1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố hồ chí minh thực trạng và giải pháp phòng ngừa

204 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể Luận văn sẽ áp dụng một số phương pháp cụ thể sau đây: + Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu thứ cấp có sẵn bao gồm số liệu xét xử t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU HOÀ

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

Trang 2

1.1.1 Khái niệm chuẩn mực xã

hội………

Trang 3

1.1.2 Sai lệch chuẩn

mực………1.1.3 Khái niệm phạm pháp và phạm tội

1.1.6 Khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” và đặc điểm tâm lý của người

chưa thành niên phạm tội

1.1.10 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm

1.1.11 Khái niệm phòng ngừa tội phạm

………

1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết xã hội liên quan đến đề tài

1.2.1 Những lý thuyết sinh vật học trong nghiên cứu tội phạm ………

Trang 4

1.2.1 Lý thuyết hành động xã

hội………

1.2.2 Lý thuyết chức

năng………1.2.3 Lý thuyết nhãn

hiệu………

1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh về tội phạm

1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tội phạm………

Tư tuởng Hồ Chí Minh về tội

phạm………

CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Vị trí địa lý, tình hình dân cư và đặc điểm kinh tế xã hội, tình hình tội phạm và

tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000- 2005

2.1.1 Đặc điểm về địa lý, dân cư, kinh tế, văn hoá xã hội của thành phố Hồ Chí Minh………

………

2.1.2 Tình hình phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 – 2005………

2.2 Tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1 Tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Tính chất và mức độ phạm tội của người chưa thành niên

2.2.3 Động cơ phạm tội của người chưa thành niên

2.2.4 Cơ cấu hành vi vi phạm pháp luật hình sự do ngừơi chưa thành niên gây ra.2.2.5 Đặc điểm về nhân thân của người chưa thành niên phạm tội …………

2.2.5.1 Giới

tính………

………

Trang 5

CHƯƠNG III NGUYÊN NHÂN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM

TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1 Nguyên nhân ph m t i c a ng i ch a thành niên ph m t i trên a bàn thành ph H Chí Minh.

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng người chưa thành niên phạm tội từ lâu đã được tất cả các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và thực hiện Đối với nước ta xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước: thế hệ trẻ là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Do vậy, trong những năm gần đây, Nhà nước có nhiều hoạt động thiết thực trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em và tạo điều kiện tốt nhất để phát triển cả về thể lực và nhân cách vì “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, điều đó được quy định trong điều 65 Hiến pháp 1992, điều 4 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Ngày 23 tháng 12 năm 1999, Chính phủ nước ta đã phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm gồm 4 đề án Đề án 4: “Đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên” được các ngành các cấp và các địa phương trong cả nước tổ chức thực hiện và đạt được những kết quả khả quan nhất định Tuy nhiên ở một số địa phương vẫn tồn tại một thực trạng đáng lo ngại là: tình trạng vi phạm pháp luật nói chung và tình trạng phạm tội ở người chưa thành niên nói riêng ngày càng có chiều hướng phát triển phức tạp về số lượng và tính chất nguy hiểm

Một trong những địa bàn có tình trạng phức tạp đó là Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, là vùng trọng điểm kinh tế của các tỉnh phía Nam, là nơi tập trung nhiều dân cư các tỉnh đến làm

ăn sinh sống, học tập, cùng với sự phát triển đa dạng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn cũng diễn biến phức tạp, các loại tội phạm và tệ nạn xã hội ngày càng nhiều Theo báo cáo tình hình và kết quả công tác phòng chống người chưa thành niên phạm tội từ năm 2000- 2005, tình hình phạm pháp hình sự trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh xảy ra 49165 vụ, trong

đó số người chưa thành niên phạm tội xảy ra tổng cộng là 4880 vụ với 7147 đối tượng tham gia chiếm gần 10% trong cơ cấu tội phạm với phương thức thủ đoạn và hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng và nguy hiểm hơn về thành phần đối tượng, lĩnh vực phạm pháp ngày càng đa dạng hơn, số đối tượng chưa thành niên

Trang 9

không chỉ gây ra những loại tội phạm thông thường như trước đây (trộm cắp, lừa đảo …) thì trong những năm gần đây số loại tội phạm ở tuổi vị thành niên xảy ra hầu khắp trong cơ cấu tội phạm Nhiều vụ giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, cưỡng dâm, ma túy, môi giới mại dâm, hủy hoại công trình an ninh quốc gia…được các loại tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên thực hiện khá tinh vi cùng với việc sử dụng

vũ khí, hoạt động theo băng nhóm tội phạm đã và đang phá hoại sự phát triển bền vững của gia đình, nhà trường và xã hội, làm xói mòn các giá trị văn hoá, đạo đức Đây là một vấn đề nhức nhối, lo lắng của các gia đình, là hiểm hoạ không chỉ cho TPHCM mà là hiểm họa chung của cả dân tộc, của cả loài người

Tuy nhiên, vấn đề người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách có khoa học Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn diễn ra và yêu cầu của Đảng, của xã hội cũng như yêu cầu của công tác phòng ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm vị thành niên của lực lượng công an nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tội phạm nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng từ lâu đã trở thành mối quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các quốc gia và các tổ chức quốc tế có liên quan

Trên thế giới, vấn đề tội phạm, sai lệch xã hội đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Trước hết, phải kể đến quan điểm của Durkheim về tội phạm, Durkheim đưa ra khái niệm tội phạm dựa vào tình cảm tập thể và cho rằng tội phạm hiện diện trong hầu hết các xã hội, và trong mọi thời kỳ, ở những giai đoạn chuyển tiếp thì hiện tượng này có xu hướng tăng lên hay giảm đi Phát triển quan điểm của Durkheim về tình trạng phi quy tắc, Robert Merton đã giải thích rất rõ nguyên nhân của hành vi sai lệch là sự không phù hợp, sự lệch pha giữa mục tiêu văn hoá và phương tiện được thiết chế hoá Do xác định sai mục tiêu văn hoá hoặc chọn sai phương tiện mà hành động bị coi là sai lệch thậm chí là tội phạm

Ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vấn đề tội phạm nói chung và trẻ em làm trái pháp luật hay người chưa thành niên phạm tội nói riêng cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Trong những phạm vi và

Trang 10

mức độ khác nhau, đã có nhiều công trình trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn

đề này:

- Dưới góc độ tội phạm học bằng phương pháp phân tích số liệu thống kê hình sự

và phương pháp nghiên cứu điển hình đã có nhiều công trình nghiên cứu:

+ Tình hình thanh thiếu niên phạm tội, xu hướng và biện pháp ngăn chặn của Nguyễn Văn Tính Trong công trình này tác giả chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu những biện pháp đấu tranh và phòng ngừa của lực lượng công an đối với người chưa thành niên phạm tội

+ Một số đặc điểm tâm lý nổi bật ở trẻ em làm trái pháp luật của TS Đỗ Bá Cở: tác giả phân tích rất rõ về nhân cách trẻ em phạm tội được hình thành thông qua quá trình lâu dài do ảnh hưởng của nhiều yếu tố tiêu cực khác nhau, trước hết là do sự thiếu kiểm tra, uốn nắn kịp thời của các bậc cha mẹ Qúa trình hình thành nhân cách lệch lạc cũng là qúa trình đưa các em tới con đường phạm tội

+ Thực trạng người chưa thành niên phạm tội ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

và những giải pháp phòng ngừa; Về tình hình trẻ em lang thang phạm pháp, phạm tội và kiến nghị của Lê Thế Tiệm

+ Trong số các công trình nghiên cứu này, công trình nghiên cứu Phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội của tác giả Nguyễn Xuân Yêm có một vị trí quan trọng Vì đây là công trình tổng kết các cuộc nghiên cứu về tình hình người chưa thành niên phạm tội trong những năm gần đây.Trong công trình nghiên cứu này, tác giả trình bày rõ những vấn đề sau:

(+) Cơ cấu tội phạm: Người chưa thành niên gây ra hầu hết các loại tội mà bọn tội phạm hình sự lớn tuổi gây ra, với tính chất vô cùng nghiêm trọng, tác động, ảnh hưởng lớn đến công tác an ninh trật tự

(+) Nguyên nhân phạm tội xuất phát từ môi trường (gia đình – nhà trường - xã hội)

cụ thể:

1) Ảnh hưởng của yếu tố tiêu cực trong môi trường gia đình như thiếu sót về mặt nhận thức trong công tác quản lý, giáo dục người chưa thành niên trong gia đình, nhiều gia đình chưa có phương pháp giáo dục hợp lý thiếu khoa học như nuông chiều, trong gia đình có những thành viên thiếu gương mẫu về mặt đạo đức và có hành vi vi phạm pháp luật

Trang 11

2) Công tác quản lý, giáo dục học sinh trong các nhà trường chưa chặt chẽ, chưa quan tâm đúng mức, nội dung giảng dạy không phù hợp với thực tế, chưa gây hứng thú cho các em say mê học tập, dẫn đến tình trạng có những em nhận thức và hình thành nhân cách lệch lạc, chán học, bỏ học và bị lôi kéo vào con đường phạm tội 3) Sự tác động của những biểu hiện tiêu cực và tình trạng vi phạm pháp luật chung trong xã hội

Ngoài ra, vấn đề người chưa thành niên phạm tội còn được sự quan tâm nghiên cứu của ngành xã hội học Trong những năm qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu:

