BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ o0o BẢN THU HOẠCH HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS HS 01 TẠ VĂN TRƯỜNG CHỨA MẠI DÂM VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ CÁ.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ
-o0o -BẢN THU HOẠCH HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS.HS - 01 TẠ VĂN TRƯỜNG CHỨA MẠI DÂM VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ: LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ CÁO Họ và tên ………
Ngày sinh ……….
Số báo danh ……….
Lớp ……….
Hà Nội, tháng … năm 2022
Trang 21 TÓM TẮT NỘI DUNG HỒ SƠ VỤ ÁN
1.1 Những người tham gia tố tụng
Bị cáo: Tạ Văn Trường
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Văn Thành, Ngô Thị Yến, Phùng
Thị Kim Liên, Lê Thị Thanh Tâm
1.2 Tóm tắt nội dung vụ án
Ngô Văn Thành – sinh năm 1984 là chủ và đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký Hộkinh doanh đối với cơ sở tẩm quất Ha Na – địa chỉ: phố Nguyễn Giáo, phường ĐồngNguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Khoảng cuối tháng 6/2018, Tạ Văn Trường – sinh năm 1988 đến quán Ha Na xinviệc làm Hai bên thỏa thuận: Thành giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành nhânviên, thu tiền tẩm quất của khách Thành hứa trả lương cho Trường 4.000.000đ/01tháng
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 05/7/2018, Thành không có mặt tại quán, có 03 đốitượng là: Nguyễn Văn Thọ - sinh năm 1986, Nguyễn Trần Trung – sinh năm 1987
và Nguyễn Văn Tuấn – sinh năm 1990 đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnhBắc Ninh, đi xe taxi của Nguyễn Văn Huy – sinh năm 1983, HKTT: thôn Việt Vân,
xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến quán Ha Na với mục đích muadâm
Thọ bảo Huy vào đợi còn Thọ, Trung, Tuấn đến gặp Trường tại quầy lễ tân và đặtvấn đề mua dâm Trường đồng ý và thu tiền phòng 150.000đ/01 người, 03 người là450.000đ Thọ lấy 500.000đ đưa cho Trường, Trường cầm tiền và trả lại cho Thọ50.000đ
Trường bảo Thọ, Trung và Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để Trường gọi nhân viênđến bán dâm Trường gọi Phùng Thị Kim Liên – sinh năm 1990 là nhân viên quán
Ha Na vào phòng 203 bán dâm và tiếp tục dùng điện thoại gọi cho người tên Bắc(Trường không rõ Bắc là ai, chỉ biết có số điện thoại là 0974.061.663 – theo Trườngkhai nhận là số điện thoại Thành cho Trường) báo cho 02 nhân viên đến quán Ha Na
để bán dâm Một lúc sau, Lê Thị Thanh Tâm – sinh năm 1995 đến, Trường bảo Tâm
1
Trang 3lên phòng 202 để bán dâm Tại phòng, Thọ và Trung đưa tiền cho người bán dâm làTâm và Liên, mỗi người 500.000đ, còn Tuấn ở phòng 201 vẫn đang đợi.
Khi Trung với Liên, Thọ với Tâm đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bịCQCSĐT – CA tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang thu giữ các vật chứng: 02 bao cao su đãqua sử dụng, tiền VNĐ: 1.500.000đ do Trường, Tâm và Liên giao nộp; 02 điện thoại
di động của Trường và Liên
Quá trình điều tra, giữa Trường và Thành có sự mâu thuẫn trong lời khai về việcThành có biết, chỉ đạo việc chứa dâm tại quán Ha Na hay không Ngày 10/8/2018,CQCSĐT – CA tỉnh Bắc Ninh đã cho Trường và Thành đối chất nhưng cả hai vẫngiữ nguyên lời khai
Về đối tượng tên Bắc có số điện thoại 0974.061.663, CQCSĐT – CA tỉnh Bắc Ninh
đã tiến hành điều tra xác minh chủ thuê bao là Nguyễn Thị Nguyên – sinh năm 1990
ở khu phố 1, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Nguyên khaiNguyên bị mất máy và sin từ cuối tháng 6/2018, hiện Nguyên không sử dụng số điệnthoại trên Nguyên không biết Trường là ai
Ngày 17/9/2018, CQCSĐT – CA tỉnh Bắc Ninh có bản Kết luận điều tra đề nghịtruy số số 54/KLĐT-PC01 đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố TạVăn Trường về tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 2 Điều 327 BLHS
Ngày 18/10/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có Bản cáo trạng số118/CT-VKS-P1 truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đểxét xử bị can Tạ Văn Trường về tội “Chứa mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 327BLHS
Ngày 28/12/2018, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh có Quyết định đưa
vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/2018/QĐXXST-HS theo đó đưa ra xét xử só thẩm vụ
án hình sự đối với bị cáo Tạ Văn Trường vào 7 giờ 30 phút, ngày 11/01/2019
Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bào chữa cho Tạ Văn Trường
Định hướng bào chữa: xin giảm nhẹ tội và mức hình phạt
2
Trang 4Định hướng, mục đích hỏi: Làm sáng tỏ việc Trường chỉ là đồng phạm, là người làmthuê, làm theo yêu cầu, chỉ đạo, thỏa thuận và chịu sức ép về doanh thu của chủquán.
2.1 Hỏi Bị cáo Tạ Văn Trường
1) Anh có được anh Ngô Văn Thành hướng dẫn về công việc quản lý quán
không?
2) Anh có biết rõ công việc của mình gồm những hoạt động gì không?
3) Anh Thành có thường xuyên ở quán hay không?
4) Vì sao bị cáo cho thuê phòng và gọi gái bán dâm đến bán dâm tại quán Ha Na tối ngày 05/7/2018?
5) Bị cáo đã thu bao nhiêu tiền từ Thọ, Trung, Tuấn? Tiền đó là tiền gì? Xử lý như thế nào?
6) Tối hôm xảy ra sự việc, lúc anh Thành mới đến quán, bị cáo và anh Thành đã nói gì với nhau?
7) Bị cáo có được hưởng lợi gì từ việc chứa dâm tại quán Ha Na không?
8) Liên và bị cáo có thỏa thuận gì về tiền giới thiệu mua bán dâm không?
9) Từ khi làm viêc ở đây, bị cáo có biết ở quán có vụ bán dâm nào xảy ra không?
2.2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Thị Kim Liên
1) Trước khi xảy ra sự việc ngày 05/8/2018, cho có tẩm quất cho khách nào tạiquán Ha Na không? Nếu có, tiền thu được ai hưởng? Có chia cho ai không?
2) Chị thỏa thuận làm việc với anh Thành như thế nào? Hưởng lương như thếnào?
3) Chị có bán dâm tại quán Ha Na trước khi Trường vào làm việc hay không?4) Chị bán dâm tại quán, anh Thành có biết không?
5) Chi biết Bắc không?
6) Ngoài chị ra, trước đây có ai bán dâm tại quán không?
2.3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Văn Thành
3
Trang 51) Anh với chị Liên thỏa thuận làm việc như thế nào? Hưởng lương ra sao?
2) Anh với bị cáo Trường thỏa thuận làm việc như thế nào? Hưởng lương ra sao?
Ngoài lương ra, bị cáo Trường còn được trả khoản tiền nào khác không?
3) Số tiền hàng ngày Trường thu của khách tới quán Ha Na được xử lý như thế
nào?
4) Trước đây, anh có biết việc Liên bán dâm tại quán không?
5) Anh nêu rõ các mức giá tẩm quất tại quán?
6) Anh có thường xuyên đến quán để xem tình hình kinh doanh không?
7) Anh có hướng dẫn Trường biết những công việc của quán và cách làm hay
không? Có nói rõ những việc được làm và không được làm hay không?
2.4 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thanh Tâm
1) Tối này 5/7/2018 tại sao chị lại đến quán Ha Na?
2) Chị có nhận được điện thoại của ai để đến quán Ha Na bán dâm Bắc hay
Trường?
3) Số điện thoại 0974.061.663 là của ai?
4) Chị có biết Bắc không?
5) Trước đây chị có biết Trường và Thành không?
6) Chị có thỏa thuận phân chia tiền bán dâm với Trường hoặc Thành không?
4
Trang 63 LUẬN CỨ BẢO VỆ BỊ CÁO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa: - Hội đồng xét xử
- Vị đại diện Viện Kiểm sát
- Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp
- Cùng Toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là luật sư ……… – Thuộc văn phòng Luật sư X thuộc Đoàn Luật sưthành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bào chữa cho bịcáo là ông Tạ Văn Trường
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các lời khai và chứng cứ đã được thẩm định tại phiêntòa, sau khi nghe quan điểm của vị đại diện VKS, tôi xin được trình bày quan điểm củamình như sau
Thứ nhất, về việc áp dụng tình tiết tăng nặng “Chứa mại dâm từ 04 người trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS.
Tôi không có ý kiến khác đối với tội danh “Chứa mại dâm” mà Viện kiểm sát truy tố Tuynhiên, về mức hình phạt thì tôi không đồng ý áp dụng tình tiết định khung tăng năng
“Chứa mại dâm từ 04 người trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS, bởi lẽ:
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” nên “chứa mại dân” nghĩa là
“chứa bán dâm” Như vậy, tình tiết tại điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS được hiểu là chứa
từ 04 người bán dâm trở lên Mà trong vụ án này chỉ có hai người thực hiện hành vi bándâm cho khách là Phùng Thị Kim Liên và Lê Thị Thanh Tâm
Nên việc Viện kiểm sát truy tố Tạ Văn Trường theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS làchưa phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án
5
Trang 7Thứ hai, về nguyên nhân và hoàn cảnh phạm tội.
