.000 lượt khách/tháng21 Điều này cho thấy lượng dân
cư tại TP.HCM và khách du lịch ở đây vô cùng lớn, yêu cầu sự cung cấp đầy đủ về số lượng và chất lượng của các dịch vụ công, mà trong đó NVSCC có vai trò quan trọng và cấp thiết Tuy nhiên, vấn đề NVSCC lại chưa được quan tâm đúng mức Theo Báo cáo
tổng kết “Năm 2010 - Năm thực hiện nếp sống văn minh - mỹ quan đô thị” trên địa bàn
TP.HCM, tổng số NVSCC hiện có là 295 nhà vệ sinh, nhưng theo kết quả khảo sát thực
tế của nhóm nghiên cứu và tổng kết số liệu báo cáo từ các đơn vị quản lý, vào năm 2011 -
2012 chỉ có 144 NVSCC cố định do các đơn vị thuộc Nhà nước quản lý (trong đó có 11
NVSCC không hoạt động và hai nhà vệ sinh chưa được đưa vào sử dụng) ở toàn TP.HCM Trong khi đó, so sánh với một vài thành phố Châu Á khác, Bắc Kinh với dân
số 17 triệu người, số NVSCC là 5.174 nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn quốc tế vào năm 2008, còn ở Singapore, năm 2008 đã có 29.500 NVSCC/4.5 triệu dân22 Như vậy, số lượng NVSCC tại TP.HCM hiện nay là ít, chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng của người dân, đó là chưa xét đến yếu tố chất lượng nhà vệ sinh có đảm bảo tiêu chuẩn quy định hay không Chính vì chưa xem xét đúng vai trò và chức năng của NVSCC là một loại dịch vụ công phục vụ nhu cầu căn bản của người dân định cư và khách vãng lai của Thành phố nên việc xây dựng và cung ứng NVSCC đã gặp một số khó khăn Nguồn ngân sách từ Nhà nước vẫn có nhưng lại không thể sắp xếp, bố trí thêm các NVSCC trên các tuyến đường Một trong những nguyên nhân chính là do không có đất xây dựng Từ ban đầu các quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng Thành phố đã không hề xét đến vị trí NVSCC cho nên khi muốn lắp đặt thêm các NVSCC thì đã gặp trở ngại lớn về quỹ đất dự trữ Trong khi đó, diện tích đất thu hẹp do dân số ngày càng đông, giá đất ngày một tăng cao
do tính chất phát triển thương mại dịch vụ của một thành phố trung ương, thì việc tìm kiếm một diện tích đất dù nhỏ để xây dựng NVSCC cũng vô cùng khó khăn, đặc biệt tại những quận trung tâm – nơi “tấc đất, tấc vàng” Ví dụ điển hình là năm 2008, Sở Tài nguyên - Môi trường Thành phố tổng kết trong số 76 địa điểm mà Sở và 24 quận huyện
Trang 32khảo sát để xây NVSCC thì cho đến nay chỉ mới có tám địa điểm được cấp phép xây dựng, trong đó có hai NVSCC đang xây phải tạm dừng23 Bên cạnh đó, tâm lý e dè và thái độ thiếu thiện cảm của người dân Thành phố đối với NVSCC cũng gây khó khăn trong việc xây lắp nhà vệ sinh Đa số các khu vực nhà ở hay cơ sở kinh doanh đều không muốn có NVSCC định vị gần bên Tác động đến xu hướng nhìn nhận này là do chất lượng NVSCC còn kém, luôn có mùi hôi và dơ bẩn, kèm theo việc trông coi quản lý chưa hiệu quả, khiến một số NVSCC trở thành nơi tụ tập các tệ nạn xã hội, gây ấn tượng xấu đối với người dân xung quanh
1.3 Vị trí phân bố
Ngoài số lượng, vị trí phân bố các NVSCC chưa phù hợp cũng gây cản trở cho việc tiếp cận loại hình dịch vụ này Do không có quy hoạch chính thức và rõ ràng cho việc lắp đặt NVSCC dẫn đến các nhà vệ sinh được bố trí với khoảng cách không phù hợp, nơi thừa nơi thiếu, ảnh hưởng đến việc tìm kiếm và sử dụng NVSCC của cả người dân và khách du lịch
Ở những thành phố lớn của một số nước, việc xây lắp NVSCC đã được định hình, trình duyệt ngay trong bản quy hoạch tổng thể và kèm theo những quy định chặt chẽ về khoảng cách bố trí Ví dụ như trên các tuyến phố ở Bắc Kinh quy định từ 600 - 800m (tuyến phố lớn) và từ 800 - 1.000m (đối với tuyến phố nhỏ) phải có NVSCC để khách chỉ cần tốn 8 - 10 phút đi bộ là có thể tìm được24 Trong khi đó, tại TP.HCM, một số tuyến đường quan trọng có khi cách đến 2 km vẫn chưa có NVSCC hoặc những tuyến đường quan trọng của Thành phố hoàn toàn không có NVSCC Điển hình trên các tuyến đường liên quận (đường 3/2 nối Quận 10 và 11, Bạch Đằng - Phan Đăng Lưu nối Quận Bình Thạnh và Phú Nhuận…)25 đều thiếu chỗ đặt nhà vệ sinh, không có NVSCC xây dựng trên đường
