Nhà máy Giấy Việt trì nay là Công ty cổ phần Giấy Việt Trì được xây dựng ngày 19 tháng 5 năm 1961 do Trung Quốc viện trợ (thiết kế xây dựng và cung cấp thiết bị máy móc) với công suất thiết kế ban đầu là 18.000 tấn giấynăm trên một diện tích 14ha thuộc khu công nghiệp Nam Việt trì. Sản phẩm gồm có: giấy viết, giấy in, giấy đánh máy, bìa học sinh và giấy bao gói.
Trang 1Mục Lục:
TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NHÀ MÁY -3
1.1 THÔNG TIN KHÁI QUÁT: 3
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 3 1.3 CÁC SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY: 5
QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY -8
2.1 XI NGHIỆP NHA MAY 1: 8
Qúa trình chuẩn bị bột: 8
Quá trình xeo giấy: 10
Thiết bị chính trong dây chuyền: 12
Một số chỉ tiêu sản phẩm: 20
2.2 XÍ NGHIỆP NHÀ MÁY 2: 21
2.2.1. Quá trình chuẩn bị bột: 21
2.2.2. Quá trình xeo giấy: 24
2.2.3. Quá trình tráng phủ giấy: 25
2.2.4. Thiết bị chính trong dây chuyền: 28
2.2.5. Quy định về chất lượng một số sản phẩm -34
KẾT LUẬN -36
Trang 2TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NHÀ MÁY:
1.1 Thông tin khái quát:
Tên hợp pháp của công ty bằng tiếng Việt là Công ty Cổ phần Giấy Việt
Trì Tên đăng ký hợp pháp bằng tiếng Anh là Viet Tri Paper Join Stock
Company Công ty là công ty cổ phần có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp
luật hiện hành của Việt Nam, với vốn điều lệ là 73,450 tỷ đồng - vốn đầu tư
của chủ sở hữu Trụ sở đăng ký của công ty là: đường Sông Thao, phường Bến
Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam
1.2 Quá trình hình thành và phát triển:
Nhà máy Giấy Việt trì nay là Công ty cổ phần Giấy Việt Trì được xây dựng
ngày 19 tháng 5 năm 1961 do Trung Quốc viện trợ (thiết kế xây dựng và cung
cấp thiết bị máy móc) với công suất thiết kế ban đầu là 18.000 tấn giấy/năm
trên một diện tích 14ha thuộc khu công nghiệp Nam Việt trì Sản phẩm gồm có:
giấy viết, giấy in, giấy đánh máy, bìa học sinh và giấy bao gói
Từ năm 1967 việc sản xuất phải ngưng hoàn toàn do chiến tranh phá hoại
của Đế quốc Mỹ, năm 1973 nhà máy được khôi phục nhanh chóng tạm thời để
đi vào sản xuất phục vụ các nhu cầu của xã hội Năm 1976 Nhà nước có kế
hoạch xây dựng lại Nhà máy với sản lượng 20.000 tấn/năm do Trung Quốc
thiết kế và trang bị các thiết bị nhưng kế hoạch này đã không thực hiện được
Do đó Nhà máy được khôi phục tạm với ý định chỉ sử dụng trong vòng 3-5
năm song đã kéo dài sử dụng từ năm 1973 cho đến nay Tuy nhiên với truyền
thống là một cái nôi của ngành giấy Việt Nam, Công ty cổ phần Giấy Việt Trì
(Nhà máy Giấy Việt Trì trước kia) đã nhanh chóng khắc phục những yếu kém
của mình và tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn
Năm 1996 Công ty đã lập dự án đầu tư mở rộng sản xuất và tháng 11 năm 1997
dự án đầu tư dây chuyền sản xuất giấy bao bì công nghiệp đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt, dây chuyền có công suất 25.000 tấn giấy/năm với công
nghệ hiện đại, thiết bị sản xuất chủ yếu được nhập từ Hàn Quốc và các nước
Bắc Âu Hiện nay dây chuyền đi vào hoạt động sản xuất ổn định Do đó liên
tục qua các năm Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch trước thời hạn từ 2
đến 3 tháng Sản lượng giấy của Công ty tăng bình quân từ 25 - 30%/năm,
doanh thu tăng 25 - 30%/năm, bước đầu sản xuất đã có lãi Thu nhập của người
lao động tăng không ngừng, đời sống văn hoá, tinh thần của CBCNV trong
Công ty được cải thiện đáng kể
Tháng 10 năm 2008 Công ty chính thức đi vào hoạt động theo mô hình
Công ty cổ phần (chuyển đổi DNNN theo quyết định số 1700/QĐ-BCN ngày
16/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp) Tại thời điểm đó cuộc khủng hoảng
Trang 3tài chính toàn cầu tác động rất xấu tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và
ngành giấy nói riêng Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều
khó khăn do thiếu vốn cho sản xuất, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được
vì giấy ngoại tràn vào thị trường nội địa với giá rất rẻ Trước tình hình đó Công
ty đã quyết dịnh chuyển sang sản xuất chủ yếu các loại giấy Kraftliner, Test
liner và giấy sóng cao cấp, tuy hiệu quả tương đối thấp nhưng duy trì được sản
xuất., giữ được thị trường và ổn định việc làm cho người lao động Từ quý III
năm 2009 trở đi, thị trường có dấu hiệu tiêu thụ tốt nên sản lượng sản xuất và
tiêu thụ 6 tháng cuối năm 2009 rất tốt góp phần làm cho kết quả sản xuất kinh
doanh năm 2009 tương đối khả quan
Với những đòi hỏi ngày càng khắt khe về mặt chất lượng sản phẩm với
máy xeo giấy in viết của Công ty cổ phần Giấy Việt Trì được đầu tư từ những
năm 1960 với công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ không thể sản xuất được các mặt
hàng có chất lượng cao đáp ứng được các nhu cầu của thị trường hiện nay
Điều này cũng đồng nghĩa với việc thị trường giấy in viết mà máy xeo này sản
xuất ra ngày càng bị thu hẹp và có nguy cơ mất thị trường và mất thương hiệu
giấy in, giấy viết Việt trì Vì vậy cuối năm 2009 Công ty đã quyết định đầu tư
thêm một máy Xeo lưới dài để sản xuất giấy in viết có gia keo bề mặt nhằm
đáp ứng với yêu cầu của thị trường Tháng 5/2010 máy Xeo này đã lắp đặt
xong và hiện nay đang hoạt động ổn định, tổng sản lượng của Công ty năm
2010 sẽ đạt 60.000 tấn giấy/năm Trong năm 2011, Công ty đã hoàn thành một
số hạng mục đầu tư về thiết bị theo chiều sâu cho dây chuyền sản xuất của cả
hai xí nghiệp, như: Đầu tư hệ thống QCS, hệ thống khử mực nhẹ, máy rửa bột
cao tốc…cho dây chuyền của XN 2, đầu tư hệ thống máy nghiền bột cho dây
chuyền sản xuất giấy in, viết của Xí nghiệp 1; Đầu tư cải tạo 2 lò hơi dầu thành
lò tầng sôi, đốt bằng cám cưa để tăng công suất phát hơi Tổng giá trị đầu tư
XDCB đã hoàn thành là 15 tỷ đồng Trong năm 2012 Công ty đã tiến hành cải
tạo Nồi hơi từ đốt dầu sang đốt bằng mùn cưa và xây mới Nhà ăn ka cho người
lao động với giá trị đầu tư là 2,8 Tỷ VNĐ Năm 2013 Công ty tiếp tục thực
hiện một số hạng mục đầu tư, cải tạo, sửa chữa thiết bị theo chiều sâu nhằm ổn
định và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của cả hai Xí nghiệp, nâng
cao một bước về sản lượng của dây chuyền giấy bao bì công nghiệp - Xí nghiệp
giấy 2 Tổng giá trị đầu tư năm 2013 khoảng 22 tỷ đồng Hiện tại các hạng mục
đã được đưa vào sử dụng và đang từng bước đem lại hiệu quả thiết thực
Trong năm 2014 Công ty không chủ trương đầu tư mở rộng mà chỉ đầu tư
chiều sâu để từng bước nâng cao và giữ ổn định chất lượng sản phẩm Đầu tư 01
Lò hơi đốt nhiên liệu hỗn hợp công suất 20 tấn/giờ giá trị đầu tư gần 13 tỷ VNĐ
Đầu tư xây dựng một Nhà kho 2000m2, kết cấu khung thép, mái tôn để có thêm
Trang 4chứa, bảo toàn chất lượng nguyên liệu giấy Lề và bột giấy; Giá trị đầu tư 2,3 tỷ
VNĐ Bên cạnh đó còn mua một số thiết bị dự phòng cho máy xeo giấy; Giá trị
đầu tư trên 3 tỷ VNĐ.Tất cả các hạng mục đã và đang phát huy hiệu quả cao
1.3 Các sản phẩm của công ty:
Mục tiêu của Công ty trong những năm tiếp theo của công ty là gia tăng giá
trị sản phẩm và hướng đến sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Công ty Cổ
phần Giấy Việt Trì chuyên sản xuất các loại giấy Carton bao bì công nghiệp
Các sản phẩm chính gồm có :
Giấy Kraftliner :
Có dải định lượng từ 150 ÷ 300 g/m2
Là loại giấy có 2 mặt, 1 mặt được làm từ bột hoá không tẩy trắng (Vergin
Kraft) và 1 mặt được làm từ giấy phế liệu với các loại Carton nhập khẩu
Là dòng sản phẩm được sản xuất trên dây truyền công nghệ hiện đại của
Hàn Quốc do tập đoàn Hansol Paper lắp đặt được trang bị đầy đủ hệ thống
QCS, DCS hiện đại, mang tính đồng bộ cao
Sản phẩm có uy tín trên thị trường giấy bao bì công nghiệp với các chỉ tiêu
kỹ thuật vượt trội như độ cứng, độ bục của giấy tương đương với hàng nhập
ngoại cùng loại Đặc biệt màu sắc đặc trưng đồng đều trong quá trình sản xuất
tạo nên thư ơng hiệu Kraft liner Việt Trì
Được sử dụng làm lớp mặt của thùng Carton 3-5 lớp phục vụ cho sản xuất
thùng Carton cao cấp
Giấy Testline:
Có dải định lượng từ 120 ÷ 170 g/m2
Là loại giấy có 2 mặt, 1 mặt được làm từ bột hoá không tẩy trắng (Vergin
Kraft) và 1 mặt được làm từ giấy phế liệu với các loại Carton nhập khẩu
Được sử dụng làm lớp mặt của thùng Carton 3-5 lớp phục vụ cho sản xuất
thùng Carton
Giấy Duplex coated (DLC):
Có dải định lượng từ 200 ÷ 450 g/m2
Trang 5Là loại giấy có 2 mặt, 1 mặt được làm từ bột hoá tẩy trắng và được tráng
phủ bề mặt 1 mặt được làm từ giấy báo và tạp chí cũ
Là dòng sản phẩm đầu tiên do Việt sản xuất trên dây truyền công nghệ hiện
đại của Hàn Quốc do tập đoàn Hansol Paper làm chủ đầu tư được trang bị đầy
đủ hệ thống QCS, DCS hiện đại, mang tính đồng bộ cao
Đặc biệt máy xeo được thiết kế hệ thống tráng phấn Online tạo ra dòng sản
phẩm có chất lượng vượt trội Sản phẩm đã trở thành độc quyền của ngành giấy
Việt Nam với chất lượng sản phẩm cao, có tính ổn định, chất lượng tương
đương với hàng nhập khẩu và được các khách hàng in bao bì cao cấp trong
nước đánh giá là địa chỉ tin cậy trong nhiều năm qua
Chất lượng sản phẩm được thể hiện rõ nét ở các chỉ tiêu kỹ thuật như độ
đồng đều về màu sắc, độ đồng đều toàn tuyến ngang, chất lượng giấy bề mặt có
độ nhẵn, độ bóng cao, tính năng bắt mực in rất tốt Rất thích hợp với công nghệ
in Offset, Flexô nhiều màu với chất lượng cao
Giấy Duplex coated white (DL-CW):
Có dải định lượng từ 200 ÷ 250 g/m2
Là dòng sản phẩm tráng phấn cao cấp 2 mặt trắng làm từ nguyên liệu bột
hoá nhập khẩu, được sản xuất trên dây truyền hiện đại, có tính đồng bộ cao, hệ
thống kiểm soát chất lượng tự động (online), đảm bảo cho chất lượng ổn định,
Là loại giấy có 2 mặt Cả 2 mặt đều được làm làm từ giấy phế liệu với các
loại Carton nhập khẩu
Giấy làm lớp sóng được sử dụng để làm lớp giữa, lớp lót cho các sản phẩm
Carton, hòm hộp, giấy lót kính, làm lõi cuộn giấy, lõi cuộn chỉ…
Sản phẩm có uy tín trên thị trường với các chỉ tiêu kỹ thuật vượt trội như
độ cứng, độ bục, độ chịu xé, độ bền kéo, độ sạch bề mặt
Giấy bao gói xi măng:
Trang 6Là loại giấy được làm từ bột Kraft nguyên thuỷ ( Vergin Kraft ) kết hợp với
giấy loại Carton nhập khẩu Sản phẩm này được dùng chủ yếu trong ngành sản
xuất bao bì đựng xi măng, thức ăn gia súc, phân đạm, giấy lót kính…
Sản phẩm này được sản xuất trên dây truyền hiện đại có trang bị các thiết
bị trợ tạo hình, hệ thống ép quang, hệ thống kiểm soát QCS có tính đồng bộ cao
tạo nên chất lượng sản phẩm tốt nhất
Sản phẩm có uy tín trên thị trường với các chỉ tiêu kỹ thuật vượt trội như
độ bền kéo, độ bền xé, độ thấu khí, độ nhám bề mặt so với các loại sản phẩm
đang có trên thị trường Sản phẩm này cũng có được thương hiệu và chỗ đứng
trên thị trường
Trang 7QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY:
Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì sản xuất rất nhiều mẫu mã sản phẩm nhưng
trong thời gian thực tập vừa rồi, nhà máy hiện chỉ sản xuất hai loại giấy bao bì
là là Kraftliner (xí nghiệp 1) và giấy Duplex coated white (DCW) , KP (xí
nghiệp 2) Vậy nên trong bài báo cáo này chỉ tìm hiểu về quá trình sản xuất ở
hai xí nghiệp 1 và 2 với hai loại giấy đang chạy như trên
2.1 Xí nghiệp nhà máy 1:
Dây chuyền xeo PM1 tại Xí nghiệp giấy 1 trước đây là dây chuyên sản xuất
giấy in viết Đầu tháng 02/2017 đã được nâng cấp chuyển đổi sang xuất giấy
bao bì công nghiệp với công suất thiết kế 60000 tấn/năm Các máy móc trong
dây chuyền chủ yếu được sản xuất ở Trung Quốc và nhập về lắp ráp tại Công
ty
Xí nghiệp 1 của nhà máy chỉ được áp dụng để sản xuất các loại giấy bao bì
không có tráng phủ và chất lượng sản phẩm kém hơn so với bao bì sản xuất ở
xí nghiệp 2 Hiện tại xí nghiệp 1 đang sản xuất loại giấy Kraftliner với công
suất thực tế là 40.000 tấn/ năm
Qúa trình chuẩn bị bột:
a) Nguyên liệu sản xuất:
Nguyên liệu để sản xuất giấy Kraft liner của xí nghiệp giấy 1:
- Giấy nội: nguồn giấy bao bì, cactong được thu mua trong nước (giấy phế
liệu) được xeo cho lớp back (lớp đế)
- Giấy ngoại: giấy được nhập từ các nước Mỹ, Hàn, Nhật,….được xeo cho
lớp top (lớp mặt)
- Giấy lề, giấy rách: giấy loại khi cắt cuộn, giấy bị đứt khi chạy máy xeo,
giấy bị hỏng xeo lớp top
Trang 8NTL 2
(giấy ngoại)
NTL 3 (lề, giấy rách)
Bể sau cô đặc
Bể nước sau cô đặc
Cô đặc
Sàng cấp 2
Sàng tinh cấp 1 Sàng cấp 1
Thủy lực phân ly
Bể chứa thải sau sàng
thải
b) Thuyết minh quá trình chuẩn bị bột:
Hình2.1: Sơ đồ quá trình chuẩn bị bột xí nghiệp 1
Tuyến giấy ngoại: Nguồn giấy ngoại được nhập từ nước ngoài, được cho
vào máy nghiền thủy lực 2 và được pha loãng tới nồng độ bột khoảng 3 – 3.5%
Sau đó, huyền phù bột được bơm vào bể sau nghiền thủy lực (bể 65) để giúp
bột trương nở tốt Đạt nồng độ để nghiền, huyền phù bột đi vào máy nghiền đĩa
mắc nối tiếp với 4 máy nghiền và đạt được độ nghiền là 200-210OCFS Sau
nghiền, bột đi xuống bể 4, bơm sang bể 6; quá trình này bột được pha loãng
bằng nước trắng của lưới xeo top xuống nồng độ 2.4 – 2.5% Tại đây, có bổ
sung hóa chất bảo vệ lưới 8661, chất phá bọt, keo AKD, phẩm màu Sau đó
được bơm lên thùng điều tiết và xuống bơm quạt Tại bơm quạt, bột được pha
loãng và đi qua sàng tinh (sàng khe) Bột tốt được bơm lên xeo top
Tuyến giấy lề, giấy rách: Giấy lề, giấy rách từ xưởng xeo và cuộn lại
được cho vào máy nghiền thủy lực 3 và được pha loãng đạt nồng độ 3 – 3.5%
Sau đó được bơm vào bể 65 cùng với tuyến giấy ngoại
Tuyến giấy nội: Nguồn giấy nội được đưa vào máy nghiền thủy lực 1 và
được pha loãng đến nồng độ khoảng 3% được bơm vào bể sau nghiền thủy lực
Trang 9Hòm đầu máy lớp mặt
Hòm đầu máy lớp
đế (back)
Ép
Lưới Ép
Sấy trước
Lưới lớp đế (back) Lưới lớp mặt (top)
(bể 100) Sau đó được bơm qua lọc cát nồng độ cao để tách các hạt rắn có kích
thước lớn và nặng Phần tốt của lọc cát nồng độ cao đi sang sàng thô cấp 1
Xấu của sàng thô cấp 1 sang sàng thô cấp 2 Tốt của cả 2 sàng đi vào lọc cát
Xấu của sàng thô cấp 2 đi vào sàng rung để lấy lại 1 phần bột Tại lọc cát nồng
độ thấp có 4 cấp Bột tốt của cấp 1 được đi sang sàng tinh, còn bột xấu sẽ sang
cấp 2 Tốt của cấp 2 tuần hoàn về cấp 1, xấu của cấp 2 sang cấp 3 cứ như vậy
cho đến cấp 4 và thải Bột tốt của lọc cát sẽ đi vào sàng tinh cấp 1 và và sàng
phân ly (sàng khe) Bột tốt của sàng phân ly đi sang máy cô đặc để tăng nồng
độ Sau cô đặc, bột đi vào bể 2 và được bơm vào máy nghiền tại tuyến giấy
ngoại Loại của sàng phân ly đi vào sàng tinh cấp 1 Xấu của sàng tinh cấp 1 đi
sang sàng tinh cấp 2 Bột tốt của 2 sàng sang máy cô đặc Bột xấu của sàng tinh
cấp 2 sang bể chứa và đi xuống máy nghiền thủy lực phân ly, sau đó được bơm
vào sàng tinh cấp 1 Bột sau cô đặc đi vào bể 1, từ bể 1 được bơm lên máy
nghiền đĩa với 3 máy nghiền mắc nối tiếp nhau sao cho đạt đến 280 – 290OCFS
Bột sau nghiền đi xuống bể 3 sau đó được bơm sang bể 5,7 được pha loãng
bằng nước trắng phần xeo back Tại đây bổ sung thêm hóa chất như chất trợ
bảo lưu percol 182, keo AKD Sau đó được bơm sang bơm quạt và pha loãng đi
sang sàng tinh rồi lên xeo lớp back Bột xấu sàng tinh quay về bể 1
Quá trình xeo giấy:
Hình 2.2 Sơ đồ xeo giấy ở xí nghiệp 1.
Trang 10Tại hòm phun bột lớp back, bột được phun lên lưới (lưới dài) để hình thành
tờ giấy ướt với vận tốc gần bằng vận tốc lưới Sau khi bột được phun lên lưới
sẽ đi qua 1 lô dandy có tác dụng làm đồng đều huyền phù bột trên lưới Tại
phần lưới nước được tách ra nhờ tấm hình thành, tấm gạt nước, hút chân
không, trục bụng chân không
Hòm phun bột lớp top, bột được phun lên lưới (lưới dài) để hình thành tờ
giấy ướt với vận tốc gần bằng vận tốc lưới, được tách nước nhờ tấm hình thành,
tấm gạt nước, hút chân không, trục bụng chân không Tại trục bụng 2 lớp giấy
được dính vào nhau nhờ lực hút chân không Sau đó tờ giấy được đi vào ép ướt
với 3 cặp ép để loại nước đạt đến độ khô khoảng 38 – 42% rồi đi sang phần sấy
với 4 tổ sấy (24 lô) Sau sấy đầu đạt độ khô khoảng 95% được gia keo bề mặt
để tăng độ bóng, độ chống thấm Sau đó giấy lại đi qua sấy cuối với 2 tổ sấy
(16 lô) để nâng độ khô lên 92% rồi đi qua ép quang đến lô cuộn
Trong dây chuyền xeo lưới đôi gồm có :
- 2 Hòm phun bột : hòm phun lớp Top (mặt) và hòm phun lớp Back (đế)
- 6 Hòm hút chân không với độ chân không là 0,015Mpa:
+ 4 Hòm hút ở lưới lớp Back+ 2 Hòm hút ở lưới lớp Top
- Bộ phận ép : Có 2 cặp ép:
+ Ép trung tâm (ép 1): Có 2 khe ép: Ép trước với áp lực ép 3 kg/cm2 và ép sau với áp lực ép 3,7 kg/cm2
+ Ép 2 : Có 1 khe ép, áp lực ép 4÷4,2 kg/cm2
- Bộ phận sấy : Có 26 lô sấy và được chia thành 4 tổ sấy:
+ Tổ sấy I : có 6 lô với nhiệt độ khoảng 60÷700C: 3 lô sấy đầu (lô1,2,3) dùng hơi thứ từ các lô sấy chính và 3 lô sấy sau (lô 4,5,6)dùng hơi chính
+ Tổ sấy II : Nhiệt độ khoảng 80÷1100C, có 6 lô sấy (lô 7÷12) dùnghơi chính
+ Tổ sấy III : Nhiệt độ khoảng 80÷1100C, có 6 lô sấy (lô 13÷18) dùnghơi chính
+ Tổ sấy IV : Có 8 lô sấy: 2 lô đầu (lô 19,20) dùng hơi thứ, nhiệt độkhoảng 70÷800C và 6 lô còn lại dùng hơi chính ở 80÷1000C
Trang 11- Bộ phận ép keo : Gồm 2 lô cao su, D=600 mm Sử dụng keo tinh bột
- Bộ phận ép quang : Gồm 2 lô cứng làm bằng thép D=300mm
- Bộ phận cuộn : Lô cuộn có đường kính 1000mm, tốc độ thiết kế khoảng
400m/pThiết bị chính trong dây chuyền:
a) Nghiền thủy lực: Giai đoạn nghiền thủy lực mục đích là để đánh tơi giấy
phế liệu được vận hành liên tục Máy này được thiết kế làm việc ở một nồng độ
bột nhất định thường từ 3 – 7%
Nguyên lý hoạt động: Giấy phế liệu và nước từ bể nước sau cô đặc được
đưa vào máy nghiền, nhờ tác động của áp lực nước cộng với các dao ở thành và
đáy máy nghiền giấy phế liệu được đánh tan vào nước tạo thành huyền phù bột
Do là giấy phế liệu nên có rất nhiều rác cần phải có ranger kéo rác Sau khi
đánh thủy lực xong, ranger kéo hết rác trong bể nghiền thủy lực ra ngoài, đồng
thời bột được rút ra khỏi máy qua các lưới lọc nhờ bơm sang bể 100
Năngsuất(T/N)
Công suất(Kw) Ghi Chú
1 LDP-8.0-75 8.0 3-5% 45-50 75KW Kiểu hình trụđứng
b) Lọc cát nồng độ cao: Mục đích để tách các hạt cát, sỏi, ghim có kích
thước lớn ra khỏi huyền phù bột để bột đạt được tiêu chuẩn để đi vào sàng thô
Nồng độ bột đi vào lọc cát nồng độ cao vào khoảng 3%, nồng độ ra khoảng
Trang 12Nguyên lý hoạt động:
Huyền phù bột đi vào lọc cát nồng độ cao theo phương tiếp tuyến của thiết
bị, dòng bột chuyển động theo dòng lốc xoáy tròn đi xuống Quá trình xoáy lốc
nên huyền phù bột chịu tác động của lực ly tâm nên những chất nào có trọng
lượng lớn thì chịu lực ly tâm nhiều hơn, được tách ra khỏi bột Huyền phù bột
chuyển động xuống dưới va đập vào thiết bị nên mất động năng Do đường
kính thiết bị giảm nên áp suất đáy thiết bị rất lớn so với phía trên tạo điều kiện
cho dòng bột đi lên và ra ngoài
c) Sàng thô: Mục đích để loại bỏ lượng rác chứa trong huyền phù bột sau
quá trình lọc cát nồng độ cao để lấy được huyền phù bột có chất lượng
Sàng có 2 dạng: sàng ngoại lưu và sàng nội lưu đều là dạng sàng lỗ Tại
phần sàng thô nhà máy giấy Việt Trì dùng sàng nội lưu với kích thước mắt
sàng khoảng 2 – 2,4mm Với nồng độ bột vào khoảng 0,6 – 1% Phần sàng thô
được chia thành 2 cấp với cấp 1 có năng suất cao hơn cấp 2
Huyền phù bột sau khi ra khỏi lọc cát nồng độ cao sẽ đi vào sàng thô cấp 1
và được pha loãng Lưới sàng được chuyển động nhờ động cơ Lúc này, huyền
phù bột di chuyển từ trên xuống và bị xáo trộn Các xơ sợi sẽ đi qua mắt sàng
và được đưa sang lọc cát nồng độ thấp Phần không qua mắt sàng sẽ đi sang
sàng thô cấp 2 để lấy lại 1 phần xơ sợi còn xót lại Phần thải của sàng thô cấp 2
sẽ đi sang sàng rung Phần tốt đi sang lọc cát nồng độ thấp
d) Sàng rung: Mục đích của sàng rung là tận dụng lượng bột chứa trong phần
thải của sàng thô và sàng tinh
Nguyên lý hoạt động:
Rác thải của sàng thô và sàng tinh được đưa về sàng thô để tận dụng lượng
bột Rác thải được đưa vào phần trên của sàng, với kích thước mắt sàng lớn
Nước từ bể sau cô đặc được phun vào đồng thời lưới sàng được kết nối với
động cơ tạo ra độ rung nhất định, khiến cho phần bột xót lại trong rác thải đi
xuống dưới và dk bơm sang bể chứa Còn rác được đưa ra xe rác chuyển ra nơi
tập kết
e) Lọc cát nồng độ thấp: Mục đích là loại bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ
hơn hoặc bằng kích thước với huyền phù bột nhưng có trọng lượng lớn hơn
trọng lượng của huyền phù bột để đảm bảo chất lượng bột thuần khiết đồng
thời tránh sự tổn thất để đảm bảo hiệu qủa kinh tế
Nguyên lý hoạt động: Bột ra khỏi sàng thô được pha loãng ở bể nước sau
cô đặc có nồng độ vào khoảng 0,3 đến 1% đi vào lọc cát Huyền phù bột đi vào
lọc
Trang 13cát nồng độ thấp theo phương tiếp tuyến của thiết bị, dòng bột chuyển động
theo dòng lốc xoáy tròn đi xuống Quá trình xoáy lốc nên huyền phù bột chịu
tác động của lực ly tâm nên những chất nào có trọng lượng lớn thì chịu lực ly
tâm nhiều hơn, được tách ra khỏi bột Huyền phù bột chuyển động xuống dưới
va đập vào thiết bị nên mất động năng Do đường kính thiết bị giảm nên áp suất
đáy thiết bị rất lớn so với phía trên tạo điều kiện cho dòng bột đi lên và ra
Nhận xét:
- Thiết bị làm việc đơn chiếc, năng suất thấp, chất lượng cao Để đảm bảo
công suất của nhà máy ta lắp nhiều thiết bị làm việc song song nhau
- Để giảm lượng bột mất mát trong quá trình lọc cát Ta lắp nhiều cấp Tại
nhà máy giấy Việt Trì có 4 cấp lọc cát
- Quá trình lọc cát rất hiệu quả tách được những tạp chất đem lại chất
lượng bột cao
f) Sàng tinh: Mục đích của khâu sàng tinh là tách các bó xơ sợi bị vón cục,
hòa tan hoặc làm mềm lignin liên kết với xơ sợi để thu được bột xenluloza có
chất lượng tốt (đồng đều, các xơ sợi được tách rời) làm cho tờ giấy tốt hơn
Tại nhà máy giấy Việt Trì, giai đoạn sàng tinh có 2 cấp sàng đều là sàng lỗ
Sàng tinh cấp 1 có kích thước lỗ sàng là phi 1,4mm Sàng tinh cấp 2 có kích
thước phi 1,6mm
Trang 14Nguyên lý làm việc:
Trước khi khởi động máy ta nạp đầy nước vào trong sàng để đuổi hết
không khí ra ngoài Khi nước đầy thì ta mở van (6) thì không khí ra hết, khi đó
ta thấy một vài giọt nước chảy ra theo thì ra khóa van (6) lại Cho bột có nồng
độ từ 1 – 1,5% vào sàng, trên đường đi của bột qua máng lắng cát (12) Những
tạp chất có trọng lượng lớn được lắng và tháo ra ngoài theo chu kỳ Bột vào
trong sàng khi lô sàng quay nhờ sự xáo trộn của các mấu lồi hình bán nguyệt
nhô ra ngoài, bột bị dồn nén đẩy các hạt bột có kích thước nhỏ qua lưới sàng và
ra ngoài và đi sang máy cô đặc
g) Sàng phân ly: Mục đích của sàng phân ly trong trường hợp này là lấy 1
phần bột có chất lượng cao đem đi trộn với bột giấy nhập ngoại để giảm lượng
bột ngoại Vì vậy, bột qua sàng phân ly thường có chất lượng bột cao, các xơ
sợi đủ tiêu chuẩn đem đi xeo lớp top Sàng phân ly là sàng khe có kích thước
khe 0,15mm và áp lực khoảng 0,8 kg/cm2 và là sàng nội lưu
Nguyên lý hoạt động: Bột tốt sau lọc cát cấp 1 được đi vào sàng phân ly từ
trên xuống và được pha loãng bằng nước trắng phần lưới xeo top Lồng sàng
được gắn với động cơ chuyển động Bột đạt kích thước đi qua khe sàng và sang
máy cô đặc phần top Bột không qua sàng sẽ đi sang sàng tinh để lấy bột đi xeo
lớp back
Thông số công nghệ
STT
ThôngSố
Mã hiệu
Năngsuất( T/N)
Nồng
độ bộtvào( %)
Áp lực vậnhành( kg/ cm2) Đường kínhống vào/ ra
(mm)
Côngsuấtđộngcơ(Kw)
Thông
số lồngsàng( mm)
Áp lựcvào Áp lựcra
1 PS8B-11 16-20 0.5-2.0 0.5-7.0 0.3-0.5 Ø140/Ø140 11 Khe 0.15-0.5
h) Máy cô đặc: Sau quá trình sàng tinh nồng độ huyền phù bột thấp không
đáp ứng được để vào máy nghiền Vì vậy ta phải cô đặc tăng nồng độ huyền
phù bột để đạt được nồng độ trước khi vào máy nghiền
Nguyên lý hoạt động:
Trang 15Máy cô đặc hoạt động theo nguyên lý huyền phù bột được đưa trực tiếp
vào bể bột bên dưới Hai lô chuyển động ngược chiều kéo theo hai lớp bột trên
hai lô rồi được ép mạnh vào nhau làm cho nước thoát vào trong lô lưới, bột
được thoát đi nước và đạt được nồng độ cao sau đó gạt vào máng nhờ dao cạo
và đi vào bể chứa và được bơm vào máy nghiền
i) Máy nghiền đĩa đôi: Để liên kết hoặc nối các thớ sợi với nhau khi hình
thành tờ giấy thì thành sơ cấp phải được xơ hóa Điều này được thực hiện nhờ
quá trình nghiền bột Có 2 phương thức nghiền bột là thủy hóa và cắt ngắn
Phương pháp cắt ngắn cho ta bột dễ thoát nước, ở phương pháp này chủ yếu xơ
sợi bị cắt ngắn, bột này cho ta giấy đục nềm và xốp Phương pháp thủy hóa sẽ
cho ta bột dẻo, xơ sợi ngắn, bột này cho ta tờ giấy chặt và bền Thực tế thì
không thể nào có được bột giống hoàn toàn 2 loại trên với điều kiện chỉ nghiền
bột theo phương pháp cắt ngắn hoặc thủy hóa
Nguyên lý làm việc: Trong các máy nghiền đĩa việc thực hiện nghiền bột
được thực hiện giữa 2 dao phay Các đĩa dao có hình dạng khác nhau trong máy
nghiền đĩa mà có 1 đĩa quay thì bột được đưa vào tâm của đĩa cố định, lực ly
tâm sẽ văng bột từ khu vực nghiền bột giữa các đĩa ra ngoài
j) Hòm phun bột: Tại xí nghiệp giấy 1, phần xeo có 2 hòm phun bột:
- Hòm phun lớp Top lấy bột giấy từ phần chuẩn bị bột của giấy nhập ngoại
- Hòm phun lớp Back lấy bột giấy từ phần chuẩn bị bột của giấy nhập nội
Cả 2 hòm phun bột đều có 25 môi phun, nồng độ huyền phù bột phun lên
lưới là khoảng 0.9% với chiều rộng lưới 3.1m, chiều rộng tờ giấy 2,7m
Cấu tạo:
Trang 16Nguyên lý hoạt động: Bột hợp cách ở sàng tinh sau bơm quạt được bơm lên
hòm phun bột với đường vào có dạng hình côn để phân phối đều huyền phù bột
cho từng môi phun
k) Lưới xeo:
Tại công ty giấy Việt Trì, hiện nay đang chạy máy xeo lưới dài, với 2 hòm
phun bột để tạo thành 2 lớp top và lớp back Tại phần lưới top có 2 hòm hút
chân không, lưới back có 4 hòm hút chân không Tại phần lưới back có thêm 1
lô gọi là lô dandy có nhiệm vụ làm các xơ sợi đan xen vào với nhau để tăng sự
liên kết giữa các xơ sợi (giống trục ngực) Lưới xeo được làm từ các poly este
Huyền phù bột được phun lên lưới, và nước được thoát ra ở dưới lưới bằngcác tấm gạt nước, suốt, trục bụng, lô hình thành và các hòm hút chân không
Đảm bảo cho nước thoát ra đều đặn dọc theo chiều dài và chiều ngang phụ
thuộc vào tốc độ máy sức căng lưới Để đạt được yêu cầu nhất định, việc bố trí
cơ cấu thoát nước phải phù hợp với tính chất của bột và lưới xeo
Thông số kỹ thuật: - Chiều rộng lưới: 3,1m
hoặc hút bằng chân không để đạt trên điểm bão hòa Sau khi ép đôi thường xảy
ra trường hợp giấy bị nát, lượng nước tách ra trong tờ giấy là quá lớn và phá vỡ
liên kết giữa các thớ sợi Những nhóm thớ sợi không được sắp đặt và không
đồng đều sẽ phát sinh trong tờ giấy làm giảm chất lượng tờ giấy Độ khô của tờ
giấy sau ép phụ thuộc vào định lượng, tốc độ máy, nhiệt độ Với nhà máy Việt
Trì sản xuất giấy bao bì thì độ khô sau ép là 40% Ngoài việc tách nước ra khỏi
tờ giấy, bộ phận ép còn có nhiệm vụ dẫn tờ giấy từ bộ phận ép sang bộ phận
sấy khô Bộ phận ép của nhà máy Việt Trì có 2 cặp ép: Ép 1 và ép 2
Ép 1: là cặp ép trung tâm còn được gọi là cặp ép nghiêng có 2 cặp ép để ép
2 mặt trước, mặt sau của tờ giấy Để nước thoát ra mạnh làm cho tờ giấy nhanh
đạt độ khô nên lắp một lô hút chân không ở giữa cặp ép và nước được tách ra
nhờ lô hút chân không Lô chân không cũng có tác dụng khác là nâng hút giấy
chuyển từ lưới sang ép
Trang 17Ép 2: Tờ giấy đến ép 2 lúc này đã hơi khô nhưng vẫn còn nước, nên đi qua
lô ép này để tách thêm một phần nước trong tờ giấy mà không làm cho tờ giấy
bị rách hay nhàu nát do có hệ thống chăn ép Độ khô của giấy sau ép 2 khoảng
40 – 45% Áp lực ép 4 - 4,2 kg/cm2 Chăn lưới ở bộ phận ép: chăn phải đảm
bảo được các đặc tính sau đó là độ thoát nước tốt, kích thước đồng đều và ổn
định, độ bền cao, cấu trúc thoáng, không bị xù long và khả năng bám giấy tốt
Chăn sử dụng ở bộ phận này có 1 số chức năng sau:
- Hút nước từ tờ giấy qua khe ép
- Đỡ tờ giấy qua khe ép để tránh hiện tượng ép nát
- Phân bố lực ép đồng đều ổn định trên suốt toàn bộ cả bề mặt của tờ giấy
tránh hiện tượng tạo vết, làm nhăn
- Chuyền giấy từ bộ phận này sang bộ phận khác
m) Sấy trước:
Sau bộ phận ép, giấy sẽ sang bộ phận sấy trước Lúc này, lượng nước còn
lại trong tờ giấy nằm giữa những thớ sợi, một phần ở bên trong thành của xơ
sợi Mục đích của quá trình sấy làm bay hơi nước có trong tờ giấy để đạt độ
khô khoảng 90 – 95% bằng cách cho tờ giấy đi qua những lô sấy là những lô
làm bằng kim loại có đường hơi nước đi ở phía trong truyền nhiệt cho tờ giấy
trên bề mặt lô Ở giai đoạn đầu của quá trình sấy, về mặt và ống mao quản lấp
đầy bằng nước tự do Sau khi sấy 1 phần nước bị bay hơi làm cho độ khô của
giấy tăng lên Nhiệt độ sấy ở giai đoạn này, lấy hơi thứ từ quá trình sấy chính
có nhiệt độ khoảng 60 – 70OC Nước bay hơi từ từ làm cho xơ sợi dần dần sát
vào với nhau Khi lượng nước tự do bay hơi hết nhưng tờ giấy vẫn còn khoảng
25 – 30% độ ẩm Như vậy quá trình sau cần phải tách lượng nước còn lại,
chúng nằm ở phía trong của thành xơ sợi Sau khi qua lô sấy cuối cùng thì
lượng nước còn lại khoảng 8 – 10% nó liên kết hóa học với xơ sợi nên khó
tách
Việc sấy trên nhiều lô sấy là phương pháp phổ biến, tờ giấy được dẫn tới
và dọc quanh 2 phía của những lô sấy và nó được ép sát vào các lô bằng lưới
sấy Áp suất hơi bên trong của các lô sấy được khống chế để tạo nên những tỉ lệ
bay hơi thích hợp Tờ giấy được gia nhiệt và nước được bốc hơi khi nó chay
qua khoảng giữa lưới sấy và bề mặt lô sấy Tiếp sau đó là quá trình co dãn tự
do cho tới khi tiếp xúc với lô sấy sau và ở đây tờ giấy đã nguội sau quá trình
bay hơi
Trang 18chênh