Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nói chung, bộ phận kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càng phát triển đa
Trang 1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHAN VIEN BAO CHÍ VÀ TUYEN TRUYEN
TONG QUAN KHOA HOC
(DE TAI KHOA HOC CAP CG SO)
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM (1993 -2003)
- QUA KHẢO SÁT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: T.S NGÔ VĂN LƯƠNG
THƯ KÝ ĐỀ TÀI: G.V ĐÀO ANH QUẦN
Trang 2
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN CỦA ĐỀ TÀI
- Ƒ.5 Ngô Văn Lương, Trưởng Khoa Kinh tế chính trị - Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Chủ nhiệm đề tài
-_ Thạc sỹ Vũ Xuân Lai, Phó Trưởng Khoa Kinh tế chính trị - Phân viện Báo chí
và Tuyên truyền, thành viên
- Thạc sỹ Bùi Quốc Luật, Giảng viên Khoa Kinh tế chính trị - Phân viện Báo
chí và Tuyên truyền, thành viên
Giang viên Nguyễn Thị Vân The, Khoa Kinh tế chính trị - Phân viện Báo chí
và Tuyên truyền, thành viên
Thạc sỹ Lê Thị Thuý, Giảng viên Khoa Kinh tế chính trị - Phân viện Báo chí
và Tuyên truyền, thành viên
Giảng viên Nguyễn Thị Kim Thu, Giảng viên Khoa Kinh tế chính trị - Phân
viện Báo chí và Tuyên truyền, thành viên
Trang 3MUC LUC TONG QUAN KHOA HOC
PHAN M6 ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu
NOI DUNG TONG QUAN
CHUONG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DAU TUTRUC TIEP NUGC NGOAI (FDI)
1.1 Đầu tư trục tiếp nuéc ngodi - cdc hinh thite va su tac động của nó
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - nguyên nhân và hình thức :
1.1.2 Sự vận động của FDI trên thế giới và các nhân tố tác động
đến việc thu hút FDI
1.3 Sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn thu hút FDI ở một số nước |
1.2.1 Thực tiễn thu hút FDI & một số nước
1.2.2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm các nước
1.3 Một số quan điểm của Đảng ta về thu hút FDÌ
1.3.1 Trước đổi mới
1.3.2 Từ khi đổi mới đến nay
CHƯƠNG 2 THUC TRANG FDI G VIET NAM (1993 - 2003) QUA KHAO SAT
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 42.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dnh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2 Thực trạng đầu tư trục tiếp nưóc hgoài ở thành phố
MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VA GIAI PHAP THU HUT DAU TU
TRUC TIEP NUGC NGOAI VAO VIET NAM TUNAY DEN 2010 3.1 Mục tiêu và phương hướng
3.1.1 Mục tiêu
3.1.2 Phuong hướng
3.2 Các giải pháp và kiến nghị
3.2.1 Về chiến lược và định hướng thu hút FDI
3.2.2 Cải thiện tổng thể môi trường đầu tư
3.2.3 Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 5
A PHAN MO ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đến nay, Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài đã hơn 15 năm
Trong khoảng thời gian đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đã trở thành
một tập hợp vốn đáng kể cho nền kinh tế mà còn là một trong những bộ phận hợp thành quan trọng của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - hình thức tổ chức kinh tế không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nói chung, bộ phận kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càng phát triển đa dạng, có mặt ở 60/64 tỉnh, thành trong cả nước, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, của nhiều nhà quản lý, kinh doanh và các nhà khoa học
Để đầu tư trực tiếp nước ngoài phát huy hơn nữa những tác động tích cuc
va thuc su trở thành nhân tố thúc đẩy mạnh mế tiến trình CNH - HĐH đất nước,
vấn đề trung tâm và mấu chốt cần tháo gỡ là phải căn cứ vào điều kiện, hoàn
cảnh của cả nước, của từng địa phương, trong từng thời kỳ cụ thể để giải quyết tốt mối quan hệ giữa các mục tiêu của nước ta với mục đích của các nhà đầu tư
_Trong hơn 10 năm qua, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là
