1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

La nguyen cong long nop ra qd cap hv

182 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Pháp Luật Về Lao Động Đối Với Người Chấp Hành Án Phạt Tù Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Công Long
Người hướng dẫn GS,TS. Trần Ngọc Đường
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu về lao động đối với NCHAPT dưới giác độ thực hiện pháp luật THPL sẽ không chỉ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về THPL nói chung, mà qua đó còn khẳng định bản chất

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN CÔNG LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN CÔNG LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 9 38 01 06

Người hướng dẫn khoa học: GS,TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Công Long

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 25

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ 29

2.1 Khái niệm, hình thức, vai trò thực hiện pháp luật về lao động đối với

2.2 Nội dung, yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động

2.3 Thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở

một số nước trên thế giới và những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam 76

Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 91

3.1 Thực trạng thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay 91

3.2 Kết quả đạt được và những hạn chế trong thực hiện pháp luật về lao động

Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở VIỆT NAM 124

4.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp

4.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 166

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCA : Bộ Công an BLHS : Bộ luật Hình sự BLLĐ : Bộ luật Lao động BQP : Bộ Quốc phòng CĐLĐ : Chế độ lao động NCHAPT : Người chấp hành án phạt tù

PN : Phạm nhân TAND : Tòa án nhân dân

TG : Trại giam THAHS : Thi hành án hình sự THAPT : Thi hành án phạt tù THPL : Thực hiện pháp luật UBTP : Ủy ban Tư pháp VKSND : Viện Kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 3.1: Thống kê tổng số và cơ cấu độ tuổi người chấp hành án phạt tù 96

Biểu đồ 3.1: Kết quả cải tạo của người chấp hành án phạt tù 106

Bảng 3.2: Thống kê về cơ cấu ngành nghề được khảo sát tại một số

trại giam phía Bắc 112

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục cải tạo nhằm đưa người phạm tội trở lại với đời sống xã hội là mục tiêu cao cả, nhân văn luôn được đề cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bởi vậy, mặc dù phạt tù là một trong những hình phạt nghiêm khắc nhất, người

bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội (Điều 3 Bộ luật Hình sự (BLHS)) Song, với bản chất nhân đạo của pháp luật, người chấp hành án phạt tù (NCHAPT) vẫn được bảo đảm những quyền con người cơ bản thông qua các chế độ: ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, lao động, học nghề, học văn hóa, vui chơi, giải trí Trong đó, lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ vì chiếm thời lượng nhiều nhất ở khía cạnh thời gian vật chất, mà còn ở vai trò chi phối quá trình giáo dục cải tạo

và chuẩn bị các điều kiện để người bị kết án tù tái hòa nhập cộng đồng

Tuy nhiên, do NCHAPT phải sống trong môi trường đặc biệt, bị cách ly khỏi xã hội, bị tước và hạn chế nhiều quyền cơ bản, nên việc sử dụng lao động đối với NCHAPT cho dù vì bất cứ mục đích gì, cũng luôn là chủ đề hết sức nhạy cảm Ngày nay, quyền con người đã trở thành một giá trị phổ quát, lao động đối với NCHAPT càng trở nên là vấn đề được quan tâm của cộng đồng quốc tế Việc thực hiện các chế độ đối với NCHAPT trong đó có chế độ lao động (CĐLĐ), luôn là một trong những biểu hiện rõ nét nhất chính sách hình sự của một nhà nước Đây cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ tiến bộ hay lạc hậu, nhân đạo hay hà khắc của một hệ thống tư pháp hình sự Như cố Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đã từng khẳng định: “Một người không thực sự hiểu một đất nước cho đến khi họ vào tù Không nên đánh giá một đất nước theo cách

mà họ đối xử với những công dân danh giá nhất mà là những người thấp hèn nhất” [72] Vì vậy, nghiên cứu về lao động đối với NCHAPT dưới giác độ thực hiện pháp luật (THPL) sẽ không chỉ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về THPL nói chung, mà qua đó còn khẳng định bản chất nhân đạo, tính ưu việt trong thực thi chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam

Trang 8

Những năm vừa qua, tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội ở Việt Nam

có chiều hướng gia tăng, số người bị kết án phạt tù luôn ở mức cao Tính từ năm

2011 đến 2018, hằng năm có từ 61.045 đến 80.112 người bị kết án phạt tù được đưa đi chấp hành án, tổng số NCHAPT tại các trại giam (TG) có từ 124.307 đến 160.847 người [17, tr.25; 24, tr.25] Với thực trạng này, vấn đề nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo NCHAPT là yêu cầu vừa có tính cấp bách, vừa lâu dài Thực tiễn tổ chức lao động cho NCHAPT tại các TG ở Việt Nam nhiều năm qua chưa hiệu quả Nhận thức của người có thẩm quyền trong thi hành án phạt tù (THAPT) trong tổ chức lao động và thực hiện các chế độ khác đối với NCHAPT chưa đầy đủ [78, tr.8] Kết quả tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” đã khẳng định, hạn chế nhất hiện nay chính là việc THPL trên các lĩnh vực Vì vậy, định hướng

chiến lược trong giai đoạn mới là “chuyển trọng tâm từ ưu tiên xây dựng pháp luật sang đẩy mạnh tổ chức thực thi pháp luật” [39, tr.51] Với yêu cầu đó, việc

nâng cao nhận thức THPL về lao động đối với NCHAPT về lý luận cũng như đánh giá thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng

Từ những vấn đề nêu trên, việc triển khai nghiên cứu, đánh giá đầy đủ cả

về lý luận cũng như thực tiễn THPL về lao động đối với NCHAPT tại Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp cụ thể có ý nghĩa cấp thiết Đây là lý do tác giả đã

lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam” làm đề tài luận án Tiến sĩ luật

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn THPL về lao động đối với NCHAPT ở Việt Nam Thông qua đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả THPL trong lĩnh vực này, đồng thời, kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật về lao động và pháp luật về thi hành án hình sự, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các các điều ước quốc tế về lao động cưỡng bức mà Việt Nam đã gia nhập

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra những vấn đề cụ thể cần giải quyết như sau:

- Tập hợp, phân tích tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Xây dựng khái niệm, hình thức, vai trò, đặc điểm THPL về lao động đối với NCHAPT

- Phân tích rõ nội dung, yêu cầu, các yếu tố bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT

- Nghiên cứu, đối chiếu, so sánh THPL về lao động đối với NCHAPT ở một số nước trên thế giới Qua đó, tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng THPL về lao động đối với NCHAPT Làm rõ những kết quả đạt được và hạn chế; nguyên nhân khách quan, chủ quan của những hạn chế

- Xác định quan điểm và đề xuất những giải pháp cụ thể và khả thi nhằm bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Những quan điểm khoa học về THPL về lao động đối với NCHAPT

- Hệ thống quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến THPL về lao động đối với NCHAPT Theo đó, hệ thống pháp luật được tiếp cận theo hướng

đa ngành, gồm: hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, quyền con người, lao động, giáo dục, đầu tư, quy hoạch, thương mại, kế toán,

- Thực tiễn vận hành CĐLĐ đối với NCHAPT thông qua 4 hình thức THPL, qua đó, làm nổi bật sự tương phản giữa hai nhóm chủ thể là NCHAPT và

cơ quan THAPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về không gian: đề tài xác định phạm vi nghiên cứu trong cả nước

- Nội dung nghiên cứu của luận án có liên quan đến lĩnh vực THAPT thuộc thẩm quyền các cơ quan thuộc Bộ Công an (BCA): Tổng cục Cảnh sát thi

Trang 10

hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (nay là Cục Cảnh sát quản lý TG, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng - C10) và các TG thuộc BCA

- Về thời gian: tập chung chủ yếu giai đoạn 2011 - 2018

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), về chính sách hình sự, chiến lược cải cách tư pháp, chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam

Đề tài được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung của từng chương:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp trong đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài (Chương 1);

- Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp quy nạp để xây dựng các khái niệm; phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để nghiên cứu các hình thức, vai trò, nội dung, các yếu tố bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT Phương pháp so sánh trong quá trình đối chiếu, đánh giá về THPL về lao động đối với NCHAPT một số nước trên thế giới và những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam (Chương 2);

- Phương pháp thống kê nhằm phân tích, đánh giá thực trạng, kinh nghiệm thực tiễn có liên quan tới THPL về lao động đối với NCHAPT (Chương 3) Phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc đề xuất các quan điểm, giải pháp cụ thể (Chương 4)

5 Những đóng góp khoa học của luận án

Với những nội dung, nhiệm vụ được nghiên cứu, luận án thể hiện một số điểm mới sau:

- Về phương diện lý luận, xây dựng được khái niệm, vai trò, nội dung, các yếu tố bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT Làm phong phú, sinh động lý luận về THPL trong thi hành án hình sự (THAHS) nói chung và THAPT nói riêng

Trang 11

- Từ thực tiễn THPL về lao động đối với NCHAPT, luận án phân tích cụ thể những điểm ưu việt, đồng thời, phân tích những hạn chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan trong THPL về lĩnh vực này

- Luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp khả thi bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT trong tình hình mới, hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo người phạm tội bị kết án phạt tù

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

- Về lý luận: luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu về THPL về lao động đối với NCHAPT Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện

lý luận về THPL nói chung, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, chỉ rõ thực trạng THPL trong một lĩnh vực tư pháp chuyên biệt, làm cơ sở cho việc kiểm chứng chính sách hình sự, qua đó, đề xuất các giải pháp bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về hình sự cũng như pháp luật về THAHS, đặc biệt là các quy định về lao động đối với NCHAPT

- Về phương diện thực tiễn: luận án là tài liệu đáng tin cậy và hữu ích cho giáo viên, sinh viên, học viên tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập; làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý THAHS và cơ quan THAPT, trong việc nghiên cứu, vận dụng trong xây dựng pháp luật và THPL Kết quả nghiên cứu cũng sẽ cung cấp các dữ liệu tin cậy có thể sử dụng trong quá trình đấu tranh với các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

THAPT nói riêng và THAHS nói chung thường được nghiên cứu theo chuyên ngành hình sự, tố tụng hình sự hoặc chuyên ngành quản lý nhà nước Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã xây dựng hệ thống khái niệm, làm rõ đặc trưng, nội dung, lịch sử hình thành cũng như đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp về THAHS Ở các bình diện và mức độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn, nhiều công trình nghiên cứu có đề cập về lao động đối với NCHAPT với tư cách là một chế định pháp lý quan trọng trong THAPT Nhưng có thể thấy, các công trình hầu hết mới chỉ đánh giá dưới giác độ áp dụng pháp luật và đặt trong tổng thể các chế độ pháp lý được cơ quan THAHS tổ chức thực hiện trong quá trình tổ chức THAHS Có thể điểm qua các công trình nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận về thi hành án hình sự

- Ở phương diện tổng thể nghiên cứu về thi hành án nói chung, có thể kể

đến Đề tài khoa học cấp bộ “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án” [13] của Bộ Tư pháp (2000) và Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” [14] của Bộ Tư pháp (2003) Đây là hai công trình nghiên

cứu tổng thể cả về lý luận và thực tiễn về thi hành án, trong đó, ở công trình

“Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành

án ở Việt Nam trong giai đoạn mới”, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cả về lịch

sử hình thành, hệ thống tổ chức và thực tiễn thi hành án ở cả ba lĩnh vực: THAHS, thi hành án dân sự và thi hành án hành chính Kết quả nghiên cứu đã

chỉ ra bản chất pháp lý của hoạt động thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp, nhằm bảo đảm thực thi các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án Đây

Trang 13

là luận điểm quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng và thi hành án theo hướng đề cao vai trò của hệ thống cơ quan THAHS và cơ quan THADS, phân định rõ giai đoạn tố tụng và thi hành án Về THAHS, với việc đánh giá toàn diện thực trạng, kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thi hành các hình phạt, trong đó đối với THAPT là việc thực hiện các chế độ: giam giữ, giáo dục, lao động, học nghề, chăm sóc sức khỏe Đề tài đã

đề xuất phương án dân sự hóa hoạt động THAPT theo hướng giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp luận cứ cho việc hoạch định Chiến lược cải cách tư pháp, nhất là chủ trương “Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án” [14]

- Phạm Văn Lợi (2006) trong bài viết nghiên cứu “Thực trạng pháp luật thi hành án phạt tù và phương hướng hoàn thiện” [52, tr.63-69], đã đánh giá

tổng quát thực trạng tổ chức và hoạt động THAPT ở Việt Nam theo Pháp lệnh THAPT năm 1993 Theo tác giả, kết quả lớn nhất từ năm 1993 đến 2006 (thời điểm đang chuẩn bị xây dựng Bộ luật Thi hành án) là đã tổ chức đưa 300.000 lượt người bị kết án tù đến chấp hành án tại các TG và đã hoàn trả cho xã hội 200.000 người cải tạo tiến bộ, số tái phạm chỉ dưới 20% Về tổ chức lao động, tác giả cho rằng, chủ yếu là trồng trọt, nấu ăn cho bếp của trại, việc dạy nghề hay hướng nghiệp cho NCHAPT chưa được chú trọng Về các giải pháp, tác giả đề

xuất phương án hoàn thiện pháp luật về thi hành án theo mô hình giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án Trong các giải

pháp cụ thể, tác giả mới chỉ tập trung cho việc tái hòa nhập cho người chấp hành xong án phạt tù, trong đó nhấn mạnh ý nghĩa của công tác dạy nghề mà không đề cập tới nhiệm vụ tổ chức lao động trong TG

- Ngoài các công trình trên, trong Luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự” [42] của Vũ Trọng Hách (2004),

qua việc phân tích đặc trưng cơ bản của tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước trong THAHS, làm rõ chủ thể, khách thể, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Trên cơ sở đánh giá các kết quả, hạn chế của hoạt động

Trang 14

quản lý nhà nước về THAHS, tác giả đã đề 7 giải pháp nâng cao hiệu quả và kiện toàn quản lý nhà nước về thi hành án, trong đó có một số giải pháp đồng nhất với quan điểm được đưa ra tại hai đề tài nêu trên như: (1) xây dựng bộ máy quản lý tập trung thống nhất trong lĩnh vực thi hành án theo hướng chuyển giao nhiệm vụ quản lý THAHS từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; (2) xây dựng cơ chế thu hút sự tham gia động đảo của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội vào hoạt động quản lý nhà nước về THAHS; (3) nghiên cứu hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động THAPT

Vấn đề giao cho Bộ Tư pháp đảm nhận nhiệm vụ quản lý và tổ chức THAHS là một chủ trương rất lớn được nhiều công trình nghiên cứu đề xuất Tuy nhiên, qua hơn 8 năm triển khai “Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020”,

năm 2013, chủ trương này đã được đánh giá lại Tại “Kỷ yếu Hội thảo khoa học

về tổ chức, quản lý công tác thi hành án” [4], Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2013) khẳng định, thi hành án là một hoạt động tư pháp nên cần có

phương thức tổ chức và quản lý thích hợp để đảm bảo sự vận hành thông suốt Qua đánh giá tình hình kinh tế, an ninh, chính trị trong nước và thực tiễn triển khai thi hành Luật THAHS, việc giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực công tác thi hành án là chưa phù hợp Từ kết quả nghiên cứu trên, các cơ quan có thẩm quyền đã cân nhắc kỹ lưỡng và quyết định điều chỉnh Với việc tiếp tục mô hình cơ quan quản lý THAHS và hệ thống THAPT thuộc BCA, đặt ra nhiệm vụ của luận án việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức lao động tại các TG phù hợp với tính chất, yêu cầu tổ chức của lực lượng vũ trang Đồng thời, bảo đảm quyền cơ bản của NCHAPT và thu hút sự tham gia rộng rãi của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động này Trong luận án, tác giả tiếp tục phát triển và đề xuất những giải pháp cụ thể

về những vấn đề này

- Sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận với thực tiễn” [111] của Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh

Kháng (2006) Cuốn sách không chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản

về THAHS, tổng kết thực trạng THAHS nhằm tổng hợp kinh nghiệm thành

Trang 15

công, hạn chế của công tác THAHS, đồng thời xây dựng luận cứ khoa học cho nhiệm vụ đổi mới công tác THAHS Các tác giả đồng thời nghiên cứu hệ thống

TG và chế độ giam giữ, THAPT tại nhiều Về nhiệm vụ của TG ở Việt Nam, tại Chương XIV, các tác giả phân chia thành 4 nhóm nhiệm vụ của chủ thể này, trong đó đều nhấn mạnh vai trò của tổ chức lao động đối với NCHAPT, cụ thể là: (1) Nhóm các nhiệm vụ quản lý giam giữ, trong đó có việc tổ chức lao động bằng các hình thức đa dạng, phong phú và chủ yếu thông qua lao động bắt buộc

để cải tạo NCHAPT (2) Nhóm các nhiệm vụ về giáo dục NCHAPT, có nội dung giáo dục cải tạo NCHAPT thông qua lao động, giáo dục các hoạt động sản xuất theo kế hoạch của TG (3) Nhóm các nhiệm vụ liên quan đến thực hiện chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NCHAPT, trong đó có việc thực hiện các chế độ về ăn, ở, mặc, sinh hoạt, lao động, chăm sóc sức khỏe (4) Nhóm các nhiệm vụ xây dựng, phát triển và quản lý cơ sở vật chất của TG, trong đó có nhiệm vụ tổ chức sản xuất để cải thiện một phần đời sống của cán

bộ TG và NCHAPT

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên có điểm chung là hệ thống khái niệm cũng như cách tiếp cận của các tác giả dựa trên cơ sở pháp luật về THAPT từ năm 1993 trở về trước Vì vậy, một số luận điểm không còn phù hợp với hệ thống pháp luật cũng như các quan điểm, mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp Cụ thể: quan điểm về việc tổ chức sản xuất tại các TG để cải thiện một phần đời sống của cán bộ các TG đã được áp dụng trong thời gian dài do những điều kiện lịch sử, hiện không còn phù hợp với định hướng, mục tiêu cải cách tư pháp và tinh thần Hiến pháp 2013

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam

- Đề tài khoa học cấp bộ “Tổ chức lao động sản xuất và dạy nghề cho phạm nhân trong các trại giam thuộc lực lượng Công an nhân dân” [29] của

Cục quản lý TG, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng (Cục V26), Bộ Công an (1998) Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức lao động đối với NCHAPT trong các TG thuộc Bộ Công an ở Việt Nam Về phương diện lý luận,

Trang 16

quan điểm có tính xuyên suốt là nhấn mạnh ý nghĩa của lao động qua việc rèn luyện ý thức, thói quen lao động trong quá trình giáo dục cải tạo NCHAPT

Theo đó, mô hình giáo dục cải tạo thực hiện phương châm kết hợp giữa giáo dục chính trị, pháp luật, văn hoá với giáo dục lao động và dạy nghề cho NCHAPT

Có thể thấy, mô hình tổ chức lao động giai đoạn này căn cứ trên cơ sở Pháp lệnh THAPT năm 1993 với việc phân thành 3 loại TG để giam giữ riêng NCHAPT Với sự thay đổi căn bản về mô hình giam giữ phạm nhân (PN) từ năm 2008, điều này đòi hỏi, mô hình tổ chức lao động cũng phải thay đổi căn bản

- Tại “Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về pháp luật thi hành án hình sự” [79], đây

là kết quả nghiên cứu đúc kết từ hoạt động hợp tác giữa Uỷ ban Tư pháp và Dự

án hỗ trợ thực hiện chính sách của Canada - PIAP (2010) Kết quả nghiên cứu này là dữ liệu quan trọng cho việc xây dựng dự án Luật THAHS chuẩn bị trình

Quốc hội Về tổ chức lao động cho NCHAPT, theo Phạm Đức Chấn, chính sách hình sự nhân đạo của nhà nước ta là lao động của NCHAPT nhằm mục đích giáo dục họ trở thành người lao động chân chính, có ích cho xã hội, hoàn toàn không mang mục đích lợi nhuận kinh tế Đánh giá thực trạng công tác tổ chức

lao động tại các TG với nhiều hạn chế, tác giả đề xuất 4 giải pháp: (1) Thành lập các trung tâm dạy nghề tại các TG; (2) Mở rộng hợp tác, liên kết, liên doanh với các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp để phát triển các ngành nghề; (3) Hoàn thiện CĐLĐ, dạy nghề và sử dụng kết quả lao động của NCHAPT theo hướng phân phối hài hoà lợi ích giữa người trực tiếp lao động và người phục vụ hoặc được miễn lao động; (4) Thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục lao động, dạy nghề cho NCHAPT Các luận điểm cũng như kết quả đánh giá thực trạng và nhất

là các giải pháp được nêu trong hai công trình trên là cơ sở để tham khảo để tác giả phát triển trong luận án của mình

- Luận án Tiến sĩ “Phòng ngừa tội phạm thông qua hoạt động thi hành án phạt tù của lực lượng Cảnh sát nhân dân hiện nay” [66] của Lê Văn Thư (2004)

Đây là công trình nghiên cứu ở góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm thông qua hoạt động thi hành án phạt tù của lực lượng Cảnh sát nhân dân Với phạm vi là các vấn đề lý luận, thực tiễn về phòng ngừa tội phạm thông qua hoạt

Trang 17

động thi hành án phạt tù trong các TG thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân giai đoạn 1993 - 2002 Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện vấn

đề nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học Luận án làm rõ thực trạng cơ cấu, tính chất, đặc điểm tình hình NCHAPT, thực trạng tội phạm do NCHAPT gây ra

trong quá trình chấp hành án Tác giả đã đưa ra luận điểm về sử dụng biện pháp đưa chương trình phát triển kinh tế, lao động, việc làm vào các TG, biến TG thành các cơ sở lao động, sản xuất để cải tạo người phạm tội Dưới giác độ tội

phạm học thì đây là biện pháp giáo dục, vừa là giải pháp phòng ngừa tội phạm

và vi phạm pháp luật trong TG Đây là luận điểm có liên quan mật thiết đến nội dung được nghiên cứu trong luận án

- Trong Luận án Tiến sĩ “Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù tại Việt Nam” [62] của Nguyễn Đức Phúc

đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng THPL về quyền con người của NCHAPT ở Việt Nam dưới góc độ khoa học lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Về đối tượng, phạm vi, Luận án nghiên cứu THPL về quyền con người của NCHAPT tại các TG, trại tạm giam, nhà tạm giữ Luận án

đã đề cập tới vấn đề lao động của NCHAPT dưới giác độ THPL về quyền con người Tác giả cho rằng, bảo đảm quyền được lao động của NCHAPT đã góp

phần quan trọng vào việc giáo dục NCHAPT bằng lao động sản xuất Có thể nói,

kết quả nghiên cứu và luận điểm của tác giả có liên quan mật thiết và cung cấp

dữ liệu tham khảo quan trọng của luận án Đặc biệt, dưới giác độ quyền con

người, quan điểm khẳng định lao động là một quyền cơ bản mà không đơn thuần

chỉ là nghĩa vụ của NCHAPT Về mặt lý luận, quan điểm này đã gợi mở các hướng tiếp cận đa chiều về THPL về lao động đối với NCHAPT nói riêng cũng như THPL trong THAHS nói chung

- Ngô Văn Trù trong Luận án Tiến sĩ “Giáo dục pháp luật cho PN trong các TG ở Việt Nam” [70], trên cơ sở xây dựng khái niệm, đặc điểm, vai trò, các

yếu tố cấu thành, các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục pháp luật cho NCHAPT, tác giả đã xác định những quan điểm và đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm THPL trong lĩnh vực giáo dục pháp luật đối với NCHAPT Tác giả phân

Trang 18

tích 02 mô hình chủ yếu về giáo dục cải tạo NCHAPT: (1) Mô hình giáo dục cải

tạo thông qua CĐLĐ cưỡng bức đối với NCHAPT, đồng thời, tạo điều kiện để

NCHAPT tự giáo dục pháp luật (2) Mô hình tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật dành cho NCHAPT bằng những hình thức đa dạng Tác giả nêu quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật, dạy nghề lao động qua đó nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật đối với NCHAPT Đây là những luận điểm có liên quan mật thiết đến luận án Luận án có cùng đối tượng nghiên cứu, đó là NCHAPT tại các TG trong cả nước, vì vậy, kết quả nghiên cứu của công trình này cung cấp nhiều luận cứ khoa học và số liệu tham khảo Tuy nhiên có thể thấy rằng, vấn đề chưa được luận giải đó là vai trò nền tảng và tính chi phối của

hoạt động lao động trong tổng thể giáo dục cải tạo đối với NCHAPT trong suốt

quá trình chấp hành án

- Luận án Tiến sĩ “Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách

tư pháp” [55] của Nguyễn Văn Nam Là công trình nghiên cứu thuộc chuyên

ngành hình sự, tố tụng hình sự, thông qua việc xây dựng khái niệm THAPT trên

các mặt lập pháp, lý luận và thực tiễn, tác giả đã luận giải nội dung, ý nghĩa, đặc

trưng của THAPT với thi hành các hình phạt khác Tác giả cũng đánh giá thực trạng THAPT chỉ rõ những kết quả đạt được và những hạn chế, trong đó, công tác tổ chức lao động, dạy nghề bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như thị trường, các nhân tố chủ quan từ NCHAPT Đặc biệt, thực tiễn đã bộc lộ sự mất cân đối giữa công tác giáo dục với hoạt động khác, nhất là hoạt động lao động sản xuất mà nguyên nhân là TG phải đẩy mạnh lao động sản xuất để bù đắp các khó khăn về ngân sách Trước yêu cầu cải cách tư pháp, tác giả đã đề xuất thay

đổi quy định về sử dụng giá trị lao động của NCHAPT theo hướng sử dụng để bồi thường thiệt hại do NCHAPT gây ra, đây là luận điểm có liên hệ mật thiết

với luận án Song, giải pháp cụ thể đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo và tái hóa nhập cộng đồng đối với NCHAPT, luận án mới chỉ nhấn mạnh yêu cầu về công tác dạy nghề, hướng nghiệp Trong khi vấn đề tổ chức lao động đối với NCHAPT, một phương thức dạy nghề trực tiếp và hiệu quả nhất làm tiền đề cho sự tái hòa nhập của NCHAPT, lại chưa được đề cập

Trang 19

- Ở khía cạnh pháp luật quốc tế về lao động, Phạm Trọng Nghĩa có sách

chuyên khảo “Thực hiện các công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam - Cơ hội và thách thức” [56] Trên cơ sở nghiên cứu nguồn

gốc ra đời của Luật lao động quốc tế và xác định các tiêu chuẩn lao động quốc tế

cơ bản và các công ước lao động quốc tế cơ bản, cuốn sách đã phân tích cụ thể nội dung cơ bản và việc chuyển hóa và thi hành các công ước quốc tế liên quan đến vấn đề lao động, nhất là Công ước số 29 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc Tác giả khẳng định, ngay từ trước khi Việt Nam phê chuẩn Công ước số 29 vào năm 2007, pháp luật về thi hành án hình sự của Việt Nam

cơ bản đã phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về lao động đối với NCHAPT Luận giải về khái niệm “lao động cưỡng bức” và các tiêu chuẩn lao động cưỡng bức trong cuốn sách này là tham khảo quan trọng mà tác giả sử dụng trong việc xác định nội dung, yêu cầu thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả

sử dụng lao động tại các TG nhằm phát huy tối đa sức lao động, đồng thời bảo đảm thực thi các cam kết của Việt Nam đối với các tiêu chuẩn về lao động đối với NCHAPT

Như vậy, dù là công trình nghiên cứu chuyên khảo về lao động đối với NCHAPT hay là nghiên cứu tổng thể về lĩnh vực THAPT, các công trình nghiên

cứu trên đều chỉ tập trung đánh giá ở góc độ áp dụng pháp luật của cơ quan quản

lý THAHS và cơ quan THAPT Những vấn đề lý luận về THPL về lao động đối với NCHAPT, với yêu cầu đánh giá đa chiều đối với cả hai chủ thể với sự tương phản sâu sắc về quyền và nghĩa vụ chưa được đề cập Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vấn đề đổi mới công tác tổ chức lao động tại các TG nhằm bảo đảm thực thi Công ước số 29 của ILO đang đặt ra yêu cầu nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cụ thể Chính vì vậy, đây sẽ là những vấn đề được tác giả luận

án tập trung nghiên cứu trong đề tài của mình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hình phạt tù và lao động đối với NCHAPT là các hiện tượng đã trải qua lịch sử hàng ngàn năm Ở bất kể ở quốc gia nào, nhà nước cũng đều phải tính đến việc tổ chức lao động đối với NCHAPT Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chi

Trang 20

phối, lao động đối với NCHAPT đang được vận hành với nhiều xu hướng khác nhau và mang lại những hệ quả chính trị, xã hội rất khác nhau

Trên cơ sở nền tảng xã hội và theo các khuynh hướng chính trị khác nhau, vấn đề lao động đối với NCHAPT cũng được tiếp cận ở nhiều giác độ như: chính trị, pháp lý, xã hội, kinh tế và đặc biệt là nhân quyền Để đánh giá sức thu hút của vấn đề lao động đối với NCHAPT với giới nghiên cứu, có thể khảo sát qua con số sau: nếu sử dụng công cụ “Google” trên Internet để tìm kiếm về “Prison

labor” (lao động tù nhân) sẽ được ngay khoảng 51.400.000 kết quả trong 0,42

giây (truy cập ngày 21/7/2018) Nếu tìm kiếm “Academic articles about prison

labor” (các bài viết học thuật về lao động tù nhân) thì sẽ có ngay 29.600.000 kết

quả trong 0,46 giây (truy cập ngày 21/7/2018)

Với mức độ quan tâm và kết quả nghiên cứu như vậy, khó có thể đánh giá toàn diện kết quả nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này Vì vậy, liên quan đến phạm vi được nghiên cứu trong luận án, ở góc độ lịch sử nhà nước và pháp luật, tác giả luận án xin điểm một số công trình nghiên cứu tại các khu vực khác nhau trên thế giới như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ và một số nước phương Tây

- Sách chuyên khảo “Punishment and Social structures” (Trừng phạt và cấu trúc xã hội) [118] của hai tác giả Georg Rusche và Otto Kirchheimer Cho

đến nay, tác phẩm này vẫn được đánh giá như là công trình lý luận nền tảng về tội phạm học cơ bản và hình phạt nói riêng, đặc biệt là lao động đối với NCHAPT, bởi vậy, cuốn sách được tái bản rất nhiều lần Với những luận điểm được cho là dựa trên cơ sở lý luận của C.Mác, các tác giả phân tích cấu trúc của hình phạt, cho rằng mô hình của hình phạt là những hiện tượng xã hội được định hình bởi những chủ thể chi phối về kinh tế Cuốn sách đã đúc kết lịch sử phát triển của hình phạt qua ba thời kì: (1) Thời Trung cổ, kẻ bị kết án phải đền tội và phạt tiền; (2) Cuối thời Trung cổ, biện pháp trừng phạt đã trở thành man rợ hơn, bao gồm thích chữ vào người, tùng xẻo, tra tấn và hành quyết; (3) Với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, các hình thức trừng phạt tù nhân đồng nghĩa là một

Trang 21

nguồn cung cấp nhân lực, bao gồm nô lệ dưới hầm tàu biển, nô lệ vận chuyển và hình phạt lao động khổ sai Từ cuối những năm 1960, quan điểm phân tích và khuynh hướng mác-xít của cuốn sách gây được sự chú ý, nó tạo ra lợi ích đáng

kể trong phát triển nền tảng kinh tế cho các khái niệm hình phạt

- Sách “Prison Labor and Prison Industries” (Lao động nhà tù và công nghiệp nhà tù) [121] của Gordon Hawkins Đây là công trình nghiên cứu chuyên

sâu về hệ thống nhà tù của Hoa Kỳ Tác giả đúc kết “lười nhác là một đặc tính hàng đầu hệ thống nhà tù Hoa Kỳ, phải chấp nhận nó như là điều không thể tránh khỏi” Dựa trên quan điểm của Calvin Coolidge (Tổng thống thứ 30 của Hoa

Kỳ) coi “lao động là phương tiện duy nhất để thể hiện nam tính và là thước đo của nền văn minh”, nhưng tư tưởng này lại được sử dụng để biện minh cho nền

công nghiệp tù của Hoa Kỳ Tuy nhiên, với sự bành trướng của ngành công nghiệp tù, tác giả đưa ra đánh giá thuyết phục về thực tế THPL về lao động đối

với tù nhân tại quốc gia này Một là, áp lực chi phối của các lực lượng kinh tế

không thể kiểm soát được đã làm phá sản mọi giải pháp cho vấn đề lao động tù

nhân Hai là, nguyên nhân của sự thất bại trong việc sử dụng hiệu quả lao động

của tù nhân là nhà nước không có chính sách thích hợp cũng như sự quyết tâm cần thiết Đặc biệt hơn, tác giả đã làm rõ tính vô nhân đạo của chính sách nhà tù của Hoa Kỳ khi đánh giá lao động tù nhân và ngành công nghiệp tù đã bị đưa ra ngoài chính sách hình sự Tác giả cũng cho rằng, do tầm quan trọng của vấn đề lao động tại các nhà tù, không thể coi đây là lĩnh vực bất khả xâm phạm, nhà nước cần có các rào cản pháp lý và can thiệp chính trị nhằm tạo ra công cụ hiệu quả cho việc điều chỉnh hệ thống nhà tù

- Công trình nghiên cứu “Work Don’t Hurt Me - A Study Of Prison Labor And Prison Industries In America” (Công việc không làm hại tôi - Một nghiên cứu về lao động tù nhân và công nghiệp tù ở Hoa Kỳ) [120] của Gerard Ramm

Tác giả đã phát triển hoàn thiện luận điểm về lao động đối với tù nhân tại Hoa

Kỳ với định nghĩa chính thức là ngành công nghiệp nhà tù, đánh giá đầy đủ cả

về lịch sử hình thành cũng như lột tả bản chất bóc lột tàn bạo của nó Về lý luận, chính sách của nhà nước Hoa Kỳ khẳng định lao động tù nhân là một phương

Trang 22

thức cải huấn, mục đích là nhằm tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội thông qua lao động hữu ích và tham gia vào nền kinh tế Song, ngành công nghiệp nhà tù của Hoa Kỳ là một phần quan trọng của nền kinh tế với lợi nhuận hàng tỷ đô la Tác giả cho rằng, nếu tiếp tục hỗ trợ lao động tù nhân nhằm phục hồi nhân cách sẽ là một sự giả dối Điều cần là phải cải cách các điều kiện làm việc cho tù nhân và các chương trình hỗ trợ họ, đặc biệt quan trọng là chương trình giáo dục

- Công trình nghiên cứu “Prison Labor, Slavery & Capitalism in Historical Perspective” (Lao động nhà tù, Chế độ nô lệ và Chủ nghĩa tư bản trong nhận thức lịch sử) [131] của Stephen John Hartnett, là công trình nghiên

cứu tiêu biểu là được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu toàn cầu

(www.globalresearch.ca) và nhiều tập chí khoa học khác GS Stephen John

Hartnett là Trưởng khoa truyền thông của Đại học Colorado Denver Ông có thâm niên tới 23 năm giảng dạy nghiên cứu về hệ thống nhà tù Hoa Kỳ và là hướng dẫn viên tình nguyện trong nhà tù San Quentin California Công trình này

đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển của CĐLĐ đối với PN của Hoa Kỳ Với những số liệu thống kê đầy đủ, tác giả phân tích sâu sắc sự bùng nổ của ngành công nghiệp tù ở Hoa Kỳ từ năm 1979 với việc nhà nước Hoa Kỳ thực thi chính sách “nhà tù nhiều hơn trường học” Đánh giá về bản chất CĐLĐ tù nhân tại Hoa Kỳ, tác giả khẳng định, chủ nghĩa tư bản, chế độ nô lệ và lao động nhà tù

đã có cuộc “hôn phối” từ thế kỷ XVIII và hiện tại thực chất vẫn là chủ nghĩa nô

lệ kiểu mới, là cỗ máy bóc lột sức lao động tàn bạo

Cũng với xu hướng trên, công trình nghiên cứu “The Prison Industry in the United States: Big Business or a New Form of Slavery?” (Ngành công nghiệp tù Hoa Kỳ: ngành kinh doanh lớn hay hình thức nô lệ kiểu mới?) [134]

của Vicky Pelaze Tác giả làm rõ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về chế lao lao động tù nhân tại Hoa Kỳ cũng theo khuynh hướng lột tả tính chất bóc lột của nó Một trong những hệ quả của nó là tạo ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa Hoa Kỳ và các nước kém phát triển cũng như trong khu vực sản xuất nội địa

Trang 23

- Về các khía cạnh tích cực của ngành công nghiệp tù tại Hoa Kỳ, công

trình nghiên cứu “Work in Prison” (Lao động trong nhà tù) [128] của R.A

Davis Tác giả đã đánh giá những ưu việt của kết cấu chương trình cải tạo tù nhân tại Hoa Kỳ Các chương trình trong quá trình cải tạo đều được thiết kế để lấp đầy thời gian nhàm chán và cũng là một cách để chuẩn bị cho cuộc sống của

tù nhân sau khi được trả tự do bằng cách trang bị cho họ các kỹ năng với thị trường Những tác động tích cực của lao động tù nhân đối với tỷ lệ tái phạm cần được đánh giá khách quan và đầy đủ Đối lập với quan điểm phủ nhận ý nghĩa của lao động với tỷ lệ tội phạm, nhiều nghiên cứu đưa ra kết quả cho rằng, một trong những lợi ích quan trọng nhất của lao động đối với tù nhân là trực tiếp làm giảm tỷ lệ tái phạm Với việc xây dựng loại hình doanh nghiệp tù nhân có môi trường làm việc hiệu quả về kinh tế và hữu ích cho tù nhân đã dẫn đến tình trạng

tỷ lệ tái phạm ở khu vực này so với tỉ lệ tái phạm của cả liên bang

Còn trong chuyên đề nghiên cứu “The Economic Impact of Prison Labor” (Ảnh hưởng kinh tế của lao động tù nhân) [125] của Morgan O Reynolds, tác

giả đánh giá, lao động trong tù và chương trình đào tạo dường như rất hiệu quả trong việc làm giảm khả năng tái phạm trong thời gian dài Kết quả thực hiện dự

án việc làm cho tù nhân sau khi được trả tự do của liên bang cho thấy, sau khi được tạm tha, người đã tham gia dự án này có khả năng kiếm việc làm và thu nhập nhiều hơn, trong khi tái phạm ít hơn so với những người không làm việc trong nhà tù

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu liên quan đến về lao động đối với tù nhân tại Hoa Kỳ, ý nghĩa “cải huấn” đối với tù nhân thông qua lao động là điều luôn được xác nhận Tuy nhiên, những hiệu quả tích cực mang lại không thể che dấu được sự vô nhân đạo và thực trạng không thể kiểm soát được của ngành công nghiệp tù Hoa Kỳ Các luận điểm của các tác giả và đặc biệt là

số liệu về “ngành công nghiệp tù Hoa Kỳ” của các công trình trên là nguồn tham khảo quan trọng mà tác giả luận án sử dụng nhằm đối chiếu, so sánh thực trạng THPL về lao động của các nước trên thế giới

Trang 24

Tại khu vực Châu Âu, các công trình nghiên cứu liên quan có thể điểm qua như:

- Sách chuyên khảo “Prisons and Prison Systems: A Global Encyclopedia” (Nhà

tù và các hệ thống nhà tù: một Bách khoa toàn thư toàn cầu) [124] của Mitchel

P Roth Cuốn sách cung cấp tổng quan lịch sử của hệ thống nhà tù trên toàn thế giới, cũng như các lý thuyết hình sự, văn hóa và cuộc sống của PN Tác giả đã cung cấp nhiều thông tin bao gồm các tài liệu về các nhà tù nổi tiếng như Tháp London và Alcatraz, cũng như về các chế định cụ thể như tạm tha có điều kiện,

về các nhà tù và PN nổi tiếng Đây là cuốn sách cung cấp tư liệu bổ ích trong việc tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển cũng như so sánh, đánh giá sự khác biệt giữa các hệ thống nhà tù trên toàn thế giới

- Sách chuyên khảo “Prison in Europe: Overview and Trends” (Nhà tù ở châu Âu: Tổng quan và Xu hướng [114] của các tác giả: Alessandro Maculan,

Daniela Ronco và Francesca Vianello Sách do Tổ chức giám sát nhà tù và điều kiện giam giữ Liên minh Châu Âu (European Prison Observatory Detention conditionsin the European Union) ấn hành và được tài trợ bởi Chương trình tư pháp hình sự của Liên minh Châu Âu Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về thực trạng hệ thống nhà tù Châu Âu, tập trung vào các quốc gia: Liên hiệp Vương quốc Anh, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italya, Hy Lạp và Lavia Với số liệu đầy đủ về số tù nhân tại từng quốc gia, tỷ lệ tù nhân trên 100.000 dân, tỷ lệ người chưa thành niên, giới tính… Các tác giả nghiên cứu toàn bộ các chế độ đối với tù nhân như: chăm sóc sức khỏe; chương trình học tập, lao động, an ninh, chế độ tù chung thân Về lao động đối với tù nhân, trên cơ sở phân tích đặc điểm nhân thân và các ảnh hưởng xã hội của tù nhân, các tác giả đã nêu thực trạng tổ chức lao động tại các nhà tù ở Châu Âu Trong khi các Chính phủ đều quyết tâm phấn đấu để cung cấp đầy đủ công việc có ích một cách tự nhiên và coi đây là một yếu tố tích cực của chế độ nhà tù thay cho hình phạt Tuy nhiên, việc làm cho tù nhân phụ thuộc vào điều kiện từng nơi, điều này lại bị ảnh hưởng rất lớn do khủng hoảng kinh tế Tác giả cũng cho thấy, lao động của tù nhân rất có ý nghĩa khi chấp hành án cũng như khi họ tái

Trang 25

hóa nhập xã hội Theo đó, luật quy định tù nhân có trách nhiệm trích thu nhập

từ lao động để sử dụng cho gia đình và khuyến khích để tiết kiệm một phần thu nhập giữ để trả tiền ăn, tiền phạt, bồi thường cũng như tạo điều kiện khi họ được trả tự do Đây là những tư liệu rất quan trọng trong việc nghiên cứu, khảo sát và đề xuất các giải pháp hoàn thiện CĐLĐ đối với NCHAPT trong luận án Đặc biệt là vấn đề thi hành hình phạt tiền và bồi thường thiệt hại từ tiền công lao động của tù nhân

Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở các nước thuộc Liên Xô cũ

Từ sau năm 1991, Cộng hòa Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ

có sự thay đổi to lớn về chính trị Tổ chức bộ máy nhà nước cũng như hệ thống

tư pháp được cải cách căn bản Đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên khảo

về THAPT trong có đề cập đến vấn đề lao động đối với tù nhân Một số công trình thuộc chuyên ngành lý luận nhà nước và pháp luật, có thể kể như:

- Luận án Tiến sĩ “Hệ thống nhà tù trong thể chế nhà nước Nga - khía cạnh lịch sử và lý luận” [15] của Chesnokov Alexander Phạm vi nghiên cứu bao

gồm: phân tích cấu trúc và chức năng của bộ máy nhà nước và bộ phận cấu thành không thể thiếu là hệ thống nhà tù, quy định tổ chức và hoạt động của nhà

tù trong giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Nga Luận án đã chỉ rõ, quá trình diễn ra tại nước Nga với sự thay đổi to lớn trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và

xã hội, sự mất lòng tin của công chúng vào chính quyền, việc đánh giá lại các giá trị tinh thần đã dẫn đến hệ quả là sự leo thang của tội phạm ở tất cả các bang và vùng lãnh thổ thuộc Nga

Luận án có giá trị rất đáng kể khi đề cập khá chi tiết quả trình hình thành

và phát triển của hệ thống nhà tù trong đó có CĐLĐ đối với tù nhân tại nước

Nga Trong số các hình phạt hình sự áp dụng từ thế kỷ XVIII có việc sử dụng hình thức cưỡng bức lao động đối với tù nhân Chế độ này không chỉ mang ý

nghĩa trừng phạt, răn đe người phạm tội mà thực sự mang lại lợi ích kinh tế, đặc biệt là trên các công trình xây dựng lớn Lao động khổ sai theo ý nghĩa truyền thống như việc sử dụng lao động PN trong khai thác tài nguyên được duy trì và

Trang 26

mang đậm dấu ấn trong chính sách hình sự của Nga cho đến tận giữa thế kỷ XX (khi giải thể các Gulag) Trong thời kỳ Liên Xô, tầm quan trọng kinh tế cũng như tác động giáo dục được thực hiện thông qua CĐLĐ đã chi phối mạnh mẽ chính sách hình sự của nhà nước Ở hệ thống nhà tù hiện tại, vẫn kế thừa nguyên tắc lao động cưỡng bức, lao động tù nhân là một hình thức cụ thể của các chức năng của các trại cải tạo nhưng đã có sự tập trung vào việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người nhằm đáp ứng các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, các yêu cầu này phải tính đến nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bản chất và nội dung của các chức năng của các trại cải tạo của nhà nước

- Luận án Tiến sĩ “Quy định pháp luật về lao động của người bị kết án phạt tù trong điều kiện hiện đại căn cứ thực tiễn tại Cộng hòa Kazakhstan”

[113] của Zhuldyz Batyrbekovna Ospanova Luận án khẳng định, đây là công trình chuyên khảo đầu tiên về các quy định pháp luật lao động tù nhân Đồng thời, điểm mới của luận án nghiên cứu các quy định pháp luật lao động đối với NCHAPT đặt trong sự hình thành và phát triển các mối quan hệ thị trường Theo

đó, tác giả xây dựng một hệ thống quan điểm mới về các mục tiêu của lao động tại TG, cũng như cách tiếp cận mới để cải thiện các quy định và thi hành lao động tại các TG trong điều kiện hiện đại Về lý luận, tác giả nhấn mạnh một số luận điểm quan trọng như: (1) Lao động đối với tù nhân là một hình thức lao động xã hội, điểm khác biệt là ở định hướng mục tiêu, các thủ tục pháp lý đặc biệt cũng như điều kiện bị tước tự do của người lao động, do đó, pháp luật hình

sự phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc tự nguyện lao động của tù nhân (2) Trong bối cảnh mới, hệ thống cải tạo phải đổi mới, thực tế lao động trong hệ thống TG của Liên bang Nga và Cộng hòa Kazakhstan vẫn là hình thức cũ, tù nhân phải làm việc tại các doanh nghiệp của TG để bảo đảm hoạt động cho chính TG đó Tác giả đề xuất đổi mới các quy định về lao động đối với tù nhân theo pháp luật lao động

Với cách tiếp cận về THPL về lao động đối với tù nhân khá tương đồng với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này, có thể nói, hai công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa tham khảo rất đáng lưu ý về phương pháp luận

Trang 27

Đồng thời, trong bối cảnh hệ thống tư pháp hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa Kazakhstan cũng đang đặt ra yêu cầu cải cách mạnh mẽ theo định hướng bảo đảm tốt hơn các quyền con người theo các điều ước quốc tế, những định hướng về các quan điểm và giải pháp bảo đảm THPL trong lĩnh vực này cũng cung cấp những kinh nghiệm có thể tham khảo

- Trong “Kỷ yếu hội thảo khoa học” [135] của Viện Nghiên cứu thị trường lao động thuộc Đại học Kinh tế (HSE), Anton Tabach và Olesya

Kostenko (2014) có công trình nghiên cứu “Невидимый гигант: ФСИН и российский рынок труда (“Kẻ vô hình khổng lồ: FSIN và thị trường lao động Nga” Tác giả Anton Tabakh là chuyên gia kinh tế cao cấp tại Viện Năng lượng

và Tài chính và Olesya Kostenko là Trợ lý giáo sư thuộc Đại học Mátxcơva, đã nghiên cứu hệ thống THAPT của Nga (FSIN), đánh giá điều kiện, động lực để tù nhân làm việc và doanh thu mang lại cho FSIN Thực tế tại nước Nga, lao động trong các TG vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của công chúng Các tiêu chuẩn thù lao của tù nhân và định mức lao động không được công khai Theo luật tất cả tù nhân đều được yêu cầu làm việc, nhưng thực tế hơn 60% thất nghiệp Mặc dù lợi nhuận do lao động trong toàn bộ hệ thống THAPT tại Nga là rất lớn nhưng ý nghĩa giáo dục cải tạo không đạt được như mục tiêu đề ra Kết quả nghiên cứu của công trình này là một trong những dẫn chứng tiêu biểu mà tác giải luận án muốn dẫn chứng trong quá trình tham khảo về THPL về lao động đối với tù nhân của các nước trên thế giới

* Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù

Kết quả nghiên cứu cho thấy, lao động đối với NCHAPT là đề tài thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học Ngày nay, trong bối cảnh những giá trị về nhân quyền đang trở thành khuôn mẫu chung trên toàn thế giới, vấn đề lao động đối với NCHAPT càng nhận được nhiều sự quan tâm, trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều ngành khoa học và ở nhiều bình diện khác nhau, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Bên cạnh sự tương

Trang 28

đồng trong mối quan tâm chung về lĩnh vực này, có thể thấy một số điểm khác biệt giữa xu hướng nghiên cứu trong nước và nước ngoài, cụ thể là:

- Ở Việt Nam:

Các công trình nghiên cứu có đề cập tới lao động NCHAPT, kể cả công trình mang tính chuyên khảo về vấn đề này, thì đa số đều tiếp cận ở góc độ hình thức chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật của cơ quan THAPT Hầu hết các công trình nghiên cứu đều phản ánh tính ưu việt, kết quả tích cực đạt được và một số hạn chế trong áp dụng pháp luật về lao động đối với NCHAPT, nhưng chưa thực sự đánh giá đa chiều

Xuất phát từ đặc điểm của quan hệ pháp luật THAPT, giữa các chủ thể có

sự tương phản mạnh mẽ về quyền và nghĩa vụ, NCHAPT bị cách ly khỏi xã hội

và chịu sự giam giữ nghiêm ngặt, khả năng tự bảo vệ thấp, ẩn chứa nhiều nguy

cơ bị vi phạm các quyền cơ bản, bị bóc lột sức lao động Do vậy, việc nghiên cứu về lý luận trên bình diện THPL về lao động đối với NCHAPT, tức là xem xét, đánh giá cả 4 góc độ: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật đối với cả hai chủ thể: Cơ quan THAPT, người có thẩm quyền trong THAPT và NCHAPT là rất cần thiết

Nguyên tắc xuyên suốt trong pháp luật hình sự của Việt Nam là đề cao tính giáo dục kết hợp với trừng trị trong việc áp dụng và thi hành hình phạt Về phương diện lý luận, các công trình nghiên cứu về pháp luật hình sự và thi hành

án phạt tù đều có quan điểm khá đồng nhất về ý nghĩa kinh điển của lao động đối với người bị kết án tù, coi đây là con đường cơ bản hình thành nhân cách, giáo dục và xây dựng các phẩm chất nhân cách NCHAPT Tư tưởng chỉ đạo này không chỉ xuyên suốt trong việc xây dựng hệ thống hình phạt trong BLHS mà còn chi phối việc thiết kế các chương trình cụ thể trong quá trình cải tạo người bị kết án tù Thực tế, những kết quả đạt được qua công tác tổ chức lao động tại các

TG hàng chục năm qua và hiệu quả của nó trong thi hành án phạt tù là không thể bàn cãi Mặc dù vậy, trong bối cảnh tình hình mới, cần có sự đánh giá đầy đủ những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành thông qua nghiên cứu về THPL

Trang 29

về lao động đối với NCHAPT ở Việt Nam, đồng thời, cách tiếp cận lâu nay về vấn đề này cũng cần được nhìn nhận theo hướng đa chiều hơn Cụ thể là:

Thứ nhất, nếu quá đề cao ý nghĩa giáo dục người bị kết án tù bằng lao

động, nên CĐLĐ được áp dụng một cách phiến diện Hai thiên hướng có thể thấy là: (1) Tăng cường khai thác sức lao động đối với NCHAPT nhằm tránh cho

họ rơi vào cảnh nhàn cư vi bất thiện Chính điều này dẫn đến sự thiếu coi trọng sức lao động NCHAPT theo đúng giá trị vốn có và vô hình chung, lao động trở thành một hình thức sự trừng phạt đối với người bị kết án tù Cũng cần nói thêm rằng, điều này còn bị chi phối bởi các yếu tố lịch sử Do hoàn cảnh chiến tranh

và điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh, NCHAPT bắt buộc phải lao động

để bảo đảm đời sống của chính họ (2) Không đặt nghĩa vụ lao động của NCHAPT trong mối tương quan với các nghĩa vụ khác mà họ phải chấp hành như tiền phạt, bồi thường, án phí, thanh toán các nghĩa vụ dân sự, điều này càng làm hạn chế ý nghĩa thực tế của việc tổ chức lao động

Thứ hai, cần đặt lại tiêu chí về hiệu quả sử dụng sức lao động của

NCHAPT Bởi lẽ, sẽ không đạt được các mục tiêu về giáo dục cải tạo hay về kinh tế, nếu sử dụng không hiệu quả lực lượng lao động khá dồi dào tại các TG hiện nay Tất nhiên, người lao động trong khu vực này có nhiều đặc điểm hạn chế, bởi vậy, hiệu quả sử dụng sức lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan

Thứ ba, xét ý nghĩa thực tiễn, lao động đối với NCHAPT là một trong

những chế định quan trọng nhất, chiếm thời lượng lớn nhất trong suốt quá trình THAPT Kết quả lao động có ý nghĩa chi phối đối đối với hiệu quả giáo dục cải tạo đối với từng cá nhân NCHAPT, bên cạnh đó, nó còn mang nhiều ý nghĩa khác về kinh tế, đặc biệt là về chính trị Đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia

và các thế lực thù địch đã và đang tập trung vào việc đả phá về nhân quyền liên quan đến lao động đối với NCHAPT tại các TG

- Ở nước ngoài:

+ Do những điều kiện lịch sử, sự chi phối bởi chế độ chính trị, chính sách hình sự và cách thức vận hành hệ thống tư pháp hình sự, CĐLĐ đối với

Trang 30

NCHAPT tại các quốc gia trên thế giới có sự khác biệt Tại Hoa Kỳ, các công trình nghiên cứu tại Hoa Kỳ, các nước Châu Âu về lao động NCHAPT cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, qua thế kỷ 21 nhưng dường như chế độ nô lệ vẫn còn dư địa để tồn tại với một vỏ bọc và diện mạo mới, đó là ngành công nghiệp

tù, một khu vực sản xuất quan trọng và bị chi phối mạnh mẽ bởi các công ty đa quốc gia

+ Việc nghiên cứu về lao động đối với NCHAPT luôn gắn với pháp luật thực định và được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật Tuy nhiên, do áp lực đấu tranh về bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền cơ bản của tù nhân theo các chuẩn mực quốc tế, các công trình nghiên cứu tiếp cận ở góc độ chính trị - pháp lý trở thành hướng nghiên cứu chính Hầu hết các công trình có cách đánh giá khá đa chiều, phản ánh, chỉ trích

sự vô nhân đạo, tính hà khắc trong việc thực thi chính sách bóc lột NCHAPT qua CĐLĐ Đồng thời, đánh giá tác dụng, ý nghĩa kinh tế, xã hội, tâm lý của chế độ pháp lý này Đây cũng là các tư liệu đấu tranh về nhân quyền của các tổ chức bảo vệ nhân quyền cũng như dư luận xã hội

+ Các công trình nghiên cứu của các nước thuộc Liên Xô cũ với xu hướng làm rõ những vấn đề lý luận căn bản về THPL về THAPT Các công trình nghiên cứu đều đặt trong bối cảnh chuyển đổi, hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung và hệ thống tư pháp hình sự nói riêng Trong đó, các tác giả đề xuất đổi mới về lý luận cũng như mô hình tổ chức, để tiếp cận gần hơn các chuẩn mực về tính nhân đạo, bảo vệ quyền con người Đặc biệt, các công trình này đưa ra các khái niệm, nhận thức mới về ý nghĩa của hình phạt, về các biện pháp giáo dục Các quan điểm nghiên cứu đều kiến nghị về việc bảo đảm yêu cầu tính hiệu quả

về kinh tế đối với lao động tại các TG theo cơ chế thị trường, bảo đảm thu nhập cho NCHAPT Đồng thời, các công trình nghiên cứu đều kiến nghị xóa bỏ tàn dư

mô hình Xô viết trước đây về hệ thống hình phạt cũng như thi hành án phạt tù

+ Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có đề cập đến thực trạng về lao động NCHAPT ở các quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả tập trung mô tả tình trạng đày đọa, áp bức, đối xử vô nhân

Trang 31

đạo của cơ quan công quyền đối với NCHAPT hoặc dẫn chiếu các số liệu thiếu

sự kiểm chứng và khách quan, đồng thời, không đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể từng giai đoạn ở mỗi quốc gia Vì vậy, nhiều nội dung nghiên cứu chưa thực sự mang tính khách quan Các nghiên cứu này thường các nhà nước có chính sách thù địch, các tổ chức nhân danh nhân quyền hoặc lực lượng chính trị đối lập trích dân để đả phá, công kích Nhà nước Việt Nam

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã khảo sát, tác giả đặt ra những vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án là:

- Về lý luận:

+ Trên cơ sở nền tảng lý luận về THPL, cần cụ thể hóa khái niệm THPL

về lao động đối với NCHAPT, làm rõ những đặc trưng và mối quan hệ hữu cơ giữa THPL về lao động với các chế độ khác trong THAPT

+ Nhằm đạt được tính toàn diện của vấn đề nghiên cứu, cần phân tích rõ hình thức, nội dung, vai trò THPL về lao động đối với NCHAPT Làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT, luận giải khoa học mối quan hệ giữa các yêu cầu và các yếu tố bảo đảm

+ Trong quá trình nghiên cứu, cần tiếp tục khảo sát cả hai phương diện kinh nghiệm quốc tế về THPL về lao động đối với NCHAPT của một số nước tiêu biểu trên thế giới Kết quả nghiên cứu cần chỉ ra kinh nghiệm quốc tế, những mẫu số chung, những giá trị phổ quát phù hợp với thực tiễn Việt Nam, xác định đúng những giá trị có thể vận dụng khả thi ở Việt Nam

- Về thực tiễn:

+ Luận án cần tập trung phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng THPL về lao động đối với NCHAPT ở Việt Nam hiện nay; đánh giá khách quan những kết quả đạt được, những hạn chế trong các lĩnh vực này Để làm rõ nền tảng lý luận, việc đánh giá thực trạng THPL về lao động đối với NCHAPT phải bảo đảm toàn diện trên cả 4 hình thức thể hiện qua các mặt hoạt động của cơ

Trang 32

quan THAPT và người có thẩm quyền trong THAPT Cần xác định rõ những nguyên nhân khách quan, chủ quan trong các kết quả đạt được và hạn chế đối với thực hiện pháp luật về lao động đối với NCHAPT

+ Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam ở các bình diện khác nhau đã đề xuất một số giải pháp liên quan đến THPL về lao động đối với NCHAPT Tuy vậy, hầu hết các giải pháp đều mang tính chất một chiều truyền thống do tiếp cận chủ yếu ở hình thức áp dụng pháp luật Vì vậy, việc nghiên cứu cần đưa ra một

hệ thống các giải pháp có tính tổng thể, đặt trong bối cảnh về cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, tiếp cận những giá trị, chuẩn mực chung về quyền con người, tôn trọng nhân phẩm đối với NCHAPT Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, với sự chi phối, ảnh hưởng của các quy luật kinh tế thị trường, THPL về lao động đối với NCHAPT cần tính đến các yếu tố về kinh

tế, nhằm bảo đảm cả về mục tiêu giáo dục cải tạo người phạm tội và tính hiệu quả kinh tế trong tổ chức lao động đối với đối tượng này

