1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng ngoại thành thành phố hồ chí minh, thực trạng và giải pháp

107 6 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Vùng Ngoại Thành Thành Phố Hồ Chí Minh, Thực Trạng Và Giải Pháp
Trường học University of Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Human Resource Management
Thể loại Thesis
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 38,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1 Sơ lược tình hình tự nhiên kinh tế xã hội vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh 2.1.2 Sự hình thành phát triển

Trang 1

ROG ENE LE

a

vEO VAN TINE

NG CLO CHAD LUONG Seas

MAAN EEO VENG AGO UN Ue

i ae

OWE TRANG VA GIA CHAE

RIOR ANE LUNES NORTE PE

AaANTY OFC l23©1,X5E1E SINH

Trang 2

NANG CAO CHAT LUGNG NGUON

NHAN LUC VUNG NGOAI THANH

THANH PHO HO CHI MINH

`

THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành : Kinh Tế Chính Trị

Mã số : 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học :

Tiến sỹ Nguyễn Văn Chiến

Trang 3

Tôi cam đoan nội dung luận văn Thạc sỹ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế Chính Trị:

“ Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực

Vùng Ngoại Thành Thành Phố Hồ Chí Minh

thực trạng và giải pháp “

là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Trang 4

MUC LUC

Phần mỡ đầu :

Chương 1: Nguồn nhân lực và sự cần thiết nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế — xã hội

1.1 Các quan niệm về nguồn nhân lực:

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực I.12_ Mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực, nguôn lao động và cơ

cấu lao động

I.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển nền kinh tế

1.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

1.2.1 Chất lượng của nguồn nhân lực là gì?

1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực

I.2.3 Hệ thống các chỉ số chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân

lực

1.2.4 Sự cần thiết phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông

nghiệp,nông thôn

1.4 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong một số nước

1.4.1 Xác định nhất quán vai trò quyết định của nguồn nhân lực

1.4.2 Kiên trì tạo dựng vốn người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

1.4.3 Chú trọng khai thác năng lực sáng tạo của người lao động

Trang 5

2.1 Sơ lược tình hình tự nhiên kinh tế xã hội vùng ngoại thành, thành

phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2 Sự hình thành phát triển vùng đất con người

2.1.3 Hiện trạng kinh tế xã hội vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc dân số

2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực ở vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh 2.2.2.1 Trình độ học vấn người dân vùng ngoại thành T/p Hồ Chi Minh 2.2.2.2 Tình hình giáo dục phổ thông tại các huyện ngoại thành

2.2.2.3 Cơ cấu trình độ chuyên môn

2.2.2.4 Chính sách đào tạo, nâng cao tay nghề và tạo việc làm cho lao động

nồng thôn ngoại thành

2.2.2.5Hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân vùng ngoại thành

2.2.3 Cơ cấu lao động nông thôn ngọai thành chia theo ngành kinh tế

2.2.4 Lao động nhập cư vào vùng nồng thôn, thành phố Hồ Chí Minh

2.2.5 Tình trạng việc làm của lao động vùng ngoại thành, thành phố

Trang 6

2.3 Những vấn để đặt ra trước yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực

trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoa ở nước ta hiện nay

2.3.1 Mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng giải quyết việc làm

2.3.2 Thiếu nghiêm trọng lao động , kỹ thuật và mất cân đối nghiêm trọng cơ

cấu nhân lực đã qua đào tạo

2.3.3 Hệ thống giáo dục đào tạo chưa gắn với thị trường lao động

2.3.4 Tiềm năng nhân lực bị lãng phí và sử dụng không hiệu quả

Kết luận: Một số nhận định, đánh giá về hiện trạng chất lượng nguồn

nhân lực của vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực để sử dụng có hiệu quả vùng nông

thôn ngoại thành -thành phố Hồ Chí Minh

3.1 Quan điểm chung và các mục tiêu định hướng cho việc phát triển

kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minhđến năm 2010

3.1.1 Các quan điểm cơ bản về phát triển kinh tế xã hội vùng ngoại thành

thành phố Hồ Chí Minh

3.1.2 Mục tiêu, định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp nông thôn thành phố Hồ Chí Minh

3.1.2.1 Nhiệm vụ ,mục tiêu chung

3.1.2.2 Định hướng một số mục tiêu chủ yếu

3.2 Quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo mục tiêu

phát triển kinh tế xã hội vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

3.3.1 Giải pháp đổi mới toàn diện và triệt để hệ thống giáo dục đào tạo, dạy

nghỀ và nâng cao dân trí nguồn nhân lực vùng ngoại thành

3.3.2 Giải pháp vé nang cao thé lực cửa nguồn nhân lực vùng ngoại

thành,thành phố Hồ Chí Minh

3.3.3 Đẩy mạnh cải cách hành chánh nhà nước để thúc đẩy phát triển và

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.3 4 Giải pháp đẩy mạnh việc phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ

3.3.5 Giải pháp giải quyết việc làm, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động ở

vùng nông thôn ,ngoại thành,thành phố Hồ Chí Minh

3.3.6 Giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nhân lực kết hợp với định hướng

Trang 8

DANH MUC CAC BANG SO LIEU

3 2.2 _ | Trình độ văn hóa nhân khẩu từ 16 tuổi trở lên 38

2 2.3 Học sinh bình quân trên một vạn dân 40

2 2.4 Tỉ lệ học sinh phổ thông các bậc học 41

Z 2.5 Dân số trong độ tuổi lao động ở ngoại thành chia 43

theo trình độ chuyên môn năm 2003

z 2.6_ | Trình độ chuyên môn của người dân ngoại thành 44

2 2.7 | Nhân khẩu lao động ở ngoại thành 47

2 2.8 Tổng số lao động tạm trú ở ngoại thành 49

z 2.9 Lao động chưa có việc làm và có nhu cầu việc 51

làm tại vùng ngoại thành thời điểm quí 1/2004

2 2.10 Tỉ lệ thất nghiệp ở TP.HCM 52

2 2.11 | Trình độ chuyên môn của người có khả năng lao 61

động ở ngoại thành TP.HCM

2 2.12_ | Chi tiêu bình quân người/ tháng ở ngoại thành 63

3 Bl Biểu dự báo dân số các huyện ngoại thành năm 67

2000 - 2010 DANH MỤC CÁC BIẾU ĐỒ, HÌNH VẼ

Chương | Số thứ Tên bang đổ, hình vẽ Trang

2 2:2 Cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn 38

3 | Mô hình phân luồng đào tạo sau trung học cơ sở 94

Trang 9

Phu luc 1: Trình độ học vấn của người dân Thành Phố Hồ Chí

Minh:

Phụ lục 2: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

Phụ lục3: Số lượng giáo viên phổ thông ở các huyện ngoại thành:

Phụ lục 4: Số người 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường

xuyên chia theo trình độ văn hóa năm 2002

Phu luc 5: Số người trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo ở

nông thôn Thành Phố Hồ Chí Minh chia theo trình độ năm 2003

Phụ lục 6: Cơ cấu lao động và giá trị SX phân theo ngành của

hai huyện Hóc Môn và Nhà Bè năm 2002

Phụ lục 7: Số người được đào tạo và thực tế làm việc trong các

ngành Nông, lâm thủy sản năm 2003:

Phụ lục 8: Tình hình chuyến đổi nghề nghiệp ở khu vực nông

thôn — ngoại thành Thành Phố Hà Chí Minh:

Phụ lục 9: Dân số từ 5 tuổi trở lên sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh chia theo hộ khẩu thường trú:

Phụ lục 10: Trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ của lao

động nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh

Phụ lục 11: Lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo

tình trạng việc làm năm 2003

Phụlục12: Hộ nhân khẩu nông nghiệp

Phụ lục 13: Trình độ chuyên môn của những người đang làm việc trong độ tuổi lao động chia theo thành thị — nông thôn:

Phụ lục 14: Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động đã qua đào

tạo chia theo kỹ năng, ngành nghề đào tạo:

Phụ lục 15 :Dân số và biến động dân số từ năm 1995 đến 2003

Phu luc 16: Méi quan hé gitta dan sé, nguén nhan luc, ngudn lao động và cơ cấu lao động:

Phụ lục I7 Dự báo tỷ lệ hộ gia định có tiện nghỉ sinh hoạt ở ngoại thành

Trang 10

^ -2 ^

PHAN MO DAU

1 TINH CAP THIET CUA DE TAI

Phát triển nguồn nhân lực là một chiến lược lớn đối với mỗi quốc gia

trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của mình

Trong điều kiện cách mạng khoa học-công nghệ phát triển như vũ bắovà quá trình hội nhập quốc tế nhanh chóng đang đặt ra sự đòi hỏi gắt gao phải

đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cả về chất,lượng và cơ cấu.Vì thế, vai trò

của con người đã trở thành nhân tố quan trọng nhất ,vượt lên trên những yếu

tố khác

Nhận rõ tầm quan trọng ấy, vấn để phát triển nguồn nhân lực luôn được Dang,nha nước ta hết sức quan tâm và thể hiện nhất quán qua các văn kiện

của Đáng và những chính sách của chính phủ

Vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã đạt

được những thành tựu to lớn góp phần đáng kể vào thắng lợi bước đầu cửa sự

nghiệp đổi mới

Tuy nhiên ,quá trình ấy cũng bộc lộ nhiều vấn để bất cập ở các khía cạnh khác nhau Sự đánh giá về nó,do đó cũng có nhiều ý kiến khác nhau.Rõ

ràng,thực tiễn phát triển nguồn nhân lực đang đặt ra đòi hỏi phải được tiếp tục

nghiên cứu để làm rõ hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn,ầm ra con đường,

hình thức, bước đi và giải pháp tối ưu trên phạm vi cả nước,từng lĩnh vực cũng

như từng địa phương.Trong đó có vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

Tiém năng của vùng ngoại thành, nhất là lao động, đất đai chưa được khai

Trang 11

Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ngoại thành “đã, đang và sể còn

chịu sự tác động mạnh cửa chương trình đô thị hóa với tốc độ nhanh Trong đó

còn nhiều bất cập cần phải tiếp tục được giải quyết như : Trình độ ứng dụng

khoa học-kỹ thuật;vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn; trình

độvăn hóa; tay nghề của người lao động còn thấp.Đời sống vat chat va tinh

thần cuả người dân ngoại thành tuy có bước phát triển nhưng vẫn còn khoảng

cách khá xa so với nội thành.Số hộ nghèo, hộ chính sách còn chiếm tỷ lệ lớn

ở các vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ

Xuất phát từ chổ ý thức được tầm quan trọng vô cùng to lớn và tính cấp

bách của việc phát triển nguồn nhân lực nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp

hóa,hiện đại hóa trong nước,thành phố và chương trình đô thị hóa vùng ngoại

thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu

sắc.Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc ấy, tác giả chọn đề tài:”

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh thực trạng và giải pháp “ làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên

ngành kinh tế chính trị

2 TINH HINH NGHIEN CUU DE TAI

Ở Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đã được nhiều nhà khoa

học và các cơ quan nghiên cứu trên những góc độ khác nhau Có thể kể ra

một số như sau :

I Giáo sư Phạm Tất Dong, Xu hướng toàn cầu hóa và chiến lược phát

triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020 nhà xuất bản Hà Nội

Trang 12

10

Z Giáo sư ,tiến sĩ Nguyễn Thị Cành, Tình trạng thất nghiệp, thất nghiệp

cơ cấu và hướng giải quyết thất nghiệp trong quá trình đô thị hóa tại năm quận

mới thành phố Hồ Chí Minh viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh 1/5/2001

3 Tiến sĩ Trần Thị Tuyết Mai Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến 2010 Hội

thảo khoa học, Bộ kế hoạch đầu tư

4 Uy Ban Nhân dân, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chương

trình phát triển và đào tạo nguồn nhân lực thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn

2001 -2005

Hầu hết các công trình nghiên cứu trên có điểm chung là để cập đến hiện trạng nguồn nhân lực,phân tích vĩ mô về nhu cầu nguồn nhân lực cho

công nghiệp hóa,hiện đại hóa phục vụ cho chương trình quy hoạch của t/phố

Như vậy so với nội dung của các công trình trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài này ( Nâng cao chất lượng Nguồn Nhân Lực Vùng Ngoại Thành

Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và giải pháp ) góp phần làm sáng tỏ

thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn dưới góc độ kinh tế chính trị hy vọng

có thể giúp cho địa phương về chiến lược phát triển con người ở vùng ngoại

thành,thành phố Hồ Chí Minh đến giai đoạn 2010

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

q> Mục đích nghiên cứu:

Qua phân tích lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân

lực của một số quốc gia và quan điểm mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của

Dang va Nha nước ta Từ đó hướng vào giải quyết những vấn dé quan trọng

Trang 13

của việc nâng cao chất lượng và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình đô

thị hóa ở vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010

b> Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:

- Lam 16 khái niệm về nguồn nhân lực và các chỉ số đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

- _ Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế

-_ Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đánh giá những

khó khăn, thuận lợi, những tôn tại và hạn chế trong quá trình sử dụng

nguồn nhân lực ở vùng ngoại thành ,thành phố Hồ Chí Minh

-_ Đưa ra một số phương hướng giải pháp có tác động mạnh đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh

4 ĐÔI TƯỢNG VA PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định la: phát triển và nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại

hóa theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phạm vì nghiên cứu của luận văn là :vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh,đề cập chủ yếu vào các huyện: Cử Chỉ, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà

Bè, Cần Giờ trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 nghiên cứu dưới góc độ