+ Vai trò của gia đình trong việc ngăn ngừa tội phạm vị thành niên của Hà Văn Tác; tác giả tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa gia đình và tội phạm vị thành niên để đo lường ảnh hưởng của gia đình đến sự phát triển nhân cách của trẻ em, đặc biệt trong việc ngăn ngừa người chưa thành niên phạm tội

+ Phạm Đình Chi: Một vài nhận xét về hiện tượng thanh thiếu niên phạm pháp (qua khảo sát ở trường giáo dưỡng Xuân An Tạp chí xã hội học số 1 – 2001).Trong công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung vào phân tích thực trạng tội phạm ở tuổi vị thành niên, từ đó làm rõ cơ cấu tội phạm và nguyên nhân chính tác động đến tội phạm ở tuổi vị thành niên nhìn từ góc độ (gia đình, nhà trường và xã hội)

+ Nguồn gốc xã hội của tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên hiện nay ở Việt Nam của tác giả Hồ Diệu Thúy; trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu nguồn gốc xã hội của tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, những hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên Trên cơ sở phân tích những kết quả mà các công trình nghiên cứu trong nước về người chưa thành niên phạm tội, chúng tôi thấy còn một số vấn đề có thể mở rộng

và nghiên cứu tiếp Cụ thể là:

+ Nghiên cứu những động cơ nào thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội

+ Nghiên cứu xem sự biến đổi về kinh tế - văn hóa và xã hội tác động như thế nào tới các mối quan hệ xã hội cụ thể như mối quan hệ trong gia đình, nhà trường

và xã hội

+ Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của xã hội đối với người chưa thành niên như: (+) Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng và các văn hoá phẩm đồi trụy, tệ nạn trong xã hội tới người chưa thành niên như thế nào?

Trang 12

(+) Sự dán nhãn của cộng đồng đối với người chưa thành niên mãn hãn tù trở về địa phương

+ Nhận thức về pháp luật của người chưa thành niên

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Vấn đề người chưa thành niên phạm tội là đề tài rộng lớn có thể nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều địa bàn khác nhau và nhiều thời điểm khác nhau Trong đề tài này, tác giả xác định rõ mục tiêu của đề tài là làm rõ thực trạng ngừơi chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội trong thời gian tới

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế xã hội, tình hình phạm pháp hình sự và tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Làm rõ thực trạng người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh

+ Tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh + Tính chất, mức độ phạm tội của người chưa thành niên

+ Động cơ phạm tội của người chưa thành niên

+ Các loại hành vi vi phạm pháp luật hình sự do ngừơi chưa thành niên gây ra + Đặc điểm về nhân thân của người chưa thành niên phạm tội

- Trên cơ sở những số liệu về người chưa thành niên phạm tội của công an thành phố Hồ Chí Minh và kết khảo sát thực nghiệm của mình, tác giả sẽ phân tích và đo lường sự tác động của gia đình – nhà trường – xã hội đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên

- Đề xuất những giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm vi thành niên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tới

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng, nguyên nhân người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó, đưa ra giải pháp phòng ngừa

Trang 13

5.3.2 Loại hình phạm tội: Luận văn nghiên cứu tất cả các loại hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện Và việc phân chia các loại hành vi phạm tội dựa theo sự phân chia của Bộ Luật hình sự

6 Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích, chọn mẫu nghiên cứu và thuyết minh các biến số

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

Để tìm hiểu thực trạng người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đặt ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

- Tuy tình trạng phạm tội nơi người chưa thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây có giảm về số lượng nhưng tính chất và mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng

- Những yếu tố như trình độ học vấn, lứa tuổi, hoàn cảnh gia đình là những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức pháp luật của người chưa thành niên phạm tội

- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng người chưa thành niên phạm tội là do:

+ Quá trình xã hội hoá trong môi trường gia đình còn có nhiều nhược điểm thiếu sót

cụ thể trong nội dung giáo dục, trong sự quan tâm, kiểm tra và giám sát các hoạt động học tập, bạn bè, vui chơi giải trí của các em

+ Trong nhà trường nội dung giảng dạy chưa phù hợp, nội dung giáo dục thiếu sót, công tác phối hợp giữa nhà trường – gia đình – đoàn thể chưa chặt chẽ…

+ Nguyên nhân phạm tội của các em là do chịu ảnh hưởng và tác động bởi văn hoá phẩm đồi trụy, tình hình tội phạm - các tệ nạn trong xã hội, phương tiện thông tin đại chúng và sự gán nhãn của cộng đồng

6.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

Trang 14

Tình hình kinh tế xã hội

Hệ thống giá trị

chuẩn mực

Môi trường xã hội hoá (gia đình, nhà trường, xã hội)

Nhận thức của người chưa thành niên

Hành vi phạm tội của người

chưa thành niên

6.3 Chọn mẫu nghiên cứu

Từ những số liệu khái quát về tình hình người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh được học tập và cải tạo trong trường giaĩ dưỡng số 4 và trại giam Bình Phước của Cơng an thành phố Hồ Chí Minh chúng tơi tiến hành điều tra khảo sát như sau:

Với 400 người chưa thành niên phạm tội học tập tại trường giáo dưỡng chúng tơi tiến hành thực hiện 130 bảng câu hỏi Như vậy, cứ 3 đối tượng thì chúng tơi chọn 1 (chọn ngẫu nhiên) theo danh sách cung cấp

Vơi 150 người chưa thành niên phạm tội đang cải tạo, giáo dục trong trại giam Bình Phước chúng tơi tiến hành thực hiện 70 bảng câu hỏi Như vậy, cứ 3 đối tượng thì chúng tơi chọn 1 (chọn ngẫu nhiên) theo danh sách cung cấp

6.4 Thuyết minh các biến số

Trang 15

Từ khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu, tôi đưa ra hệ các nhóm biến và biến

số với cách đo các biến số như sau:

- Nhóm biến số phụ thuộc: Hành vi phạm tội của người chưa thành niên, việc phân chia các loại hành vi phạm tội dựa theo sự phân chia của Bộ Luật hình sự

- Biến số độc lập bao gồm: Hoàn cảnh gia đình, mức độ quan tâm của gia đình, mức sống của gia đình, môi trường sống xung quanh…

- Biến số trung gian bao gồm:

+ Giới tính: (Nam + Nữ)

+ Độ tuổi: Chia theo 4 mức ( từ đủ 14 tuổi – 15 tuổi; từ đủ 15 tuổi – 16 tuổi; từ đủ16 tuổi – 17 tuổi; từ đủ 17 tuổi – đủ 18 tuổi)

+ Học vấn chia theo 4 mức ( không biết chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3)

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu này được thực hiện góp phần bổ sung những vấn đề lí luận về hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội nói riêng

Do vậy nghiên cứu đề tài: “Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp phòng ngừa” có thể có ý nghĩa lý luận và thực

Trang 16

+ Đảm bảo tính khách quan khoa học, đảm bảo chứng cứ khoa học

+ Nghiên cứu sự vật hiện tượng trong sự phát triển, trong mối quan hệ ràng buộc tác động qua lại lẫn nhau

+ Xuất phát từ lịch sử xã hội cụ thể ở mỗi giai đoạn trong sự phát triển của nó

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học, đó là việc áp dụng các lý thuyết xã hội học (lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết phi chuẩn mực, lý thuyết dán nhãn… vào việc phân tích hành vi sai lệch – tội phạm

8.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận văn sẽ áp dụng một số phương pháp cụ thể sau đây:

+ Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu thứ cấp có sẵn bao gồm số liệu xét xử tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên được toà án nhân dân các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử qua các năm ( từ đầu năm 2000 đến 2006; nghiên cứu 50

hồ sơ các vụ án do người chưa thành niên thực hiện đã được xét xử từ năm 2000- 2005; các báo cáo tổng kết hàng năm của toà án, công an; báo cáo chuyên đề về phòng chống tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên và các bài báo được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Nguồn tư liệu này được phân tích theo từng quý, từng nhóm loại tội danh

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành 6 cuộc phỏng vấn sâu (ngẫu nhiên) về động cơ phạm tội, nguyên nhân phạm tội và tìm hiểu đời sống tình cảm, tâm lý cũng như sự mong muốn của các em khi trở về cộng đồng, đối với 6 đối tượng là người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện đang bị giam giữ, cải tạo tại trại giam Bình Phước thuộc công an thành phố Hồ Chí Minh quản lý Các cuộc phỏng vấn sâu này, được thực hiện trong tháng 2 năm 2007 Tất cả những thông tin thu được đều được ghi chép một cách cẩn thận trong qúa trình phỏng vấn, sau đó đánh máy thành văn bản

+ Phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng điều tra bảng câu hỏi, dung lượng mẫu được chọn là 200 em là người chưa thành niên đang học tập và giam giữ tại trại giam Với 37 câu hỏi có liên quan đến bản thân, gia đình, bạn bè và nhà trường được thực hiện từ tháng 8 / 2006 đến tháng 1/2007 Những câu hỏi chủ yếu

đi sâu tìm hiểu về đaọ đức, nhận thức, nguyên nhân, động cơ, tâm lý của người chưa thành niên sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án

Trang 17

Phương pháp này được xử lý và phân tích với sự trợ giúp của chương trình SPSS

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận Trong Phần nội dung có 3 chương

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU

1.1 Hệ thống các khái niệm được sử dụng

1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết xã hội liên quan đến đề tài

1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh về tội phạm

và phòng ngừa tội phạm

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 - 2005

2.1 Vị trí địa lý, tình hình dân cư và đặc điểm kinh tế xã hội, tình hình tội phạm

và tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000- 2005

2.2 Tình trạng người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 - 2005

CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1 Nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Một số giải pháp phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM

TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Hệ thống các khái niệm được sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm chuẩn mực xã hội

Chuẩn mực xã hội là một bộ phận, một yếu tố hợp thành của nền văn hoá chung, một yếu tố không thể thiếu được của công tác quản lý xã hội, đồng thời là một trong những phương tiện định hướng hành vi của cá nhân hay nhóm xã hội trong những điều kiện nhất định và cũng là phương tiện để xã hội kiểm tra hành vi của con người Đánh giá tầm quan trọng của chuẩn mực, Durkheim, tác giả cuốn Tự tử nổi tiếng, cho rằng sự thiếu điều chỉnh chuẩn mực đầy đủ sẽ dẫn đến tình trạng ốm yếu của cá nhân và xã hội Còn nếu như không có các chuẩn mực đó, loài người sẽ phát triển những thèm khát vô độ, những ham muốn không giới hạn và con người

sẽ trở thành nô lệ của những ý thích và sự say mê bất chợt

Như vậy, chuẩn mực xã hội là hệ thống những quy tắc mà mọi người phải tuân theo, hoặc tự giác hoặc bắt buộc trong các mối quan hệ xã hội Nó bao gồm những đạo luật, những quy tắc chặt chẽ nhất cho đến những quyết định lỏng lẻo giữa một

số người với nhau nhưng chúng lại đan xen với nhau cùng thực hiện chức năng và thường chuẩn mực xã hội được biểu hiện dưới hai hình thức: chuẩn mực thành văn

và chuẩn mực bất thành văn

Chuẩn mực thành văn được được quy định trong các văn bản pháp luật chính thức

Nó bao gồm những quy tắc hành xử, khuyến khích các hành vi xã hội này, ngăn cản các hành vi xã hội khác, trên cơ sở duy trì sự vận động và phát triển ổn định của xã hội Đó là những chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực chính trị, nội quy, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của ngành và của tổ chức xã hội được soạn ra bởi những tập thể và

cá nhân có quyền lập pháp, được cộng đồng giao phó cho trách nhiệm đại diện cộng đồng để làm điều đó Các chuẩn mực thành văn bao giờ cũng được công bố công khai nhằm điều chỉnh, định hướng hành vi của các cá nhân trong các mối quan hệ xã hội và trong các hoạt động lao động Bên cạnh những chuẩn mực của Nhà nước, nhiều dòng họ và gia đình cũng đặt ra những quy tắc riêng được ghi chép thành văn bản hình thành nên gia phong, gia lễ, gia pháp… nhằm giáo dục,

Trang 19

vào những việc làm tốt đẹp, định hướng việc học hành chăm chỉ, hiếu thảo với ông,

bà, cha, mẹ, trung thành với Tổ quốc và cộng đồng…

Ngoài ra tham gia vào việc định hướng, điều chỉnh, kiểm soát hành vi của các cá nhân còn có rất nhiều chuẩn mực không được ghi thành văn bản như chuẩn mực đạo đức, dư luận xã hội nhưng chúng có vai trò thực tiễn rất lớn trong việc điều chỉnh, ngăn chăn mọi hành vi sai lệch của con người trong mọi thời kỳ, mọi chế độ

xã hội Có thể nói rằng: Ngay từ khi cộng đồng con người xuất hiện trên thế giới với

tư cách là một xã hội, với những quan hệ nhiều chiều, thì các chuẩn mực này đã tồn tại và phát huy tác dụng

Trong xã hội cộng sản nguyên thuy,û chưa xuất hiện các hiện tượng giai cấp, nhà nước và pháp luật, mặc dù các chuẩn mực này cụ thể như: dư luận xã hội chỉ tồn tại vơí tư cách là những ý kiến, quan điểm, thái độ phán xét chung của xã hội nhưng nó đã giữ vai trò là phương tiện duy nhất giáo dục, định hướng, điều chỉnh hành vi con người trong các quan hệ xã hội Điều đáng sợ nhất đối với mỗi thành viên trong xã hội nguyên thuỷ là bị dư luận xã hội lên án, bị cộng đồng ruồng bỏ Khi khái quát chế độ xã hội nguyên thuỷ Ăng ghen đã nhận xét: “Trong chế độ này không hề có các phương tiện ép buộc nào khác ngoài dư luận xã hội” Xã hội càng phát triển, dân trí càng cao và dân chủ càng mở rộng, vai trò và sức mạnh của dư luận xã hội càng được phát huy tác dụng Triết gia Anh, nhà thông thái John Locke không phóng đại chút nào khi gọi đạo đức là một thứ “luật pháp của lý trí” Trên thực tế, nhiều khi luật của lý trí và lương tâm còn mạnh hơn rất nhiều so với luật pháp của Nhà nước Cái toà án của lương tâm có thể khiến người ta day dứt, khốn khổ suốt cuộc đời, thậm chí tự hành hạ mình đến chết, điều mà không phải bất cứ một toà án bình thường nào cũng có thể làm được.[30.tr381]

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, các chuẩn mực có một vai trò rất quan trọng không chỉ giáo dục, điều chỉnh mọi hành vi của con người trong các mối quan

hệ xã hội và trong các hoạt động lao động, mà chúng còn có tác dụng phòng ngừa ngăn chặn mọi biểu hiện sai lệch trong lối sống, sai lệch trong việc thực hiện các vai trò

1.1.2 Sai lệch chuẩn mực

Trong bất cứ xã hội nào, bên cạnh những người tuân thủ những chuẩn mực xã hội, cũng xuất hiện những cá nhân và những nhóm xã hội có hành vi sai lệch Đó là

Trang 20

những hành vi không hoà nhập vào nền văn hoá chung chủ đạo, biểu thị sự không cùng nhất trí, không cùng chia sẻ những quan niệm, cách nhìn của cộng đồng về cái đúng, cái sai, cái nên làm, cái không nên làm, về mục tiêu và những giá trị mà

xã hội vươn tới Tuy vậy, hành vi sai lệch có tính tương đối về văn hoá và lịch sử Những điều mà xã hội này coi là sai lệch, không đáng có, thì rất có thể ở xã hội khác được coi là bình thường hoặc không đến mức nghiêm trọng Mặt khác, trong cùng một xã hội cụ thể, quan niệm về chuẩn mực xã hội cũng biến đổi theo không gian và thời gian Do vậy, để kết luận một hành vi nào đó có phải là sai lệch hay không, bên cạnh sự quy chiếu vào chuẩn mực đạo đức, còn phải đặt hành vi đó vào những quy chuẩn của chuẩn mực pháp luật và tuỳ thuộc vào bối cảnh không gian, thời gian cụ thể: xã hội phong kiến phụ nữ không được coi trọng thậm chí bị ngược đãi đánh đập không bị coi là tội phạm Nhưng Bộ Luật hình sự 1999 Đ151: Hành vi ngược đãi, hành hạ phụ nữ trong gia đình ở mức độ nguy hiểm đáng kể bị coi là tội phạm Tội ngược đãi Nếu bị truy cứu: Đ104 Bộ Luật hình sự tội cố ý gây thương tích Hanøh vi không còn mang tính người và thường xuyên bị lên án như hành vi giết người Nhưng trong một số điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt như trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, giết kẻ thù có thể trở thành một hành động anh hùng xứng đáng được tôn vinh, đề cao, khen thưởng Nhưng trong trường hợp giết người vì những động cơ kinh tế như giết người để cướp của, giết người vì những động cơ trả thù, hay vì mâu thuẫn thì lại là hành vi sai lệch, vi phạm nghiệm trọng chuẩn mực và giá trị xã hội Bên cạnh đó, có những sai lệch trở thành chuẩn mực và được mọi người chấp nhận theo tính hợp lý nhưng cũng có những sai lệch đưa đến hành vi phạm tội Hành vi sai lệch không chỉ là việc đánh giá những hành động bên ngoài, ẩn sâu còn những nguyên nhân thuộc về chính ý thức, quan niệm, định kiến của con người

về hành vi này Điều này đã được Hoeard S Becker khẳng định khi ông nói hành vi sai lệch chỉ có thể được định nghĩa như “hành vi mà con người được gọi như thế” [

42, tr265]

Những biểu hiện đó cho thấy, hành vi sai lệch thường có tính tương đối về mặt văn hóa Nó tùy thuộc vào sự định nghĩa của xã hội về thế nào là sai lệch, cái gì là sai lệch và mức độ quan trọng của nó trong từng thời điểm cụ thể

Do đó, hành vi sai lệch không thể coi, không thể quan niệm như một cái gì tuyệt đối hay phổ biến, mà phải được coi như một sự biến đổi về mặt xã hội và tùy thuộc vào

Trang 21

những gì mà một xã hội hay một nhóm xã hội, ở một thời điểm đặc thù, xác định là

lệch lạc

Như vậy, trên cơ sở sự phân tích sai lệch có thể được hiểu như là hành vi của cá nhân hay của một nhóm xã hội vi phạm các chuẩn mực đang được xã hội thừa nhận

Sai lệch chuẩn mực, có thể phân chia thành nhiều loại: Dựa vào quy mô ta có thể phân chia thành sai lệch cá nhân và sai lệch nhóm; dựa vào động cơ ta có thể phân chia thành sai lệch có tính toán (thực hiện với lỗi cố ý) và sai lệch không tính toán (thực hiện với lỗi vô ý); dựa vào tính chất ta có thể phân chia thành sai lệch có tích cực và sai lệch tiêu cực, và hiện nay sai lệch được biểu hiện dưới nhiều hình thức hết sức phong phú Đó có thể là những hành vi mại dâm, nghiện ma tuý, cờ bạc, cướp của, giết người, truyền bá và sử dụng văn hóa phẩm đồi trụy