những địa phương liên tục dẫn đầu cả nước về thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhờ những lợi thế vượt trội về điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội và đặc biệt là những thành tựu bước đầu nhưng rất quan trọng trone đổi mới quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Là hai dịa phương đi tiên phong trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, sau hơn I5
năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã
chứng minh một cách thuyết phục cả nước rằng: FDI là nguồn đầu tư quan trọng đóng góp tích cực cho việc tạo ra năng lực sản xuất mới trong nhiều ngành kinh
tế, tạo ra nhiều ngành nghề mới và phương pháp quản lý kinh doanh hiện đại
Trang 6
theo cơ chế thị trường, kích thích sự phát triển của thị trường nội địa và mở rộng
thị trường quốc tế, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và có những đóng
góp nhất định cho ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, nguồn vốn FDI mặc
dù luôn được Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bố trí trên bàn cờ chiến lược
chung của các nguồn vốn, nhưng trong quá trình thực hiện đã bộc lộ không ít
những sai sót, hạn chế và lúng túng khi triển khai những biện pháp nhằm đẩy
mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của FDI tại địa phương
Để tận dụng ngoại lực, phát huy cao độ nội lực, tranh thủ tác động tích
cực, hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động FDI nhằm khuyến khích và hướng
dẫn đầu tư vào những lĩnh vực mà chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và
10 năm ưu tiên, cần phải có một sự nghiên cứu tổng thể, toàn diện về đầu tư trực
Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi chọn để tài trên để nghiên cứu
Nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại hai địa phương tiêu biểu là thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ đó rút ra những vấn đề có tính chất hàm ý
đối với cả nước, và do đó có thể là những gợi ý đối với các địa phương
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
a Ngoài nước:
Đề tài về đầu tư nước ngoài nói chung, FDI nói riêng trong nền kinh tế thế
giới đã được nhiều tổ chức và học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Các
công trình nghiên cứu nước ngoài (trong đó có một phần nhỏ đã được dich ra
tiếng Việt) tập trung vào hai mảng vấn đề sau:
Thứ nhất, các lý thuyết về FDI vi mô
Các lý thuyết và đóng góp nổi bật vẻ FDI ở tầm vi mô phải kể đến là lý
thuyết của Hymer (1960) - người đầu tiên giải thích một cách hệ thống quá trình
Trang 7quốc tế hoá của các công ty; Kindleberger (1969) - phân tích lợi thế của các
công ty ở nước ngoài; Johnson (1970) - về khái niệm “hàng hoá công cộng ” trong nội bộ công ty, Caves (1971) - về khả năng phân đoạn một sản phẩm hàng
hóa; Buckley and Casson (1991) - về vai trò của nghiên cứu và triển khai (R&D)
và đầu tư vào R&D của công ty; Dunning (1993) - về ba yếu tố quy định sự mở rộng và phương thức mở rộng của TNC
Thứ hai, các lý thuyết về FDI vĩ mô:
Đặt nên móng cho những lý thuyết về FDI sau này phải kể đến thuyết “lợi thế so sánh” của D Ricardo - nhà kinh tế học tư sản cổ điển người Anh Ngoài
ra, nghiên cứu FDI ở tầm vĩ mô, cần phải kể đến những đóng góp của các tác giả như Harraod và Domar về mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh
tế; Caves (1974) - về sự lan toả của FDI; Blomstom va Worff (1989) - về tý lệ sở
hữu hợp lý của nhà nước và của nước ngoài trong FDI; Haddad và Harrison (1993) - về tác động của FDI đến năng suất lao động xã hội
b Trong nước:
Nghiên cứu trong nước về FDI thực sự được bắt đầu từ cuối thập kỷ 80 dau
thập kỷ 90, khi tư tưởng đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế được khẳng định và
triển khai trên thực tế Một số công trình nghiên cứu, điển hình là các công trình -_ từ số I1 đến số 17 (rong Danh mục tài liệu tham khảo báo cáo Tổng quan này)
đã đi sâu vào các vấn đề lý luận về FDI, phân tích thực trạng tình hình thu hút và
sử dụng FDI ở tầm vĩ mô, về quản lý nhà nước FDI Ngoài những điểm chung