Kinh tế Chính trị

Trang 14

12

5 NHUNG DONG GOP MGI VA Y NGHIA CUA LUAN VAN:

Làm rõ cơ sở lý luận để chứng minh sự cần thiết phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Phân tích một cách sâu sắc thực trạng về sự phát triển và nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực trong thời gian qua ở vùng ngoại thành , thành phố Hồ

Chí Minh Từ đó, tìm ra các vấn để bức xúc cần phải giải quyết trong thời

gian tdi

Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tinh kha thi nhằm nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở

vùng ngoại thành , thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày

càng cao của thành phố đến năm 2010

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện các mục tiêu trên, các phương pháp nghiên cứu chủ

yếu được tác giả sử dụng trong luận văn là : Phương pháp biện chứng duy vật : dựa vào phương pháp này, việc

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở vùng ngoại thành thành phố Hồ

Chí Minh được xem xét trong trạng thái luôn luôn biến đối, liên hệ,tác động qua lại ,phát triển và do đó, cần được thường xuyên hoàn thiện Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: là phương pháp lại bỏ khỏi quá trình các hiện tượng nghiên cứu những cái ngẫu nhiên, tạm thời, để tìm ra cái bản chất của các hiện tượng quá trình kinh tế, hình thành các

phạm trù ,các quy luật kinh tế

Phương pháp phân tích và tổng hợp : Là phương pháp nghiên cứu

được thực hiện bằng cách tìm ra cấu trúc bên trong,để làm rõ từng thuộc

Trang 15

tính, tính chất cửa mỗi sự vật hiện tượng,nhưng phải đặt chúng trong mối liên hệ tổng thể để nhận thức sự vật một cách toàn diện

Phương pháp lôg¡ch và lịch sứ : Nghiên cứu hiện tượng và quá trình

kinh tế gắn liền với điều kiện lịch sử cụ thể,ầm ra cái bản chất chi phối

sự vận động phát triển của các hoạt động kinh tế

Ngoài ra, luận văn còn được nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học như : thống kê thu thập nguồn tài liệu, phương pháp khảo sát

thực tế để phân tích và xử lý dữ liệu, số liệu có liên quan, phương pháp diễn dịch quy nạp, dự đoán khoa học,

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương:

Chương 1: Nguồn nhân lực và sự cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực trong phát triển kinh tế -xã hội

Chương 2: Thực trạng về nguồn nhân lực ở vùng ngoại thành , thành phố Hồ Chí Minh cũng như những vấn đề còn tồn tại của nguồn nhân lực

Chương 3:Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng và sử dụng

có hiệu quả nguôn nhân lực vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằm

phục vụ quá trình đô thị hóa của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn

2003 - 2010

Trang 16

1.1 Các quan niệm về nguồn nhân lực:

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực :là lực lượng lao động đã được đào tạo để tham gia phát

triển kinh tế - xã hội Chất lượng nguồn nhân lực : thể hiện ở tri thức, kỹ

năng và chất lượng lao động (trình độ tay nghề), thể lực, và cả sự trưởng

thành về đạo đức, tư tưởng chính trị, nhân cách,

Trong những năm gần đây, yếu tố con người được xem xét với tư cách là

một nguồn lực cơ bản cho sự phát triển Kinh tế- xã hội

.Từ đó, đã hình thành khái niệm mới: nguồn nhân lực hay nguôn lực con người Các lý thuyết kinh tế và các công trình nghiên cứu gần đây đã đưa ra

cách xem xét về nguồn nhân lực trên các góc độ sau:

- Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, yếu tố con người được để cập với

tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất hàng hóa,

dịch vụ Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động

cơ bản nhất trong xã hội Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động

theo nhu cầu của nền kinh tế là vấn để quan trọng nhất để đắm bảo tốc độ

tăng trưởng sản xuất và dịch vụ

- _ Trong lý luận về vốn người, con người được xem xét trước hết như một

yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế- xã hội

Trang 17

Ngoài ra, lý luận về vốn người còn xem xét con người từ quan điểm nhu cau

cho sự phát triển của nó Đầu ¡ cho con người cũng tương tự đầu tư vào các

lĩnh vực khác, nghĩa là đầu tư để thu lợi trong tương lai Cách tiếp cận này

đang được áp dụng & phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay

- Theo một cách tiếp cận khác, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá

nhân sở hữu Ở đây, nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh:

các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là

cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bên vững

Cũng dựa trên cách tiếp cận này, Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực là: “Nhân lực có trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực

của toàn bộ cuộc sống con người hiện có trong thực tế hoặc tiềm năng để phát

triển kinh tế~ xã hội trong một cộng đồng.” [49 tr 214 |]

Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực

được hiểu về cơ bản :” là quá trình làm gia tăng giá trị cho con người trên các

mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng , tâm hồn, thể lực, làm cho con người trở

thành những người lao động có năng lực, phẩm chất mới và cao, đáp ứng yêu

cầu to lớn của sự phát triển kinh tế-xã hội”

Tóm lại, từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng: nguồn nhân lực được đề cập như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành:

thể lực, trí tuệ, khối lượng cùng với các đặc trưng về chất lượng lao động như

trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách

Trang 18

16

làm việc Ở đây ,con người được xem xét với tư cách là một yếu tố cơ bản của

quá trình sản xuất, một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội

1.1.2 Mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực, nguồn lao động và cơ cấu

lao động:

Khái niệm về dân số dễ dàng được mọi người nhất trí nhất Dân số là tổng lượng thành viên con người tỒn tại trong một vùng lãnh thổ nhất định, tại

một thời điểm nhất định

Nguồn nhân lực được hiểu như là nguồn con người có chất lượng,trong

một độ tuổi nhất định, có khả năng tham gia và được huy động quản lý cùng

với các nguồn lực khác để phát triển kinh tế xã hội

Ở nước ta nguồn nhân lực đã từng được hiểu là nguồn lao động Đó là

dân số trong độ tuổi lao động theo luật định có khả năng tham gia lao động và

những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động

Cơ cấu lao động, đó là tỷ lệ chia theo các tiêu thức khác nhau trong nền

kinh tế Hiện nay, khi nói về cơ cấu lao động, người ta thừơng sử dụng các

tiêu thức như: cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu lao động theo ngành nghề , cơ

cấu giới tính Khi một quốc gia có một cơ cấu lao động hợp lý sẽ có những

điều kiện thuận lợi nhất để phát huy hết tiềm năng của mình trong phát triển

kinh tế xã hội cũa đất nước Bên cạnh đó, một cơ cấu lao động hợp lý sẽ thúc

đẩy nguồn nhân lực phát triển

1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh teế Các-Mác đã từng phát biểu rằng: con người là điều kiện, tiền đề đầu

tiên của lịch sử loài người Không có cá nhân con người, sẽ không có tập thể

Trang 19

con người, không có lịch sử, không có xã hội Con người là chủ thể của tất cả

hoạt động, các quá trình xã hội

Khi bàn đến các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay của nước ta, thường để cập đến bốn yếu tố

chủ yếu sau: Tài nguyên thiên nhiên; Nguồn vốn; Khoa học công nghệ; Con

người Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Trong cấu trúc của lực lượng sắn

xuất thì nguồn nhân lực là bộ phận năng động nhất, sáng tạo nhất của quá

trình sản xuất, nó là chủ thể của quá trình sắn xuất, quyết định toàn bộ quá

trình sản xuất xã hội; nhờ nó mà sản xuất phát triển ngày càng nhanh với

năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao; đời sống vật chất, tinh thần

và bộ mặt xã hội có nhiều tiến bộ Vai trò cửa nguồn nhân lực trong lực lượng

sản xuất theo chủ nghĩa Mác —Lênïin thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