Đối với người chưa thành niên, hành vi sai lệch có rất nhiều dạng vẻ và mức độ khác nhau như: không vâng lời; không chấp hành nội quy, kỷ luật học tập, bỏ học đi chơi, nói tục; vi phạm quy tắc sinh hoạt nơi công cộng; gây gổ đánh nhau; nghiện hút, cờ bạc, sử dụng bạo lực; trộm cắp, … Điều đáng buồn và đáng lo ngại là trong những năm gần đây người chưa thành niên ở nước ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã vi phạm hầu hết các tội danh trong Bộ Luật hình sự Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ hành động tự nhiên, bột phát do chưa hiểu biết hay hiểu biết chưa đầy đủ về những giá trị chuẩn mực, về cung cách ứng xử mà xã hội mong đợi để thoả mãn nhu cầu (vật chất, tò mò…) tức thời của lứa tuổi; hoặc hành động bắt chước do ảnh hưởng của môi trường xã hội xấu, không lành mạnh khiến các

em bị lôi kéo, xô đẩy vào hành vi sai lệch

Người chưa thành niên phạm tội, mà chúng tôi đề cập trong luận văn này chính là hiện tượng sai lệch Do vậy, nó phải được xem xét trong tính đặc thù của văn hóa Việt Nam, của điều kiện kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, gắn với hệ thống giá trị chuẩn mực hiện hành của đất nước

1.1.3 Khái niệm phạm pháp và phạm tội

- Khái niệm phạm pháp

Phạm pháp (hay còn gọi là vi phạm pháp luật), là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Trang 22

Hiện tượng phạm pháp trong xã hội rất đa dạng và có thể chia thành 5 loại, vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm); vi phạm pháp luật hành chính; vi phạm pháp luật dân sự; vi phạm kỷ luật nhà nước

- Khái niệm phạm tội

Khái niệm phạm tội dùng để chỉ bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã được quy định trong Bộ Luật hình sự Hành vi đó có thể do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc cũng có thể do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện (người tâm thần phạm tội, trẻ em dưới 14 tuổi phạm tội…) Người thực hiện hành vi phạm tội có thể bị xử lý hành chính hoặc có thể bị

xử lý hình sự hoặc có thể bị xử lý bằng các biện pháp tư pháp khác (trường giáo dưỡng …)

1.1.4 Khái niệm tội phạm

Tội phạm là một hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, được nhiều ngành khoa học, tổ chức quốc tế và các nước quan tâm nghiên cứu nhưng tuỳ theo góc độ, phong tục tập quán và khách thể được luật hình sự của mỗi nước bảo vệ mà khái niệm tội phạm cũng có sự khác nhau Ở nước ta, khái niệm tội phạm được quy định trong Điều 8 điều đầu tiên của chương Tội phạm Bộ Luật hình

sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 21-12-1999:

1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ Luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, an ninh quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm các lãnh vực khác của trật tự, pháp luật xã hội chủ nghĩa

2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

3 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng

Trang 23

là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là mười lăm năm tù; tội đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

4 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.[2, tr11]

Khái niệm tội phạm trên đây là một khái niệm có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của nhà nước ta về tội phạm Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong các phần tội phạm của Bộ Luật hình sự, mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội cụ thể

Từ khái niệm này chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi trái pháp luật hình sự và chịu hình

phạt

Theo các nhà xã hội học, người phạm tội là một bộ phận của lớp người có hành vi lệch chuẩn trong xã hội, nghĩa là những khuôn mẫu tác phong của họ không hòa nhập vào các cơ cấu, các thể chế xã hội, do đó không được xã hội thừa nhận

1.1.5 Khái niệm người chưa thành niên và đặc điểm của người chưa thành niên

1.1.5.1 Khái niệm người chưa thành niên

Như chúng ta đã biết, cuộc đời con người thường phải trải qua những giai đoạn với những lứa tuổi khác nhau, vì vậy đã hình thành những tên gọi, thuật ngữ khác nhau như: trẻ em, người lớn, thiếu nữ, nhi đồng, trung niên… Tuy nhiên trong các thuật ngữ pháp lý của nhiều nước đã sử dụng phổ biến cách gọi là thành niên và chưa thành niên Đó là cách phân loại con người theo độ tuổi người lớn và trẻ em Người thành niên là người thuộc lứa tuổi đã trưởng thành, cũng được gọi là người lớn, thanh niên… Người chưa thành niên là những người thuộc tuổi trẻ, chưa thực sự trưởng thành về thể chất và tinh thần

Trang 24

Tuy nhiên, việc quy định ranh giới độ tuổi thành niên và chưa thành niên còn chưa thống nhất giữa các quốc gia và các lĩnh vực xã hội Điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, dân trí, phong tục tập quán của mỗi nước, mỗi dân tộc Ở Việt Nam, cũng chưa có sự quy định thống nhất về lứa tuổi của trẻ em

và người chưa thành niên Cụ thể là: Trong luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em (được Quốc hội thông qua ngày 12/08/1991) đã quy định: “ Trẻ em quy định trong luật này

là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Luật lao động quy định trẻ em là người dưới 15 tuổi Trong cuốn từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam quy định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Điều này phù hợp với công ước quốc tế

về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có hiệu lực ngày 2/9/1990, tại điều 1 có quy định “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn [17 tr13]

Như vậy, từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu trẻ em là người còn non nớt ở

độ tuổi dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất, cần có sự bảo

hộ của người lớn Người chưa thành niên là người ở lứa tuổi dưới 18 chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm – sinh lý, kinh nghiệm sống và trình độ nhận thức, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế chưa cao,

dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu mạo hiểm…

Ở một chừng mực nhất định, khái niệm trẻ em và người chưa thành niên tương đối đồng nhất, trùng nhau ở độ tuổi dưới 16 Còn người chưa thành niên bao gồm cả lứa tuổi trẻ em dưới 16 và có thêm độ tuổi từ 16 đến dưới 18 Như vậy, người chưa thành niên gồm cả những người còn non nớt phát triển chưa đầy đủ toàn diện và cả những người tuy đã phát triển nhưng chưa hoàn thiện về mọi mặt

1.1.5.2 Đặc điểm của người chưa thành niên

- Về mặt sinh lý: Lứa tuổi chưa thành niên là lưá tuổi phát triển rất nhanh về chiều cao và cơ thể, đặc biệt là khá hoàn chỉnh về giới tính Điều này có ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của các em, là cơ sở gây ra tính mất cân bằng chung, tính dễ kích thích, tính hiếu động, tính nổi nóng, đặc biệt trên lĩnh vực tình cảm Nhà tâm lý học

Xô viết L.C.Vưgốtxki (1896- 1934) cho rằng “tính chuyển tiếp”, “tính khủng hoảng” là hạt nhân tâm lý quan trọng của sự phát triển ở lứa tuổi chưa thành niên

Trang 25

- Về mặt tâm lý: Đây là lưá tuổi mà sự phát triển của chúng mang tính chuyển tiếp giữa giai đoạn phát triển tâm lý của tuổi nhỏ sang giai đoạn phát triển tâm lý của người trưởng thành, vì vậy nhiều lúc sự biểu hiện ra bên ngoài của các em như không phải trẻ em, nhưng cũng chưa phải người lớn

Tuổi chưa thành niên là lứa tuổi đang hình thành “cái tôi” và biểu hiện cá tính của bản thân rất rõ nét thông qua tính cách sôi nổi, tích cực, nhiệt tình trong các hoạt động xã hội, xây dựng mối quan hệ với người lớn Mặt khác ở tuổi này các em cũng

là người thích tò mò, ham hiểu biết, khám phá những gì mới lạ, quan tâm nhiều đến người khác giới làm xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung cảm mới, hay muốn thể hiện sự “Yêng hùng”… Bên cạnh đó ở lứa tuổi này cũng xuất hiện các phẩm chất tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức tình cảm và ý chí của các

em như tính hung bạo, dễ cáu giận, lo lắng… nhiều khi các em không chịu sự tác động của người lớn tỏ ra bướng bỉnh, chống đối và phản kháng, thậm chí thộ bạo, ngang ngược, lì lợm… những đặc điểm đó là nguyên nhân quan trọng dẫn đến nhiều hành vi mang tính bạo lực, thậm chí là phạm tội

- Về mặt nhận thức: Ở lứa tuổi này, các em có đủ khả năng tiếp thu những tri thức phổ thông, những kiến thức về tự nhiên, về xã hội, những kiến thức về văn hoá thông qua môi trường xã hội hoá trong gia đình, nhà trường và xã hội Qua quá trình

xã hội hoá, các em nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm của mình

1.1.6 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và đặc điểm tâm lý của

người chưa thành niên phạm tội

1.1.6.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên chỉ được coi là chủ thể của tội phạm khi người đó có

đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi, việc làm của mình,

ý thức được việc làm đúng sai đối với luật pháp hình sự, và vì vậy, năng lực trách nhiệm hình sự đó phải đạt đến một độ tuổi nhất định và được luật pháp thừa nhận Ở mỗi nước, Luật hình sự đều quy định ở một độ tuổi khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của trẻ em, điều kiện kinh tế xã hội, tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở trẻ em Tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự ở một số nước như: Anh từ 8 tuổi, Mỹ từ 7 tuổi, Thuỵ Điển 15 tuổi, Nhật 15 tuổi…

Trang 26

Đối với Việt Nam, các nhà làm luật cũng đưa ra các điều luật làm rõ khái niệm người chưa thành niên phạm tội để có thể ngăn ngừa bằng biện pháp tư pháp hay hình phạt cho đúng mức Điều này thể hiện ở chương X, Bộ Luật hình sự mới công

bố ngày 4/1/2000, từ Điều 68 đến Điều 77 Nghiên cứu về những quy định đó, chúng ta có thể khái quát rút ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội như sau Người chưa thành niên phạm tội là người thuộc lứa tuổi chưa thành niên, có hành

vi vi phạm vào các quy định trong Bộ Luật hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình

sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để làm rõ khái niệm trên, cần chú ý đến những nội dung cơ bản sau:

1 Xác định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Điều 12 Bộ Luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 1999 quy định:

• “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.”

• Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.”

Theo Bộ Luật hình sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới được công bố ngày 4/1/2000 thì không phân chia độ tuổi mà chỉ xác định người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có quy định hình phạt tiền với người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thu nhập và có tài sản riêng và phạt tù

có thời hạn chia làm hai độ tuổi: người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (Đ 74)

2 Người chưa thành niên phải có hành vi phạm tội: Khi xem xét hành vi của người chưa thành niên có phải là phạm tội hay không, thì nhất thiết phải lưu ý đến những dấu hiệu cơ bản của phạm tội được quy định tại Điều 8 của Bộ Luật hình sự là: + Hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật hình sự

+ Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…

+ Xâm phạm đến những quan hệ xã hội được Luật hình sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ

3 Quan điểm về việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 27

Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho

xã hội

Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục

Chỉ đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với

họ được thực hiện trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

Như vậy, pháp luật hình sự đòi hỏi phải có các yếu tố sau để có thể coi là người chưa thành niên phạm tội:

- Có phạm tội xảy ra

- Người thực hiện hành vi phạm tội phải là người:

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành một tội phạm rất nghiêm trọng được thực hiện với lỗi cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự + Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật hình sự và hành vi

vi phạm đã đủ dấu hiệu tội phạm và yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm pháp luật hình sự, hành vi vi phạm đã đủ dấu hiệu tội phạm và yếu tố cấu thành một tội cụ thể nhưng tội phạm được thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng nhưng thực hiện với lỗi vô ý không phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật hình sự, nhưng hành vi chưa đến mức nguy hiểm đáng kể và không cần thiết xử lý bằng hình sự

mà có thể xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp khác không phải chịu trách nhiệm hình sự

- Sự việc phạm tội xảy ra do lỗi của người đó

1.1.6.2 Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội

Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội đều xuất phát từ đặc điểm tâm lý nhân cách và môi trường xã hội Trong cuốn giáo trình, một số vấn đề về tâm

lý học nghiệp vụ cảnh sát nhân dân của Học viện cảnh sát nhân dân, đề cập rất rõ

Trang 28

về đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội Thông qua đó, chúng tôi, khái quát một số đặc điểm tâm lý nổi bật của người chưa thành niên phạm tội như sau:

- Về tình cảm: Đối với người chưa thành niên phạm tội thường có tình cảm thiếu bền vững, thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, nhưng lại rất mạnh mẽ Tình cảm có tính xung đột cao, bồng bột, sôi nổi và dễ bị kích động

Tình cảm đối với bạn bè trở thành nhu cầu lớn, thường kết bạn với những người xấu, a dua theo bạn xấu, tình bạn trở thành tình đồng bọn của nhau làm những việc sai trái, hay che chở, bênh nhau, nhưng dễ thân với nhau và dễ phản bội nhau Đối với gia đình, người thân thường tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt, hờ hững, sự rung động tình cảm ít và đôi khi trở thành lì lợm

- Về nhu cầu, hứng thú: Đối với người chưa thành niên phạm tội, thường ham muốn nặng về vật chất tâm thường, đôi khi kỳ quặc, thấp hèn Có thái độ tiêu cực trong học tập, dẫn đến đối lập mình với tập thể và nhà trường Mầm mống của sự đối lập

đó được chứa đựng trong động cơ học tập: Động cơ mang tính chất bắt buộc, không phát sinh từ nhu cầu chính đáng Sự đối lập lập đó khiến họ không tìm được chỗ đứng trong tập thể lớp, không giành được tình cảm trong số bạn bè cùng lớp

Từ đó dẫn chúng bị cô lập, sinh ra tìm kiếm các nhóm tự phát ngoài xã hội

Trong sinh hoạt thường lêu lổng, đua đòi, ăn chơi, ham thích xem phim ảnh, băng hình có nội dung không lành mạnh Thường kết bạn với những trường hợp cùng cảnh ngộ, cùng sở thích, có thị hiếu giống mình Chúng thường rủ rê lôi kéo nhau kết thành bè cánh với nhau đặt ra những “băng”, “đảng”, “hội”, với những tên gọi kỳ quặc, tôn sùng những tên “cầm đầu”, “thủ lĩnh” Những hứng thú của chúng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của gia đình, nhà trường, xã hội, nhiều khi gây hậu quả khó lường

- Về nhận thức: Số đông người chưa thành niên phạm tội thường có năng lực nhận thức và nhu cầu xã hội thấp kém: Bỏ học, có văn hoá thấp, không biết phân tích đánh giá hiện tượng sai lệch Nhưng khéo léo, mưu trí trong thực hiện hành vi làm trái pháp luật để đối phó với sự theo dõi, phat hiện của quần chúng nhân dân và của nhà chức trách

Trang 29

- Về tính cách: Họ thường có những phẩm chất tiêu cực như lười biếng, ý chí yếu đuối, thiếu tinh thần trách nhiệm, tính hung bạo giữ vai trò chủ đạo cấu trúc nhân cách

Số đông người chưa thành niên phạm tội đều do lệch chuẩn trong tính cách Đó là

từ nhiều sự tác động của những nguyên nhân khác nhau nên những biêu hiện tâm

lý không giống ở những trẻ em bình thường Trong thời kỳ đột biến về tâm sinh lý (tuổi dậy thì) thì tính cách cũng thay đổi nhanh chóng Muốn làm người lớn, muốn thử sức, hay bắt chước người lớn (nhất là cái xấu) Bắt chước những nhân vật cho

là “thần tượng” trong phim ảnh, sách báo, dễ bị người lớn lôi kéo, kích động sai bảo Có tính độc lập và tự trọng cao, đôi khi tỏ ra “yêng hùng”, nếu bị đánh mắng, chửi rủa xúc phạm tồi tệ nhân cách thì phản ứng quyết liệt, nảy sinh tiêu cực bỏ nhà

đi lang thang, bất cần đời, vào những “ổ nhóm” bạn bè xấu và sẵn sàng làm những điều vi phạm pháp luật

Đặc điểm nổi bật ở tính cách người chưa thành niên phạm tội là thích thử sức mạnh của mình, đôi khi tỏ ra liều lĩnh và can đảm, làm theo sở thích cá nhân, thiếu suy nghĩ đắn đo, ít do dự trong ứng phó và tình thế không tính được hậu quả sẽ xảy ra Nhiều lúc tỏ ra thô tục, dùng ngôn ngữ thô bạo, tục tằn, xấc láo, thiếu tôn trọng người lớn dẫn đến tình trạng mặc cảm và cuộc sống luôn căng thẳng Đa số người chưa thành niên phạm tội không có mục đích tư lợi mà vì muốn nâng thể diện của mình trước những nhóm tiêu cực của người lớn tuổi hơn, hoặc để thoả mãn những nhu cầu tiêu cực [28 tr48-51]

1.1.7 Phân biệt khái niệm người chưa thành niên phạm tội, khái niệm

người chưa thành niên phạm pháp và khái niệm tội phạm vị thành niên

Người chưa thành niên phạm pháp, có một số các văn bản hiện nay dùng là người chưa thành niên làm trái pháp luật tức là con người đó đã có một hay nhiều hành vi

vi phạm quy phạm pháp luật hiện hành: quy phạm pháp luật đó có thể là của pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự, luật giao thông… (mà các quy phạm đó đang có hiệu lực pháp lý hiện hành) và phải chịu sự điều chỉnh của các ngành luật tương ứng với hành vi vi phạm

Một hành vi có phải là phạm tội hay không cần phải căn cứ vào nội dung khái niệm

về tội phạm được quy định tại Điều 8 của Bộ Luật hình sự để xem con người đó có thực hiện hành vi nghuy hiểm cho xã hội hay không? hành vi đó có được quy định

Trang 30

trong Bộ Luật hình sự ? Con người đó có đủ năng lực trách nhiệm hình sự? Có lỗi không? Đạt đến độ tuổi do luật định không?

Trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật hình sự, mặc dù có lỗi, nhưng người đó chưa đạt đến độ tuổi theo quy định của pháp luật thì vẫn không thể coi họ là tội phạm

Vì vậy, khái niệm về người chưa thành niên phạm tội, hay khái niệm người chưa thành niên phạm pháp có điểm giống và điểm khác nhau

Điểm giống nhau:

+ Đều có hành vi xâm phạm đến một quan hệ xã hội nhất định đựơc pháp luật bảo

vệ, hành vi đó được thể hiện dưới góc độ hành động

+ Hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội nhất định đó là hành vi nguy hiểm cho một quan hệ xã hội đang được pháp luật bảo vệ, nó có thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và thực tế xảy ra cho thấy lỗi của người chưa thành niên khi thực hiện hành vi nguy hiểm phần lớn là lỗi cố ý

+ Bản thân con người thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đều có khả năng nhận thức được và điều chỉnh đựơc hành vi của mình khi thực hiện nó

Điểm khác nhau:

+ Người chưa thành niên phạm tội chỉ là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm vào một trong những điều của pháp luật hình sự đã được quy định trong Bộ Luật hình sự

+ Người chưa thành niên phạm pháp bao gồm những trẻ em từ chưa đủ 18 tuổi trở xuống đã có hành vi vi phạm vào một trong những quy định pháp luật hiện hành của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Xét về tính chất mức độ nguy hiểm: Hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cao hơn (đáng kể) đối với xã hội so với các hành vi vi phạm khác, hành vi phạm pháp tuy có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng còn ở mức độ chưa đáng kể

+ Về hậu quả pháp lý: Người chưa thành niên phải chịu sự cưỡng chế nghiêm khắc

do toà án nhân dân quyết định Đó chính là hình phạt, là sự tước bỏ những quyền lợi thiết thực của người phạm tội như quyền sở hữu, quyền chính trị, quyền tự do

và thậm chí cả quyền sống Người chưa thành niên phạm tội sau khi chấp hành án xong còn phải chịu án tích trong một khoảng thời gian nhất định, bị hạn chế thực hiện một số quyền công dân của mình Còn hành vi phạm pháp chỉ có thể bị xử lý

Trang 31

bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, ít nghiêm khắc hơn như phạt hành chính, trường giáo dưỡng… Đây là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm

- Tội phạm ở tuổi vị thành niên là khái niệm dùng để chỉ người chưa thành niên phạm tội đã bị toà án xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật ; còn người chưa thành niên phạm tội dùng để chỉ người ở tuổi vị thành niên thực hiện hành vi phạm tội nói chung (hành vi ấy có thể bị toà án xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật, bị coi là tội phạm ở tuổi vị thành niên hoặc bị xử lý bằng biện pháp khác như giáo dục tại phường xã, trường giáo dưỡng)

1.1.8 Khái niệm tái phạm

Tái phạm là một khái niệm để chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội Điều 4 – Bộ Luật hình sự năm 1999 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:

“Tái phạm là trường hợp người phạm tội trong quá khứ đã phạm một tội và đã bị kết

án nhưng chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”ù [2 tr30]

Như vậy, hành vi bị coi là tái phạm trước hết người đó đã thực hiện hành vi phạm tội nào đó được quy định trong Bộ Luật hình sự, đã bị toà án đưa ra xét xử và tuyên một hình phạt bất kỳ được quy định trong hệ thống hình phạt Thứ hai, khi bị kết án, người đó chưa được xoá án tích mà người đó lại phạm tội mới thì bị coi là tái phạm Thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại điều 64 của BLHS

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm tái phạm được hiểu là sự phạm tội trở lại của người chưa thành niên, và mang đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, tức là hành vi này nguy hiểm cho xã hội, trái với pháp luật hình sự, có lỗi, đáng bị

xử lý bằng hình phạt Người thực hiện hành vi nêu trên đã được cơ quan chức năng phát hiện

1.1.9 Khái niệm xã hội hoá

Một nhà xã hội học người Pháp tên là Sabran đã đưa ra một hình ảnh khá đơn giản nhưng đẩy sức thuyết phục về xã hội hoá Ông ví xã hội như một con tàu, cá nhân phải bước lên được boong của con tàu xã hội, nếu không thì mãi mãi đứng ở bến tàu mà không bao giờ trở thành người cả [35.tr59]

Trang 32

Con người tồn tại không như những sinh vật đơn lẻ mà theo Marx bản chất con người không trừu tượng, không cố hữu, không do mỗi cá nhân tự mình hoàn toàn quyết định mà trong tính hiện thực của no,ù bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Do vậy, nếu không có sự gắn kết, không có sự tương tác giữa các

cá nhân với nhau, để học hỏi những kiến thức sống, những kinh nghiệm, những kiến thức từ cuộc sống xã hội, thì con người không thể tồn tại Xã hội hoá cá nhân

là cách thức để con người sinh vật, cá thể trở thành con người xã hội, trở thành con người với tính chất là một thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu

tố xã hội là thực thể sinh vật- xã hội Bởi vậy, có thể coi xã hội hoá là quá trình tương tác giữa các cá nhân trong xã hội Thông qua quá trình đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội được những tri thức, kinh nghiệm, quy tắc văn hoá, cách ứng xử, cách hành động để thực hiện các vai trò mà mình đảm nhiệm, vai trò mà xã hội yêu cầu mong đợi Cũng qua đó mà nền văn hoá được duy trì, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác

Nhà xã hội học Mỹ John Watson, một trong những nhà xã hội học theo thuyết hành

vi đã cho rằng, mọi khuôn mẫu hành vi của con người đều lệ thuộc vào môi trường sống xung quanh và biến đổi theo sự biến đổi của moiâ trường sống Theo ông khuôn mẫu hành vi nói trên là kết quả của sự tìm hiểu và học hỏi từ các quan hệ xã hội chứ không phải chỉ từ bản năng sinh học và chỉ trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ gia đình, quan hệ dân tộc, tơn giáo, giai cấp, kinh tế, nghề nghiệp…con người mới hình thành được bản chất của mình C.Mác cũng đã khẳng định: Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội [16, tr11]

Nếu tách rời các mối quan hệ xã hội, thì con người sẽ khơng thể hình thành bản chất của mình, khơng thể trở thành một tồn tại người một cách đích thực

Về phương diện này, chúng ta có thể lấy một ví dụ về anh chàng người rừng Tarzan, cơ bắp thì phát triển mạnh mẽ nhưng hiểu biết về xã hội thì lại ngây ngô vì anh ta không có sự tiếp xúc với xã hội, thiếu hẳn một vế quan trọng của qúa trình trưởng thành, đó là qúa trình xã hội hoá Nếu quá trình phát triển y – sinh học giúp thanh thiếu niên lớn lên về mặt thể chất, trưởng thành

Trang 33

về mặt con người sinh học, thì qúa trình xã hội hoá giúp thanh thiếu niên lớn lên về mặt nhận thức và giao tiếp, khẳng định dần vị thế và vai trò của mình trong xã hội.

Có thể nói rằng, xã hội hoá là quá trình giúp con người xây dựng những khuôn mẫu hành vi trong các mối quan hệ xã hội Bởi vậy, nó vô cùng quan trọng đối với sự phát triển cá nhân Cá nhân có thể trở thành người tốt, có phẩm chất và nhân cách khi cá nhân được chăm sóc, giáo dục trong môi trường xã hội hoá lành mạnh, gạt

bỏ những mặt tiêu cực phát huy những mặt tích cực, tìm thấy ở đó sức mạnh của mình đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội Nếu không được chăm sóc, giáo dục trong môi trường xã hội hoá lành mạnh, cá nhân có thể trở thành người xấu, dễ dàng bị các phần tử xấu, lôi kéo vào con đường phạm tội

Xã hội hoá được bắt đầu từ khi đứa trẻ mới sinh ra đến khi kết thúc cuộc đời Nói chung nó diễn ra trong suốt cuộc đời con người và tuỳ thuộc vào rất nhiều nhân tố, liều lượng, cường độ và cách thức tác động đa dạng của mỗi nhân tố làm nên hệ quả nhân cách của mỗi người, tạo ra sự khác biệt giữa người này với người khác trong lối sống và phương thức xử lý đối với các mối quan hệ xã hội Nói chung, là

nó phụ thuộc vào bản chất sinh học của mỗi người, phụ thuộc vào môi trường sống,

và phụ thuộc vào những nhân tố chủ quan, nhận thức và sự tham gia của chính cá nhân đó vào quá trình xã hội hoá như thế nào Nhưng môi trường sống như gia đình – nhà trường và xã hội là nhân tố quan trọng nhất

Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của cá nhân từ khi sinh ra

cho đến khi con người chấm dứt cuộc đời bằng cái chết

Ngay từ khi còn nhỏ, gia đình đã truyền dạy cho đứa trẻ một cách toàn diện về đạo đức, tác phong, thái độ, khuôn phép, hành vi ứng xử, quan hệ giao tiếp … văn hóa con người bắt đầu từ văn hóa gia đình là thành tố của văn hoá con người, là môi trường giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Do đo,ù sự cảm nhận về thế giới, về xã hội và về chính bản thân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ hành vi, lối sống, nhân cách, niềm tin của gia đình Thông qua các thông tin có chủ đích và không có chủ đích

Những gì gia đình dạy con cái không phải tất cả đều có chủ ý Sự tiếp thu trong giai đoạn đầu của xã hội hoá không đơn thuần thông qua những răn dạy bằng lời nói

Trang 34

mà trẻ luôn học hỏi một cách vô tình trong gia đình thông qua những cử chỉ, lời nói, hành vi, hành động mà các thành viên trong gia đình thường làm

Như vậy, những gì mà cá nhân thu nhận được (kinh nghiệm sống, qui tắc ứng xử, giá trị, chuẩn mực…) kể cả vai trò xã hội mà chúng phải đóng trong tương lai đều được bắt đầu từ những thành viên gia đình Xã hội hoá gia đình tốt sẽ làm nền tảng cho đứa trẻ thành đạt trong suốt quá trình xã hội hoá ở những năm tháng tiếp theo Trong xã hội kém văn minh, gia đình đóng vai trò chủ yếu trong quá trình xã hội hóa Trong xã hội văn minh, trách nhiệm ấy được các tổ chức chính thức chia xẻ

Đó là trường học, thiết chế được xã hội lập ra có chủ đích giúp cá nhân thu nhận các kiến thức cơ bản về tự nhiên – xã hội, kiến thức văn hóa và đường lối chính trị

– kinh tế của quốc gia

Dưới sự nhìn nhận của các nhà xã hội học, thì thiết chế này không đơn thuần là

cơ sở truyền đạt kiến thức cho thế hệ trẻ Chúng có ý nghĩa lớn hơn nhiều, đó là cơ quan xã hội hoá cơ bản Nhà trường, không chỉ dạy tiếp thu các kiến thức khoa học

cơ bản về tự nhiên – xã hội, những kiến thức văn hóa làm nền tảng cho cuộc sống sau này và phục vụ đắc lực cho việc thực hiện những vai trò mà cá nhân phải đóng trong tương lai, mà cả những quy tắc và những cách thức quy định hành vi, cách ứng xử với môi trường, với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh…

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ thì các phương tiện thông tin đại chúng có tác động sâu sắc đến quá trình xã hội hó, một mặt, cung cấp thông tin chủ yếu cho các cá nhân, giúp cá nhân định hướng, đánh giá, phê phán những thông tin thiếu cơ sở khoa học Từ đó, cá nhân nhận dạng, phân loại thông tin để tăng cường hiểu biết, thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội theo chuẩn mực, giá trị

xã hội… được các nhóm xã hội thừa nhận Mặt khác, các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là truyền hình có thể làm méo mó các tiêu chuẩn văn hóa, do truyền tải những thông tin không lành mạnh, không phù hợp với lứa tuổi, dẫn đến thanh thiếu niên còn ít kinh nghiệm sống, dễ nhầm tưởng như những thông tin được in ấn, được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, được đời sống xã hội chấp nhận nên lĩnh hội một cách thiếu chọn lọc

Như vậy, xã hội hoá là một quá trình phức tạp, diễn ra trong suốt cuộc đời của con người Môi trường xã hội hoá tốt sẽ tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển toàn diện về nhân cách – đạo đức- tri thức, còn ngược lại sẽ ảnh hưởng không tốt đến

Trang 35

sự nhận thức các giá trị, chuẩn mực… của người chưa thành niên,và khi ấy những hành vi sai lệch và tội phạm có môi trường để xuất hiện

1.1.10 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm

Nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm là tổng hợp những hiện tượng và quá trình xã hội tiêu cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá tư tưởng tâm

lý xã hội… của chế độ xã hội, từ đó làm phát sinh tình trạng tội phạm tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định [27.tr 97]

Giữa nguyên nhân và điều kiện có những phạm vi ảnh hưởng khác nhau Nguyên nhân của tình trạng tội phạm là hệ thống những tiêu cực xã hội (bao gồm các yếu

tố, hiện tượng và qúa trình trong sự vận động của xã hội) trực tiếp là phát sinh hiện tượng tội phạm; còn điều kiện của tình trạng tội phạm là những tình huống xã hội tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi hoặc thúc đẩy cho sự phát sinh và tồn tại của tình trang tội phạm [27 tr 99]

1.1.11 Khái niệm “phòng ngừa tội phạm”

Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội

và công dân bằng nhiều biện pháp hướng đến việc thủ tiêu những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm nhằm ngăn chặn, hạn chế làm giảm và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội [27.tr178]

Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội là hoạt động phòng ngừa tội phạm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân được tiến hành bằng nhiều biện pháp nhằm phát hiện, hạn chế, xóa bỏ những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình trạng phạm tội của người chưa thành niên không để tội phạm xảy

ra, đồng thời giáo dục các em trở thành những con người có ích cho xã hội

1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết xã hội liên quan đến đề tài

1.2.1 Những lý thuyết sinh vật học trong nghiên cứu tội phạm

1.2.1.1 Lý thuyết nhân chủng học

Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này là Chesase Lombroso (1835- 1909) nhà thần kinh học, giáo sư pháp y người I-ta-li-a Điểm xuất phát trong lý thuyết của ông là: tội phạm – là hiện tượng tự nhiên và tất yếu như sinh, lão, bệnh, tử của con người;

là một hiện tượng có tính chất sinh vật học Trong công trình nghiên cứu “Tội phạm nguyên nhân và cách chữa trị” Lombroso viết “Một lần, vào buổi sáng sớm của một ngày tháng Chạp tình cờ tôi phát hiện thấy trên sọ của một người tù một loạt các

Trang 36

biểu hiện khác thường, giống như trên sọ của động vật có xương sống Khi nhìn thấy những cái gì không bình thường đó – giống như thấy ánh sáng từ phía chân trời khi đang đi trên cánh đồng đen tối – tôi đã hiểu ra tằng, vấn đề bản chất và nguồn gốc của những người phạm tội, đối với tôi đã được giải quyết” [39, tr.70] Qua khảo sát khoảng 1.000 giới tội phạm trong các nhà tù ông cố tìm cách phát hiện những biểu hiện đặc biệt về nhân chủng học, cơ thể học mà ông cho rằng những đặc điểm này hình như vốn có chỉ đối với những kẻ phạm tội Trong tác phẩm đó, ông còn chỉ ra rằng, những kẻ phạm tội không có sự hoàn thiện về mặt sinh học, về mặt sinh lý học, những kẻ phạm tội giống với những động vật hơn là con người đương thời hay thuộc một chủng loại sinh học đặc biệt, có các dấu hiệu nhân chủng riêng Chẳng hạn, kẻ giết người thì có vai u, cằm to, răng dài, môi mỏng… kẻ trộm cắp thì mắt chao đảo, râu thưa, những kẻ hiếp dâm có môi dày, tóc dài… Người vi phạm pháp luật và tội phạm sinh ra do bẩm sinh đã là như thế, do đó không thể cải tạo được Do bị phê phán nhiều nên ông chú ý nghiên cứu những nguyên nhân khác của tội phạm và kết luận nguyên nhân của tội phạm không phải

từ một nguyên nhân duy nhất (sinh vật) mà có tới 16 nhóm nguyên nhân như khí hậu, mật độ dân cư, học vấn, giáo dục, ăn uống… Ông đã đưa ra một hệ thống những biện pháp phòng ngừa đối với kẻ phạm tội bẩm sinh trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến biện pháp chữa bệnh, cách ly suốt đời hoặc thủ tiêu về thể xác Đối với

kẻ phạm tội ngẫu nhiên, biện pháp chủ yếu là cải tạo và giáo dục

1.2.1.2 Lý thuyết phân tâm

Sigmund Freud và một số nhà khoa học thuộc trường phái này, lại giải thích hành vi phạm tội từ góc độ tâm lý học và khẳng định tầm quan trọng của trạng thái chung

mà được gọi là “những khuyết tật trí óc”, tính thái hoá “sự suy nhược trí tuệ và hình thái nhân cách” trong việc giải thích hành vi phạm tội

Freud đưa ra cấu trúc động cơ nhân cách gồm 3 bộ phận: Cái ấy – bản năng (id); cái tôi – bản ngã (ego); và cái siêu tôi – siêu ngã (super – ego) Phần bản năng là phần vô thức, là cái chất sinh vật của các nhân, nó có từ khi con người mới sinh ra, hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm, làm theo những cái mình thích nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người mà không cần chú ý đến giá trị chuẩn mực trong xã hội Phần bản ngã là cái ý thức của con người về các quy định, giá trị chuẩn mực, chức năng của bản ngã là không để cho phần bản năng thoả mãn nhu

Trang 37

cầu và giúp phần bản năng thoả mãn nhu cầu dưới hình thức được xã hội chấp nhận, hoạt động theo giá trị, chuẩn mực trong xã hội Phần siêu ngã là cái văn hoá, tri thức, lương tri, mục đích là kiểm soát không để cho phần bản ngã giúp phần bản năng thoả mãn nhu cầu, hướng con người tới cái chân – thiện – mỹ Hành vi phạm tội chỉ có thể xuất hiện khi phần bản năng phát huy một cách qúa mức, đến nỗi phần bản ngã và siêu ngã không thể nào kiểm soát, và kiềm chế được phần bản năng tự nhiên, thì sẽ xuất hiện sự xung đột mà biểu hiện ra bên ngoài của nó là tội phạm

Nói tóm lại, cả hai lý thuyết trên đều tuyệt đối hóa các đặc điểm sinh học và tâm

lý học trong nhân thân con người, không nhìn thấy được tội phạm là một hiện tượng

xã hội, và sự tồn tại, phát triển của nó có tính lịch sử nhất định Do vậy, chúng tôi không vận dụng lý thuyết này để giải thích hành vi phạm tội của người chưa thành niên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

1.2.2 Những lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu tội phạm

1.2.2.1 Lý thuyết hành động xã hội

Theo Max Weber, hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định M Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như là nguyên nhân của hành động Không riêng gì M.Weber mà kể cả F Znaniecki, G Mead và những người khác đều quan tâm đến vấn đề được coi là cơ bản nhất của hành động xã hội Đó la,ø trong hành động xã hội bao giờ cũng phải có sự tham gia của yếu tố ý thức với mức độ khác nhau, M Weber gọi đó là ý nghĩa chủ quan và

sự định hướng mục đích còn Mead thì xem đó là tâm thế xã hội của các cá nhân Hành động xã hội, không chỉ có những yếu tố mà chúng ta quan sát được mà còn bao hàm cả những yếu tố thúc đẩy đó là nhu cầu, động cơ và hoàn cảnh xã hội Do vậy nghiên cứu hành động xã hội, không thể không nghiên cứu cấu trúc của hành động xã hội