Trang 33Tiếp theo là việc bố trí NVSCC không phù hợp với đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội khu vực khiến một số nơi ít có nhu cầu sử dụng NVSCC thì thừa nhà vệ sinh, và ngược lại, những khu vực cần phục vụ NVSCC lại thiếu Những địa điểm có nhiều du khách nước ngoài tham quan như đường Lê Duẩn, Nguyễn Thị Minh Khai, Đồng Khởi, Nam
Kỳ Khởi Nghĩa, du khách hoặc khách vãng lai rất khó tìm được NVSCC Ngay tại “tam giác vàng” ba địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của TP.HCM là Nhà thờ Đức Bà, Dinh Độc Lập và Bưu điện TP.HCM, hoàn toàn không có NVSCC xây dựng trên các tuyến đường này, khách du lịch đa số sử dụng nhà vệ sinh trong các trung tâm thương mại gần đó hoặc xin vào các quán xá ven đường khi có nhu cầu sử dụng Trong khi đó những khu vực ít du khách và người dân, NVSCC lại trở nên thừa, như khu vực công viên dưới chân cầu vượt Văn Thánh 2 và cầu Sài Gòn rất ít người qua lại có nhu cầu sử dụng nhưng lại có hai NVSCC Trả lời về tình trạng này, ông Nguyễn Văn Phước - Phó
Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi trường TP.HCM cho biết “do thành phố chưa có quy
hoạch tổng thể hệ thống NVSCC nên chưa đánh giá được xác thực nhu cầu sử dụng của người dân cũng như khả năng đáp ứng của thành phố hiện nay và trong tương lai Vì vậy, NVSCC được xây dựng chủ yếu dựa vào đề xuất của UBND các quận, huyện”.26
Cụ thể về phân bố vị trí NVSCC tại TP.HCM, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và tổng hợp địa điểm từng nhà vệ sinh được xây dựng trên các tuyến đường của 19 quận và năm huyện thuộc Thành phố Dưới đây là bảng khảo sát vị trí phân bố các NVSCC của từng quận, huyện
Bảng 01 Bảng phân bố vị trí NVSCC tại Quận 1, TP.HCM
Công ty TNHH MTV
Hoạt động
26
Hoàng Tuyết, Hải Yên, “Nhà vệ sinh công cộng ở TP HCM: Nơi thừa - Nơi thiếu”, đăng ngày
26/10/2011, nguồn: tphcm-noi-thuanoi-thieu.htm
Trang 34http://www.baotintuc.vn/149N20111026083824109T129/nha-ve-sinh-cong-congo-Khai phường Phạm Ngũ
Lão, Quận 1
trông coi và quản lý
DV Công Ích Quận 1
2
Cách Mạng Tháng 8
Gần số nhà 18 Cách Mạng Tháng 8, phường Bến Thành, Quận 1 và Công viên văn hóa Tao Đàn
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
3
Huyền Trân Công Chúa
Gần cổng sau của cung văn hóa lao động TP.HCM,
số 55B Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
4 Nguyễn
Du
Gần cổng sau của Sân khấu ca nhạc Trống Đồng, số 12B Cách Mạng Tháng 8, phường Bến Thành, Quận 1
Tự động
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Không hoạt động
5
Ngã ba Nguyễn
Du và Lê
Văn Hưu
Gần bệnh viện nhi đồng 2, số 33 Nguyễn
Du, phường Bến Nghé, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
6
Chu Mạnh Trinh
Đối diện căn nhà số
46 Chu Mạnh Trinh, phường Bến Nghé,
Có người trông
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích
Hoạt động
Trang 35Gần Diamond Plaza,
số 2 Nguyễn Văn Chiêm, phường Bến Nghé, Quận 1
Tự động
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Không hoạt động
8
Nguyễn
Hữu Cảnh
Gần Công ty Điện lực, khu vực 2 TP.HCM
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
Nghi
Gần Công Ty CP Chứng Khoán Bản Việt, số 136 Hàm Nghi, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
10
Ngã tư Nguyễn
Thái Bình
và Phó Đức Chính
Gần Vinasiam Bank,
số 2A Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
11 Nguyễn
Công Trứ
Đối diện Công ty Cổ phần Chứng khoán Đông Dương 148-
150 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
Trang 36Thái Bình, Quận 1
12 Nguyễn
Thái Học
Dưới rạch cầu Nguyễn Thái Học, số
2 Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
13 Cô Bắc
Đối diện trường THCS &
THPT Đăng Khoa, số
571 Cô Bắc, phường Cầu Ông Lãnh, Quận
1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
14
Nguyễn
Cảnh Chân
Đối diện căn nhà số 1 Bis Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
15 Trần
Đình Xu
Gần Trường Tiểu Học Trần Hưng Đạo,
số 81 Trần Đình Xu, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
16
Ngã tư Trần Cao
Vân và Phùng Khắc Khoan
Gần Nhà Thiếu Nhi Quận 1, số 7 Trần Cao Vân, phường Đa Kao, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
Trang 3717
Ngã ba Trần Cao
Vân và Điện Biên Phủ
Đối diện công viên Lê Văn Tám, phường Đa Kao, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
18 Bờ kè
Hoàng Sa
Đối diện chung cư 1A- 1B Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
19 Bờ kè
Hoàng Sa
Đối diện chốt văn phòng khu phố 3, phường Đa Kao, Quận 1
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Không hoạt động
20
Công viên Lê Văn Tám
Nằm ngã tư Hai Bà Trưng và Võ Thị Sáu
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
21
Công viên Lê Văn Tám
Nằm gần trung tâm viễn thông quốc tế khu vực 2, số 142, Điện Biên Phủ, phường Đa Kao, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
22 Công
viên 23-9
Nằm gần rạp xiếc TP.HCM, số 2 đường Phạm Ngũ Lão,
Có người trông
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích
Hoạt động
Trang 38phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1
coi và quản lý
1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích TNXP
Hoạt động
24 Công
viên 23-9
Nằm đối diện cổng sau trường Trường Trung học phổ thông Ernst Thalmann, số 8 Trần Hưng Đạo, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
25 Công
viên 23-9
Nằm đối diện gần Khách sạn New World Saigon, 76 Lê Lai, phường Bến Thành, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
26 Công
viên 23-9
Nằm đối diện căn nhà
số 98 Lê Lai, phường Phạm Ngũ Lão, Quận
1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
27 Công
viên 23-9
Nằm đối diện căn nhà
196 Lê Lai, phường Phạm Ngũ Lão, Quận
1
Có người trông coi và
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích TNXP
Hoạt động
Trang 39quản lý
28
Công viên Tao
Đàn
Nằm đối diện khách sạn Saigon Star, số
204 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, Quận
3
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
29 Lý Tự
Trọng
Gần trung tâm thương mại Vincom Plaza, phường Bến Nghé, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
30
Ngã tư Tôn Thất
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
31
Nguyễn
Trung Trực
Gần ngã ba đường Nguyễn Trung Trực
và Nguyễn Du
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
32
Nguyễn
Trung Trực
Gần ngã tư đường Nguyễn Trung Trực
và Lê Thánh Tôn
Gần căn nhà số 27 Nguyễn Trung Trực, phường Bến Thành, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
Trang 4033
Nam Kỳ
Khởi Nghĩa
Ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Huỳnh Thúc Kháng Gần căn nhà
số 92 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
34
Công viên Tao
Đàn
Nằm trên đường Trương Định, nằm trên tuyến đường Trương Định đối diện Ban Quản Lý Công viên Tao Đàn
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
35
Công viên Tao
Đàn
Nằm trên tuyến đường Trương Định, gần văn phòng nhiếp ảnh Tao Đàn
Có người trông coi và quản lý
Công ty Cây xanh TP.HCM
Hoạt động
36
Công viên Quách Tùng Diệp
Nằm trên tuyến đối diện Bảo tàng TP.HCM, tọa lạc 65
Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1
Có người trông coi và quản lý
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Hoạt động
37
Công trường
Mê Linh
Gần công viên cảng
du lịch Bạch Đằng, số
10, phuờng Bến Nghé, Quận 1
Tự động
Công ty TNHH MTV
DV Công Ích Quận 1
Không hoạt động
Công ty Cây xanh
Hoạt động