- Chính người lao động đề ra mục đích, quyết định việc sử dụng các công

cụ, phương tiện sản xuất trong quá trình sản xuất, thông qua những hình thức,

phương thức, khác nhau để sản xuất ra của cải, đáp ứng nhu cầu con người

- Chính người lao động trong suốt chiêu dài lịch sử của xã hội loài người đã không ngừng sáng tạo và kế thừa Với lao động và khả năng, tri thức kinh

nghiệm, con người không ngừng cải tiến công cụ,phương tiện sản xuất làm

cho công cụ phương tiện sắn xuất ngày càng đổi mới, tạo ra những tư liệu lao

động hiện đại, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội không ngừng phát triển

- Sức sản xuất xã hội là sự kết hợp sức lao động con người với tư liệu sản xuất Không có sức lao động con người thì tư liệu sản xuất dù có hiện đại đến

đâu cũng chỉ là vật vô tri, vô giác, không thể tạo ra của cải cho xã hội

Trang 20

18

Trong báo cáo của chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã

công bố: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó.”

Đối với một đất nước như Việt Nam, ca về nguồn lực, tài chính lẫn thiên nhiên đều tương đối hạn chế, thì con người được xem là nguồn lực quan trọng,

quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, là

“nguồn lực của mọi nguồn lực khác” Con người là chủ thế năng động và sáng

tạo nhất của sự phát triển, như Lê - nin đã chỉ rõ “Lực lượng sắn xuất hàng

đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Sự nghiệp đối

mới và phát triển đất nước thành công hay không phần lớn là do nguồn lực

này quyết định, vai trò của nó được thể hiện trên hai mặt: Một mặt, con người

đóng vai trò là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ Mặt khác, con người lại

đóng vai trò là người sáng tạo ra các sắn phẩm đó với sức lực và trí tuệ của

mình Để thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần, con người

ngày càng hoàn thiện và phát huy khả năng của mình, thúc đẩy sự nghiệp

công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển

Con người là động lực của mọi chính sách, chiến lược từ lớn đến nhỏ

Một cách đơn giản, chúng ta ai cũng dể chấp nhận rằng : không có con người

thi chang có chính sách, chiến lược nào được thực hiện Mọi ý tưởng tốt dep

sẽ mãi mãi và vĩnh viễn nằm trên giấy một khi nó thiếu nguồn nhân lực cần

thiết để chuyển ý tưởng thành hành động, kết nối các hành động theo một trật

tự hệ thống để đến mục tiêu Không có con người mang tinh thần xã hội chú

nghĩa, sẽ không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước này

So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực có ưu thế nổi bật ở chỗ nó

không bị cạn kiệt trong quá trình khai thác và sử dụng mà ngược lại nó còn có

khả năng tái sinh và phát triển Chính điều này là điểm khác biệt cơ bắn giữa

Trang 21

nguồn vốn sức lao động và các nguồn vốn khác, là yếu tố cơ bản làm cho

nhân tố con người trở thành nguồn lực chính cho sự phát triển nhanh và bền

vững Do đó, ở hầu hết các quốc gia hiện này đều đặt con người ở vị trí trung

tâm của sự phát triển và đề ra các chính sách, biện pháp nhằm khai thác có

hiệu quả nguồn lực quan trọng này

Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng

kinh tế của Các Mác với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ra giá trị

và là nguồn gốc của của cải xã hội

Tư tưởng trên đây của Marx có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó cho thấy tiến bộ kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa cửa yếu tố con người mà ngược

lại, cùng với quá trình áp dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào san xuất con

người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng

Coi trọng và để cao trí thức cũng chính là dé cao yếu tố con người Mô

hình sản xuất lấy con người làm trung tâm trở thành biểu hiện nối bật của

chiến lược phát triển ở mọi quốc gia Khai thác và phát huy tiềm năng yếu tố

con người được coi là một giải pháp quan trọng nhất để cạnh tranh và phát

triển trong điều kiện hiện nay

Nói con người là nguồn vốn lớn nhất và quý nhất, là yếu tố quyết định

cho mọi quá trình kinh tế - xã hội lại càng đúng hơn khi đi sâu phân tích hoàn

cảnh kinh tế — xã hội cụ thể ở nước ta trong thời kỳ xây dựng và đổi mới, đặc

biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước

Chúng ta tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá từ một nên kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu Điều đó, đồng nghĩa với việc điểm xuất

Trang 22

20

phát của chúng ta rất thấp, các nguồn lực vật chất với tư cách là tiền dé cho

công cuộc công nghiệp hoá -hiện đại hoá còn rất hạn chế

Về khoa học — kỹ thuật, tổng kết mười năm đổi mới, Đại hội VIII của

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đánh giá * đã thích nghi với cơ chế thị trường ”

Tuy nhiên, trình độ công nghệ của nước ta còn đang ở mức trung bình Trong

ngành công nghiệp, nếu so với các nước phát triển, hệ thống máy móc, thiết

bị của nước ta còn lạc hậu từ hai đến ba thế hệ

Tuy nhiên, nhìn từ một góc độ khác thì dân số đông và lực lượng lao động dồi dào hiện có, lại đang là thách thức rất lớn đối với sự phát triển kinh

tế xã hội Với mức tăng lực lượng lao động khoảng 30% / năm cộng với chất

lượng thấp của nguồn lao động đang tạo ra sức ép rất lớn cho nên kinh tế về

vấn đề việc làm và hàng loạt các vấn dé khác Nền kinh tế còn phổ biến là

sản xuất nông nghiệp, thu nhập thấp đã hạn chế nhiều khả năng nhịp độ phát

triển kinh tế-xã hội Đời sống khó khăn còn có thể làm nảy sinh nhiều tiêu

cực, làm mất lòng tin ở nhân dân Thực tế đó cho thấy: chúng ta phải đối mặt

với những khó khăn không nhỏ do sức ép dân số gây ra

Hai cách nhìn trên không có gì mâu thuẫn với nhau Dân số đông, lực lượng lao động dồi dào có thể trở thành gánh nặng cắn trở sự phát triển Song

nó thật sự là lợi thế nếu biết phát huy Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải có