Như vậy, thành tố đầu tiên trong cấu trúc của hành động xã hội là động cơ và mục đích của hành động

Động cơ là động lực thúc đẩy hành vi của cá nhân, tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động Mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện hành vi Nhờ có động cơ thúc đẩy

mà chủ thể mới hành động để đạt mục đích Do vậy, mọi hành động xã hội đều do

Trang 38

động cơ nhất định thúc đẩy Chỉ trong trường hợp, chủ thể chưa kịp suy nghĩ hành

vi của họ không có động cơ rõ ràng (hành vi được thực hiện do xung đột tình cảm được tích tụ lại, hoặc hình ảnh xuất hiện đột ngột kích động con người hành động

mà không phân tích kỹ lưỡng hậu qủa của hành vi, hoặc có những trường hợp chủ thể hành động không theo ý muốn của mình mà có sự điều khiển chi phối của người khác) Nên việc xem xét và xác định động cơ, mục đích có ý nghĩa rất quan trọng để tìm hiểu nguyên nhân và nhân thân của chủ thể hành động

Động cơ, và mục đích mới chỉ là giai đoạn đầu tiên để hình thành hành động song hành động xã hội có diễn ra hay không còn phụ thuộc vào điềâu kiện, hoàn cảnh Nói cách khác, điều kiện là những tình huống xã hội tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi hoặc thúc đẩy hành động (đó chính là những điều kiện về thời gian, không gian vật chất được hiểu là tất cả những gì xung quanh có ảnh hưởng tới hành động) Khi nghiên cứu về hành động xã hội, M.Weber phân loại hành động xã hội thành

4 loại: Hành động duy lý- công cụ; hành động duy lý – giá trị; hành động truyền thống; hành động duy cảm

Trong nghiên cứu người chưa thành niên phạm tội, lý thuyết hành động xã hội của Max Weber được vận dụng để tìm hiểu nhận thức, động cơ và mục đích của người chưa thành niên phạm tội, bởi hành vi của con người trong một trạng thái tâm lý bình thường được thực hiện do sự thúc đẩy cuả một hoặc một số động cơ nhất định Khi thực hiện hành vi phạm tội cũng vậy, chủ thể cũng bị thôi thúc bởi những động cơ nhất định nào đo,ù dù đó là phạm tội cố ý hay vô ý Đồng thời việc vận dụng lý thuyết này sẽ giúp chúng ta làm rõ nguyên nhân phạm tội, động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội và nhằm mục đích gì? Loại hành động được áp dụng trong nghiên cứu là hành động duy lý - công cụ (đối với trường hợp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý) và hành động duy cảm – một loại hành động xã hội mang tính đặc trưng của lứa tuổi thanh thiếu niên (phạm tội trong trường hợp do bạn bè rủ rê, kích động,

tò mò…)

1.2.2.2 Lý thuyết chức năng

Sự phát triển thuyết chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như H.Spencer, Maliroj, Kingstey…R Merton, E.Durkheim Những người theo thuyết chức năng cho rằng, xã hội sẽ hoạt động một cách bình thường trong “sự cố kết xã hội” và được điều chỉnh hay kiểm soát chặt chẽ bởi các quy phạm xã hội, mà

Trang 39

trước hết là các quy phạm pháp luật Do vậy, chính tình trạng thiếu quy phạm hoặc quy phạm không rõ ràng, không được thông tin đầy đủ sẽ làm cho con người mất phương hướng, gây rối loạn chức năng xã hội (mất đi sự cố kết xã hội Quan điểm của E Durkheim bao quát hơn, hành vi sai lệch không chỉ là một vấn đề của cá nhân, mà là một vấn đề của xã hội Cộng đồng xã hội nào, có những điều kiện xã hội ít có tính hội nhập xã hội, xã hội rơi vào tình trạng phi chuẩn mực thì những xã hội đó có tỷ suất người lệch lạc cao hơn những xã hội khác Tình trạng phi chuẩn mực là tình huống khi mà những qui tắc xã hội – chúng qui định hành vi, mơ ước của cá nhân – không còn tương thích với nhau, hay xung đột với nhau do biến chuyển xã hội hay do sự xuất hiện những hệ thống giá trị mới Tình trạng phi chuẩn mực này dễ dẫn đến chỗ làm tan rã các kết cấu xã hội và sự xuống cấp của đạo lý [40, tr.7] Và khi ở trạng thái rối ren, người ta không hội nhập được vào xã hội do nhu cầu không khớp với các khả năng mà xã hội cung cấp để thoả mãn các nhu cầu đó thì khi đó xuất hiện những hành vi sai lệch thậm chí là tội phạm và điều này

đã được chứng minh rất rõ trong xã hội nước ta, xã hội mang những đặc tính riêng bắt nguồn từ nền nông nghiệp lúa nước, con người gắn bó với nhau, nương tựa vào nhau, hoà đồng chung vào cuộc sống tập thể, lợi ích của tập thể luôn được đặt trên lợi ích của cá nhân và chi phối toàn bộ giá trị cá nhân,vai trò cá nhân không được nảy nở mà tất cả dựa trên tập thể Mỗi cá nhân gắn kết vào một tập thể và chỉ sống trong khuôn khổ của tập thể đó, sống và hoạt động theo đúng chuẩn mực, giá trị, đạo đức Hoàn cảnh xã hội ổn định đưa đến một tâm lý bình an Hành vi sai lệch hay tội phạm rất hiếm Nhưng trong những năm gần đây, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân có điều kiện, cơ hội để phát triển năng lực tư duy sáng tạo, thoát khỏi những ràng buộc của tập thể, tự do gắn kết vào những tập thể

họ thích Nói cách khác, trong chốc lát họ bứt khỏi môi trường truyền thống, khỏi luôn cả những ràng buộc của tư duy và đạo đức truyền thống Nói chung, trong qúa trình chuyển đổi từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế chủ yếu là công nghiệp, một xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại mà theo Durkheim là sự thay thế cách liên kết hữu cơ thay vì đoàn kết máy móc như trước đây Cũng trong bối cảnh xã hội này, nó gây ra sự khủng hoảng trong định hướng giá trị do có nhiều kiểu loại giá trị, chuẩn mực khác nhau thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau Trong lúc những giá trị, chuẩn mực cũ đang bị lung lay phá vỡ, những

Trang 40

giá trị, chuẩn mực mới chưa được khẳng định một cách vững chắc thì tất yếu dẫn đến tình trạng hoang mang, mất phương hướng hay lệch pha trong hành động của gia đình nói chung và lớp trẻ nói riêng Chính Durkheim, cũng thừa nhận sự gia tăng của những hành vi sai lệch, tội phạm trong những giai đoạn có sự thay đổi của

xã hội, theo ông không thể phủ nhận một điều rằng ở khắp nơi tội phạm đều gia tăng Hình như tội phạm và tệ nạn xã hội luôn tồn tại và phát triển theo cơ chế phát triển của xã hội Trong tác phẩm tự tử, ông chứng minh rằng, sự tự sát, hành vi phạm tội là tùy thuộc vào sức mạnh của mối liên hệ xã hội; sự đoàn kết xã hội mạnh hay yếu chính là nguyên nhân dẫn đến hành động cuối cùng của các cá nhân, hành động cuối cùng của các cá nhân sẽ phản ánh được sức mạnh của tập thể Và ông

đã chứng minh được giả thuyết này bằng kết quả – sự biến đổi tỷ lệ tự tử, phạm tội thông qua những đặc điểm của các nhóm xã hội khác nhau và qua những biến đổi của xã hội khi mà đoàn kết xã hội không cao

Kế thừa và phát triển lý trên của Durkheim, R Merton cho rằng: sự lệch chuẩn là

sự không phù hợp, sự lệch pha giữa mục tiêu văn hoá và phương tiện được thiết chế hoá Những ai không chấp nhận những mục đích đã được thừa nhận hay các phương tiện chính đáng để hoàn thành các mục đích được đề ra đều có thể coi là sai lệch Chẳng hạn: mục tiêu của sự thành công là phải kiếm được nhiều tiền và hạnh phúc là sự giàu có về vật chất Phương tiện để đạt mục đích này được xã hội chấp nhận như: học hành tốt, làm ăn lương thiện… Nhưng trong thực tế không phải

ai cũng có điều kiện, khả năng và cơ hội để đạt mục tiêu đó Từ đó Merton cho rằng sai lệch là kết quả của một khoảng trống giữa các mục tiêu văn hoá với các phương tiện được chấp nhận để đạt mục tiêu Cá nhân rơi vào khoảng trống ấy thường dùng phương tiện bất hợp pháp để đạt mục tiêu như lừa đảo, trộm cắp, buôn bán phi pháp… Trong tác phẩm lý thuyết xã hội và cơ cấu xã hội, Merton đã đưa ra bảng phân loại hành động để nhận diện cacù kiểu hành vi sai lệch bao gồm: tuân thủ, cách tân, nghi thức, rút lui và mổi loạn Sự phân loại này đặt trên cơ sở con người đã thích ứng như thế nào với những đòi hỏi của xã hội

Với lý thuyết này, chúng tôi vận dụng trong đề tài nghiên cứu người chưa thành niên phạm tội để giải thích có phải nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên là do tình trạng thiếu chuẩn mực, do rối loạn các chức năng của hệ thống và tiểu hệ thống trong cơ cấu xã hội hay không

Ngày đăng: 14/09/2021, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w