1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu đề tài luận án

Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chủ đề nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

Lao động đối với NCHAPT là hiện tượng lịch sử gắn liền với thiết chế nhà nước và pháp luật, đã tồn tại, phát triển qua hàng ngàn năm Trong hệ thống tư pháp hình sự nếu vẫn tồn tại hình phạt tù thì bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều phải đặt ra vấn đề tổ chức lao động cho NCHAPT Pháp luật về THAHS của Việt Nam quy định thông qua lao động để giáo dục người phạm tội

và chuẩn bị cho họ trở lại hòa nhập đời sống xã hội Tuy nhiên, trong điều kiện môi trường tách biệt khỏi xã hội và NCHAPT bị hạn chế nhiều quyền cơ bản, không thể phủ nhận một thực tế là vẫn có khoảng cách nhất định giữa hệ thống pháp luật và quá trình THPL Khoảng cách này càng được thể hiện rõ nét trong THPL về lao động đối với NCHAPT Việc vận hành tổ chức lao động trong TG như thế nào sẽ dẫn đến những hệ quả rất khác biệt TG có thể là môi trường giáo dục toàn diện, hiệu quả đối với NCHAPT hoặc sẽ vẫn là một vùng tối trong

Trang 33

xã hội văn minh mà ở đó, vẫn duy trì chế độ nô lệ như hàng ngàn năm về trước, thực trạng mà nhiều quốc gia vẫn đang vấp phải Điều này đòi hỏi sự nhận thức đúng đắn về THPL về lao động đối với NCHAPT

Từ đó, luận án phải giải đáp một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng là:

1 Có sự khác biệt như thế nào giữa quan hệ pháp luật lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (BLLĐ) và quan hệ pháp luật lao động trong THAPT? Sự khác biệt này chi phối đến quyền và nghĩa vụ của NCHAPT như thế nào?

2 Cần nhận thức về THPL về lao động đối với NCHAPT gồm những yếu

tố nào? Nội dung, các hình thức THPL về lao động đối với NCHAP có đặc trưng riêng như thế nào?

3 THPL về lao động đóng vai trò như thế nào trong quá trình giáo dục cải tạo NCHAPT?

4 Sự đối lập về quyền và nghĩa vụ của NCHAPT với người có thẩm quyền sẽ tác động như thế nào tới mục đích hướng tới của các chủ thể này trong quá trình THPL về lao động?

5 Lao động đối với NCHAPT là chế độ bắt buộc trong pháp luật THAPT của tất cả các nước trên thế giới Những kinh nghiệm nào có thể tham khảo và vận dụng trong THPL về lao động đối với NCHAPT tại Việt Nam?

6 Thực tế CĐLĐ đối với NCHAPT ở Việt Nam vận hành như thế nào? Kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân? Kết quả và hạn chế đó đã tác động thế nào tới hiệu quả giáo dục cải tạo NCHAPT?

7 Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, triết lý truyền thống về giáo dục cải tạo đối với NCHAPT thông qua lao động cần được tiếp cận theo những chuẩn mực pháp luật quốc tế như thế nào?

8 Những yêu cầu nâng cao hiệu quả THPL về lao động đối với NCHAPT

ở Việt Nam là gì ? Các giải pháp cụ thể là gì?

Trang 34

Tiểu kết chương 1

Lao động đối với NCHAPT là hiện tượng xã hội có lịch sử lâu đời và là chủ đề được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới Kết quả khảo sát các công trình nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào các điều kiện lịch sử, chế độ chính trị, hệ thống tư pháp hình sự và tổ chức hệ thống nhà tù, CĐLĐ đối với NCHAPT được vận hành theo các chiều hướng khác nhau và mang lại hiệu quả khác biệt Các công nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau và tiếp cận ở các bình diện khác nhau đều phản ánh xu thế chung về các yêu cầu cải cách hệ thống tư pháp hình sự, đặc biệt là cải cách mô hình hệ thống THAPT hướng tới mục tiêu bảo vệ tốt hơn quyền con người đối với NCHAPT

Tại Việt Nam, THAPT được đề cập khá đa dạng ở nhiều cấp độ khác nhau Do nhiều nguyên nhân, nhất là các yếu tố về lịch sử, trong thời gian dài, THAPT là lĩnh vực khá khép kín, đặc biệt là công tác tổ chức lao động trong TG

Vì vậy, các công trình nghiên cứu có đề cập tới vấn đề lao động trong các TG thì mức độ rất hạn chế Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới, vấn đề hoàn thiện triết lý về giáo dục cải tạo người bị kết án tù thông qua CĐLĐ đã và đang tiếp tục đặt ra những yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và thực tiễn Qua đó,

đề xuất các giải pháp bảo đảm THPL về lao động đối với NCHAPT theo tinh thần đề cao tính nhân văn, phát huy cao nhất tính hiệu quả giáo dục và bảo vệ quyền lợi của NCHAPT

Trên cơ sở đánh giá kết quả các công trình đã khảo sát, xác định các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết và các câu hỏi nghiên cứu nhằm triển khai nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Tác giả mong muốn luận án

sẽ là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về THPL về lao động đối với NCHAPT với nhiều quan điểm tiếp cận mới Mục tiêu hướng tới là bảo đảm quyền con người và tính minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế

Trang 35

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

2.1 KHÁI NIỆM, HÌNH THỨC, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

2.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù

2.1.1.1 Pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân được gọi là “Phạm nhân” Vì vậy, trong luận án này, “người chấp hành án phạt tù” và “phạm nhân” được sử dụng có ý nghĩa như nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Lao động” là quá trình hoạt động tự giác, hợp

lý của con người, nhờ đó, con người làm thay đổi các đối tượng tự nhiên và làm

cho chúng thích ứng để thỏa mãn nhu cầu của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào [109,

tr.642] Trải qua hàng ngàn năm lịch sử tạo dựng nền văn minh nhân loại và cũng là quá trình gian khổ, bền bỉ đấu tranh của các tầng lớp lao động, ngày nay, lao động là một trong những quyền con người cơ bản nhất được ghi nhận ở cả phạm vi pháp luật quốc tế và pháp luật từng quốc gia

Theo quy định tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013, lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ cơ bản của công dân được pháp luật bảo đảm Các quyền, nghĩa

vụ này được BLLĐ cụ thể hóa Tuy nhiên, các quyền, nghĩa vụ nêu trên chỉ được quy định người có đầy đủ quyền công dân, tức là chủ thể có đủ năng lực tham gia quan hệ lao động Trong xã hội, do nhiều nguyên nhân khác nhau luôn sẽ xuất hiện một bộ phận những con người lầm lạc, bị pháp luật trừng trị, bị tước quyền cơ bản nhất của con người, đó là quyền tự do cư trú, tự do đi lại và bị cách

ly khỏi xã hội Khi đó, họ không được hưởng các quyền và nghĩa vụ lao động như thông thường Pháp luật hình sự xác định rõ nguyên tắc chấp hành hình phạt

Trang 36

của người bị kết án Điều 1 Sắc lệnh số 150-SL ngày 07/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định: “PN phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hoá” BLHS năm 1985 (khoản 4 Điều 3), BLHS năm

1999 (khoản 4 Điều 3) và BLHS năm 2015 (điểm e khoản 1) đều ghi nhận nguyên tắc “đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các

cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội” Trên cơ sở đó, pháp luật THAHS quy định cụ thể các chế độ đối với NCHAPT, trong đó có các quy định về lao động Cho đến trước năm 1993, các chế độ đối với NCHAPT trong đó có CĐLĐ được thực hiện theo văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Công an và hướng dẫn nội bộ của cơ quan quản lý TG Năm

1993, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh THAPT, tại điều 22

quy định “trong thời gian chấp hành hình phạt tù, người bị kết án tù phải lao động CĐLĐ và việc sử dụng kết quả lao động của họ do Chính phủ quy định”

Các quy định về lao động đối với NCHAPT tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện tại Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh THAPT năm 2007, Luật THAHS năm 2010 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (BQP), Bộ Tài chính Ở từng giai đoạn, CĐLĐ và sử dụng kết quả lao động, học nghề của PN trong TG được quy định cụ thể tại các văn bản sau: Thông tư liên bộ số 09/NV-QP-TC ngày 31/12/1994; Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT/BCA-BQP-BTC, ngày 07/6/2007; Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT/BTC-BCA-BQP ngày 12/01/2010; Thông tư liên tịch số 12/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC ngày 20/12/2013 Gần đây nhất, tháng 6/2019, Quốc hội đã thông qua Luật THAHS số 41/2019/QH14, trong đó, CĐLĐ và quy định về tổ chức lao động tiếp tục được hoàn thiện

Pháp luật về lao động đối với NCHAPT là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền và NCHAPT trong quá trình tổ chức lao động

và thực hiện nghĩa vụ lao động bắt buộc đối với người bị kết án tù chung thân, tù

có thời hạn đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ

Trang 37

* So sánh pháp luật lao động theo quy định của BLLĐ và pháp luật lao động trong THAPT

Với sự tồn tại song song hai hệ thống pháp luật về lao động theo BLLĐ và lao động đối với NCHAPT theo Luật THAHS Để đi đến khái niệm THPL về lao động đối với NCHAPT ở phần tiếp theo, thiết nghĩ, cần phân tích mối tương quan

và sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật nói trên qua những điểm chính sau đây:

Thứ nhất, quan hệ lao động được điều chỉnh bởi BLLĐ là các quan hệ xã

hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể (Khoản 5 Điều 3 BLLĐ) Về phạm vi điều chỉnh, BLLĐ quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động Đối tượng điều chỉnh bao gồm 4 nhóm chủ thể: (1) Người lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động; (2) Người sử dụng lao động; (3) Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; (4) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động

Như vậy, so với phạm vi, đối tượng điều chỉnh của BLLĐ thì phạm vi, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về lao động đối với NCHAPT mang tính chuyên biệt và hoàn toàn không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ Đây là các quan

hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền

và NCHAPT trong việc cưỡng chế người bị kết án tù chung thân, tù có thời hạn thực hiện nghĩa vụ lao động bắt buộc tại cơ sở giam giữ