đã được thừa nhận cả về lý luận và thực tiễn, trong mảng này còn thiếu những
điểm nhấn cần thiết Đó là chưa có sự nghiên cứu một cách tổng thể FDI ở từng vùng, từng địa phương, đặc biệt là ở hai địa bàn trọng điểm: thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Làm rõ lý luận về bản chất, các loại hình, vai trò và sự tác động của hoạt động FDI
Phân tích thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút
và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của FDI đáp ứng yêu cầu thực hiện chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010
Nội dung nghiên cứu
Lý luận chung về FDI
Một số quan điểm cơ bản của Đảng ta về tranh thủ ngoại lực và FDI
Hiện trạng FDI ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả sử
dung FDI
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp duy vật biện chứng - phương pháp luận của kinh tế
chính trị, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu của các khoa học kinh tế,
nhất là các phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị như trừu tượng hoá, phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
Trang 9
NỘI DUNG
CHUONG 1
MOT SO VAN DE VE DAU TUTRUC TIEP NUGC NGOAI (FDD)
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - các hình thúc và sự tác động của nó
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nHóc ngoài - nguyên nhân và hình thức
Dau tu truc tiép nudc ngoai (FDI) 1a mét bé phan chủ yếu của đầu tư quốc
tế, do đó, trong suốt nhiều thập kỷ qua, lý luận về FDI trên cả hai bình diện vi
mô và vĩ mô đều đã đạt được những bước tiến đáng kể, góp phần tích cực cho
việc hoạch định các chính sách nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nhất đối với
nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng nguồn vốn EDI từ phía các nước đầu tư Về khái niệm EDI, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên hiện nay có khá nhiều định nghĩa về hoạt động này Theo chúng
tôi những khái niệm sau đây là khá phổ biến và ổn định:
Theo cách tiếp cận FDI như là một bộ phận của vốn đầu tư quốc tế, thì EDI là hình thức trong đó chủ đầu tư nước ngoài đưa toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
| Một cách tiếp cận khác dựa vào hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thì
cho rằng: FDI là loại hình kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn để thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư; nhờ đó cho phép họ có quyền quản lý, điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích thu
được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi năm 2000), trên phương diện quản lý nhà nước về FDI đã đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài
sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”
! Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định hướng dẫn thì hành - NXB CTQG H 2000, tr 10
9
Trang 10
1.1.1.2 Nguyên nhân thúc đẩy FDI
Sở dĩ xuất khẩu tư bản nói chung, đầu tư trực tiếp nói riêng trở thành một hiện tượng phổ biến và ngày càng phát triển là do quá trình tích luỹ tư bản, đầu
tư trong nước không đem lại lợi nhuận cao, dẫn đến hiện tượng “thừa tư bản”, do
vậy các nhà tư bản phải đầu tư ra nước ngoài, thường đầu tư vào các nước kinh tế
kém phát triển vì ở đây các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như lao động,
đất đai, nguyên vật liệu rẻ, nên lợi nhuận thu được cao hơn Đặc biệt từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai đến nay, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ đã đưa tới quá trình toàn cầu hoá kinh tế, quá trình hợp tác, phân công quốc
tế được đẩy mạnh, nên quá trình hợp tác đầu tư phát triển vô cùng mạnh mẽ Do
đó, không chỉ các nước phát triển xuất khẩu tư bản, mà ngay cả các nước đang
phát triển cũng xuất khẩu tư bản Hiện tượng phổ biến là một nước (phát triển
hoặc đang phát triển) vừa nhận đầu tư, đồng thời lại vừa đầu tư tư bản ra nước
ngoài Những nước công nghiệp phát triển là những nước xuất khẩu vốn FDI
nhiều nhất, nhưng cũng là những tiếp nhận vốn FDI nhiều nhất hiện nay, tạo nên
luồng đầu tư hai chiều, đầu tư lẫn nhau giữa các quốc gia, trong đó các tập đoàn
xuyên quốc gia (TNCs) đóng vai trò chủ chốt
Trong xuất khẩu ngày nay, xuất khẩu đầu tư trực tiếp (FDD chiếm vi tri
quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn và có tốc độ gia tăng nhanh chóng
I.1.1.3.Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài phổ biến trên thế giới hiện nay gồm có: hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng; công ty liên doanh do
các bên cùng góp vốn, công ty 100% vốn nước ngoài; hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyển giao (BOT)
1.1.2 Sự vận dộng của FDI trên thế giới và các nhân tố tác động đến
việc thu hit FDI
1.1.2.1 FDI trên thế giới ngày nay vận động theo 5 dac trưng nổi bật như
Sau:
10
Trang 11Một là, dòng vốn ngày một gia tăng và chịu sự chỉ phối chủ yếu của các nước công nghiệp phát triển |
Hai là, dưới hình thức hợp nhất hoặc mua lại các chỉ nhánh công ty Ở nước ngoài đầu tư ra nước ngoài đã trở thành chiến lược hợp tác phát triển chính của
các công ty xuyên quốc gia (NG))
Ba là, có sự thay đổi sâu sắc trong các lĩnh vực đầu tư
- Bốn là, các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật chi phối dòng vận động chính
của vốn FDI trên thế giới, song đã xuất hiện một số chủ đầu tư mới như các nước
cong nghiép mdi (NICs)
Nam la, dong von FDI đổ vào các nước đang phát triển gia tăng mạnh mẽ,
đặc biệt là các nước đang phát triển ở châu Á, nhất là Trung Quốc
ˆ_1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến việc thu hút FDI
Theo chúng tôi có 3 nhân tố khách quan ảnh hưởng đến FDI:
Thứ nhất, sự phát triển của lực lượng sản xuất và những tiến bộ của khoa học và công nghệ
Thứ hai, chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế
Thứ ba, sự quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh và vai trò của các công
ty xuyên quốc gia
Các nhân tố chủ quan tác động tới thu hút FDI Có 6 nhân tố chủ yếu sau:
Một là, sự ổn định về chính trị - kinh tế - xã hội
_ Hai là, có hệ thống pháp luật đây đủ đồng bộ, hoàn chỉnh, có hiệu quả,
nhất là luật đầu tư
Ba là, sự linh hoạt của hệ thống chính sách FDI, bao gồm: chính sách thương mại cần thông thoáng; chính sách tiền tệ phải giải quyết được vấn đề
kiểm soát được lạm phát, ổn định tiền tệ; chính sách lãi suất và ty giá hợp lý có
tác động mạnh đến thu hút FDI; chính sách thuế cần phải rõ ràng, minh bạch,
đơn giản, dễ áp dụng và mức thuế không được quá cao so với lãi suất, lợi nhuận
II
Ï i
Trang 12trình độ phát triển của các doanh nghiệp trong nước
Sáu là, năng lực của nên hành chính quốc gia và hiệu quả của các dự án
FDI đã triển khai
Tóm lại: Các dòng FDI sẽ tìm đến các quốc gia có điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội ổn định, có hệ thống luật pháp hoàn thiện đồng bộ, có chính sách linh hoạt thông thoáng, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hoàn thiện Và ngày
càng hiện đại, có đội ngũ người lao động đáp ứng được yêu cầu FDI, có trình độ
khoa học công nghệ và hệ thống các doanh nghiệp trong nước, đảm bảo có khả năng tiếp nhận FDI và cuối cùng phải có nền hành chính mạnh, có hiệu quả để
thu hut FDI
1.1.3 Sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo hai hướng tac
động tích cực và tiêu cực |
* Đối với nước đầu tư FDI có những tác động tích cực sau đây:
Thứ nhất, FDI giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Thứ hai, EDI còn giúp cho quốc gia đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh
tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế
Thứ ba, đầu tư vốn ra nước ngoài giúp cho các chủ đầu tư phân tán rủi ro do tình hình kinh tế, chính trị trong nước bất ổn
Thứ tư, gìa nhập thị trường không độc quyền để phân chia quyền lợi hoặc
nhằm xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ở lĩnh vực sản xuất công nghiỆp
* Đối với nước nhận đầu tư FDI có những tác động tích cực sau đây:
Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho nước chủ nhà để bù đắp sự thiếu
hụt của nguồn vốn trong nước
12
Trang 13Thứ hai, qua thực hiện EDI, các công ty (mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia) đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ từ các nước đầu tư (hoặc các nước khác) sang các nước chủ nhà
Thứ ba, do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thứ tư, nước nhận đầu tư có thêm điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc
Thứ năm, FDI tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích đầu tư trong và ngoài -
nước
-Về những tác động //¿u cực, theo chúng tôi, FDI có những tác động trực
tiếp chủ yếu đến nước nhận đầu tư ở những phương điện chủ yếu sau:
- FDI tạo ra mối đe doạ đối với khu vực kinh tế quốc doanh, hoặc ảnh hưởng xấu đến thị trường cũng như thuần phong mỹ tục của nưỚc SỞ tại
Đối với các doanh nhân trong nước, đầu tư nước ngoài tạo ra sự cạnh
tranh trong việc tìm kiếm thị trường của từng loại sản phẩm, cạnh tranh chèn ép làm phá sản những ngành nghề truyền thống
- Nguồn vốn do FDI mang lại cho nước chủ nhà song trên thực tế do chủ
đầu tư quản lý trực tiếp và sử dụng theo những mục tiêu cụ thể của mình cho nên
cơ cấu đầu tư thiên lệch và lệ thuộc VàO nước ngoài
- Do yếu kém của nước tiếp nhận đầu tư khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng chỗ sơ hở trong luật pháp và trong quản lý của nước chủ nhà
để kinh doanh gian dối, trốn lậu thuế, gây tác hại đến môi trường sinh thái và lợi
ích của nước chủ nhà, đẩy các nước đang phát triển và tình trạng bị bóc lột nặng
nề hơn
- Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI, song còn tồn tại
nhiều hạn chế và tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt, từng phần và thông thường là công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm với giá cao hơn mặt bằng quốc tế
13
Trang 14
- Trong số các nhà đầu tư nước ngoài không phải không có trường hợp
hoạt động tình báo, gây rối an ninh, chính trị
Chính do những mặt hạn chế trên mà nhiều nước chủ nhà đã lên tiếng
phản đối Nguyên Tổng thống Philippin, ông Marcos, cũng đã nhận xét rằng:
“Nếu không có sự kiểm soát thì đầu tư nước ngoài không kém gì sự xâm lược”
Nêu lên những hạn chế của FDI không có nghĩa là phủ nhận tác dụng của nó mà chỉ muốn lưu ý rằng không nên quá ảo tưởng về nó và cần có những biện pháp
kiểm tra, kiểm soát và đối sách hữu hiệu để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt
tiêu cực của FDI
1.2 Kinh nghiệm thực tiên thu hút FDI ở một số nước 1.2.1 Thực tiễn thu hút FDI ở một số nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Biện pháp chủ yếu và cũng là kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc
trong việc thu hút vốn nước ngoài là:
- Xác lập sự tin cậy trong quan hệ vay nợ, thông qua nhiều nguồn, nhiều
chủ thể để tranh thủ vốn nước ngoài :
- Tạo môi trường tốt đẹp cho việc đầu tư, có luật đầu tư với những qui định
ưu đãi để thu hút người nước ngoài đầu tư nhiều hơn, thời hạn dài hơn
+ Về chính trị: Cân ồn định về chế độ chính trị, ổn định về chính sách
+ Về pháp chế: Có hệ thống pháp luật đồng bộ về đầu tư quốc tế, quyền lợi của người đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo hộ, các luật thuế, luật hải quan, luật quản lý ngoại hối có thể bảo đảm cho người đầu tư thụ được lợi
+ Về kinh tế: kết cấu hạ tầng, chất lượng công nhân, điều kiện tài nguyên,
tình hình thị trường thuận lợi cho việc thu lợi nhuận ở mức tương đối -
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
- Chính phủ Thái Lan khuyến khích các nhà đầu tư hợp tác VỚI Các CƠ
quan nhà nước khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường, các dự án sử dụng
14
Trang 15
nhiều lao động, xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên liệu thô của Thái Lan, thay
thế hàng nhập khẩu
- Tỷ lệ góp vốn liên doanh không thành điều kiện bắt buộc Tuy nhiên, các -