Trường làm việc quản lý tại quán Ha Na, công việc này Trường mới nhận được chưa đầy
1 tuần (từ cuối tháng 6/2018 đến 5/7/2018) thì toàn bộ quá trình hoạt động của quán đềuphải dựa vào sự chỉ đạo của chủ quán là anh Thành, chứ Trường không thể làm thuầnthực, nhuần nhuyễn và đúng quy trình hoạt động của quán được Như vậy, có thể thấyrằng hành vi sai trái của Trường là do có sự dẫn dắt, chỉ đạo của chủ quán là anh Thành
Cụ thể, trong tất cả các lời khai, Trường đã nếu rõ việc gọi cho Bắc và gọi Liên tiếp kháchdưới sự hướng dẫn từ trước của Thành Bên cạnh đó, khi việc bán dâm đang được thựchiện thì Trường có báo cáo cho Thành (lúc đó đang ở quán) và Thành không nói gì Ngoài
ra, Trường hoàn toàn không nhận được bất cứ lợi ích gì từ việc cho phép người sử dụngquán để thực hiện hành vi mại dân dựa trên lời khai của Liên và Tâm Trường chỉ là nhânviên, bị áp lực về việc thực hiện công việc và chắc chắc cũng bị áp lực về doanh thu củaquán, toàn bộ tiền thu được từ Thọ, Trung và Tuấn chỉ là tiền phòng, và theo quy định củaquán sẽ được nộp lại cho chủ quán, đưa vào doanh thu
Mặt khác, theo lẽ thông thường, chủ quán phải biết và kiểm soát được hoạt động thườngngày của quán và nhân viên (gồm cả 02 nhân viên Trường và Liên) Vì vậy, lời khai củaThành với vai trò là chủ quán về việc không chỉ đạo cho Trường, không biết việc Liênhành nghề bán dâm tại quán, có đến quán tại thời điểm các đối tượng mua bán dâm nhưngkhông biết gì là không hợp lý
Do đó, căn cứ vào nguyên nhân và hoàn cảnh khẳng định Trường thực hiện hành vi chứadâm không hoàn toàn do ý chí của bản thân, mà chỉ đóng vai trò thứ yếu, bị đưa ra đứngmũi chịu sào, chịu tội thay cho người khác
Thứ ba, xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tôi kính đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo Trường được hưởng các tình tiết giảm nhẹsau:
Bị cáo Trường là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và đã rất ân hận, ý thứcđược hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo và không có dấu hiệugiấu diếm Bị cáo luôn có thái độ hợp tác, giúp CQCSĐT sớm kết thúc vụ án và tại Kếtluận điều tra đã được công nhân các tình tiết giảm nhẹ TNHS sau:
“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự);
6
Trang 8Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (theo quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự).”
Tuy nhiên, dựa trên mức đề xuất của VKS, tôi cho rằng mức xử phạt này chưa mang tínhchất giáo dục, khoan hồng, mà chỉ mang tính trừng phạt chưa làm vụ án trở nên kháchquan, công bằng
Từ những nhận định trên, kính mong HĐXX xem xét bị cáo phạm tội “Chứa mại dâm”theo quy định tại khoản 3 Điều 327 BLHS cùng với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được
áp dụng khung hình phạt dưới 03 năm
Kết hợp với quy định tại Điều 65 BLHS quy định về án treo: “1 Khi xử phạt tù khôngquá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xétthấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn địnhthời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thửthách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”
Một lần nữa, kính đề nghị HĐXX xem xét các đề nghị của Luật sư để từ đó đưa ra mộtbản án thấu tình đạt lý, thể hiện sự công minh của cơ quan có thẩm quyền xét xử Đồngthời thể hiện được tính nhân đạo cao, giúp bị cáo Tạ Văn Trường có điều kiện thay đổinhận thức, sửa chữa lỗi lầm của mình, trở thành người con tốt của gia đình, công dân tốtcủa xã hội
Trân trọng cảm ơn./
7
Trang 9NHẬN XÉT DIỄN ÁN
8
Trang 109
Trang 1110
Trang 1211
Trang 1312
Trang 1413
Trang 1514
Trang 1615
Trang 1716
Trang 1817
Trang 1918
Trang 2019
Trang 2120
Trang 2221
Trang 2322
Trang 2423
Trang 2524
Trang 2625
Trang 2726
Trang 2827
Trang 2928
Trang 3029
Trang 3130
Trang 3231
Trang 3332
Trang 3433
Trang 3534
Trang 3635
Trang 3736
Trang 3837
Trang 3938
Trang 4039
Trang 4140
Trang 4241
Trang 4342
Trang 4443
Trang 4544
Trang 4645
Trang 4746
Trang 4847
Trang 4948
Trang 5049
Trang 5150
Trang 5251
Trang 5352
Trang 5453
Trang 5554
Trang 5655
Trang 57
56