Thứ hai, về căn cứ phát sinh quan hệ lao động, theo quy định của BLLĐ,

quan hệ lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và một số trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn Theo quy định của

Trang 38

BLLĐ 2019, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035 Trong khi

đó, quan hệ lao động trong THAPT phát sinh trên cơ sở bản án kết án của Tòa

án, lao động là nghĩa vụ bắt buộc trong suốt thời gian người bị kết án phạt tù chấp hành án NCHAPT trên 60 tuổi vẫn phải lao động phù hợp với điều kiện sức khỏe cho đến khi họ được trả tự do theo quy định

Thứ ba, về đặc điểm chủ thể, theo quy định của BLLĐ thì “người lao động”

là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động (khoản 1 Điều 3)

Theo đó, quan hệ pháp luật lao động có phạm vi chủ thể rất rộng; (1) Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng

lao động, được trả lương khi làm việc và hưởng lương hưu khi đủ điều kiện Người lao động hưởng chế độ bảo hiểm và các phúc lợi khác trên cơ sở lao động thực tế như: thời gian làm việc, ví trị đảm nhận, khả năng chuyên môn, kỹ

thuật…; (2) Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác

xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (khoản 2 Điều 3 BLLĐ)

Đối với quan hệ lao động trong THAPT, “người lao động” là người bị kết

án tù, người sử dụng lao động là cơ quan THAPT và hoàn toàn không có yếu tố thỏa thuận Các chế độ về ăn, mặc, tư trang, khám chữa bệnh của NCHAPT do nhà nước bảo đảm mà không phụ thuộc vào kết quả lao động của họ Việc sử dụng thu nhập từ lao động do cơ quan THAPT quyết định trên cơ sở kết quả lao động NCHAPT không được hưởng tiền công, tiền lương Ngoài việc bổ sung chế độ ăn và một số phúc lợi khác, NCHAPT được hưởng một phần thu nhập theo kết quả chung mà không căn cứ vào lao động từng cá nhân NCHAPT không được hưởng lương hưu sau khi chấp hành xong án phạt tù

Thứ tư, khác biệt về nội dung CĐLĐ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam

“CĐLĐ” là quy định mức lao động cho người lao động chân tay hay lao động trí

óc, dựa trên các yếu tố: thời gian; cường độ lao động; tránh yếu tố độc hại Mục đích nhằm đề phòng sức khỏe giảm sút nhanh chóng, bảo đảm tổng số thời gian

Trang 39

làm việc trong suốt đời hoạt động của một người lao động; bảo đảm hiệu quả và năng suất lao động [49, tr.435] Để bảo đảm đầy đủ các yêu cầu này, Điều 16 BLLĐ quy định “người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ

bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu”

Chế độ lao động đối với NCHAPT không hội đủ các yếu tố của CĐLĐ thông thường Trong khi một số nguyên tắc cơ bản vẫn được chuyển hóa trong CĐLĐ đối với NCHAPT như: thời gian, tránh yếu tố độc hại và bảo đảm sức khỏe đối với người lao động Tuy nhiên, mục đích của lao động đối với NCHAPT là giáo dục cải tạo người bị kết án, vì vậy, mục đích bảo đảm tổng số thời gian làm việc của người lao động không được đặt ra

Thứ năm, khác biệt về các cơ chế áp dụng đối với người lao động Nhiều

cơ chế theo quy định của BLLĐ không được áp dụng đối với NCHAPT trong quá trình lao động tại các cơ sở giam giữ Cụ thể:

- Không cho phép tồn tại Tập thể lao động, là tập hợp có tổ chức của

người lao động cùng làm việc cho một người sử dụng lao động hoặc trong một

bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của người sử dụng lao động (theo BLLĐ 2012)

- Không cho phép hình thành và hoạt động của Tổ chức đại diện tập thể người lao động tại cơ sở được thành lập trong cơ sở giam giữ, mặc dù có số

lượng lao động trong khu vực này khá đông đảo

- Không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự dân

sự Mặc dù trong quá trình lao động của NCHAPT, vẫn có xung đột quyền, nghĩa vụ với cơ quan THAPT NCHAPT có quyền khiếu nại về quyết định, hành

vi trái pháp luật của giám thị, phó giám thị, quản giáo trong quá trình tổ chức lao động, tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết thuộc Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp tỉnh, cấp quân khu

- Pháp luật về lao động của Việt Nam nghiêm cấm lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc Việt Nam đã phê chuẩn việc gia nhập Công ước số 29 của ILO

Trang 40

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Công ước này, “lao động cưỡng bức hoặc bắt

buộc” là chỉ mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới

sự đe dọa của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm

[51] Trong khi đó, điểm c, khoản 2 Điều 2 của Công ước trên quy định: thuật

ngữ “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” không bao gồm: “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của Tòa án, với điều kiện là công việc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra của những cơ quan công quyền, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc

bị đặt dưới quyền sử dụng của những cá nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân”

Như vậy, lao động đối với NCHAPT đương nhiên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước số 29 Người bị kết án tù có nghĩa vụ lao động bắt buộc trong suốt thời gian chấp hành án Những phần tử chây ỳ, lười nhác, chống đối thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế lao động là hành vi được phép của cơ quan THAPT Điểm đáng lưu ý có thể thấy là, việc huy động sự tham gia của nhà đầu

tư thuộc mọi thành phần kinh tế vào hoạt động tổ chức lao động tại các TG ở Việt Nam là xu hướng tất yếu Điều cốt lõi là phải bảo đảm sự giám sát, kiểm tra của cơ quan THAPT trong xuất quá trình lao động, sản xuất nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NCHAPT Đây cũng chính là nội dung sẽ được luận giải đầy đủ trong các nội dung tiếp sau của luận án

Tóm lại: quan hệ pháp luật về lao động đối với NCHAPT là các quan hệ

xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong THAPT và NCHAPT trong quá trình tổ chức lao động và thực hiện nghĩa

vụ lao động bắt buộc đối với người bị kết án tù chung thân, tù có thời hạn đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ Nội dung quan hệ này thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước đối với NCHAPT

2.1.1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù

Trên cơ sở lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật, có thể định nghĩa:

THPL về lao động đối với NCHAPT là quá trình hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các cơ quan, người có thẩm quyền và các hoạt động của NCHAPT nhằm hiện thực hóa quy định của pháp luật về THAHS về lao động đối với

Ngày đăng: 29/06/2023, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. ANTV (2018), Lo ngại tình trạng tái phạm tội, tại trang http://www.antv. gov.vn/tin-tuc/an-ninh-trat-tu/lo-ngai-tinh-trang-tai-pham-toi-143016.html, [truy cập ngày 28/6/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lo ngại tình trạng tái phạm tội
Tác giả: ANTV
Năm: 2018
3. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2013), Đề án về việc thực hiện quản lý thi hành án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án về việc thực hiện quản lý thi hành án
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
4. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2013), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học về tổ chức, quản lý công tác thi hành án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học về tổ chức, quản lý công tác thi hành án
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
5. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2016), Báo cáo tổng kết việc thực hiện chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2011-2016; dự kiến chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2016-2021 (số 01-BC/BCĐCCTPTW ngày 20/4/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết việc thực hiện chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2011-2016; dự kiến chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2016-2021
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
6. Báo Kiến thức (2018), Lạ lùng phạm nhân làm việc trong cơ sở sản xuất biệt phủ sông Kinh Thày, tại trang https://kienthuc.net.vn/xa-hoi/la-lung-pham-nhan-lam-viec-trong-co-so-san-xuat-biet-phu-song-kinh-thay- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạ lùng phạm nhân làm việc trong cơ sở sản xuất biệt phủ sông Kinh Thày
Tác giả: Báo Kiến thức
Năm: 2018
7. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2010), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2010, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/., [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2010
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2010
8. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2011), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2011, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/, [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2011
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2011
9. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2013), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2013, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/, [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2013
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2013
10. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2014), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/, [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2014
11. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2016), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2016, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/, [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2016
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2016
12. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2017), Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2017, tại trang https://vn.usembassy.gov/vi/our-relationship-vi/official-reports-vi/, [truy cập ngày 20/10/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2017
Tác giả: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Năm: 2017
13. Bộ Tư pháp (2000), Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án, Đề tài khoa học cấp bộ, mã số 96-98-027/ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Đề tài khoa học cấp bộ
Năm: 2000
14. Bộ Tư pháp (2003), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Báo cáo phúc trình Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Đề tài cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Báo cáo phúc trình Đề tài khoa học cấp Nhà nước
Năm: 2003
15. Chesnokov Alexander (2006), Hệ thống nhà tù trong thể chế nhà nước Nga - khía cạnh lịch sử và lý luận, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nhà tù trong thể chế nhà nước Nga - khía cạnh lịch sử và lý luận
Tác giả: Chesnokov Alexander
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ
Năm: 2006
16. Chính phủ (2009), Dự án Luật thi hành án hình sự, trình Quốc hội Khóa XII, kỳ họp thứ 6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Luật thi hành án hình sự
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội Khóa XII
Năm: 2009
17. Chính phủ (2011), Báo cáo công tác thi hành án năm 2011, trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2011
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2011
18. Chính phủ (2012), Báo cáo công tác thi hành án năm 2012, trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2012
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2012
19. Chính phủ (2013), Báo cáo công tác thi hành án năm 2013, trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2013
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2013
20. Chính phủ (2014), Báo cáo công tác thi hành án năm 2014, trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2014
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2014
21. Chính phủ (2015), Báo cáo công tác thi hành án năm 2015, trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thi hành án năm 2015
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thống kê tổng số và cơ cấu độ tuổi người chấp hành án phạt tù - La   nguyen cong long  nop ra qd cap hv
Bảng 3.1 Thống kê tổng số và cơ cấu độ tuổi người chấp hành án phạt tù (Trang 102)
Bảng 3.2: Thống kê về cơ cấu ngành nghề được khảo sát - La   nguyen cong long  nop ra qd cap hv
Bảng 3.2 Thống kê về cơ cấu ngành nghề được khảo sát (Trang 118)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w