dự án cho phép Thái Lan góp vốn trên 50% thì được uỷ ban đầu tư cấp chứng chỉ
- Vé thué loi tức, đánh thuế 30% vào các công ty và đối tác có đăng ký tại thị trường chứng khoán của Thái Lan và đánh thuế 35% vào các công ty và các đối tác khác Tuỳ từng dự án mà có thể được miễn giảm thuế lợi tức từ 3 - 8 nam
kể từ khi có lãi
- Về thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp được miễn giảm 50% thuế nhập
khẩu đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu vào mà Thái Lan chưa sản xuất được
Được miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu và linh kiện đưa vào để sản xuất và lắp ráp hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp được xét giảm đến 90% thuế
nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập vào nếu các thứ này Ở Thái Lan chưa sản xuất được
- Về chính sách xuất khẩu, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu
được miễn thuế nhập khẩu vật tư, phụ tùng, các chi tiết tạm nhập tái xuất, được
miễn hoặc giảm thuế lợi tức 5% Các doanh nghiệp trong khu chế xuất được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư |
- Về quản lý ngoại hối, nhà đầu tư được chuyển ra nước ngoài các thu
nhập, lợi nhuận, nhưng có thể bị hạn chế trong trường hợp để cân đối tình hình thu - chỉ: Trong trường hợp hạn chế này thì cũng được chuyển ít nhất 15%/năm
so với tổng số vốn đem vào Thái Lan
- Việc sở hữu đất đai được quy định riêng cho từng loại công ty Mỗi công
ty được sở hữu bao nhiêu đất đai do luật quy định Công nhân lành nghề, kỹ
thuật viên và gia đình họ được phép vào Thái Lan làm việc Uỷ ban đầu tư chịu trách nhiệm xem xét
15
Trang 16
- Thái Lan cũng đã nhiều lần cải tiến thủ tục cấp giấy phép; thủ tục triển khai dự án theo hướng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Về chính sách chung, Trung Quốc huy động vốn FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các
khu vực đặc biệt
- Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế
Trung Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương Với doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20 đến 40% và 10% cho dia phuong |
- Vé thủ tục hành chính, Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương
-về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ
tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ
- Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường
được giải quyết dút điểm Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu
w
hút FDI thuận lợi
- Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung Quốc cho thời
hạn hợp đồng kéo dài hơn, có thể tới 50 năm
1.2.2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm các nước
1.2.2.1 Về các quyền cơ bản và các bảo đảm cho các nhà đầu tư gồm:
Một là: Đảm bảo không tước đoạt (sung công)
Hai là: Đảm bảo cho hhững mất mất như quốc hữu hoá, phá huỷ do chiến
tranh gây ra, tính không chuyển đổi được của tiền tệ
Ba là: Chuyển (gửi) ngoại hối tự do
1.2.2.2 Về đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh bình đẳng:
- Cạnh tranh nhập khẩu: Chính sách nhập khẩu của nước sở tại cần phù
hợp và tạo điều kiện cho chính sách công nghiệp của nước đó phát triển
16
Trang 17
- Cạnh tranh chính phủ: Các chương trình của chính phủ về hỗ trợ các
doanh nghiệp nhà nước không được vi phạm tính cạnh tranh
- Canh tranh nội địa thông qua việc đánh thuế từ các rào chắn thâm nhập - vào ngành công nghiệp Điều này liên quan đến việc tạo ra sự cạnh tranh bình
đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước
1.2.2.3 Về miễn, giảm thuế:
: Miễn thuế vốn Chính phủ không thu thuế trên các khoản chuyển nhượng
- Miễn, giảm thuế suất, thuê" thu nhập doanh nghiệp
Sau khi kinh doanh có lãi, trong một thời gian các nhà đầu tư được hưởng
ưu đãi không phải nộp thuế Sau một thời gian miễn thuế, các nước tiến hành giảm thuế
+ Miễn, giảm các loại thuế thu nhập khác Ngành được miễn, giảm có thể
là các ngành định hướng xuất khẩu hay ngành thu về nhiều ngoại tệ cho dất
+ Mién hodc gidm thuế hàng tư liệu sẵn xuất nhập khẩu (vốn)
| Chính phủ không thu thuế nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ các ngành
khuyến khích như ngành hướng vào Xuất khẩu hay các ngành thực hiện chiến
+ Miễn thuế bản quyên Việc miễn thuế bản quyền nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ vào nước sở tal
+ Miễn các loại thuế và chỉ phí khác như thuế thu nhập cá nhân đối với một số chuyên gia kỹ thuật nước ngoài làm việc trong các khu vực được ưu Liên;
các khoản thuế doanh thu hay các mức thuế đặc biệt khi mới khởi sự công việc kinh doanh
1.2.2.4 Về những khoản trợ giúp của chính phủ
+ Trợ cấp đầu tr: cho phép một tỷ lệ nhất định của khoản vốn đầu tư không phải chịu những nghĩa vụ về đầu tư trong một thời gian nhất định
17
Trang 18+ Các khoản khấu trừ khác: các khoản khấu trừ này có thể tồn tại dưới
hình thức có những quy định đặc biệt đối với một số ngành như cho phép được
miễn trừ gấp hai lần về mặt giá trị, về mặt thời gian hay ban hành những quy
định ưu đãi
+ Tín dung thué’ déu tu: day thực chất là một biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm khuyến khích và cũng để giúp các nhà đầu tư tăng vốn đầu tư, như
trợ cấp đầu tư, trả lại những nghĩa vụ về thuế đã phải nộp cho nhà đầu tư nếu nhà
đầu tư tái đầu tư (vào các ngành được ưu tiên, hay việc sử dụng vốn tái đầu tư
vượt quá một thời gian ấn định )
+ Tín dụng thuê" trên trang thiết bị vốn nội địa: Khi nhà đầu tư thay vì
mua sắm trang thiết bị, linh kiện, phụ tùng từ nước ngoài chuyển sang mua nội
địa, chính phủ sẽ cho hưởng những ưu đãi về thuế và các nghĩa vụ khác trên
khoản thiết bị mua sắm, như miễn thuế giá trị gia tăng (VAT)
1.2.2.5 Về các khuyến khích đặc biệt:
+ Đối với các công ty đa quốc gia: Một số nước đã sử dụng các khuyến
khích đặc biệt như coi những công ty đa quốc gia như những công ty được ghi
tên ở thị trường chứng khoán và cho hưởng những ưu đãi tương tự
Việc thành lập các khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghiệp tập
trung cũng là một biện pháp khuyến khích các công ty đa quốc gia hoạt động ở
+ Môi giới liên doanh: chính phủ các nước tạo điều kiện thuận lợi va khuyến khích thành lập các liên doanh thông qua các ngân hàng, các tổ chức tư
vấn luật pháp, các nhà kiểm toán, công ty hỗ trợ thành lập liên doanh bằng việc
cung cấp thông tin hay tạo ra những tiền đề ban đầu để các bên có thể đàm phán
với nhau
+ Š giúp đỡ về kỹ thuật: là sự giúp đỡ trực tiếp của các cơ quan chính phủ
về mặt kỹ thuật cho việc thiết lập các doanh nghiệp mới
18
Trang 19+ Các trợ giúp khác: về việc hoàn thành các thủ tục đầu tư hay trợ giúp
trong qúa trình triển khai dự án đầu tư như giải phóng mặt bằng, tuyển dụng
nhân công và những yêu cầu trợ giúp khác của nhà đầu tư |
1.3 Một số quan điểm của Đảng (a về thu hút FDI
Trong thời gian này nước ta chỉ có quan hệ hợp tác với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác Thông qua hợp tác tương trợ, các nước
xã hội chủ nghĩa nhất là Liên Xô và Trung Quốc đã đầu tư giúp chúng ta xây dựng được một số công trình công nghiệp đặt nền móng bước đầu cho cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1.3.2 Từ khi đổi mới đến nay
Đối với FDI, qua các kỳ Đại hội có thể rút ra một số quan điểm sau:
+ Tạo điều kiện để kinh tế có vốn FDI phát triển thuận lợi, coi đây là một
bộ phận hữu cơ của nền kinh tế Việt Nam |
+ Thu hút vốn FDI phải gắn liên với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của toàn bộ nền kinh tế, hiệu quả đầu tư phải được xem là yếu tố cân nhắc hàng
đầu trong quyết định thu hút vốn đầu tư
+ Khuyến khích chuyển dịch cơ cấu đầu tư trong toàn bộ nền kính tế, hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực không có khả năng sinh lời và đang có dấu hiệu thừa hay bão hoà trên thị trường trong và ngoài nước Cần hướng thành phần kinh tế này phát triển mạnh vào sản xuất hàng xuất khẩu, vào xây dựng kết cấu hạ tầng