định hướng đúng đắn, tìm cách tập hợp, khai thác và sử dụng một cách có

hiệu quả nhất thì nguồn nhân lực sẽ là một nguồn lực lớn nhất cho sự phát

triển

Tóm lại, có thể nói một cách khái quát rằng: nguồn nhân lực là chủ thể,

và cũng là mục tiêu phục vụ cuối cùng của các hoạt động kinh tế, xã hội Để

có thể thực hiện thành công các kế hoạch phát triển nói chung, sự nghiệp

Trang 23

1.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực:

Chất lượng nguồn nhân lực : là ứrạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mọi mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển,

mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định

1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực:

Để hiểu rõ hơn về nguồn nhân lực và vấn đề sử dụng nguồn nhân lực, từ

đó đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ta đi sâu vào nghiên cứu những yếu tố cơ bản cấu thành nguồn nhân lực

Mội là: nhóm nhân tố ảnh hưởng đến trình độ văn hóa,trình độ chuyên

môn kỹ thuật,tính sáng tạo trong nghề nghiệp của nguồn nhân lực :

Khi tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, con người không những phải sử dụng lao động chân tay mà còn phải sứ dung ca lao động trí óc Hơn nữa, sử dụng nó ngày càng nhiều khi xã hội càng phát triển Vai trò của

lao động trí tuệ được Các-Mác thể hiện trong dự báo khoa học: đến một trình

Trang 24

22

độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Quá trình

khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đang diễn ra dưới tác dụng của

cuộc cách mạng công nghệ hiện nay đã khẳng định sự tiên đoán chính xác

của lời dự báo đó Ngày nay, tri thức khoa học đang thấm sâu vào mọi yếu tố

cửa quá trình sản xuất và trở thành nhân tố quyết định của sự phát triển

Như vậy, có thể khẳng định rằng: /zí zuệ là nhân tố có vai trò quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực Nhờ đó, con người có thể có được những yếu tố

khác như: của cải, khoa học và công nghệ mới, kể cả quyên lực Với tầm quan

trọng đó, việc khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan

trọng nhất của sứ dụng nguồn nhân lực Trí tuệ của nguồn nhân lực được thể

hiện thông qua tri thức Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi

nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Bởi vì, dù máy móc,

công nghệ có hiện đại tới đâu đi nữa mà không có những người lao động có

phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì cũng không thế phát huy

tác dụng được Vậy,sự nghiệp giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng nhất

tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất trong nguồn nhân lực

Hai là :,nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thể chất nguồn nhân lực: nói đến nguồn nhân lực, không thể chỉ nói đến trí tuệ mà không nói đến sức khoẻ của

nguồn nhân lực Đây là yêu cầu không thể thiếu Sức khoẻ là điều tiên quyết

để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chú yếu để chuyển tải tri thức,

biến tri thức thành sức mạnh vật chất

Ba là : truyền thống lịch sử,thói quen,tập quán,văn hóa,đạo đức lối sống:

Khi nói đến nguồn nhân lực, không thể bỏ qua phẩm chất đạo đức, nhân cách

con người Trước đây, thường hiểu về nguồn nhân lực đơn giản chỉ là thể lực

và trí lực của họ Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường , cái đem

Trang 25

lại lợi thế cho nguồn nhân lực còn phải tính đến nhân cách và đạo đức con

người Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phái trên mẫu

số chung là nhân cách phẩm chất đạo đức của con người

Trình độ phát triển nhân cách đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo trong hoạt

động thực tiễn xã hội Do vậy, giáo dục đào tạo cho con người trong thời đại

ngày nay phải theo hướng cân đối dạy người và dạy nghề Trong đó, dạy

người là mục tiêu cao nhất như lời dạy của Chú tịch Hồ Chí Minh

Bốn là : hệ ;hống các chính sách,cơ chế quản lý kinh tế- xã hội về nguồn

nhân lực

Sự tác động cửa các chính sách ảnh hưởng đến việc phát huy tiềm năng của lực lượng lao động nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã

hội.Hệ thống các chính sách đúng đắn sẽ tác động lớn thu hút nguốn lực trí

tuệ vào nền sản xuất xã hội.Điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, tạo ra sự hợp

lý của việc bố trí nguồn nhân lực theo đúng khả năng và trình độ đào tạo

1.2.3 Hệ thống các chỉ số chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân

lực

Liên Hiệp Quốc đưa ra Chỉ số phát triển con người Human Development Index(HDI):để đo lường kết quả và đánh giá thành tựu phát triển con

người.Báo cáo phát triển con người năm 1990 và các báo cáo tiếp theo của

VNDP đã đưa ra một loạt các chỉ số Chỉ số tổng hợp nhất được đưa ra từ năm

1990 (và được hiệu chính lại năm 1999) là chỉ số phát triển con người HDI là

giá trị trung bình của ba chỉ tiêu:

-Khả năng sống lâu, đo bằng tuổi thọ tính từ khi sinh ra

Trang 26

24

-Trình độ giáo dục, tính tổng hợp theo tỉ lệ biết chữ của người lớn và các tý lệ đi học tiểu học, trung học và đại học

-Mức sống, đo bằng giá trị GDP thu nhập bình quân đầu người thực

tế theo sức mua tương đương — PPP

Giá trị cực đại của H DI là 1 và giá trị cực tiểu là 0 Nước nào cĩ gia ltrị HDI càng gần tới 1 thì mức độ phát triển nguồn nhân lực rất cao

Phân loại các nước theo chỉ số HDI:

Phát triển con người cao ( HDI > 0.800)

Phát triển con người trung bình ( HDI từ 0.5 đến 0.799 ) Phát triện con người thấp ( HDI<0.500) [ 1 tr26-29 và 40 tr 16-18 ]

Cho đến nay, HDI vẫn là một chỉ số tốt nhất được dùng để đánh giá sự

phát triển con người của một quốc gia Tuy nhiên, những xem xét và nêu

trên cho thấy HDI cịn được sử dụng những thước đo bổ sung khác

Chẳng hạn, nhằm chỉ rõ sự khác biệt về trình độ phát triển con người,

các vùng,các nhĩm xã hội, cần xây dựng HDI chi tiết cho từng địa

phương và từng nhĩm đối tượng dân cư cần nghiên cứu

+ Chỉ số phát triển GDI :Đây là chỉ số đánh giá sự bình đẳng về cơ hội

phát triển giữa phụ nữ và nam giới

+ Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI:là chỉ số đo lường các kết quả về

xĩa đĩi giảm nghèo, bảo đảm các nhu cầu cơ bản cho tất cả mọi người

Ngồi các chỉ tiêu cơ bản nĩi trên, để nhận diện rõ hơn bức tranh phát triển con người, cần bổ sung các chỉ tiêu đánh giá từng lãnh vực hay

Trang 27

Thứ ba, do quá trình trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại cho nền kinh tế

quốc dân Như đã khẳng định ở trên, con người là yếu tố quan trọng nhất, là

nhân tố quyết định sự thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất

lao động

Chính vì vậy, trong lĩnh vực nguồn nhân lực đã và đang có sự chuyển

biến về chất: từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ Do

vậy, việc đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực có chất lượng cao là vô cùng

cần thiết và có ý nghĩa quyết định

Tóm lại, xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng và đích thực của nguồn nhân lực, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan

, một xu thế thời đại mà chúng ta phải thực hiện Đó không chỉ là do nhu cầu

cửa nền sản xuất ngày càng phát triển, do chính bản thân người lao động mà

còn do yêu cầu thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa

nên kinh tế phát triển theo con đường mà một quốc gia đã chọn Một nguồn

nhân lực chất lượng cao là tiền đề, là cơ sở quyết định sự thành bại trong công

cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính điều này sẽ là nhân tố khắc phục

những hạn chế vềtài nguyên thiên nhiên , môi trường) vị trí địa lý Do vậy,

cũng như những quốc gia khác trên thế giới, việc phát triển để nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực là con đường duy nhất và nhanh nhất để đưa đất nước

bắt kịp với sự tăng trưởng và phát triển của thế giới Đây là một tất yếu khách

quan, một đòi hỏi thiết thực nhất trong giai đoạn hiện nay

Trang 28

của ngành nghề, điều kiện địa lý, càng đặt vấn để nguồn nhân lực vào vị trí

hết sức quan trọng Hai nội dung cơ bản cửa công nghiệp hoá,hiện đại hoá

nông nghiệp, nông thôn là thực hiện tiến bộ, khoa học công nghệ trong nông

nghiệp, nông thôn đều do lực lượng lao động quyết định Mác đã từng chỉ ra

rằng: “Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độ khéo léo, trung bình của

người công nhân, mức độ phát triển của khoa học, trình độ áp dụng khoa học

vào quy định công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất và điều kiện

thiên nhiên “ [48 tr -213 ].Như vậy, có thể thấy rõ nhân tố con người là nhân tố

hàng đầu, quyết định năng suất lao động của xã hội Trong khu vực nông

nghiệp nông thôn nước ta, vấn đề năng suất lao động thấp là vấn đề hết sức

cấp bách và phải nhanh chóng được giải quyết

Do mặt bằng chung cửa lao động ở nông thôn Việt Nam là còn rất thấp nên chất lượng nguồn lao động sẽ quyết định trình độ tiếp thu và phát triển

khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn, người lao động là nhân tố

báo đám cho sự tiếp thu, ứng dụng cũng như phát triển, những tiến bộ, những

phát minh mới của các ngành khoa học trong nông nghiệp, quá trình cơ giới

hóa, điện khí hóa trong nông nghiệp, nông thôn sẽ không thể hoàn thiện nếu

không có những kỹ sư, cán bộ có trình độ Ngoài ra, nguồn nhân lực ở vùng

nông thôn là yếu tố cơ bản quyết định cơ cấu ngành nghề ở nông thôn Khi

chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn có sự biến đổi thì cơ cấu kinh tế ở

vùng nông thôn sẽ chuyển biến theo hướng ngày càng hiện đại

Trang 29

1.4 Kinh nghiệm một số nước về sử dụng Nguồn Nhân Lực trong

quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá:

Trong số các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa đất nước thành công

thì Nhật Bản và Nic Đông Á là các nước được cả thế giới đánh giá cao trong

việc phát huy và sử dụng nhân tố con người Các quốc gia này có những nét -

tương đồng với Việt Nam về đặc điểm dân tộc, truyền thống văn hóa, điều

kiện tự nhiên Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng nguồn nhân lực các

quốc gia khác là vấn để có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc,

nó không chỉ cho chúng ta thấy rõ những bí quyết thành công, mà còn cho

chúng ta những bài học kinh nghiệm quí giá phục vụ tốt cho quá trình công

nghiệp hoá,hiện đại hoá ở đất nước ta hiện nay

1.4.1 Xác định nhất quán vai trò quyết định của nguồn nhân lực:

So sánh điều kiện khi tiến hành công nghiệp hóa đất nước giữa Nhật Ban và các nước Đông Á với các nước Tây Âu, Mĩ, chúng ta có thể dễ dàng

nhận thấy rằng thiên nhiên đã không ưu ái ban cho những điều kiện thuận lợi

để phát triển Điểm giống nhau giữa các quốc gia Đông Á là diện tích nhỏ

hẹp, dân số đông, thị trường nội địa nhỏ hẹp và tài nguyên thiên nhiên hầu

như không có gì là đặc biệt Chính từ những khó khăn như thế, mà các quốc

gia này sớm nhận thức được rằng nguồn nhân lực là tài sản quí giá nhất và to

lớn nhất Không có con đường nào khác là phải đầu tư vào yếu tố con người,

khai thác tiểm năng nhân lực để bù đắp sự nghèo nàn về tài nguyên thiên

nhiên Vì vậy, ngay từ đầu yếu tố con người đã được đặt ở vị trí trung tâm

trong chiến lược phát triển Đây chính là mục tiêu đầu tư phát triển trong suốt

thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở các quốc gia này

Trang 30

+0

Từ mô hình phát triển kinh tế Đông Á,chúng ta có thể rút ra bài học kinh

nghiệm quí giá: đánh giá đúng các nguồn lực phát triển và từ đó xây dựng mô

hình phát triển phù hợp với các nguồn lực hiện có, tức dựa vào lợi thế so sánh

để xây dựng chiến lược phát triển

1.4.2 Kiên trì tạo dựng vốn người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Nghiên cứu về quá trình phát triển của các quốc gia Đông Á, Tây Âu sẽ

thấy được việc kiên trì tạo dựng nguồn nhân lực của họ, và giáo dục — dao tao

được coi là yếu tố trung tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực

Các nước Nic Đông Á cũng rất chú trọng giáo dục và luôn phấn đấu cho một mục tiêu là biến quốc gia mình thành một xã hội học tập, có học vấn cao

và xác định đó là chìa khóa để nâng cao đời sống cửa người dân và động lực

của sự phát triển Cụ thể như Hàn Quốc, kinh phí đầu tư cho giáo dục không

ngừng tăng lên từ năm 1970 cho đến nay, trung bình cũng đạt mức trên

5%ØGNP

Điểm chung của các quốc gia này là số kinh phí dành cho giáo dục tiểu

học và giáo dục phổ thông là tương đối lớn Nhờ tập trung ưu tiên cho giáo

dục tiểu học và trung học cơ sở mà các nước Đông Á đã tạo ra một tiền đề

vững chắc cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các cấp đào tạo

tiếp theo và đây là điều kiện tiền để cho sự đột phá về trình độ, chất lượng

nguồn nhân lực ở các quốc gia này Sự ưu tiên về tài chính cho giáo dục tiểu

học trong suốt mấy chục năm vừa thể hiện sự kiên trì xây dựng vốn người,

vừa thể hiện nhận thức đúng đắn của các quốc gia trong việc lựa chọn chiến

lược phát triển Đây cũng chính là bài học kinh nghiệm cho nước ta trong khi

ngân sách dành cho giáo dục còn thấp Xây dựng vốn người còn được thể

hiện ở những nổ lực nâng cao thể lực cho nguồn nhân lực Các quốc gia này

Trang 31

rất chú trọng đến việc chăm sóc sức khoẻ cho thế hệ trẻ Giáo dục thể chat

được coi trọng và bắt buộc ở tất cả các trường học Trong giai đoạn đầu, Nhật

Ban và Hàn Quốc chú trọng phát triển giáo dục phổ cập Đến những năm 80

của thế kỉ trước, các quốc gai này lại tập trung đầu tư cho giáo dục đại học và

nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao kiến thức chuyên sâu cho nguồn nhận

