Những năm vừa qua, các văn bản Luật pháp của Nhà nước về BHLĐ đã dần được hoàn thiện và nâng cao như Pháp lệnh BHLĐ 1991, Bộ Luật Lao động 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ Lu
Trang 1việc
Giáo viên hướng dẫn : NGUY ỄN CHÍ TÀI
Sinh viên th ực hiện :T Ạ HOÀNG GIA
Mã s ố sinh viên :410081B
Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2004
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Sau b ốn năm học tập tại trường Đại học mang tên Tôn Đức
Th ắng, em đã được quí thầy cô trang bị nhiều kiến thức chuyên ngành B ẢO HỘ LAO ĐỘNG Giờ đây với kiến thức đã thu nhận được thể hiện với kết quả là luận văn tốt nghiệp về chuyên ngành
B ẢO HỘ LAO ĐỘNG
Em xin chân thành bi ết ơn sự dạy bảo và giúp đỡ tận tình của:
- Ban giám hi ệu và các thầy cô trường Đại học mang tên TÔN ĐỨC THẮNG
- Th ầy Nuyễn Văn Quán – chủ nhiệm khoa Bảo Hộ Lao Động
- Th ầy Nguyễn Chí Tài – giảng viên đại học trường Đại học Công ngh ệ TÔN ĐỨC THẮNG
M ột lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành và kính chúc Ban giám hi ệu nhà trường, quý thầy cô được dồi dào sức khỏe và thành công trong công vi ệc
Xin chân thành c ảm ơn TP.HCM – tháng 12 năm 2004
Sinh viên
T ạ HOÀNG GIA
Trang 3M ục lục 1
Chú thích các ch ữ viết tắt 3
Th ống kê các bảng, hình, sơ đồ, biểu đồ 4
L ời mở đầu 6
CHƯƠNG 1. 1.1 T T ổng quan công tác BHLĐ ở nước ta hiện nay 8 ỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 8
1.2 T ổng quan ngành công nghiệp giày 9
1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước 9
1.2.2 Nghiên cứu trong nước 11
1.3 Dây chuy ền công nghệ trong ngành SX giày 14
1.4 M ục tiêu, nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2. 2.1 T TH ổ chức quản lý và nhận thức công tác BHLĐ 13 ỰC TRẠNG CÔNG TÁC BHLĐ TRONG NGÀNH SX GIÀY 18
2.1.1 Về mặt quản lý công tác BHLĐ 18
2.1.2 Về mặt nhận thức công tác BHLĐ 23
2.2 An toàn lao động 24
2.2.1 Thiết bị máy móc và các yếu tố nguy cơ trong việc SX 24
2.2.2 Về tai nạn lao động 27
2.2.3 Về phòng chống cháy nổ 29
2.2.4 Về an toàn điện 31
2.3 V ệ sinh lao động 32
2.3.1 Môi trường 32
2.3.2 Về tính chất lao động 40
2.3.3 Về chất lượng lao động và tình hình sức khỏe bệnh tật 43
Trang 4SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 2
CHƯƠNG 3.
3.1 Gi AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG SỬ DỤNG BẢO QUẢN HÓA CHẤT 47 ới thiệu một số hóa chất cơ bản sử dụng trong ngành SX giày 48
3.2 Phân lo ại những nguy cơ và độc hại do hóa chất 49
3.2.1 Hóa chất dễ gây cháy nổ 49
3.2.2 Hóa chất độc hại 50
3.2.3 Các nguy cơ do bụi gây ra 51
3.3 Qu ản lý an toàn sử dụng, bảo quản và vận chuyển hóa chất 51
3.3.1 Xây dựng bản tài liệu ATHC 51
3.3.2 An toàn trong sử dụng hóa chất 53
3.3.3 An toàn trong bảo quản hóa chất 55
3.3.4 An toàn trong vận chuyển hóa chất 56
CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 58
4.1 Ki ến nghị 58
4.2 Đề xuất một số giải pháp cải thiện 58
4.2.1 An toàn lao động 58
4.2.2 Vệ sinh lao động 65
4.2.3 Tổ chức thực hiện ATLĐ và VSCN 68
4.2.4 Kiểm tra việc thực hiện ATLĐ và VSCN 69
4.2.5 Đề xuất các giải pháp bằng phương pháp tính toán 70
K ẾT LUẬN 74
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 76
PH Ụ LỤC 77
Trang 5ATLĐ An Toàn Lao Động
Trang 6SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 4
Bảng 1: Tần số thao tác của công nhân 13
Bảng 2: Tỷ lệ đau mỏi các vùng cơ thể ở công nhân 14
Bảng 3: Thống kê TNLĐ và kết quả thử tính hệ số K ở một vài cơ sở SX giày 28
Bảng 4: Vi khí hậu ở một vài cơ sở SX giày 33
Bảng 5: Kết quả thử tính nhiệt độ hiệu quả tương đương Thq Bảng 6: Nồng độ hơi khí độc ở một vài cơ sở SX giày 37 và chỉ số bực bội DI 34
Bảng 7: Kết quả thử tính nồng độ tiếp xúc các yếu tố có hại cùng một lúc 38
Bảng 8: Các yếu tố độc hại ở 3 cơ sở SX 38
Bảng 9: Kết quả tính điểm đối với các yếu tố độc hại 39
Bảng 10: Kết quả thử tính mức độ khắc nghiệt của ĐKLV bằng công thức Pukhov 39
Bảng 11: Khả năng lao động trước khi tiếp nhận các giải pháp 39
Bảng 12: Một số kích thước tại vị trí lao động 40
Bảng 13: Tình hình bệnh tật của công nhân SX giày 45
Bảng 14: Các tiêu chuẩn lối thoát 60
Bảng 15: Các yếu tố độc hại sau khi đã được cải thiện 70
Bảng 15: Kết quả tính điểm đối với các yếu tố độc hại sau khi đã được cải thiện 70
Bảng 17: Kết quả tính toán mức độ khắc nghiệt sau khi đã cải thiện ĐKLV bằng công thức Pukhov 71
Bảng 18: Kết quả tính KNLĐ trước và sau khi tiếp nhận các giải pháp cải thiện 72
Th ống kê biểu đồ Biểu đồ 1: Tỷ lệ giảm sức nghe 13
Biểu đồ 2: Loại hình TNLĐ trong ngành SX giày 29
Biểu đồ 3: Vị trí chấn thương trong TNLĐ 29
Biểu đồ 4: Tư thế lao động 41
Biểu đồ 5: Tỷ lệ đánh giá của công nhân về nhịp độ và cường độ lao động 42
Trang 7Th ống kê hình
Hình 1: Công tác tuyên truyền huấn luyện BHLĐ 22
Hình 2: Khu vực đặt máy nén khí 25
Hình 3: Nguy cơ khi sử dụng máy gò mũi 26
Hình 4: Khu vực sử dụng máy mài đế 26
Hình 5: Yếu tố độc hại ở công đoạn in lụa 26
Hình 6: Ánh sáng của bóng đèn huỳnh quang màu tím rất có hại cho mắt 26
Hình 7: Yếu tố nguy cơ khi gò hông bằng thủ công 27
Hình 8: Diễn tập PCCC 30
Hình 9: Máy bơm PCCC đặc chủng 30
Hình 10: Tác hại cùng một lúc của nhiều yếu tố độc hại sẽ rất nguy hiểm 38
Hình 11: Tư thế lao động 41
Hình 12: Các công đoạn sử dụng hóa chất 47
Hình 13: NLĐ tiếp xúc trực tiếp với hóa chất 47
Hình 14: Hóa chất hấp thụ vào cơ thể 47
Hình 15: Ăn uống ở nơi làm việc có sử dụng hóa chất 48
Hình 16: Nhiên liệu là yếu tố cao nhất trong bộ ba gây cháy 49
Hình 17: Nổ chỉ xảy ra khi nhiên liệu và oxi ở trong một tỷ lệ tương ứng 49
Hình 18: Nhiễm hóa chất gây viêm da 50
Hình 19: Nhiễm hóa chất có thể gây kích thích đối với mắt 50
Hình 20: Dán nhãn và phải có đầy đủ thông tin cơ bản về an toàn khi sử dụng 55
Hình 21: Đậy kín bình chứa hóa chất sẽ giảm được nguy cơ tiếp xúc với hơi khí độc 59
Hình 22: Sử dụng PTBVCN thích hợp giúp NLĐ tránh được các yếu tố độc hại 64
Hình 23: Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp phát hiện những triệu chứng ban đầu của BNN67 Hình 24: Rửa sạch toàn bộ các phần cơ thể đã iếp xúc với hóa chất 68
Th ống kê sơ đồ Sơ đồ 1: Qui trình SX giày thể thao không lưu hóa 15
Sơ đồ 2: Hội đồng BHLĐ chưa hoàn chỉnh 20
Sơ đồ 3: Hội đồng BHLĐ theo luật định 20
Sơ đồ 4: Hệ thống phát hiện cháy và báo động cháy 62
Trang 8SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 6
Việt Nam đã có những cố gắng lớn, góp phần từng bước cải thiện ĐKLV, chăm lo sức
khỏe NLĐ, hạn chế TNLĐ và bệnh nghề nghiệp Tuy vậy, thực trạng chung của công tác BHLĐ vần còn nhiều tồn tại Nhìn chung ĐKLV ờ nhiều nơi còn xấu, tình hình TNLĐ và
bệnh nghề nghiệp còn xảy ra nghiêm trọng
Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, việc đảm b ảo sức khỏe, tính
mạng NLĐ là đảm bảo lực lượng SX Chính vì vậy, việc tăng cường công tác BHLĐ là
một vấn đề quan trọng và là yêu cầu cấp bách Những năm vừa qua, các văn bản Luật pháp của Nhà nước về BHLĐ đã dần được hoàn thiện và nâng cao như Pháp lệnh BHLĐ (1991), Bộ Luật Lao động (1994) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ Luật Lao động (2002) Tuy nhiên chúng ta không thể xem nhẹ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung những văn bản dưới luật để đưa Luật pháp đến tận NSDLĐ và NLĐ Cần duy trì công tác tuyên truyền, giáo dục đến NLĐ và NSDLĐ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, coi công tác BHLĐ vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ, đồng thời là khâu quan trọng trong quá trình
SX nhằm thực hiện khẩu hiệu “An toàn để SX, SX phải an toàn”
Những năm trở lại đây, các ngành SX hàng tiêu dùng ở nước ta phát triển khá mạnh trong đó có ngành công nghiệp giày Ngành công nghiệp giày nước ta tuy còn non trẻ nhưng là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng tiêu dùng trong nước và hướng ra xuất k hẩu Thêm vào đó ngành công nghiệp giày cũng là một trong những ngành mang lại nhiều ngoại tệ cho Nhà nước và giải quyết việc làm cho NLĐ
Hiện có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp giày, gia công và SX rất nhiều chủng loại sản phẩm giày nội địa và giày xuất khẩu Các doanh nghiệp này sử dụng một số lượng lớn lao động, đặc biệt là công nhân trực tiếp SX Thêm vào đó, đặc trưng của ngành là sử dụng nhiều dung môi, hóa chất và cũng chính nơi đây là
một trong những nơi có tiềm ẩn nhiều nguy cơ về cháy nổ Các năm qua đã xuất hiện nhiều vụ cháy, điển hình như các vụ cháy tại cơ sở giày Hừng Sáng, cơ sở giày Hiệp Hưng
và gần đây nhất là vụ cháy lớn tại cơ sở SX giày Adidas xuất khẩu (2003) và tại cơ sở SX giày Khải Hoàn vào ngày 27/03/2004
Công nghệ giày được bố trí theo hệ thống dây chuyền Các dây chuyền máy móc thiết
bị có kết cấu đơn giản, tuổi thọ ngắn, tốc độc chậm Trong các xưởng SX giày luôn sinh ra nhiều bụi, nhiều loại khí có hại, tiếng ồn Bên cạnh đó ở các cơ sở, hiện nay vẫn còn
tồn tại nhiều công đoạn thủ công Công nhân tại các phân xưởng dán keo đế giày vẫn sử
dụng chổi quét keo dán bằng tay và đồng thời việc ép để lưu hóa đế cao su được tiến hành ngay sau khi quét keo vẫn còn thủ công Ngoài ra công nhân luôn phải đứng gần các khuôn ép dán đế giày, do đó khả năng công nhân trực tiếp hít các hơi dung môi độc ở nhiệt
độ đủ cao là rất lớn
Trang 9ệp quốc doanh và liên doanh chủ yếu tận dụng các cơ sở hiện
có và cải tạo hệ thống kho tàng cũ , chỉ có một số ít đầu tư gần đây mới có nhà xưởng khang trang phù hợp bố trí thiết bị công nghệ
Do đặc thù riêng của ngành nên NLĐ phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều yếu tố độc
hại gây nguy hiểm cho sức khỏe của họ Các loại bệnh về đường hô hấp, tai mũi họng, da,
mắt, cơ khớp (do tư thế làm việc luôn ngồi, luôn đứng khi điều khiển máy ) thường
thấy có tỷ lệ cao ở công nhân trực tiếp với máy móc Vì vậy ngành công nghiệp giày vẫn còn tồn tại các đặc điểm khá nổi bật:
- Là ngành có khả năng tiếp xúc với hóa chất dễ bay hơi có độc tính, nhất là độc đối
với thần kinh
- Là ngành có nhiều lao động nữ, chiếm tới 80 – 85%
- Cá biệt còn có một lượng nhỏ lao động vị thành niên 15 – 17 tuổi
Mức lương bình quân trong ngành còn thấp, lao động chủ yếu xuất thân từ vùng nông thôn, cần cù, chịu khó nhưng độ khéo léo, tinh xảo, ý thức kỷ luật lao động, nhận thức xã
hội chưa cao Do nhu cầu bức xúc về việc làm và thu nhập ổn định, NLĐ sẵn sàng làm
việc kể cả trong điều kiện khắc nghiệt cho đến khi nào tìm được công việc khá hơn Họ ít quan tâm tìm hiểu đến những vấn đề về Luật pháp như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động, những qui định về AT – VSLĐ, về trách nhiệm và quyền hạn của NLĐ, về những tổ
chức hợp pháp bảo vệ quyền lợi cho mình
Thực tế cho thấy đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về AT – VSLĐ trong ngành công nghiệp giày như tài liệu của Viện nghiên cứu da giày, của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Tú – Phó Vụ trưởng Vụ Y tế dự phòng – Bộ Y tế, của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Ngà – Phó Viện trưởng Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, của Nguyễn Thị Liên Hương – Vụ Y
tế dự phòng – Bộ Y tế, của Tiến sĩ Nguyễn Văn Quán – Phó Viện trưởng Viện BHLĐ – Phân viện trưởng Phân viện tại TP.HCM, cử nhân Đặng Đình Trí – Viện BHLĐ quốc gia
Qua tìm hiểu và quan sát thực tế, phần lớn các doanh nghiệp này đã quan tâm đến công tác BHLĐ cho công nhân Tuy nhiên, do điều kiện khách quan và chủ quan, ở một số cơ
sở SX giày tại TP.HCM, công tác BHLĐ vẫn còn buông lỏng, thiếu sự quan tâm, trang bị
cần thiết Điều này đã và đang tác động khá lớn đến môi trường, năng suất, chất lượng sản
phẩm và sức khỏe của NLĐ
Với kiến thức được đào tạo về chuyên ngành BHLĐ, sau bốn năm học nay được đem
thể hiện tại Luận văn tốt nghiệp Bản thân chúng tôi coi đây là một công trình khoa học
nhỏ nhằm hệ thống những kiến thức đã học Đây cũng chính là dịp để chúng tôi có thể đánh giá, so sánh giữa lý luận và thực tế để từ đó phân tích và mạnh dạn nêu ra các kiến nghị nhằm cải tiến công tác BHLĐ trong ngành giày được tốt hơn Hơn thế Luận văn mong muốn có sự cải thiện thực sự cho ngành giày nên việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng ngừa là một trong những mục tiêu của Luận văn tốt nghiệp mang tên ” Thực trạng công tác BHLĐ trong nhà máy SX giày tại TP.HCM, vấn đề an toàn trong bảo quản và sử dụng hóa chất Một số kiến nghị và đề xuất biện pháp cải thiện ĐKLV
”
Trang 10SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 8
Chương 1:
1.1
Điều lệ tạm thời về BHLĐ đã được chính phủ ban hành từ năm 1964 Cho đến nay, năm 2004, công tác BHLĐ đã được qui định khá đầy đủ trong các văn bản luật pháp, các văn bản dưới luật và các qui trình qui phạm an toàn, các TCVN và các chỉ dẫn, thường qui
về BHLĐ Cụ thể như ở điều 6 của Luật Công đoàn (1990), điều 9 Bộ Luật Lao động (1995), điều 16 đến 29 của Luật Bảo vệ Môi trường, các điều trong Luật PCCC và các Nghị định 06/CP 1995 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành điều 9 Bộ Luật Lao động, Nghị định 110/2002 của Chính phủ về sửa đổi một số nội dung của Nghị định 06/CP Về văn bản dưới luật quan trọng hiện hành là Thông tư liên tịch số 14 Bộ LĐTBXH – Bộ Y tế – TLĐLĐVN, chỉ thị của Tổng LĐLĐVN về tổ chức duy trì phong trào cơ sở SX phấn đấu
trở thành đơn vị “xanh, sạch, đẹp, đảm bảo AT – VSLĐ Thực tế đã có nhiều cấp, ngành, địa phương, công ty, nhà máy, cơ sở SX đã cố gắng chấp hành luật lệ, chế độ, chính sách BHLĐ của Nhà nước
T ỔNG QUAN CÔNG TÁC BHLĐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:
Tuy vậy, vài năm trở lại đây, cùng với những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội, chúng ta phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa về an toàn và
sức khỏe NLĐ Đó là: ĐKLV chưa đảm bảo, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng do bụi, khí độc, tiếng ồn, bức xạ ion hóa, điện từ trường, rác thải công nghiệp và sự gia tăng
với tốc độ nhanh của các doanh nghiệp, cơ sở SX, sự phát triển của hàng triệu hộ kinh doanh trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong nhiều doanh nghiệp, nhiều địa phương, NLĐ phải làm việc trong điều kiện thiếu
an toàn, trong các đơn vị SX sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ như
nồi hơi, bình chịu áp lực đã xảy ra nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng, làm nhiều người chết
và bị thương, gây thiệt hại lớn về tiền và của của nhà nước
Theo thống kê chưa đầy đủ, trên cả nước trong năm 2003 đã xảy ra 4.298 vụ TNLĐ, làm chết 514 người, bị thương nặng 1.206 người So với năm 2001, s ố vụ TNLĐ tăng 19,3% và số người bị nạn tăng 20,6% Cao nhất là ở ngành xây dựng và SX vật liệu xây
dựng với tần suất TNLĐ K = 27,2 Sau đó tới khai thác và khoáng sản (K = 21,5), chế biến
thực phẩm – nông – lâm sản (K = 19,3) Những con số trên đã cho thấy nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN và cháy nổ là vấn đề đáng lo ngại của toàn xã hội Theo BLĐTBXH, nguyên nhân chủ yếu là do NSDLĐ, NLĐ vi phạm Pháp Luật lao động, vi phạm các quy phạm, qui trình kỹ thuật an toàn chiếm 73,4% trên tổng số vụ
Đáng lưu ý là các vi phạm về mặt tuyển dụng NLĐ không được đào tạo nghề, không
ký Hợp đồng lao động chiếm tỷ lệ cao Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hàng vạn doanh nghiệp tư nhân ra đời và đi vào hoạt động, nhưng phần lớn NSDLĐ chưa được trang
bị đầy đủ các kiến thức về AT – VSLĐ Hàng chục vạn lao động đang từ khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp không hiểu pháp luật về AT – VSLĐ, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng Một số NLĐ được đào tạo nhưng do chủ quan,
chạy theo lợi nhuận, năng suất, ý thức kỷ luật lao động kém gây TNLĐ Thêm vào đó công tác tự kiểm tra của doanh nghiệp, cơ sở SX yếu và kém hiệu quả
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững Thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đ ời sống cho NLĐ và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát
Trang 11ển chung của xã hội Những doanh nghiệp mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, ATLĐ, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng
Trong các cơ sở SX, NLĐ đóng vai trò lực lượng SX quan trọng Họ tạo ra cho doanh nghiệp những sản phẩm có chất lượng và lợi nhuận cao Đồng thời họ cũng tạo ra của cải
vật chất cho xã hội Do vậy việc đối xử như thế nào với NLĐ có tác động lớn đến sự thành
bại của doanh nghiệp Làm tốt công tác BHLĐ cho NLĐ trong cơ sở SX chính là chính sách của doanh nghiệp đối với NLĐ Đây là một trong những nhân tố nhằm đảm bảo cho
cơ sở SX làm ra sản phẩm có chất lượng cao, đạt lợi nhuận cao trong kinh doanh Mặt khác làm tốt công tác BHLĐ sẽ làm cho NLĐ thấy rõ bản chất tốt đẹp của chế độ Xã hội
Chủ nghĩa, một chế độ yêu quí con người và coi trọng sức lao động
Đảm bảo AT – VSLĐ và bảo vệ môi trường trong SX nói chung và doanh nghiệp là
một trong những vấn đề thời sự ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhất là trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc
tế
Công nghệ SX giày thuộc ngành công nghiệp nhẹ phát triển rất nhanh ở các nước đang phát triển và cả ở nước ta Xu hướng xây dựng các nhà máy, cơ sở SX vừa và nhỏ càng nhiều và tất yếu được bố trí không xa khu dân cư đông đúc Vì vậy nên việc đảm bảo an toàn, đề phòng sự cố, phòng cháy nổ, nhất là bảo vệ môi trường lao động, không làm ảnh hưởng đến môi trường dân cư đã và đang trở thành một vấn đề hết sức bức xúc
1.2
1.2.1
T ỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIÀY:
Từ ngữ “giày dép” bao gồm các sản phẩm dưới bàn chân: giày da, giày thể thao, sandal, ủng, dép các loại Chúng được SX từ da, vải, cao su và các vật liệu khác cùng
với keo dán, đinh
NGHIÊN C ỨU NGOÀI NƯỚC:
Cho đến nay SX giày vẫn còn nhiều công đoạn bằng thủ công Trong công nghệ, dây chuyền SX có những công đoạn dùng máy cắt, ép, đột, đóng đinh, mài Tuy nhiên các công đoạn máy được cơ khí hóa từng phần, chưa có dây chuyền tự động hóa Các máy ép
viền, dập đế giày, công nhân trực tiếp điều khiển máy thường bị TNLĐ Các máy cán cao su, máy cán ép khác được lắp bộ phận điều khiển bằng hai nút cho hai tay để tránh trường hợp nếu chỉ điều khiển máy chạy bằng một nút thì tay còn lại có nhiều khả năng
tiếp xúc với vùng nguy hiểm
Các vùng nguy hiểm thường ở khu vực truyền động có dây “curoa” , có hộp bánh xe răng khía, có bánh đà, được bao che kín và đồng thời có lắp một “công tắc” điện nếu khi mở bao che ra thì máy hoàn toàn ngắt điện Các yếu tố nguy hiểm ở công nghệ SX giày được lưu ý về điện rò ra vỏ máy và các motor, các máy móc SX đều được nối đất
bảo vệ Bên cạnh đó trong SX cũng được cảnh báo là có khả năng tích lũy tĩnh điện, có
thể gây ra nổ thành tia lửa nhỏ rất nguy hiểm
Trong công nghệ SX giày dép có rất nhiều chất dễ cháy nhất là keo dán, hóa chất, bao
bì, Các xưởng, gian phòng đặt máy móc SX, nhà kho được lắp hệ thống báo cháy và
hệ thống chữa cháy tự động, hệ thống điện được lưu ý thiết kế các tấm vách ngăn bằng
vật liệu chịu lửa cũng như các hệ thống báo cháy, dập lửa tự động luôn được trang bị đầy
đủ với chất lượng cao Các hệ thống PCCC luôn được kiểm tra thường xuyên
Vấn đề phòng ngừa TNLĐ ở khâu vận chuyển nội bộ, đi lại trong khu SX người ta thường chú ý thận trọng đến các qui định chất các kiện hàng, túi hàng lên xe đảm bảo
trọng toàn rơi đúng giữa Bề rộng đường đi lại giữa các dãy bàn thao tác qui định 0,8 –
Trang 12SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 10
1,2 m người đi và băng chuyền trên cao; 1,2 – 1,5 m đường có xe chở hàng đi lại Bề
rộng B (m) của đường chính đi suốt các xưởng và cũng để thoát nạn như sau:
B = 2a0 + nb + b
n : h: bệ số đường vận chuyển ề rộng cần thiết của đường đi lại: 0,8 – 1,2 m
Nếu đường đi một chiều: n = 1
Nếu đường đi hai chiều: n = 2
Bệnh đặc biệt được tìm thấy có thể gọi là “bệnh liệt nghề giày dép” Tiến triển của bệnh
liệt: lúc đầu tỏ ra uể oải, bơ phờ; tiếp đến là đầu ngón tay, chân bị tổn thương; cuối cùng
đi đến teo cơ và bị liệt Chưa thấy có trường hợp chết do bệnh này mặc dù thể bệnh là nghiêm trọng Có lẽ trong các thành phần hóa chất, keo dán sử dụng làm tổn thương đến
hệ thần kinh rồi cuối cùng tấn công đến cả trí nhớ Ngoài ra người ta còn phát hiện một
số công nhân bị “bệnh máu trắng”.
Các xưởng SX giày được tính toán kỹ, lắp các hệ thống hút bụi, hút khí độc ngay trên máng, trên dây chuyền để làm sạch môi trường không khí tại nơi làm việc của công nhân Các qui trình thực hiện VSCN, vệ sinh thường thức và sử dụng PTBVCN (quần áo chống
bụi, khẩu trang, mặt nạ, mũ giày ) đi kèm để ngăn chặn các yếu tố
[*]
[*]
Technicaledition: Dr Luigi Parmeggiami
D ịch từ Encyclopaedia of occupation Health and Safety Third (Revised) Edition
có hại tiếp xúc với da, vào cơ thể theo đường hô hấp của công nhân Các máy gây ra ồn, rung đều có các bộ phận, biện pháp giảm bớt tiếng ồn, giảm rung động hoặc sử dụng bịt tai, nút tai chống ồn, bao tay chống rung với chất lượng cao
Ở các nước tiên tiến, các nhà máy SX mặt hàng công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng được
tập trung vào khu công nghiệp được qui hoạch thuận tiện về vận chuyển đi lại và cách ly
chất thải công nghiệp với đô thị, với khu dân cư đông đúc Cự ly giữa các nhà máy và đường giao thông, khu nhà ở dân dụng thường từ trên 50 – 300 m Các hàng cây xanh cao thấp được trồng tạo vào khoảng giữa, các khoảng cách vệ sinh đó nhằm hạn chế sự
tỏa lan độc hại từ bên trong nhà xưởng ra ngoài và tham gia thanh lọc không khí, đồng
thời tăng thêm thẩm mỹ cho nhà công nghiệp
Ở các nước cận sa mạc, khí hậu khô nóng, các nhà máy đông công nhân người ta bố trí các dãy vòi nước phun kiểu “phông ten” ở vườn ho a giữa các hàng cây để khi trời nắng nóng nước sẽ bốc hơi một lượng đáng kể Với thiết kế như trên nhằm cải tạo khí hậu vùng phụ cận nhà xưởng, làm loãng thêm các yếu tố có hại ngoài trời Nghĩa là khi hệ
thống cửa ra vào, cửa sổ của nhà xưởng mở ra đón gió thì luồng không khí bên ngoài lùa vào sẽ giảm nhiệt độ, giảm nồng độ bụi, khí độc trong phân xưởng xuống rất hiệu quả
1.2.2
Ngành giày tồn tại và phát triển nhiều hình thức sở hữu khác nhau: quốc doanh (nhà nước và địa phương), tư nhân, liên doanh và 100% vốn nước ngoài Đến năm 2000 toàn ngành có 178 doanh nghiệp, trong đó có 152 doanh nghiệp SX giày, đồ da và 26 doanh
NGHIÊN C ỨU TRONG NƯỚC:
Trang 13ệp thuộc da Trong đó có 73 doanh nghiệp quốc doanh, 51 doanh nghiệp tư nhân và
54 doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài
Đây là một trong những ngành thu hút nhiều lao động, có khoảng trên 500.000 lao động làm việc trong ngành này và đây cũng là ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu cao
Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu của ngành chỉ đứng sau hai ngành mũi nhọn là dầu khí và
dệt may Trên thị trường quốc tế hiện nay, VN được xếp là một trong 10 nước đứng đầu
thế giới về sản lượng và xuất khẩu giày dép Trong đó, riêng ở thị trường EU, VN xếp
thứ hai sau Trung Quốc, với trên 200 triệu đôi và chiếm 20% trong tổng số lượng nhập
khẩu vào EU
Ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam: TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa
Vũng Tàu, Long An số công nhân lao động làm việc trong ngành giày chiếm 70% so
với cả nước Viện BHLĐ quốc gia đã nghiên cứu khảo sát ở các cơ sở SX giày như Biti’s, Sài Gòn, Hừng Sáng, Hưng Long, Trường Lợi, Hưng An, Nam Á công tác ATLĐ được thấy tập trung quan tâm là PCCC, tai nạn điện
Với những đóng góp cho nền kinh tế như trên và thu hút một lực lượng lao động khá
lớn (đặc biệt là lao động nữ), nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy NLĐ trong ngành giày phải chịu nhiều yếu tố bất lợi của ĐKLĐ Tuy nhiên lao động trong ngành giày nước ta lại ít được tập trung nghiên cứu
Trong các nghiên cứu về khả năng thích ứng của NLĐ với công nghệ mới, các nhà khoa học cũng có đề cập đến các ĐKLĐ của ngành giày, nhưng vẫn chưa đi sâu vào đặc điểm của ngành mà chỉ so sánh với các ngành công nghiệp nhẹ khác Tuy nhiên các công trình đó cũng phần nào phản ánh được một số ĐKLĐ bất lợi, tính chất nghề nghiệp cũng như ảnh hưởng của MTLĐ đến cơ thể NLĐ
Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì mỗi năm trên thế giới có gần 4 triệu TNLĐ xảy ra ở mức khác nhau với 350.000 người chết, bên cạnh đó còn có 340.000 người chết do tiếp xúc với các chất độc hại Cũng theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu KHKT BHLĐ, ở 1017 cơ sở SX vừa và nhỏ, trong năm 5 năm qua đã xảy ra 3166 vụ TNLĐ làm 3324 người bị nạn, có 135 vụ TNLĐ chết người, làm 146 người chết và 549 người bị thương nặng Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì TNLĐ nhẹ, vừa từ năm
1995 – 2003 ở các cơ sở có trước 1990 không giảm với hệ số tần suất K = 12 ÷ 13, ở các nhà máy mới xây dựng từ 1992 đến nay cũng thấp K = 5,5 ÷ 6
Bên cạnh đó, các vụ cháy ở các cơ sở SX giày xảy ra không phải là ít Các vụ cháy phát hiện sớm và dập tắt kịp thời được biết không ít hơn 3 vụ Rõ ràng tại nơi làm việc
của công nhân ngành giày còn tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm, vùng nguy hiểm về điện,
về cháy cho đến nay không thể coi là công nghệ SX an toàn cao được
Sau đây là thực trạng ĐKLĐ trong ngành giày trong nước ta được các nhà khoa học nghiên cứu và có kết quả như sau:
- Một số vị trí tiếp xúc nguồn nhiệt hoặc trong môi trường nóng
- Hầu hết công việc mang tính thủ công, chỉ có một s thao tác được hỗ trợ
bằng máy như gò mũi (chiết mũi), gò eo (chiết mang), gò gót (chiết gót)
- Tiến hành trên bằng chuyền tự động, do vậy phải liên tục theo tốc độ băng chuyền, không điều chỉnh tốc độ được
- Công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại với tần số thao tác cao, nhiều khi phải cúi
ặn người, với tay lấy dụng cụ, chi tiết ở khoảng cách xa
Trang 14SVTH: Tạ Hồng Gia Trang 12
ỉ ngắn giữa giờ, ít cĩ sự luân phiên trong bố trí cơng việc
- Thời gian làm việc trung bình là 8 giờ/ngày, nhưng vào thời vụ cơng nhân
phải làm việc tăng ca, nhiều khi tới 10 – 12 giờ/ngày
•
- Nhiệt độ trong nhà xưởng khá cao, cĩ những nơi lên đến 39
V ề mơi trường lao động:
0
- Tốc độ giĩ 0,2±0,05 m/s
- Tiếng ồn cĩ những nơi lên đến 95dBA
- Cường độ chiếu sáng cĩ những vị trí chỉ đạt 100 lux
• V ề sức khỏe:
- Xét nghiệm axit hyppuric niệu (trong DMHC cĩ Toluen, axit hyppuric là
sản phẩm đào thải của Toluen): kết quả axit hyppuric niệu ở nhĩm cơng nhân ngành giày là 0,48 g/l; cơng nhân nhựa là 0,327 g/l và cơng nhân sơn
là 0,375 g/l Kết quả cho thấy cao hơn mức cĩ ý nghĩa thống kê (p<0,05) Trong số cơng nhân tiếp xúc với DMHC, mức axit hyppuric niệu cao nhất ở nhĩm cơng nhân ngành giày
(theo T ạp chí BHLĐ số 5/2003)
- Kết quả đo sức nghe: sau khi đã được loại trừ các nguyên nhân khác làm tổn thương cơ quan thính giác bằng phỏng vấn, hồi cứu hồ sơ khám sức khỏe và khám lâm sàng tai, mũi họng Thực trạ ng tỷ lệ giảm sức nghe trong các cơ
sở da giày, sơn, nhựa được thể hiện ở biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ giảm sức nghe
của cơng nhân ngành giày chỉ nằm ở mức trung bình
Bi ểu đồ 1: T ỷ lệ giảm sức nghe
Da già y Nhựa Sơn Chung
Ty û lệ %
Cơ sở SX
• V ề cường độ lao động: tần số thao tác tại một số cơng đoạn là rất cao, cơng việc
hầu như đều mang tính chất đơn điệu cao
B ảng 1: T ần số thao tác của cơng nhân
STT Tên thao tác T ần số thao tác
Trang 156 Dán độn 22 – 36
7 Dán viền ngoài 22 – 36
8 Lăn viền ngoài 28 – 30
• V ề tư thế lao động: ngành Da giày là nơi tập trung một lượng lao động nữ khá
đông Do đó theo nghiên cứu về “ Điều kiện lao động và sức khỏe của nữ công
nhân ngành giày” (tạp chí BHLĐ 1/2001) của PGS.TS.Nguyễn Ngọc Ngà cho
thấy tư thế lao động không thuận lợi, thao tác lặp đi lặp lại, gắng sức nhiều có
thể là nguy cơ gây rối loạn xương Vì vậy ở một số bộ phận cơ thể bị đau nhức được thể hiện ở bảng 2 như sau:
B ảng 2: T ỷ lệ đau mỏi các vị trí trên cơ thể
Do thao tác có tính chất lặp đi lặp lai nên tỷ lệ đau mỏi vai khá cao Mặt khác
cũng do đặc trưng của ngành nên đa số NLĐ hầu như đều phải ngồi liên tục trong suốt ca làm việc NLĐ ít có cơ hội thay đổi tư thế nên tỷ lệ đau mỏi lưng
và thắt lưng khá cao
1.3
Ngành công nghiệp giày nước ta SX rất nhiều loại giày dép nhưng thường tập trung vào
bốn loại cơ bản: giày vải, giày thể thao, giày da nam nữ, dép các loại Sau đây là sơ đồ của
một trong những qui trình công nghệ SX giày:
DÂY CHUY ỀN CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH SẢN XUẤT GIÀY:
Trang 16SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 14
Kiểm tra
Bao gói Giày TP
Dây chuyền gò
Kho bán thành phẩm
Sấy nóng
Tạo
sọc
Ráp ghép
Kiểm tra
Kiểm tra
Vệ sinh Bao gói
Cắt vát E.V.A
Mũi hậu
Tạo sọc,
vằn
Lạng, tách lớp
Ổn định E.V.A
Đế
Đánh bóng
Ráp ghép
Mài nhám
Cắt
Định hình
Ép lưu hóa nóng
Cắt nguội
Trang 17ận xét: qua các sơ đồ cho thấy qui trình công nghệ SX giày vẫn còn khá nhiều công đoạn thao tác thủ công, nhìn ở góc độ AT – VSLĐ sẽ tồn tại rất nhiều yếu tố nguy hiểm và độc hại đối với công nhân Có thể đưa ra những dẫn chứng cụ thể như: Đối với công đoạn quét keo, các yếu tố độc hại đều trực tiếp tác động đến công nhân Đối với các công đoạn
sử dụng máy móc thiết bị, các yếu tố nguy hiểm như điện giật hoặc thao tác không đúng qui cách có thể xảy ra TNLĐ Đối với công đoạn thả “phom” và tháo “phom” giày nếu bất
cẩn có thể bị “phom” rơi trúng người hoặc trúng chân, tùy vào độ cao “phom” giày rơi mà
có thể dẫn đến tình trạng bong gân hay dập xương
1.4
M ỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
• Đánh giá thực trạng BHLĐ, tình hình sức khỏe, ĐKLV của công nhân, an toàn sử dụng bảo quản hóa chất trong ngành SX giày
M ục tiêu nghiên cứu:
• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện ĐKLV, phòng chống các tác hại nghề nghiệp nhằm bảo vệ an toàn và chăm sóc sức khỏe trước mắt và lâu dài cho NLĐ ngành giày trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng MTLĐ:
- Các yếu tố độc hại: bụi, ồn, hóa chất
- Các nguy cơ, yếu tố nguy hiểm trong ngành SX giày
- Thăm dò ý kiến cá nhân về MTLĐ
•
- Khảo sát ĐKLV của NLĐ trong ngành SX giày
Điều tra, khảo sát, đánh giá điều kiện làm việc:
- Hồi cứu hồ sơ y tế của các cơ sở SX giày
- Phỏng vấn cá nhân ở những công đoạn có nhiều yếu tố độc hại
- Tính chất công việc đã và đang ảnh hưởng như thế nào đến NLĐ
•
- Phòng chống cháy nổ
Tình tr ạng an toàn lao động:
- Tai nạn lao động
- Thiết bị máy móc với những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn
- Phương tiện bảo vệ cá nhân
• Công nhân làm việc trong ngành SX giày
Đối tượng nghiên cứu:
• Các cơ sở SX giày ở TP.HCM
• Quan sát thực tế
Phương pháp nghiên cứu:
• Phân tích tình trạng sức khỏe bệnh tật của NLĐ trong ngành giày
• Khảo sát, thu thập số liệu hồi cứu
• Tính toán chuyên ngành
• Thống kê, xử lý dựa vào hồ sơ và số liệu hồi cứu
• Tham khảo tài liệu
Vì thời gian nghiên cứu làm luận văn có hạn, do đó tác giả không thể nghiên
cứu bao quát chi tiết hết toàn bộ vấn đề thực trạng công tác BHLĐ và lĩnh vực hóa
Gi ới hạn của đề tài luận văn:
Trang 18SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 16
ất trong ngành SX giày ở TP.HCM Vì vậy tác giả chỉ xin đề cập đến những vấn
đề cấp thiết, bức xúc đã và đang tồn tại trong công tác BHLĐ hiện nay
Đề tài được hạn chế không nghiên cứu về:
- Bệnh nghề nghiệp
- Vận chuyển hóa chất từ bên ngoài đến cơ sở SX
- Kho hóa chất
Trang 19Chương 2:
Ngành công nghiệp giày nước ta đã có từ lâu đời, công nghệ SX ngày càng phát triển và công tác BHLĐ vẫn luôn luôn tồn tại song song với việc SX kinh doanh Tuy nhiên thực
trạng công tác BHLĐ trong ngành vẫn còn nhiều bất cập Sau đây chúng tôi xin đề cập đến
những ưu và khuyết điểm đã và đang tồn tại trong ngành:
Mặt khác do những khó khăn nhất định cả về nhân lực cũng như đầu tư kinh phí mà
việc quản lý công tác BHLĐ vẫn chưa được làm đầy đủ Ở một vài cơ sở NLĐ vẫn chưa được huấn luyện, giáo dục về BHLĐ, chưa được trang cấp PTBVCN, chưa được bồi dưỡng độc hại, các nguy cơ về cháy nổ vẫn còn cao, các yếu tố độc hại và các nguy cơ về TNLĐ vận còn rình rập NLĐ Thêm vào đó, ngành công nghiệp giày nói chung và các
cơ sở SX giày ở TP.HCM qua thực tế đo đạc chưa đầy đủ đã thấy có mức ô nhiễm môi trường đáng kể Tuy nhiên các biện pháp để ngăn chặn, giảm nóng nực, hơi khí độc, ồn, ĐKLV không thuận lợi chưa được nghiên cứu, áp dụng kịp thời và đạt mức yêu cầu Công tác BHLĐ ở các doanh nghiệp trước thời kỳ nước ta mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới, chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm đến công tác BHLĐ, còn lại 80% doanh nghiệp không chú trọng Đa số các doanh nghiệp này đều không có người kiêm nhiệm công tác BHLĐ, nếu có chăng đi nữa thì cũng chỉ là những người chưa qua đào tạo về chuyên ngành này Sau khi nước ta mở cửa hội nhập, các ngành công nghiệp nhẹ phát triển khá nhanh trong đó có ngành giày Tuy vậy, các doanh nghiệp này vẫn chưa kịp thu nhận, nâng cao trình độ cán bộ BHLĐ
Bên cạnh đó những người làm công tác BHLĐ tại các cơ sở không đủ kiến thức chuyên ngành do họ vẫn chưa được đào tạo, bồi d ưỡng đủ lý luận và kinh nghiệm cần thiết
2.1.1.1
Một trong các yếu tố không thể thiếu của công tác BHLĐ là thực hiện theo qui định
của Pháp luật và chế độ chính sách BHLĐ Chính vì thế việc vận dụng các văn bản Pháp luật vào công tác BHLĐ là rất cần thiết đối với các cơ sở SX Sau khi nghiên cứu qua thực tế, qua các tài liệu ở các cơ sở và tham khảo hệ thống văn bản Pháp luật về BHLĐ, chúng tôi nhận thấy rằng:
V ấn đề thực hiện hệ thống các văn bản pháp quy về BHLĐ tại các cơ sở:
Ở các cơ sở quốc doanh hầu hết đều có các văn bản pháp luật BHLĐ như: Các văn bản Pháp luật:
- Bộ Luật Lao động 1995 – Xử lý quan hệ lao động trong lĩnh vực BHLĐ
- Luật Bảo vệ Môi trường – Chống ô nhiễm môi trường SX
Trang 20SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 18
ật Công đoàn 1990 – Công đoàn với công tác BHLĐ
- Luật Phòng cháy chữa cháy 2001 – Phòng chống cháy nổ trong SX
Ở các cơ sở vừa và nhỏ thường thiếu Luật Công đoàn, Luật bảo vệ môi trường
- Nghị định 06/CP ngày 20/10/1995 – Hướng dẫn chi tiết về AT - VSLĐ trong
Luật Lao động
Các Ngh ị định như:
- Nghị định 110/CP sửa đổi bổ sung nghị định 06/CP ngày 27/12/2002 – Hướng
dẫn chi tiết về AT - VSLĐ trong Luật Lao động
- Thông tư 14/TTLT - LĐTBXH - YT - TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 – Hướng
dẫn triển khai hoạt động BHLĐ tại cơ sở
Các Thông tư và Quyết định:
- Thông tư 08/TT - LĐTBXH ngày 11/4/1995 – Hướng dẫn tổ chức huấn luyện BHLĐ tại cơ sở
- Thông tư 23/TT - LĐTBXH bổ sung Thông tư 08 ngày 19/9/1995 – Hướng dẫn
tổ chức huấn luyện BHLĐ tại cơ sở
Tuy nhiên, ngoài việc tiếp nhận các văn bản Pháp luật, các Nghị định, các Thông tư , việc triển khai ban hành, vận dụng triệt để các văn bản pháp quy ở một vài cơ sở vẫn chưa được thực hiện Và nếu có thực hiện chăng đi nữa vẫn chưa đúng hoặc chưa đầy
đủ, hoặc chỉ thực hiện cho có lệ để đối phó với Nhà nước
Ngoài các văn bản pháp luật về BHLĐ cơ bản thì các văn bản còn lại khác như: các văn bản kỹ thuật về BHLĐ, các qui định chế độ chính sách về BHLĐ cần thiết hiện hành chỉ có khoảng 70% ở các cơ sở này
Bên cạnh đó các cơ sở vẫn chưa cập nhập một số văn bản pháp luật mới, đặc biệt là các văn bản từ năm 2002 cho đến nay Đây chính là mặt hạn chế của các cơ sở vì các văn bản này đa phần là những văn bản sửa đổi, bổ sung cho các văn bản trước đó nên sẽ
có nhiều thay đổi Nếu các cơ sở không kịp thời cập nhập thì việc thực hiện sẽ có rất nhiều thiếu sót
2.1.1.2
Để các hoạt động BHLĐ được thực hiện tốt thì không thể thiếu một bộ máy BHLĐ Xây d ựng bộ máy BHLĐ tại cơ sở:
Đa số các cơ sở lớn đều thành lập Hội đồng BHLĐ Tuy nhiên cá biệt vẫn còn một vài cơ sở lo SX nên chưa lập Hội đồng BHLĐ, ví dụ như xí nghiệp giày 3 cho đến nay vẫn chưa thành lập Hội đồng BHLĐ
Hầu như việc thành lập Hội đồng BHLĐ ở các cơ sở đều chưa hoàn chỉnh Sơ đồ
hội đồng BHLĐ thường không đúng như hướng dẫn của văn bản luật pháp Ví dụ: phó chủ tịch hội đồng là chủ tịch công đoàn, bộ phận ATVSV và bộ phận y tế không có trong hệ thống của hội đồng Sơ đồ hội đồng BHLĐ ở các cơ sở đa số đều được lập theo hệ thống như sau:
Sơ đồ 2: Hội đồng BHLĐ chưa hoàn chỉnh
Giám đốc
Trưởng ban
Cán bộ phụ trách ATLĐ – Thư ký
Phòng Kỹ thuật Phó ban
Quản đốc phân xưởng
Ủy viên
Quản đốc phân xưởng
Ủy viên
Trang 21Ban giám đốc Đại diện NSDLĐ
Hội đồng BHLĐ
BCH công đoàn Đai diện công đoàn Công đoàn bộ phận
Tổ công đoàn
ATVSV
Chuyên trách BHLĐ
Các
xưởng
SX
Các phòng
chức năng
Bộ
phận
y tế
Các tổ, đội SX
Ghi chú: Trực tiếp phụ
trách chỉ đạo
Chỉ đạo tương tác qua lại
Liên hệ công tác trực tiếp Liên hệ công tác qua lại
Qua sơ đồ 2 đã cho thấy việc lập hội đồng ở các cơ sở đều không đúng văn bản pháp
luật Do đó các cơ sở cần lập sơ đồ hội đồng BHLĐ theo sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 3:
Đa số trong bộ máy BHLĐ ở các cơ sở đều có bộ phận kỹ thuật phụ trách nên các H ội đồng BHLĐ theo luật định
bộ máy này có tính phòng ngừa cao
Ở một vài cơ sở bộ máy BHLĐ vẫn chưa có sự tham gia của bộ phận Công đoàn,
bộ phận Y tế Ví dụ như: Ở công ty cổ phần giày Sài Gòn, hội đồng BHLĐ không
có bộ phận Công đoàn, bộ phận Y tế và bộ phận PCCC tham gia vào cơ cấu hoạt động Ở công ty xuất nhập khẩu giày dép Nam Á, hội đồng BHLĐ không có sự tham gia của bộ phận Y tế, bộ phận PCCC Ở xí nghiệp giày Vĩnh Hội, hội đồng BHLĐ không có sự tham gia của bộ phận Y tế, bộ phận PCCC
Ở các cơ sở vừa và nhỏ, hội đồng BHLĐ gần như chỉ được coi là dự trù kinh phí mua sắm PTBVCN, chi về y tế khi có TNLĐ
2.1.1.3
Hầu hết các cơ sở đều có cán bộ bán chuyên trách BHLĐ, việc này không đúng qui định Theo Thông tư 14/TTLT – LĐTBXH – YT – TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 qui định đối với cơ sở SX có tổng số lao động trên 300 người thì tối thiểu cần phải
có một cán bộ BHLĐ chuyên trách Và ở các cơ sở SX trong ngành giày đa số đều
có trên 300 NLĐ; nếu đánh giá theo mức độ nguy hiểm, độc hại trong SX, mức độ
tổ chức SX phân tán thì chỉ có cán bộ BHLĐ bán chuyên trách là chưa phù hợp
“Ch ức năng định biên” BHLĐ:
Thêm vào đó, cán bộ BHLĐ của cơ sở đều chưa được đào tạo về chuyên ngành
Đa số các cơ sở đều không có cán bộ làm công tác y tế Một vài cơ sở có cán bộ làm công tác y tế thì cũng vẫn chưa đúng qui định do cán bộ y tế đó cũng chỉ là y
tá Theo Thông tư 14/TTLT – LĐTBXH – YT – TLĐLĐVN qui định đối với các
Trang 22SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 20
ệp có nhiều yếu tố độc hại và có từ 150 – 300 lao động thì phải có ít
nhất một Y sĩ Vì vậy ở các cơ sở có cán bộ có hay không có cán bộ y tế đều chưa đúng qui định Phòng Y tế được qui định là phải tổ chức thực hiện nhiệm vụ vệ sinh lao động, môi trường lao động nhưng hầu như ở các cơ sở bộ phận y tế chỉ quan tâm về theo dõi sức khỏe, bệnh tật thông thường hoặc cho thuốc, cho ngày nghỉ tạm và chuyển đi bệnh viện
Chi phí cho công tác BHLĐ ở các cơ sở đều được thực hiện Tuy nhiên ở các cơ sở
hầu như thiếu dự trù chi phí cho các giải pháp cụ thể như phòng ngừa TNLĐ,
chống nóng, chống ồn, độc hại Những khoản mục chi phí có tỷ lệ cao phần lớn
đều thuộc nội dung của SX
Hầu hết các cơ sở đều có chương trình phát động phong trào thi đua theo các đợt tuyên truyền như: tuần lễ AT – VSLĐ, phòng chống cháy nổ, tháng an toàn giao thông, ngày toàn dân phòng chống cháy nổ với số lượng tranh, “băng rôn” cổ động phong phú,đa dạng
Tuyên truy ền huấn luyện BHLĐ:
• 92% cơ sở lớn huấn luyện BHLĐ
cho NLĐ mỗi năm một lần, chỉ
22% cơ sở vừa và nhỏ
• Đa số các cơ sở đều huấn luyện
BHLĐ cho công nhân Tuy nhiên ở
một vài cơ sở, công tác huấn luyện
BHLĐ vẫn chưa được lên kế
hoạch, chưa được thực hiện
• Huấn luyện BHLĐ tuy đã được các
cơ sở tổ chức theo định kỳ nhưng nhìn chung nhận thức về AT – VSLĐ của công nhân vẫn còn yếu kém
• Chương trình huấn luyện cơ bản vẫn dựa trên lý thuyết là chính, chưa tạo ra được những hình thức sinh động cụ thể như chiếu phim, tổ chức cho NLĐ tham quan triển lãm BHLĐ, thi ATVSV giỏi, tổ chức thi viết, thi vẽ tranh về BHLĐ nhằm lôi cuốn công nhân tham gia tích cực hơn
• Hầu hết các cơ sở đều có chế độ bồi dưỡng độc hại cho những công nhân tiếp xúc trực tiếp với hóa chất
B ồi dưỡng độc hại:
• Chế độ bồi dưỡng độc hại được qui định từ mức 1 ÷ 4 và số tiền bồi dưỡng
chỉ nằm trong khoảng từ 500 ÷ 1.500 VNĐ/ngày Tuy nhiên chế độ bồi dưỡng bằng tiền là không đúng qui định theo Thông tư 10/TTLT – LĐTBXH – YT số tiền bồi dưỡng từ mức 1 ÷ 4 là 2.000 ÷ 6.000 VNĐ/ngày
• Bên cạnh đó, các cơ sở đều thực hiện không đúng qui định về chế độ bồi dưỡng độc hại Phần lớn chế độ bồi dưỡng độc hại ở các cơ sở đều được trả
Hình 1: Công tác tuyên truyền huấn luyện BHLĐ
Trang 23ằng tiền và trả chung theo tiền lương hàng tháng Theo Thông tư 10/TTLT – LĐTBXH – YT thì chế độ bồi dưỡng không được trả bằng tiền, không được đưa vào đơn giá tiền lương Vì chế độ bồi dưỡng này dùng để ngăn ngừa bệnh
tật và bảo đảm sức khỏe cho NLĐ, nếu trả bằng tiền NLĐ sẽ đem số tiền đó
về cho gia đình của họ mà không dùng số tiền đó mua hiện vật để tăng dinh dưỡng cho mình
• Chế độ ăn giữa buổi cho NLĐ theo Thông tư 15 – LĐTBXH – ngày 22/6/1999 hầu như đều chưa thực hiện tại các cơ sở Việc thực hiện chế độ ăn
giữa buổi rất có lợi cho sức khỏe NLĐ do sau một thời gian lao động, KNLĐ
sẽ giảm đi rất nhiều nếu không có chế độ bồi dưỡng hợp lý
Trang 24SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 22
ép cao tầng); xà phòng Cá biệt ở một vài cơ sở, việc trang cấp quần áo BHLĐ
mỗi năm chỉ được một bộ
• Khi trang bị PTBVCN hầu như các cơ sở đều không thông qua việc kiểm tra
chất lượng của tổ chức công đoàn cũng như của ban ATLĐ theo đúng như qui định
• Bên cạnh đó, nhận thức của NLĐ chưa cao, do đó các PTBVCN hầu như có
rất ít NLĐ chấp hành sử dụng một cách nghiêm túc Khá nhiều công nhân không đeo khẩu trang t rong khi làm việc, không dùng găng tay khi tiếp xúc
trực tiếp với dung môi (quét keo, quét nước xử lý đế )
2.1.2
V Ề MẶT NHẬN THỨC CÔNG TÁC BHLĐ CỦA NLĐ:
Đặc trưng của công nhân ngành công nghiệp giày là lao động theo thời vụ Do đó
hầu như công nhân ở đây đều rất trẻ, số có tuổi đời từ 18 – 25 chiếm trên 70% tổng
số lao động Thêm vào đó ngành này tập trung khá nhiều lao động nữ (chiếm 80 – 85% tổng số lao động), đây cũng là ngành có một lượng nhỏ lao động vị thành niên Bên cạnh đó trình độ văn hóa của công nhân chỉ ở mức trung bình, nhiều nhất là cấp
II (chiếm trên 70%), kế đến là cấp III Do trình độ học vấn thấp cộng với ý thức kém nên nhận thức của họ đối với BHLĐ hầu như là không có
Đối với NLĐ:
• Có hơn 50% công nhân chỉ hiểu biết những qui tắc AT – VSLĐ đối với công
việc của mình một cách qua loa và đại khái
• Đa số đều không sử dụng PTBVCN đã được cấp, với lý do rằng PTBVCN không mang lại tác dụng hữu hiệu
• 40,7% công nhân có thói quen sau ca làm việc là đi thẳng về nhà, không thực
hiện bất kỳ một hành động vệ sinh cá nhân nào Việc vệ sinh cá nhân giúp NLĐ phòng chống được sự tác hại của hóa chất
• Công tác tuyên truyền, huấn luyện về BHLĐ ở các cơ sở đa phần NLĐ không tham gia đầy đủ Nếu có tham gia đi chăng nữa, NLĐ cũng chỉ tham gia cho có
lệ, họ không tập trung nghe giảng, nghiên cứu, ghi chép kiến thức
Nh ận xét: NLĐ trực tiếp phải thấy được những mối nguy hiểm và có ý thức phòng
tránh để từ đó tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các qui trình, qui phạm hiện có Cao hơn nữa là phát hiện và yêu cầu cấp trên phải trang bị đầy đủ PTBVCN, ĐKLV theo đúng qui định Điều này chỉ có thể có được thông qua công tác đào tạo, huấn luyện định kỳ và qua công tác tuyên truyền thi đua ở cấp cơ sở Do vậy có thể nói, trong điều kiện hiện nay, việc thường xuyên phát động các phong trào thi đua ATLĐ là rất
cần thiết Vấn đề là làm sao để phong trào đó phải gắn với thực tế đơn vị, tránh hình
Trang 25ức phô trương và ngược lại quá hời hợt đơn giản làm cho NLĐ coi thường, không
thấy hết được tầm quan trọng của công tác ATLĐ Đi liền đó là vấn đề kiểm tra và
xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm các qui định để xảy ra TNLĐ, sự cố thiết bị, từ đó mọi người thấy phải có trách nhiệm với cá nhân mình và với lĩnh vực, công việc được giao
- Hàng năm đều có kinh phí thực hiện BHLĐ
- Tổ chức đăng ký đo kiểm môi trường
- Định kỳ 3 tháng kiểm tra, sữa chữa máy móc thiết bị
- Tại các khu vực có độ hại, nguy hiểm cao (ví dụ như khu vực sử dụng hóa
chất), NSDLĐ tuy có đăng ký đo kiểm môi trường nhưng lại chưa có biện pháp cải thiện môi trường như thông gió, trang bị hệ thống hút khí độc
Điểm yếu:
- Tại những nơi có tiếng ồn cao, NSDLĐ chưa có biện pháp chống ồn như thiết kế vách ngăn giữa các máy
- Nhìn chung nhà xưởng ở các cơ sở đều có mái nhà thấp, NSDLĐ chưa có
biện pháp cải tạo hệ thống nhà xưởng
- Hội đồng BHLĐ vẫn chưa tích cực tham gia công tác BHLĐ, ở vài nơi,
việc lập sổ sách nghiệp vụ cho công tác BHLĐ vẫn chưa được thực hiện
THI ẾT BỊ MÁY MÓC VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG VIỆC SX:
Thiết bị máy móc nhìn chung đều đã cũ, tốc độ chậm, kết cấu đơn giản Máy móc
ở các nơi này đã lỗi thời lạc hậu Thêm vào đó do sử dụng lâu năm nên các máy móc thiết bị tham gia SX cũng xuống cấp hao mòn theo thời gian
V ề thiết bị máy móc:
Hầu hết đối với các loại máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT – VSLĐ đều đã được các cơ sở đăng ký kiểm định và được cấp phép sử dụng Đa phần các loại máy móc này chưa hết thời hạn sử dụng và đều có lập nội qui sử dụng vận hành
một cách chặt chẽ
Tuy nhiên đối với các thiết bị áp lực còn để ở nhiều vị trì rời rạc, chưa tập trung
Ví dụ như ở xí nghiệp giày Vĩnh Hội, máy nén khí được để cạnh hồ chứa nước PCCC rất ẩm thấp, không có phòng chứa máy riêng biệt Như công ty cổ phần giày Sài Gòn, máy nén khí được để dưới gầm cầu thang, phòng chứa máy nén khí ẩm
thấp, vách bằng “tôn” Những nơi để máy nén khí như vậy sẽ không đảm bảo an toàn khi vận hành, khó khăn trong việc sửa chữa bảo trì
2.2.1.2 Về các yếu tố nguy cơ:
Trang 26SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 24
ại máy móc thiết bị tham gia SX phần lớn đều tiềm
ẩn những yếu tố nguy hiểm đối với người sử dụng, do đó vấn
đề hiểu và nắm rõ các qui tắc vận hành, qui tắc an toàn là
điều hết sức cần thiết đối với NLĐ Để phòng tránh được các
nguy cơ bất an toàn thì cần phải biết các yếu tố nguy hiểm
tiềm ẩn trong khi sử dụng Sau đây là một vài nguy cơ đối
với một số loại máy móc, thiết bị cơ bản tham gia SX:
- Nổ bình hơi
Máy nén khí:
- Không có người quan sát máy hoạt động
- Máy để ở khu vực ẩm ướt, không có nhà chứa riêng
ảnh hưởng bởi nguồn điện do sử dụng nguồn điện công nghiệp có hiệu điện
thế khá cao (380V) Nguồn điện biến thiên đột ngột hoặc sự rò rĩ điện xuất
hiện khi đang vận hành máy sẽ khiến người lao động giật mình, khi đó tay chân của họ sẽ vung loạn xạ, nếu vung trúng các chi tiết nguy hiểm của máy
có thể gây nên TNLĐ.Thêm vào đó nếu dây điện bị đứt sẽ khiến máy ngừng
hoạt động, người lao động không biết sẽ đi tìm nguyên nhân, nếu vô tình người lao động chạm vào trúng đoạn dây bị đứt sẽ bị điện giật
phần lớn các máy tham gia SX đều bị
Hình 2: Khu vực đặt máy nén khí
Trang 27- Đứt, kẹp tay, bong gân: thả “phom”, tháo “phom”, gò hông
Khác:
- Ánh sáng của bóng đèn huỳnh quang màu tím dùng để soi bề mặt đế của đôi giày xem có đủ nước xử lý hay rất có hại cho mắt của NLĐ
Hình 4: Khu vực sử dụng máy mài đế
Hình 3: Nguy cơ khi sử mụng máy gò mũi
Hình 6: Ánh sáng của bóng đèn huỳnh quang
màu tím r ất có hại cho mắt
Hình 5: Yếu tố độc hại ở công đoạn in lụa
Trang 28SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 26
2.2.2
Với yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới,
lực lượng lao động sẽ được thu hút nhiều hơn
vào các ngành công nghiệp nhẹ và trong đó
có ngành SX giày Trong điều kiện còn nhiều
khó khăn về cơ sở vật chất và trang thiết bị, ý
thức phòng tránh TNLĐ của NLĐ còn kém
Bên cạnh đó công tác BHLĐ vẫn chưa được
coi trọng, chưa được sự quan tâm và đầu tư
đúng mức nên việc xảy ra TNLĐ là điều
không thể tránh khỏi
V Ề TAI NẠN LAO ĐỘNG:
Nguyên nhân dẫn đến TNLĐ có nhiều
nhưng quan trọng phải nói đến là do công tác
quản lý, công tác tuyên truyền, huấn luyện kiến thức BHLĐ chưa được đều khắp Các cơ
sở SX đã không tuân thủ các qui định pháp luật về AT – VSLĐ, vi phạm các tiêu chuẩn, qui trình kỹ thuật an toàn, tuyển dụng lao động không qua đào tạo nghề, không ký hợp đồng lao động, không đóng BHXH, thiếu các biện pháp an toàn, mặt bằng SX chật hẹp, công nghệ chắp vá Điều đó cho thấy trách nhiệm của cơ quan chức năng Nhà nước và
tổ chức công đoàn trong công tác AT – VSLĐ còn rất nặng nề Bên cạnh đó còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng là nhận thức và ý thức của NLĐ còn kém
Phần lớn dây chuyền máy móc, thiết bị SX ở các cơ sở đều thuộc thế hệ cũ tồn tại cho đến ngày nay nên nguy cơ gây TNLĐ còn nhiều Và theo nghiên cứu của các đề tài cấp nhà nước, ngành dệt may và SX hàng hóa thì vấn đề TNLĐ ở trên 1.000 công nhân có hệ
số tần suất K = 6,4 Vì vậy ngành SX giày có thể có khả năng TNLĐ cao hơn ngành dệt may do ngành này có nhiều máy móc và hóa chất
Có thể lấy ví dụ điển hình về tình hình TNLĐ ở cơ sở SX giày Sài Gòn để tính hệ số
tần suất TNLĐ K theo công thức như sau:
N
n
Với: n : số người bị TNLĐ trong khoảng thời gian xác định
N : số lao động tương ứng trong khoảng thời gian thống kê số TNLĐ đó
Hình 7: Yếu tố nguy cơ khi gò hông bằng thủ công
Trang 29B ảng 3: Th ống kê TNLĐ và kết quả thử tính hệ số K ở một vài cơ sở SX giày
Cơ sở SX Năm làm vi T ại nơi ệc giao thông Tai n ạn T ổng cộng Hệ số K
suất TNLĐ cao là do công tác quản lý BHLĐ không được tốt
Thêm vào đó nếu kể đ ến TNGT đi từ nhà đến cơ sở và từ cơ sở về nhà coi như là TNLĐ thì hệ số K sẽ tăng lên từ 11 ÷25 Và điển hình ở cơ sở SX giày Sài Gòn đã xuất
hiện một trường hợp chết do TNGT (năm 2003), ở cơ sở SX giày Vĩnh hội cũng xuất
hiện một trường hợp chết do TNGT (năm 2004)
Qua hồi cứu các số liệu về TNLĐ trong ngành công nghiệp giày cho thấy như sau:
• Các loại TNLĐ thường xảy ra như bỏng (18,5%), dập (21,7%), vết thương (31,5%), tai nạn khác (7,6%) (xem biểu đồ 2)
• Vị trí chấn thương chủ yếu ở bàn tay (31,5%), bàn chân (20,7%), đầu mặt (13%),
các chi (chi trên 12%, chi dưới 11%) (xem biểu đồ 3)
• Nguyên nhân gây TNLĐ chủ yếu do máy móc (33,7%), do vi phạm nội quy ATLĐ (32,6%)
• Nguy cơ trực tiếp gây TNLĐ chiếm tỷ lệ nhỏ (va kẹp 8%; cháy nổ 6,7%) nhưng
có tới 72,8% tai nạn do yếu tố chủ quan của NLĐ Điều này chứng tỏ TNLĐ còn
phụ thuộc vào cá nhân NLĐ rất lớn
Nhìn chung TNLĐ xuất hiện trong ngành công nghiệp giày khá nhiều, tuy nhiên vẫn chưa đến mức báo động
Trang 30SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 28
Bi ểu đồ 2: Lo ại hình TNLĐ trong ngành SX giày
Bi ểu đồ 3: V ị trí chấn thương trong TNLĐ 2.2.3
Phòng chống cháy nổ là một công việc rất quan trọng trong các ngành công nghiệp
nhẹ nói chung và trong ngành công nghiệp giày nói riêng Ở ngành SX giày luôn luôn
phải sử dụng hóa chất và đó chính là một trong những nguy cơ tiềm ẩn về cháy nổ
phần do nguyên vật liệu, phần khác lại là do hóa chất
Đặc điểm chung của ngành SX giày là chứa nhiều nguyên vật liệu (vải, da, mousse
xốp, cao su, giấy ), DMHC (benzen, toluen, xăng công nghiệp, kerosene ) dễ gây cháy nổ Đặc biệt qui trình công nghệ có hệ thống hấp bằng nồi hơi, sấy và ép keo bằng điện nên nguy cơ cháy nổ rất cao Vì vậy công tác PCCC trong ngành SX giày cần được quan tâm hàng đầu
Nắm rõ được điều đó, hiện nay các cơ sở SX giày đã và đang đề ra phương án PCCC tương đối tốt Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn một vài hạn chế
Đa số các cơ sở đều nằm trong thành phố, đây chính là
mặt hạn chế cơ bản trong công tác PCCC
31,5
21,7 18,5
5,4
1,1 7,6
0 5 10 15 20 25 30 35
Trang 31 Có khoảng 64% cơ sở chưa có văn bản chỉ đạo về hoạt động PCCC (chưa có lực lượng PCCC cơ sở, chưa có qui định, nội qui an toàn PCCC, chưa xây dựng phương
án PCCC tại chỗ)
Số còn lại tuy có thành lập lực lượng PCCC tại chỗ và
có các biện pháp phòng cháy nhưng đó chỉ dành để dập
tắt những đám cháy nhỏ Đối với những đám cháy lớn đều phải cần đến sự giúp đỡ
của các đội PCCC quận hoặc thành phố
Thêm vào đó những nhà máy này đều nằm trong khuôn viên thành phố, nằm cạnh khu dân cư, sát nhà dân Vì vậy nếu xuất hiện sự cố sẽ gây ra thiệt hại rất lớn về người và của
Khoảng 76% cơ sở không trang bị hoặc trang bị
phương tiện chữa cháy không đủ số lượng, không
đúng chủng loại hoặc các phương tiện đó đã
xuống cấp, hết hạn sử dụng
Khoảng 70% không có nguồn nước chữa cháy
hoặc thiếu nước dự trữ chữa cháy
Khoảng 62% nhà xưởng, kho tàng, cơ sở SX
không đảm bảo yêu cầu về an toàn PCCC
Đặc biệt ở một vài cơ sở, kho hóa chất vẫn chưa có hệ thống báo cháy tự động
Đa số cơ sở không có còi báo cháy, không có lối thoát hiểm khi sự cố xảy ra
Ở một vài cơ sở không tổ chức huấn luyện công tác PCCC cho NLĐ, nhìn chung lao động trực tiếp không ý thức được việc PCCC, đặc biệt là cháy nổ do hóa chất
Hầu hết các cơ sở, các họng chữa cháy bị nguyên vật liệu che chắn, bảng hướng dẫn
- Loại hình kinh tế mới hình thành
Về mặt khách quan:
- Thiếu văn bản qui phạm pháp luật riêng, điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực PCCC
•
- Cơ quan có thẩm quyền chưa kịp thời ban hành hoặc đề xuất ban hành văn
bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực PCCC
- Mặt khác đa số nhà xưởng SX đã được xây dựng lâu năm hoặc tận dụng, cải
tạo hệ thống kho tàng cũ nên các hệ thống điện không được lắp đặt ngầm Vì
vậy khoảng 80% xuất hiện sự cố do chập điện
- Do ma sát khi vận hành máy có thể dẫn đến chập, nổ điện
- Do kho hóa chất không được thông thoáng, không có hệ thống báo cháy tự động vì các dung môi hóa chất rất dễ gây cháy nổ, chỉ cần nhiệt độ vượt tiêu chuẩn cho phép một chút là có thể gây cháy nổ ngay
- Do các thùng chứa hóa chất, các nguyên vật liệu để bừa bãi hoặc để gần hệ ống điện
Hình 8: Diễn tập PCCC
Hình 9: Máy bơm PCCC đặc chủng
Trang 32SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 30
ối đi chật hẹp, không thông thoáng
- Do nhà xưởng không được quét dọn, không được vệ sinh sạch sẽ dẫn đến bồ hóng bám đầy trên trần nhà, trên máng đèn Đặc biệt cháy do “bồ hóng” sẽ lan rất nhanh
Bên cạnh đó hệ thống đánh giá các đối tượng nhạy cảm xảy ra sự cố môi trường liên quan đến ngộ độc và PCCC của các loại hóa chất do các nhà khoa học nghiên cứu (phụ
lục 1) đã cho thấy nguy cơ cháy nổ do hóa chất ở ngành công nghiệp giày chỉ ở mức (++), sự rò rỉ, chảy tràn, đổ vỡ và ô nhiễm do tích lũy chỉ ở mức (+) So sánh với các ngành khác có thể thấy rằng nguy cơ cháy nổ do hóa chất, do các yếu tố khác chỉ ở mức trung bình Tuy đánh giá như vậy nhưng chúng ta không thể xem nhẹ vấn đề cháy nổ do hóa chất Vì cháy do hóa chất rất nguy hiểm, có những hóa chất gặp nhiệt độ cao sẽ nổ
dẫn đến thiệt hại rất lớn về người và của Nếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm loãng các nồng độ hóa chất trong MTLĐ như trong hướng dẫn ngành chuyên môn thì các yếu
tố hóa chất trong phân xưởng không có khả năng gây cháy
2.2.4.
Vấn đề an toàn điện rất quan trọng, nó ảnh hưởng không ít đến sự hoạt động của các
cơ sở Qua số liệu các năm cho thấy, các sự cố về cháy nổ trong ngành giày xảy ra do
chập điện, các TNLĐ xảy ra do điện là không nhỏ do nguồn điện sử dụng trong ngành này lên đến 380V
Bên cạnh đó đã có nhiều vụ TNLĐ do chập điện gây nên, điển hình như vụ TNLĐ do
chập điện, phóng hồ quang và bốc lửa ở xí nghiệp giày Vĩnh Hội đã làm một công nhân
bị bỏng Ban lãnh đạo các cơ sở nên quan tâm đến vấn đề an toàn điện nhiều hơn để không có trường hợp nào dẫn đến những hậu quả thương tâm do điện gây nên
2.3
Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của TP.HCM, tác động vi khí hậu quá nóng và
phối hợp với nhiều yếu tố độc hại khác phát sinh trong SX như: tiếng ồn, bụi, hơi khí độc càng làm tăng cường các ảnh hưởng xấu tới NLĐ làm việc trong môi trường đó Trong điều kiện như vậy, NLĐ sẽ nhanh chóng mệt mỏi về thể lực, thần kinh, tâm lý căng thẳng, suy giảm sức khỏe, giảm KNLĐ, tăng tỷ lệ ốm đau, TNLĐ và BNN
V Ệ SINH LAO ĐỘNG
Ở các cơ sở việc đo kiểm môi trường tuy được thực hiện nhưng lại đo vào buổi sáng trong khi đáng lẽ ra phải được thực hiện vào buổi chiều hoặc có đo kiểm nhưng một năm
chỉ thực hiện có một lần Cá biệt có nơi việc đo kiểm môi trường không được thực hiện
Ví dụ như cơ sở SX giày Vĩnh Hội
Nói tới MTLĐ kém chất lượng chính là nói tới các loại ô nhiễm trong các cơ sở SX Ô nhiễm đầu tiên phải kể đến của môi trường trong các cơ sở SX là ô nhiễm vi khí hậu Qua nhiều đề tài nghiên cứu các cấp cho thấy vi khí hậu gây cảm giác nóng nực trong nhà máy
SX công nghiệp nhẹ, trong đó ngành giày chiếm đến hơn 60% Ở các nhà máy tại TP.HCM cho thấy như sau:
Trang 33C Có
những nơi nhiệt độ lên đến 390
• Ở những công đoạn có lò sấy, công đoạn lưu hóa nhiệt độ trong xưởng luôn cao hơn thân nhiệt (39
C > TCCP, nếu kết hợp với các ngày nắng nóng sẽ gây cảm giác nóng bức, khó chịu cho công nhân khi làm việc
0
• Nhiệt độ cao còn là điều kiện để các dung môi, hóa chất, dung môi trong vật
liệu, trong bán thành phẩm và trong thành phẩm bốc hơi, nhiều hơn hết là làm tăng mức ô nhiễm
C) Nhà xưởng lợp “tôn” cũng là yếu tố làm tăng nhiệt độ do hiện tượng bức xạ nhiệt
• Thêm vào đó hệ thống thông gió phần lớn là dạng quạt trần, quạt đứng cho nên khi không khí trong xưởng cao hơn 35 0
C thì quạt ít có tác dụng mà đôi khi còn tác dụng ngược lại làm cho công nhân cảm thấy nóng hơn
và pha loãng hơi khí độc
Nh ận xét: Qua các yếu tố vi khí hậu cho thấy nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió ở các cơ sở trong ngành giày đều vượt quá TCCP
Có th ể lấy ví dụ điển hình về số liệu đo vi khí hậu ở một vài
cơ sở SX để thử tính Thq (nhi ệt độ hiệu quả tương đương)
B ảng 4: Vi khí h ậu ở một vài cơ sở SX giày
Trang 34SVTH: Tạ Hoàng Gia Trang 32
STT Cơ sở SX c ầu khô tk Nhi ệt độ ( 0
Độ ẩm C)
ϕ
(%)
V ận tốc gió (m/s)
t t
T k ö
Với: tK: nhiệt độ quả cầu khô (0
C) tư: nhiệt độ quả cầu ướt (0
B ảng 5: Kết quả thử tính nhiệt độ hiệu quả tương đương Thq và ch ỉ số bực bội DI
STT Cơ sở SX c ầu ướt tư Nhi ệt độ ( 0
Nhi ệt độ hiệu quả C) tương đương Thq ( 0 C) Ch ỉ số bực bội DI
C nghĩa là quá nóng, không đạt TCVSCP vì Thq = 19 – 270
Kết quả thử tính chỉ số bực bội DI ở 3 cơ sở cho thấy đều trên 80 mà:
C là đạt yêu cầu vệ sinh
Với DI ≥ 75: hơi nóng
DI ≥ 80: nóng, ra mồ hôi, bực bội
DI ≥ 85: rất nóng, cực kỳ bực bội
Với DI cao như vậy sẽ khiến NLĐ ở cả 3 cơ sở trên cảm thấy nóng, ra mồ hôi, bực bội
và khó chịu khi làm việc Như vậy, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe NLĐ cũng như NSLĐ của họ sẽ giảm đi một lượng đáng kể do họ không được cảm giác thoải mái dễ
chịu khi làm việc
Theo tiêu chuẩn VN, điều kiện không khí đạt cảm giác tiện nghi và lý tưởng nhất ở khu
Trang 35 Ti ềng ồn:
• Do điều kiện qui trình SX, tình trạng máy móc, thiết bị đã cũ kỹ, không đạt tiêu chuẩn AT – VSLĐ, việc bố trí máy móc, nhà xưởng thiếu hợp lý, các nguồn ồn có tính cộng hưởng nên ô nhiễm tiếng ồn là điều không thể tránh
khỏi
ếng ồn cũng là một trong những yếu tố được liệt vào thành phần gây ô nhiễm môi trường Cùng với quá trình cơ giới hóa, sự xuất hiện của các thiết bị máy móc một m ặt đã giải phóng cho NLĐ thoát khỏi công việc cực nhọc, nhưng
lại đem đến những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến NLĐ Đó là sự suy giảm thính
lực và nặng hơn là bệnh điếc nghề nghiệp Một số thiết bị công nghệ gây tiếng ồn
lớn và thậm chí rất lớn như: máy dập, máy đụt tán nút, máy mài đã làm giảm thính lực của NLĐ làm việc trong môi trường đó
• Nhìn chung các cơ sở tuy có mức ồn trung bình đạt TCCP nhưng còn có
những vị trí có giá trị đo rất lớn vượt TCCP từ 7 – 10 dBA
• Đặc biệt cần quan tâm đến tiếng ồn phát ra từ máy dập (105 dBA), máy mài (93,6 dBA), máy hút bụi (102 dBA), từ phân xưởng cán luyện cao su (93,3 dBA), từ phân xưởng gò và phân xưởng may có những vị trí đo được 95 dBA,
từ vị trí tháo “phom” giày (cao hơn TCCP từ 1 – 2 dBA)
• Tiếng ồn phát ra từ các máy này thường gây khó chịu cho NLĐ, nếu tiếp xúc lâu dài sẽ ảnh hưởng đến thính lực và thần kinh của họ
độ rọi tại vị trí làm việc
• Đặc biệt đối với dây chuyền may cần độ chiếu sáng đảm bảo với các chi tiết đòi hỏi mức độ chiếu sáng tốt Khu vực mũi kim của các máy may cũng bị che khuất, đặc biệt là máy may trụ
• Thêm vào đó những vị trí có độ rọi chiếu sáng thấp hơn so với yêu cầu thường
ở khu vực máy gò và ép đế do bị che khuất bởi đầu máy hoặc thân máy Độ
rọi của các khu vực này hầu như không đồng đều, có nơi không đủ TCCP nhưng có nơi lại gây tình trạng chói mắt cho công nhân do vượt TCCP
• Ở một vài cơ sở hệ thống đèn vẫn còn thiếu chao chụp, điều này tác động xấu đến thị lực và gây căng thẳng thần kinh của công nhân Tuy cường độ chiếu sáng đạt TCCP nhưng đó chỉ là đạt về số lượng, còn chất lượng ánh sáng lại không đảm bảo do hiện tượng nhấp nháy của bóng đèn (mắc hai bóng đèn trên cùng một pha) Do đó với những chi tiết nhỏ, cần độ chính xác cao thì sau một
thời gian làm việc có thể sinh ra hiện tượng hoa mắt, căng thẳng thị giác
• Hầu hết các cơ sở đều không có hệ thống chiếu sáng sự cố Các máy gò, ép đế, máy mài đế đều không có đèn chiếu sáng cục bộ
• Chiếu sáng tự nhiên đa phần là chiếu sáng bên bằng cửa sổ, hệ số độ rọi tự nhiên thấp nên phải sử dụng ánh sáng nhân tạo cả ngày