lực đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnh kỹ thuật, công nghệ cao Do đó, tránh được

những lãng phí về vật chất và nhân lực

Đầu tư cho phát triển con người đòi hỏi phải có chi phí lớn và kết quả

không thể thấy ngay được Vì vậy, cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này để

mạnh dạng đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công

nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

1.4.3 Chú trọng khai thác năng lực sáng tạo của người lao động?

Tính quyết định của nguồn nhân lực còn được thể hiện ở năng lực sáng tạo Mối bật nhất là việc thu hút sáng kiến của mọi cá nhân trong các công ty

của Nhật Bản Tất cả những sáng kiến đó dù lớn hay nhỏ đều được trân trọng

và đánh giá khách quan, có chế độ khen thưởng và động viên kịp thời nên đã

thu hút được rất nhiều sáng kiến đóng góp

Nhờ có những chính sách đúng đắn trong việc bồi dưỡng, ưu đãi và sử

dụng nguồn nhân lực mà các quốc gia này ít chịu thiệt hại về nạn chảy máu

chất xám - đây là vấn đề nóng bỏng ở các nước đang phát triển và ở nước ta

hiện nay Có thế khẳng định rằng, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài

là một bộ phận hết sức quan trọng trong việc sử dụng nguồn nhân lực ở các

quốc gia này

Trang 33

Chuong 2:

THUC TRANG VE NGUON NHAN LUC

VUNG NGOAI THANH , THANH PHO HO CHi MINH

CUNG NHU NHUNG VAN DE CON TON TAI CUA

NGUON NHAN LUC

2.1 Sơ lược tình hình tự nhiên kinh tế xã hội vùng ngoại thành ,thành phố

Hồ Chí Minh:

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của vùng ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh:

Thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội lớn

cúa đất nước Nằm trên một vùng đôi thấp với diện tích 290501km”, phía Bắc

giáp Tây Ninh, phía Tây giáp Long An, phía Đông giáp Đồng Nai, Bình

Dương phía Nam giáp biển Thành phố là nơi hội tụ của hệ thống giao thông

huyết mạch cả đường không, đường bộ, đường thủy

Do có vị trí thuận lợi cùng một quá trình lịch sử lâu dài, Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đội ngũ lao động

khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề vào loại cao nhất cả nước Tốc độ

tăng trưởng kinh tế trung bình của thành phố đạt trên 10%

Vùng nông thôn — ngoại thành trước đây được xác định bao gồm cả các

quận vùng ven Hiện nay, dường như chưa có tiêu chuẩn để xác định vùng

nông thôn ngoại thành, chẳng hạn theo tổng điều tra dân số 01/04/1999 thì

vùng nông thôn được xác định là 5 huyện trừ 4 thị trấn của 4 huyện 7y

Trang 34

33

nhiên, theo đa số tác giả, thì vàng nông thôn — ngoại thành được xác định là 5

huyện ngoại thành Cú Chỉ, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ nằm

trong cơ cấu tổng thể kinh tế - xã hội của có diện tích đất nông nghiệp

99.164ha, lâm nghiệp 34.657 ha và trên 35.500 ha mặt nước ao hồ sông rạch

2.1.2 Sự hình thành phát triển vùng đất con người:

Thành Phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức lễ kỷ niệm 300 năm hình thành và phát triển Đầu thế kỷ XVII, một số người từ miền Trung và miền Bắc kéo

vào sinh sống Nhờ điều kiện địa lý đặc biệt thuận lợi cho giao lưu và phát

triển kinh tế, số cư dân đã tăng lên nhanh chóng Từ mấy ngàn người lúc đầu,

đến năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định, số dân ở đây có khoảng

một vạn Đến cuối thế kỷ XIX, đã có hơn § vạn người Đầu đại chiến thế giới

lần thứ nhất, Sài gòn - Hòn ngọc Viễn Đông có số dân lên đến 30 vạn Năm

1945, số dân Sài Gòn - Chợ Lớn tăng vọt là 85 vạn Hiện nay, thành phố Hồ

Chí Minh có 5.558.225 Trong đó, vùng ngoại thành chiếm 1.913.442 người

Sau năm 1975 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng bộ Thành Phố Hồ

Chí Minh đã xác định phương hướng, nhiệm vụ, bước đi của nông nghiệp và

nông thôn ngoại thành là “Vành đai nông nghiệp cần đảm bảo cung cấp một

phần quan trọng nhu cầu thực phẩm cho Thành Phố Hồ Chí Minh và dành một

phần cho xuất khẩu; đồng thời đáp ứng nhu cầu lương thực cho nông dân

ngoại thành và cho chăn nuôi.” Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành Phố Hồ Chí

Minh lần thứ I]

2.1.3 Hiện trạng kinh tế xã hội vùng ngoại thành ,thành phố Hồ Chí Minh:

- Nghị quyết hội nghị lần thứ V BCHTW Đảng khóa IX về đẩy nhanh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 — 2010 (số

15 NQTW ngày 18/3/2002) đá có đánh giá và chỉ dao: [ 16 tr 184 |

Trang 35

+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn chuyển dịch chậm, chưa theo sát với thị trường; sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manh

mún, mang nhiều yếu tố tự phát; đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân ở nhiều vùng nông thôn còn thấp kém

+ Hệ thống quản lý, chỉ đạo phát triển nông nghiệp và nông thôn chưa

đáp ứng được yêu cầu phát triển sắn xuất hàng hóa xây dựng nông thôn

mới

+ Trong tổ chức chỉ đạo thực hiện nghị quyết đặc biệt quan tâm xây

dựng đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên và cứng cố các cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, coi đây là nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện dai hoá nông nghiệp, nông thôn

Thời gian qua, vùng nông thôn — ngoại thành đã đạt được những kết quả

rất khả quan trong phát triển kinh tế- xã hội Giá trị của ngành công nghiệp

đã đạt khoảng 55.5% Kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có chuyển biến

tích cực Đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nhanh, đất nông nghiệp bị thu hẹp lại dần nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng khá cao (2001 tăng 3,3%; 2002 tăng 4,7%; 2003 tăng 5.5%) [ 35 tr 47-48 ] Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và thương mại -dịch vụ nông thôn ngoại thành phát triển khá cao theo đúng chiến lược và qui hoạch chung của

Trang 36

35

- Tuy vậy, kinh tế-xã hội vùng nông thôn — ngoai thanh van cOn mét sé

khó khăn tôn tại Đặc biệt là sự chênh lệch đời sống so với vùng nội thành

Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chậm; công nghiệp nông thôn tuy

đã phát triển nhưng chỉ tập trung vào một số ngành nhất định chưa đáp ứng

được yêu cầu của công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, các

ngành phi nông nghiệp ở nông thôn như công nghiệp chế biến, thủ công

nghiệp xây dựng dịch vụ chưa phát triển rộng khắp `

Một nền kinh tế muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao, cần phải có đội ngũ lao động được đào tạo có chất lượng tốt với số lượng và cơ cấu hợp lý Thực

hiện quá trình đô thị hóa, qui hoạch và phát triển kinh tế xã hội thành phố

trong các năm qua dân số khu vực nông thôn ngoại thành thành phố, cũng như

nguồn lao động vùng ngoại thành đã có sự biến đổi nhanh chóng Lực lượng

lao động ở khu vực nông thôn năm 1993 có 689.579 người chiếm tỷ lệ 27.92%

tổng số lao động thành phố Năm 1997 có 591.919 người chiếm tỷ lệ 20.3%

Tổng số lao động vào năm 2001 còn 550.867 người chiếm tỷ lệ 15.98%; 2003:

450640 người với tý lệ 13.45%

Như vậy, lực lượng lao động ở vùng nông thôn — ngoại thành liên tục có

xu hướng giảm xuống trong các năm Xác định rõ tầm quan trọng của việc

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn Trong những năm

đổi mới, Đảng ta đã có chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực ở khu

vực này như đã thực hiện nhiều giải pháp cụ thể để gắn phát triển nông

nghiệp và kinh tế nông thôn, với chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp,ưu

tiên đầu tư cho kinh tế dịch vụ nông nghiệp và xã hội nông thôn; mở rộng

nhiều ngành nghề và giải quyết việc làm thu hút lao động tại chỗ; tạo việc

làm, tố chức dạy nghề, xã hội hóa giáo dục, cho vay vốn Các công việc trên

Trang 37

đã đạt được các kết quả quan trọng như: tăng cường quản lý nguồn lao động ở

nông thôn, xác định được các nhu cầu nghề nghiệp và việc làm; thực hiện các

chương trình việc làm đối với nông thôn

Kết quả của các chương trình trên đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao

động ở vùng nông thôn theo hướng ngày càng phù hợp với nền kinh tế hiện

đại

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh:

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc dân số:

Theo thống kê năm 1975 dân số thành phố khoảng có 3 triệu người,

nhưng đã tăng lên đến 5.630.192 người trong năm 2003 Ở ngoại thành là

1.059.316 người [ 35 tr 40-41 ] Những năm gần đây, dân cư có xu hướng

chuyển từ nội thành ra ngoại thành nên các quận ven và quận mới đều có tỷ

lệ tăng dân số cơ học cao và đó cũng là phù hợp với yêu cầu giản dân, đô thị

hóa Tất nhiên, trong số này có tỷ lệ nhập cư khá lớn từ các tỉnh đến, mà tuyệt

đại bộ phận là trong độ tuổi lao động và là lao động pho thong nên càng làm

tăng thêm sức ép về giải quyết việc làm và các vấn đê xã hội khác đối với

thành phố

Trang 38

Bảng 2.I : Diện tích- dân số và đơn vị hành chánh các huyện ngoạithànhnăm 2003

Nhà Bè 7 100,41 68856 686 Cần Giờ 7 704,22 64183 91

Bình Chánh 20 304,57 440,083 1445

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 2003

Ef thành thị nông thôn

Trang 39

2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2.1 Trình độ học vấn:

Tý lệ biết chữ chung toàn thành phố là 94.4%, nam 95.6%, nữ 93.2%

Thành thị 94.7%, nông thôn 92.8%

Công tác giáo dục thời gian qua, thành phố đã có nhiều cố gắng và đạt

được những thành quả nhất định Tuy nhiên, số em chưa bao giờ đến trường,

hoặc đã đi học nhưng phải bỏ học ngay từ những năm đầu phố thông còn

chiếm tỷ lệ khá lớn

Ở ngoại thành, ta thấy có 42% các em bỏ học vì lý do kinh tế, 30%

không thích học vì mất động lực và 28% vì lý do khác [ Tổng điều tra dân số

1999]

Số liệu ngành giáo dục qua nhiều năm, chỉ rõ: cứ 100 em vào lớp l, có

87 em học hết tiểu học, 66 em học hết trung học cơ sở, và chỉ có 35 em học

đến năm cuối phổ thông trung học

BIẾU2.2: TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA NHÂN KHẨU TỪ 16 TUỔI TRỞ LÊN

Trang 40

39

Là vùng nông thôn — ngoai thành nhưng với vị trí gần trung tâm kinh

tế văn hóa xã hội lớn của cả nước, nên trình độ học vấn trung bình của người

dân khá cao; Năm 2000 là 5.5% (khu vực thành thị là 7.1%) Trình độ văn hóa

của người lao động ở nông thôn — ngoại thành tăng rất nhiều so với giai đoạn

1993 — 1997 nhưng hiện nay vẫn còn 60% lao động có trình độ văn hóa dưới

trung học cơ sở là một khó khăn lớn trong công tác đào tạo, dạy nghề và bố trí

việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng: tỷ lệ học sinh bỏ học ở bậc phố

thông có xu hướng gia tăng, tập trung chủ yếu ở các hộ có hoàn cảnh khó

khăn Nguyên nhân chủ yếu là do cha mẹ các em chưa quan tâm đến vấn đề

học hành của các con hoặc chi phối học hành của các em ngày càng cao, vượt

quá khá năng trang trải của gia đình

Giáo dục phổ thông mà tối thiểu là phải hoàn thành phổ cập phổ thông

cơ sở là điều kiện tiền đề cần thiết để một người có thể bước vào lực lượng

lao động hoặc tiếp tục học nghề, hoặc học lên cao nữa Năm 2000, Việt Nam

công bố thanh toán xong nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Đó là một

thành công lớn của Đảng và nhà nước ta trong chiến thắng giặc dốt Nhưng,

thực tế vùng nông thôn ta nói chung và vùng nông thôn ngoại thành Thành

phố Hồ Chí Minh nói riêng đang đặt ra những đòi hỏi bức thiết cho trình độ

văn hóa của người lao động Với mục tiêu là đến năm 2010 hoàn thành phổ

cập phổ thông cơ sở đã nói lên quyết tâm xây dựng một đội ngũ lao động có

trình độ cửa Đảng bộ và nhân dân thành phố

Có thể nói trình độ văn hóa của người lao dộng ở vùng nông thôn —

ngoại thành , thành phố Hồ Chí Minh khá cao so với mặt bằng chung của cá

Ngày đăng: 05/01/2022, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm