BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG *** LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NGÀNH TÀI CHÍNH[.]
Trang 1-*** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÁ NGỌC QUÂN
HÀ NỘI - 2023
123doc.vn
Trang 2-*** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới
lợi suất đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác nào khác Tài liệu tham khảo cũng như tham chiếu đều được trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày….tháng… năm 2023
Tác giả luận văn
Bá Ngọc Quân
123doc.vn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Ngoại Thương, các
thầy cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Tài chính – Ngân hàng đã tạo điều kiện và
giúp đỡ cho tôi hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS
Nguyễn Thị Thu Huyền đã nhiệt tình hướng dẫn, bổ sung và đưa ra những lời
khuyên bổ ích, đồng thời tạo điều kiện để giúp tôi hoàn thành luận văn Tôi cũng
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, những người
luôn sát cánh bên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện luận văn nhưng do kiến thức còn hạn hẹp và
thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn bị hạn chế nên vẫn còn nhiều thiếu sót Rất
mong nhận được sự góp ý từ Quý thầy/cô, các Anh/chị và các bạn bè để luận văn
được hoàn thiện hơn
Tôi trân trọng cảm ơn!
Học viên thực hiện
Bá Ngọc Quân
123doc.vn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN, LỢI SUẤT ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU 5
1.1 Tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp 7
1.1.3 Vai trò của tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp 11
1.2 Lợi suất đầu tư cổ phiếu 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Phương pháp lợi suất đầu tư 14
1.3 Tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu 16
1.3.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu 16
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi suất đầu tư cổ phiếu 18
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU 25 2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của thông tin lợi nhuận đến lợi suất đầu tư cổ phiếu 25
2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu 28
2.3 Khoảng trống nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thiết kế nghiên cứu 36
123doc.vn
Trang 63.2 Mô hình kiểm định tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam 37
3.2.1 Xây dựng giả thuyết 37
3.2.2 Mô hình phân tích 38
3.2.3 Phương pháp ước lượng 38
3.2.4 Phương pháp đo lường các biến trong mô hình 43
3.2.5 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 49
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Thống kê mô tả 52
4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 54
4.3 Kết quả hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM và kiểm định 55
4.3.1 Kết quả hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM 55
4.3.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 57
4.4 Kết quả hồi quy theo mô hình FGLS 60
4.5 Phân tích kết quả 61
CHƯƠNG 5: HÀM Ý CHÍNH SÁCH 65
5.1 Đối với doanh nghiệp 65
5.2 Đối với nhà quản lý 66
5.3 Đối với nhà đầu tư 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC i
123doc.vn
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kiểm định giả thiết cho OLS 40
Bảng 3.2 Kiểm định giả thuyết cho mô hình FEM và REM 43
Bảng 3.3 Dự kiến dấu của các biến số 49
Bảng 3.4 Số lượng doanh nghiệp lựa chọn làm mẫu nghiên cứu theo 51
Bảng 4.1 Tổng hợp số quan của các biến 52
Bảng 4.2 Thống kê các biến trong mô hình 53
Bảng 4.3 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 54
Bảng 4.4 Kết quả chạy mô hình Pooled OLS 55
Bảng 4.5 Kết quả chạy mô hình tác động cố định FEM 56
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình tác động ngẫu nhiên REM 57
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Hausman 58
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 60
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy theo FGLS 61
Bảng 4.10 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây 62
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Thiết kế nghiên cứu 36
Hình 4.1 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 59
Hình 4.2 Kết quả kiểm tự tương quan 59
123doc.vn
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất sinh đầu tư
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam với mẫu thu thập được gồm 570 quan sát trong giai đoạn 2018-2022 Áp dụng phương pháp mô hình định lượng với
dữ liệu bảng thì kết quả thu được cho thấy tăng trưởng lợi nhuận lợi của doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến lợi suất đầu tư cổ phiếu và là mối quan hệ đồng biến Kết quả nghiên cứu phù hợp với các giả thuyết nghiên cứu cũng như có sự tương đồng với các nghiên cứu trước đây của các học giả trong nước cũng như nước ngoài
ở các thị trường chứng khoán khác nhau Nghiên cứu cũng chỉ ra ngoài biến tăng trưởng lợi nhuận thì biến kiểm soát trong mô hình là tỷ lệ giá trị trên giá trị sổ sách
và thanh khoản của cổ phiếu cũng có tương quan đồng biến với lợi suất đầu tư cổ phiếu Nhưng trong đó yếu tố thanh khoản của cổ phiếu kết quả trái ngược với giả thuyết nghiên cứu của tác giả Điều này cũng được lý giải do thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển nên có nét tương đồng với các thị trường mới nổi trên thế giới vì vậy kết quả nghiên cứu có sự tương đồng với nghiên cứu của Jun, Marathe, Shawhy (2003) thực hiện nghiên cứu trên thị trường chứng khoán mới nổi ở khu vực Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latinh và trái ngược với lý thuyết phần bù rủi ro cho rằng thanh khoản càng thấp thì lợi suất đầu tư càng cao để
bù đắp rủi ro về thanh khoản
Từ kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra hàm ý chính sách đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết, cơ quan quản lý để tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh với nhiều cơ hội đầu tư phong phú Ngoài ra, nhà đầu tư có nhìn toàn diện hơn về nhân
tố tác động đến lợi suất sinh lời nhằm đưa ra những chiến đầu tư phù hợp mang lại hiệu quả cao Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của đề tài và đề xuất những hướng nghiên cứu trong tương lai để vấn đề nghiên cứu hoàn thiện hơn 123doc.vn
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai thập kỷ đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng về quy mô Theo thống kê của UBCKNN thì mức vốn hóa TTCK năm 2022 đạt 4.758 nghìn tỷ tương đương 42% GDP và mức vốn hóa cao nhất từ trước đến nay đạt mức là 5.838 nghìn tỷ (năm 2021) tương đương 93% GDP năm 2021 Không chỉ về tăng trưởng về vốn hóa, số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh tính đến tháng 10/2022 có 1598 công ty niêm yết gấp rất nhiều lần so với lúc thị trường mới thành lập chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết Bên cạnh đó, số lượng người tham gia đầu tư cũng tăng mạnh tính hết năm 2022 đạt 6.87 triệu tài khoản chứng khoán tương đương 6.2% dân số vượt kế hoạch đặt ra theo chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (số lượng nhà đầu tư đạt 5% dân số năm 2025 và 8% dân số vào năm 2030) Trong sự phát triển chung của thị trường có sự đóng góp rất quan trọng từ phía nhà đầu tư giúp doanh nghiệp giải quyết được phần lớn vốn dài hạn để phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh qua đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế trong nước TTCK không chỉ đảm nhiệm là một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế mà là còn một kênh đầu tư sinh lời, giúp đa dạng hóa danh mục đầu
tư và giảm rủi ro, khuyến khích người dân tiết kiệm nhiều hơn để tham gia đầu tư Theo đề án “Chiến lược tài chính đến năm 2030” của Chính phủ đề ra mục tiêu phát triển TTCK theo định hướng ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả, có cơ cấu hợp lý, cân đối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn nhằm tạo cơ hội đầu tư tốt cho cả nhà đầu tư khi tham gia đầu tư trên thị trường cũng như cơ hội có được nguồn vốn với chi phí vốn hợp lý của các công ty niêm yết Để đạt được mục tiêu trên TTCK phải cung cấp cho nhà đầu tư một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú mang lại một tỷ suất sinh lời hấp dẫn Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng lợi suất đầu tư cổ phiếu của cổ phiếu là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của của nhà đầu tư (Nagy và Obenberger, 1994) Nhưng trong đầu tư thì lợi nhuận luôn gắn liền với rủi ro lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại Chính vì vậy, để giảm thiểu được rủi ro trong đầu tư đòi hỏi nhà đầu tư có sự
123doc.vn
Trang 11am hiểu về lợi suất đầu tư cổ phiếu và các nhân tố tác động đến lợi suất đầu tư Việc đánh giá các nhân tố tác động đến lợi suất đầu tư cổ phiếu đã được thực hiện bởi nhiều học giả như Al-Tamimi và cộng sự (2007) định lượng mối tương quan trên kết quả chỉ ra rằng tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh đến lợi suất đầu tư của cổ phiếu, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng bởi nhân tố vĩ
mô bao gồm cung tiền và GDP, lạm phát Ở một nghiên cứu khác, Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) cũng cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp tác động mạnh và cùng chiều giá của cổ phiếu, bên cạnh đó giá cổ phiếu chịu tác động bởi lãi suất, lạm phát, tăng trưởng GDP và các chỉ số tài chính của doanh nghiệp Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, Trương Đông Lộc (2014) thực nghiệm mối quan hệ các nhân tố tác động đến lợi suất đầu tư cổ phiếu, kết quả cũng chứng minh được tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp tác động lợi suất đầu tư của cổ phiếu Qua các nhiều nghiên cứu cả về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm cho thấy có nhiều nhân
tố khác nhau ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu nhưng tổng hợp lại hình thành nên hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố vĩ mô và nhóm yếu tố nội tại doanh nghiệp Trong đó, đặc biệt nhân tố tăng trưởng lợi nhuận có tác động mạnh mẽ tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
Để các nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa tăng lợi nhuận của doanh nghiệp với lợi suất đầu tư cổ phiếu nhằm tìm ra những cơ hội hoặc tránh được những rủi ro khi tham gia đầu tư, chủ đề nghiên cứu được lựa chọn
làm vấn đề nghiên cứu trong luận văn này “Nghiên cứu tác động của tăng trưởng
lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12✓ Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về lợi suất đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư và vai trò của nhân tố tăng trưởng lợi nhuận
✓ Phân tích tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
✓ Đưa ra các hàm ý chính sách giúp cải thiện hiệu quả đầu tư cho các nhà đầu tư thông qua nghiên cứu nhân tố về tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp tới lợi suất đầu tư của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: phân tích tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư
của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu 30 doanh nghiệp phi tài chính
được phân theo tiêu chuẩn ngành GICS niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian: luận văn tập trung phân tích dữ liệu trong giai đoạn từ 2018 –
2022
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp chủ đạo là phương pháp định lượng và tổng hợp đối chiếu, so sánh
Phương pháp định lượng: tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (OLS pooled, REM, FEM) nhằm lượng hóa tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trước tiên, tác giả kiểm định các khuyết tật của mô hình gồm hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan,
123doc.vn
Trang 13phương sai thay đổi Sau đó dùng kiểm Huasman để lựa chọn mô hình phù hợp với
dữ liệu nghiên cứu Cuối cùng dùng mô hình định lượng FGLS khắc phục các khuyết tật của mô hình lựa chọn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tăng trưởng lợi
nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng lợi nhuận, lợi suất đầu tư và tác
động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 5: Hàm ý chính sách
123doc.vn
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN, LỢI SUẤT ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI
LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU 1.1 Tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Tăng trưởng lợi nhuận luôn được xem là một trong những vấn đề trọng tâm trong quá hoạt động và quản lý của bất kỳ doanh nghiệp nào Nó có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng không chỉ riêng bản thân doanh nghiệp mà bao gồm cả nhà đầu tư, các tổ chức tài chính cung cấp vốn, cơ quan quản lý Chính vì vậy, khi phân tích tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp trong bài luận văn tác giả làm rõ từng khái niệm liên quan lợi nhuận, tăng trưởng, tăng trưởng lợi nhuận
Theo Vũ Văn Ninh (2013) lợi nhuận doanh nghiệp là “khoản chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định” Định nghĩa này đồng nhất với các
nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) nghĩa là lợi nhuận doanh nghiệp được xác định theo thực tế hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua
Cụ thể lợi nhuận doanh nghiệp được xác định như sau:
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Lợi nhuận hoạt
động
sản xuất kinh doanh
= Doanh thu thuần bán hàng
- Giá vốn hàng bán ra
- Chi phí bán hàng
- Chi phí QLDN
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính:
Lợi nhuận từ hoạt động
tài chính
= Doanh thu hoạt động
tài chính
− Chi phí tài chính
Lợi nhuận khác:
Lợi nhuận khác = Thu nhập khác – Chi phí khác
123doc.vn
Trang 15Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp được xác định như sau:
Lợi nhuận sau thuế:
Lợi nhuận sau thuế: là phần lợi nhuận mà các doanh nghiệp thu được sau khi
thanh toán toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2018, tr.438)
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế là phần kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp Phần lợi nhuận được sử dụng để trích lập các quỹ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chia lợi nhuận, chi trả cổ tức…Do đó lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ảnh rõ nét kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Từ định nghĩa và cách tính lợi nhuận của doanh nghiệp cho thấy lợi nhuận doanh nghiệp phụ thuộc chính vào hai thành phần cấu tạo nên lợi nhuận là doanh thu và chi phí nên mọi yếu tố tác động đến doanh thu và/hoặc chi phí đều làm lợi nhuận của doanh nghiệp biến động Do vậy, khi phân tích tình hình biến động lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giúp nhà quản quản trị, nhà phân tích, nhà đầu tư…thấy được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nhân tố ảnh hưởng đến biến động đó Từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp để mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Để phân tích sự biến động của lợi nhuận các kỳ kế toán nhiều tác giả sử dụng thuật ngữ tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp
Theo Đào Lê Minh (2009) tăng trưởng lợi nhuận “là kết quả của sự khai thác
và tận dụng các cơ hội nảy sinh trong thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” Điều đó có nghĩa doanh nghiệp muốn đạt mục tiêu tăng trưởng phải biết
nắm bắt thành công những cơ hội trên cơ sở tận dụng tối đa nguồn lực và phương
123doc.vn
Trang 16tiện hiện có của doanh nghiệp Ở một khía cạnh khác để lượng hóa tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp Nguyễn Văn Công (2018) dùng tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận
Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận: Được tính bằng cách so sánh lợi nhuận lợi nhuận
kỳ thực hiện với lợi nhuận sau thuế kỳ gốc bằng tỷ lệ % Hay chính là phần trăm thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp của kỳ thực hiện so với kỳ gốc
Mức biến động tăng (+)
hoặc giảm (-) lợi nhuận kỳ
phân tích so với kỳ gốc
= Lợi nhuận kỳ phân tích − Lợi nhuận kỳ gốc
Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận (%)
1.1.2 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp
Qua công thức xác định lợi nhuận và tăng trưởng nhuận doanh nghiệp, có thể nhận thấy có hai hướng cơ bản để tăng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh,
đó là giảm thiểu chi phí và tăng doanh thu của doanh nghiệp (Vũ Văn Ninh, 2013, tr.407)
123doc.vn
Trang 17Nhóm yếu tố tác động đến doanh thu:
Nhân tố khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ: Khối lượng sản phẩm sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thu Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì có khả năng tiêu thụ càng lớn từ đó khiến doanh thu tiêu thụ càng cao Song, nếu sản phẩm sản xuất vượt nhu cầu thị trường thì dẫn tới cung vượt cầu, sản phẩm không tiêu thụ hết, hàng hóa bị ứ đọng, gây hậu quả xuất cho sản xuất
kinh doanh điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Chất lượng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ: Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu sản phẩm, sản phẩm có chất lượng cao thì giá bán sẽ cao hơn và ngược lại Chất lượng sản phẩm cao là một trong những yếu tố quyết định đến mức độ tín nhiệm đối với người tiêu dùng
Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ: Kết cấu mặt hàng tức là tỷ trọng về giá trị của mặt hàng đó so với tổng giá trị tất cả các mặt hàng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng của mặt hàng có mức sinh lời cao, giảm tỷ trọng bán ra của những mặt hàng có mức sinh lời thấp dù mức lợi nhuận cá biệt của từng mặt hàng không thay đổi thì tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được sẽ tăng lên và ngược lại
Nhân tố giá bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ: Giá cả ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, giá bán sản phẩm hàng hóa dịch vụ tăng lên thì doanh thu bán hàng sẽ tăng lên và ngược lại Thị trường tiêu thụ và chính sách bán hàng hợp lý: Thị trường tiêu thụ ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nếu sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường và được thị trường chấp nhận thì việc tiêu thụ sẽ dễ dàng hơn Muốn nâng cao doanh thu bán hàng, doanh nghiệp cần biết vận dụng các phương thức thanh toán hợp lý, chính sách tín dụng thương mại phù hợp và thực hiện các nguyên tắc nhập xuất giao hàng hóa đầy đủ, an toàn
Nhóm yếu tố tác động đến chi phí:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Các nhân tố định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giá mua nguyên vật liệu, chi phí thu mua ảnh hưởng đến tổng chi phí và tác
123doc.vn
Trang 18động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nên doanh nghiệp cần tìm ra các biện pháp giảm thiểu các khoản chi phí trên và xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến khoản chi nguyên vật liệu
Nhân tố chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí doanh nghiệp dùng để trả lương và các khoản trích theo lương cho công nhân sản xuất trực tiếp Nên doanh nghiệp cần tìm biện pháp để giảm chi phí tiền lương công nhân trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm
Nhân tố chi phí sản xuất chung: Là chi phí cho hoạt động của phân xưởng trực tiếp tạo ra hàng hóa dịch vụ, như chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ quản lý sản xuất liên quan đến nhiều khâu như nâng cao trang thiết bị máy móc, kỹ năng trình độ của cán bộ công nhân viên,…
Chi phí bán hàng: Chi phí bán hàng phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên và tình hình thị trường tiêu thụ Nếu doanh nghiệp biết cách tiết kiệm chi phí tiêu thụ sản phẩm sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Còn theo Đào Lê Minh (2009) tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố đó là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
Các yếu tố khách quan:
Yếu tố khách quan nói đến chính là những yếu tố liên quan đến môi trường tồn tại xung quanh doanh nghiệp bao gồm từ nền kinh tế nói chung đến ngành kinh doanh Trước hết, nếu một nền kinh tế đang ở vào giai đoạn suy thoái, thật không dễ dàng cho một doanh nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng lợi nhuận như trong điều kiện bình thường, chưa nói đến tăng trưởng ở mức cao Ngược lại, nếu trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, doanh nghiệp tận dụng được môi trường vĩ mô thuận lợi
và hưởng lợi từ đà đi lên chung đó để đạt được những mục tiêu tăng trưởng riêng cho mình Điều đó cho thấy tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp không hoàn toàn độc lập với bối cảnh chung của nền kinh tế hay giữa chúng có mối quan hệ cùng chiều với nhau Tương tư, khi xem xét trong phạm vi ngành kinh doanh với
123doc.vn
Trang 19một ngành đang ở thời kỳ phát triển mạnh, phải đáp ứng lớn nhu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp trong ngành sẽ được hưởng lợi và tạo ra cơ hội tăng trưởng lợi nhuận và tăng trưởng với tốc độ cao hơn Ngược lại, với ngành đạt đến giai đoạn chín muồi, thị trường tiêu thụ bão hòa, sự tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp khó có sự đột phá Như vậy tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào ngành kinh doanh và có mối quan hệ thuận chiều với chu kỳ của ngành
Các yếu tố chủ quan:
Với các nhân tố chủ quan theo Đào Lê Minh (2009) thì quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp Điều đó được lý giải như sau:
Thời gian hoạt của doanh nghiệp đủ lâu sẽ đạt đến giai đoạn ổn định và chín muồi Lúc này, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của công ty không còn lớn như những công ty ở những thời kỳ đầu chu kỳ sống nữa Hơn nữa, quy mô doanh nghiệp cũng
đã được mở rộng dần đến mức không còn dễ dàng cho sự tăng trưởng ở mức cao Vì vậy quy mô doanh nghiệp càng lớn thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao càng trở nên khó khăn hơn
Đối với nguồn lực tài chính tác giả cho rằng sự tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp không thể diễn ra nếu không có sự hỗ trợ của các nguồn lực tài chính, bao gồm cả nguồn lực bên trong và bên ngoài Với nguồn lực tài chính dồi dào, doanh nghiệp sẽ có điều kiện nắm bắt và tận dụng các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lời và làm gia tăng giá trị công ty Ngoài ra, một số yếu tố nội tại khác của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp đó như: đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động, hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đội ngũ nhân sự…
Tóm lại, dù tiếp cận dưới các góc độ khác nhau thì xem xét nhân tố ảnh hưởng
đến tăng trưởng lợi nhuận cần chú đến tính phù hợp với từng doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề để tìm ra nhân tố chính nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp
123doc.vn
Trang 201.1.3 Vai trò của tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp
Tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp luôn là mục tiêu hướng tới của doanh nghiệp cả nền kinh tế Là một chỉ tiêu phản ánh đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thể hiện trên các khía cạnh sau:
Đối với doanh nghiệp: doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận tốt sẽ có sức
mạnh về tài chính của doanh nghiệp càng vững chắc, tạo điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, thực hiện đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng sản xuất và gia tăng thị phần tạo
đà phát triển cho doanh nghiệp Lợi nhuận doanh nghiệp tăng trưởng liên tục cho biết khả năng quản lý và hiệu suất sử dụng tài chính của doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp có khả năng chống chịu được những biến động bất thường của nền kinh tế Bên cạnh đó, sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp giúp doanh nghiệp ngày càng tăng trưởng
Tăng trưởng lợi nhuận góp phần đẩy giá cổ phiếu trên thị trường, điều đó làm tăng tài sản cho cổ đông
Lợi nhuận tăng trưởng ổn định và bền vững sẽ giúp doanh nghiệp giữ vững được vị thế của mình, dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng Thông qua đó có thể đánh giá được năng lực quản lý của người lãnh đạo
Đối với nền kinh tế chung: nền kinh tế là tổng hợp tất cả hoạt động sản xuất
kinh doanh nghiệp của các chủ thể trong nền kinh tế vì vậy khi doanh nghiệp tăng trưởng thì đồng nghĩa nền kinh tế cũng được phát triển Khi nền kinh tế tăng trưởng thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài, họ sẽ mang vốn, con người, trình độ quản lý…làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế tạo ra nhiều việc làm hơn, thu nhập trên đầu người cao hơn
Ở khía cạnh của chính phủ, thuế thu được sẽ gia tăng theo lợi nhuận của doanh nghiệp, ngân sách nhà nước sẽ được gia tăng, chính phủ sẽ có nguồn lực để đầu tư
và mở rộng chi tiêu công Thông qua việc nộp ngân sách đầy đủ tạo điều kiện cho đất nước phát triển, tăng trưởng kinh tế
123doc.vn
Trang 21Đối với nhà đầu tư: tăng trưởng lợi nhuận là một trong các yếu tố đóng vai trò
quan trọng trong quyết định đầu tư vào doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có lợi nhuận tăng trưởng sẽ chia cổ tức nhà đầu tư nhiều hơn đồng thời giá cổ phiếu cũng tăng lên khi nắm giữ lâu dài vì giá cổ phiếu tăng theo trục giá trị của doanh nghiệp (khi lợi nhuận của doanh nghiệp tăng trưởng thì giá của doanh nghiệp cũng tăng theo)
1.2 Lợi suất đầu tư cổ phiếu
1.2.1 Khái niệm
Lợi suất đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Đây là căn cứ để nhà đầu tư quyết đầu tư quyết định mua vào hoặc bán ra với một loại tài sản đồng thời lợi suất đầu tư được dùng để đánh giá hiệu quả từ việc đầu tư Lợi suất đầu tư càng lớn thì khoản lợi nhuận nhận được sau đầu tư sẽ càng cao và ngược lại Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp lợi suất
đầu tư được định nghĩa “là lợi nhuận có được từ một đồng vốn đầu tư, được biểu thị
bằng tỷ lệ phần trăm giữa mức lợi nhuận thu được và giá trị khoản đầu tư bỏ ra Lợi suất đầu tư được tính toán theo kỳ hạn (1 tháng, 1 quý, 1 năm, …)” (Vũ Văn
Ninh, 2013, tr.62) Thực chất, lợi suất đầu tư được lượng hóa là mức phần trăm các chủ thể nhận được giữa lợi nhuận thu được và giá trị khoản vốn đầu tư
Đối với thị trường tài chính khi đầu tư vào cổ phiếu các nhà đầu tư có thể nhận được nhiều khoản thu nhập khi nắm giữ cổ phiếu bao gồm: Thu nhập từ việc tăng giá cổ phiếu, thu nhập do nhận được cổ tức, thu nhập nhận được từ cổ phiếu thưởng của công ty, thu nhập từ chứng quyền, hay quyền mua cổ phiếu mới Như vậy, nguồn thu nhập khi đầu tư vào một cổ phiếu gồm hai phần chính, đó là cổ tức và sự thay đổi giá cổ phiếu Do đó lợi suất đầu tư của cổ phiếu gồm lợi suất cổ tức và lợi suất sinh lời vốn (Ross, Westerfield, Jaffe, 2013, tr 334-336) Cụ thể:
Lợi suất cổ tức: là giá trị cổ tức nhận được trong khoảng thời gian nắm giữ cổ
phiếu chia cho giá cổ phiếu ban đầu
Lợi suất cổ tức = 𝐷𝑡+1
𝑃 𝑡 (%)
123doc.vn
Trang 22Lợi suất sinh lời vốn: là sự thay đổi trong giá cổ phiếu chia cho giá cổ phiếu
ban đầu
Lợi suất sinh lời vốn = 𝑃𝑡+1
𝑃 𝑡 – 1 (%) Lợi suất sinh lời = Lợi suất cổ tức + Lợi suất sinh lời vốn
= 𝐶ổ 𝑡ứ𝑐 đượ𝑐 𝑐ℎ𝑖𝑎 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ+𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐𝑢ố𝑖 𝑘ỳ
Hay 𝑅𝑡+1 = 𝐷𝑡+1+𝑃𝑡+1−𝑃𝑡
𝑃𝑡 (%) (1) Trong đó: Rt+1 Lợi suất sinh lời cổ phiếu kỳ t +1
Pt+1 là giá cổ phiếu tại thời điểm t
Pt là giá cổ phiếu tại điểm t
Dt+1 là cổ tức (nếu có) trong kỳ t +1
Hình 1.2 Dòng tiền của khoản đầu tư
Cổ tức (Dt+1) Giá trị thị trường cuối thời điểm đầu tư (Pt+1)
Dòng tiền vào (Pt)
(Nguồn: Corporate finance, 10, tr.337)
Tóm lại, lợi suất đầu tư cổ phiếu được cấu thành từ khoản thu nhập nhận được trong thời gian nắm giữ cổ phiếu (cổ tức) và khoảng lợi nhuận từ chênh lệch giá cổ phiếu Nếu giá cuối kỳ đầu tư cao hơn so với giá đầu kỳ thì lợi suất lời vốn mang dấu âm (lỗ vốn) làm lợi suất sinh lời giảm Ngược lại, nếu giá cuối kỳ đầu tư cao hơn giá đầu kỳ thì lợi suất lợi vốn sẽ mang dấu dương (lãi vốn) làm lợi suất sinh lời
123doc.vn
Trang 23tăng Bên cạnh đó, cổ tức nhận được trong kỳ sẽ làm tăng lợi suất sinh lời đầu tư Nếu không có cổ tức thì lợi suất sinh lời của cổ phiếu hoàn toàn phụ thuộc vào lợi suất sinh lời vốn hay chính là phụ thuộc vào biến động giá cổ phiếu trong kỳ đầu tư Việc nắm rõ tỷ suất sinh lời giúp NDT trong việc đưa ra chiến lược đầu tư cụ thể cho từng giai đoạn và xác định kế hoạch năm giữ cổ phiếu dài hạn hoặc ngắn hạn
1.2.2 Phương pháp tính lợi suất đầu tư
Có nhiều phương pháp đo lường lợi suất đầu tư cổ phiếu nó phụ thuộc vào kỳ hạn nắm giữ cổ phiếu và khoản thu nhập từ cổ tức có tái đầu tư trong kỳ không
❖ Lợi suất sinh lời khi thu nhập được tái đầu tư
Khi nhà đầu tư nhận được khoản thu nhập trong kỳ đầu tư được tái đầu tư với lợi suất lợi nhuận bình quân là R*τj, t+1 khi đó lợi suất đầu tư được tính như sau:
𝑅𝑡,𝑡+1 =𝑃𝑡+1− 𝑃𝑡+ ∑ 𝐷𝜏𝑗.(1+𝑅𝜏𝑗,𝑡+1
𝑘 𝑗=1
(Nguồn: Giáo trình quản lý danh mục đầu tư, Nguyễn Thành Long, 2010)
Trong đó: Rt+1 Lợi suất sinh lời cổ phiếu kỳ t +1
Pt+1 là giá cổ phiếu tại thời điểm t
Pt là giá cổ phiếu tại điểm t
k: khoản lợi nhuận phát sinh trong kỳ
Dτj: thu nhập từ cổ tức lần thứ j τj: thời điểm trả cổ tức lần thứ j, t ≤ τj ≤ t+1
R*τj, t+1: là lãi suất trong khoảng thời gian từ thời điểm τj đến t+1 hoặc
Trang 24❖ Lợi suất sinh lợi của một thời kỳ
Khi nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu dài hơn một kỳ để so sánh được hiệu quả đầu
tư thì xác định lợi suất sinh lời hợp lý cho kỳ đầu tư, thông thường sử dụng hai phương pháp xác định lợi suất sinh lời hợp lý: Phương pháp bình quân số học (trung bình cộng) và phương pháp bình quân nhân (Nguyễn Thành Long, 2010, tr.5) Phương pháp trung bình cộng: là giá trị trung bình số học của các lợi suất sinh lợi trong các kỳ đầu tư trong giai đoạn xem xét:
𝑅0,𝑇(𝑎): Lợi suất sinh lời bình quân số học một kỳ đầu tư
Rt, t+1: Lợi suất sinh lời trong kỳ đầu tư từ thời điểm t đến t+1
𝑅0,𝑇(𝑔): Lợi suất sinh lời bình quân nhân một kỳ đầu tư
Rt, t+1: Lợi suất sinh lời trong kỳ đầu tư từ thời điểm t đến t+1
T: Số kỳ đầu tư
Phương pháp bình quân nhân được sử dụng nhiều hơn phương pháp bình quân
số học vì các lợi suất sinh lời trong thời gian đầu tư có tính chất cấp số nhân chứ không phải là cấp số cộng Nhưng phương trung bình cộng dễ tính hơn và mang tính trực giác hơn
123doc.vn
Trang 25❖ Lợi suất sinh lời gộp liên tục
Lợi suất sinh lời gộp liên tục thường áp dụng cho tính lợi suất sinh lời trong khoảng thời gian ngắn như theo ngày, tuần Với những khoảng thời gian dài hơn có thể có sai số nhất định Lợi suất sinh lời tích gộp liên tục của một chứng khoán ngay sau khi trả cổ tức bằng:
(Nguồn: Giáo trình quản lý danh mục đầu tư, Nguyễn Thành Long, 2010)
Trong đó: Rt+1 Lợi suất sinh lời cổ phiếu kỳ t +1
Pt+1 là giá cổ phiếu tại thời điểm t
Pt là giá cổ phiếu tại điểm t
Dt+1 là cổ tức (nếu có) trong kỳ t +1
Phương pháp này hay được sử dụng trong các học thuyết tài chính vì tính đơn của nó và trong thực tế hay được sử xác định lợi suất sinh lời ngắn hạn
1.3 Tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
1.3.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
Theo công thức tính ở (1) lợi suất đầu tư cổ phiếu phụ thuộc vào yếu tố vào hai thành phần chính đó là thu nhập có được từ cổ tức và sự thay đổi giá cổ phiếu trong kỳ đầu tư
❖ Tác động tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu thông qua cổ
tức
Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành trả cho cổ đông hiện
hành (Theo Vũ Văn Ninh, 2013) Cổ tức phụ thuộc lớn vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp kinh doanh tốt lợi nhuận tăng trưởng mạnh thì cổ đông sẽ được nhận cổ tức cao hơn thời kỳ doanh nghiệp làm ăn kém
Khi doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận cao thì thông thường tỷ lệ chia cổ tức sẽ cao, khi đó đứng trên góc độ nhà đầu tư mức độ rủi ro sẽ thấp vì cổ đông
123doc.vn
Trang 26được nhận cổ tức và sẽ hiện thực hóa tài sản từ cổ tức được chia, điều này làm giảm làm giảm lợi suất sinh lời yêu cầu của nhà đầu tư khiến giá cổ phiếu tăng lên vì vậy lợi suất đầu tư cũng tăng lên
Khi doanh nghiệp có tăng lợi nhuận thấp thì tỷ lệ chia cổ tức thường sẽ thấp cho thấy mức độ rủi ro sẽ cao đối với cổ đông, khi đó sẽ khiến cho lợi suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư sẽ cao hơn làm giá cổ phiếu giảm xuống và lợi suất đầu tư cũng giảm theo
Thông qua việc thực hiện chi trả cổ tức còn thể hiện dấu hiệu thông tin về hiệu quả hoạt động của công ty ra ngoài thị trường, đến các nhà đầu tư khác Khi đó, nó
sẽ tác động đến mối quan hệ cung cầu về cổ phiếu của công ty Vì thế tình hình tăng giảm cổ tức của mỗi công ty đều ảnh hưởng trực đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường Điều đó tác động đến lợi suất tư cổ phiếu
❖ Tác động tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu thông qua giá
trị doanh nghiệp
Nguồn lực để gia tăng giá trị doanh nghiệp từ nội lực chính là kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập Vì thế muốn gia tăng giá trị, doanh nghiệp phải không ngừng tăng trưởng quy mô lợi nhuận sau thuế đồng thời sử dụng hiệu lợi nhuận sau thuế để tái mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tạo sự tăng trưởng ổn định và bền vững (Vũ Văn Ninh, 2013) Vì vậy, giá trị doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ đến tăng tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là mối quan hệ thuận chiều và được thể hiện qua công thức sau:
VE = NI x PE (2) Trong đó:
VE: Giá trị doanh nghiệp
NI: Lợi nhuận của doanh nghiệp
PE: Tỷ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (PE = P/EPS)
EPS: Thu nhập của một cổ phiếu
123doc.vn
Trang 27Theo phương trình (2) khi lợi nhuận doanh nghiệp (NI) tăng làm giá trị doanh nghiệp (VE) tăng lên đồng thời thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) của doanh nghiệp cũng tăng lên Để đảm bảo cân bằng của phương trình (2) thì hệ số PE cũng phải tăng hay chính là giá cổ phiếu (P) trên thị trường tăng theo Điều đó cũng được lý giải khi thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu hiệu quả, minh bạch và ổn định thì giá cổ phiếu luôn phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp Đồng thời, giá cổ tăng
sẽ kéo lợi suất đầu tư cổ phiếu tăng theo
Từ phương pháp xác định giá trị của doanh nghiệp, cho biết hệ số PE cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và tiềm năng tăng trưởng cũng như mức độ rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và cùng
chiều lợi suất đầu tư cổ phiếu thông qua tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường được chứng minh bằng sự tác động cổ tức và giá trị của doanh nghiệp
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi suất đầu tư cổ phiếu
Các nghiên cứu khung lý thuyết cũng như thực nghiệm cho thấy có nhiều yếu
tố khác nhau ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu Sau đây tác giả chia các nhân
tố dựa trên khung lí thuyết là mô hình nhân tố của Ross (1976) tỷ suất sinh lời của các chứng khoán chịu tác động của hai nhóm nhân tố cơ bản Đó là: (1) Các nhân tố
vĩ mô; và (2) Các nhân tố thuộc về chính bản thân công ty
❖ Các nhân tố thuộc về chính bản thân công ty
Tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp
Khi tham gia đầu tư cổ phiếu của một doanh nghiệp đồng nghĩa với việc gián tiếp đầu tư vào các công ty, các sản phẩm dịch vụ của công ty đó nên tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến trực tiếp đến giá cổ phiếu và
tỷ suất sinh lời khi đầu tư Nếu doanh nghiệp có tăng trưởng cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp, có thể thấy có sự tăng lên về doanh thu, tài sản, lợi nhuận của doanh nghiệp thể hiện rõ thông qua các kỳ báo cáo tài chính của doanh nghiệp Nhưng để tăng trưởng, doanh nghiệp phải tăng chi phí Nếu mức chi phí gia tăng
123doc.vn
Trang 28này lớn vượt quá so với mức tăng trưởng có thể làm cho lợi nhuận giảm Vì vậy, trong các yếu tố tăng trưởng của doanh nghiệp thì tăng trưởng lợi nhuận là yếu tố được quan tâm nhiều nhất vì nó phản ảnh kết quả cuối cùng của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận tốt, có khả năng vẫn sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ có xu hướng tăng mạnh Ngược lại, khi doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận giảm, hoạt động kinh doanh
có xu hướng bị đình trệ thì giả cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ giảm Vì giá cổ phiếu sẽ tăng phản ánh đúng giá trị nội tại của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ tận dụng được lợi thế theo quy mô vì dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn với chi phí giá rẻ từ các tổ chức tài chính nên có lợi thế về vốn Ngoài ra còn có lợi thế về con người mà có lực lượng sản xuất đạt trình độ kỹ thuật cao, quy mô lớn Có khả năng tham gia cạnh tranh kỹ thuật cao và mới trên thế giới Có các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức đội ngũ cán bộ kỹ thuật hùng hậu Đa dạng hóa nghiệp vụ kinh doanh, sản xuất nhiều loại sản phẩm, mở rộng được thị phần tiêu thụ
Quy mô của một công ty đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, và nó ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó bằng nhiều cách Quy mô công ty được coi là một yếu tố quyết định quan trọng đến lợi nhuận của công ty (Babalola, p 90, 2013) Một số nghiên cứu chỉ ra sự tác động của quy mô doanh nghiệp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong nghiên cứu của Malik (2011) đã chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp
có mối quan hệ dương với lợi nhuận của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp có lợi tăng trưởng giúp gia tăng giá trị nội tại của doanh nghiệp, làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng lên vì vậy gia tăng tỷ suất sinh lời khi đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp
Thời gian hoạt động
Một doanh nghiệp thành lập lâu năm, có thời gian hoạt động nhiều, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh thì hoạt động sản xuất kinh hơn so với
123doc.vn
Trang 29doanh nghiệp mới đi vào hoạt động Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu năm thường có uy tín cao, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động và quản lý, có khả năng giảm chi phí sản xuất và quản lý, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận hơn (Chander & Aggarwal, 2008) Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp trẻ
có khả năng thích ứng tốt hơn, dễ thay đổi để phù hợp với thị trường hơn (Loderer, Neusser, and Waelchli, 2009) trong khi các doanh nghiệp hoạt động lâu đời với mô hình hoạt động có thể không còn thích hợp với thị trường, mất nhiều thời gian để có thể thay đổi bộ máy, dây chuyền sản xuất
Trong tất cả các nghiên cứu các học giả đi tìm mối quan hệ giữa thời gian hoạt động của doanh nghiệp với lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay chính là tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư
Tính thanh khoản của cổ phiếu
Tính thanh khoản của cổ phiếu là một trong những yếu tố chính nhà đầu tư sử dụng để đánh giá một khoản đầu tư Tính thanh khoản của cổ phiếu được xác định bởi khả năng dễ dàng mua bán hay giao dịch với giá ổn định trong ngắn hạn Đầu tư vào một cổ phiếu có tính thanh khoản cao thường an toàn hơn những cổ phiếu có tính thanh khoản thấp Một cổ phiếu có tính thanh khoản nhiều khả năng giữ được giá trị khi được giao dịch Thị trường thanh khoản càng lớn chứng tỏ càng nhộn nhịp, rất dễ dàng để tìm người mua hoặc người bán Điều này có nghĩa là người giao dịch ít có khả năng phải mua cổ phiếu với giá cao hơn hoặc bán với giá thấp hơn giá thị trường Bên cạnh đó, thanh khoản có vai trò lớn trong phân tích kỹ thuật, góp giúp xác định giá cổ phiếu
Khả năng thanh toán
Lợi nhuận của doanh nghiệp là cơ sở giúp doanh nghiệp có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn đồng thời giảm thiểu rủi ro phá sản cho doanh nghiệp Nếu hệ số khả năng thanh toán quá lớn, có nghĩa là doanh nghiệp đang giữ một lượng tiền mặt dư thừa sử dụng không hiệu quả nguồn vốn Khi đó khả năng thanh toán cao sẽ làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp Ngoài ra, tính thanh khoản cao hơn giúp doanh nghiệp vượt qua được những tình huống bất ngờ và vượt qua khó
123doc.vn
Trang 30khăn trong thời kỳ khủng hoảng
cố định, bằng cách phát hành trái phiếu hoặc đi vay từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác để tạo ra lợi nhuận cao nhất Ngược lại, nếu không biết sử dụng đúng lúc, đúng thời điểm sẽ khiến doanh nghiệp gặp không ít rủi ro về tài chính vì gánh nặng chi phí lãi vay sẽ tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Theo Gu (1993) thì mức nợ tối ưu cân bằng các lợi ích nợ so với chi phí của
nợ Do đó sử dụng các khoản nợ đến một kết quả nhất định trong tỷ lệ nợ trên VCSH sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên lợi ích của nợ sẽ thấp hơn so với chi phí sau khi đạt một mức độ nào đó của cấu trúc vốn phù hợp với lý thuyết đánh đổi của cơ cấu vốn Điều đó còn được mô tả bằng lý thuyết lá chắn thuế khi càng có nhiều công ty sử dụng nợ, thuế thu nhập công ty phải trả sẽ giảm, nhưng rủi ro tài chính của công ty sẽ lớn hơn Dựa trên lý thuyết cân bằng cho cơ cấu vốn, các doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế của nợ mang lại lợi nhuận tốt hơn Việc sử dụng đòn bẩy tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cũng như tỷ suất sinh lời khi tham gia vào doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính
❖ Một số nhân tố vĩ mô
123doc.vn
Trang 31Tăng trưởng GDP
Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ thu hút các nhà đầu tư hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu nhập trên đầu người cao điều đó thúc đẩy tiêu dùng nhiều hơn, nhu cầu hàng hóa, dịch vụ sẽ gia tăng theo thúc đẩy sản xuất của doanh nghiệp phát triển làm gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Chỉ tiêu này có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp từ đó tác động đến giá của cổ phiếu Ở khía cạnh khác, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng rất rõ rệt đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu trên TTCK Khi nhà đầu tư kỳ vọng tăng trưởng kinh tế tốt, họ kỳ vọng giá cổ phiếu tăng và điều này sẽ tăng dòng vốn vào TTCK Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế được kỳ vọng giảm sút hoặc thậm chí suy thoái, họ có xu hướng rút vốn ra khỏi TTCK Bởi vậy, thị trường chứng khoán được xem là phong vũ biểu của nền kinh tế bởi vì thị trường sẽ phản ánh khá nhanh nhạy sức khỏe của nền kinh tế
Lãi suất
Khi lãi suất biến động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao Khi lãi suất tăng làm chi phí đi vay của doanh nghiệp tăng lên mà doanh thu không thay đổi
sẽ làm cho lợi nhuận doanh nghiệp giảm đi đồng thời những doanh nghiệp cần vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh cũng khó tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ phục vụ hoạt động mở rộng kinh doanh, ngược lại khi lãi suất trên thị trường giảm sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính giúp gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp đồng thời
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh khi tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ Vậy lãi suất thị trường biến động sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp thay đổi theo sự biến động của lợi nhuận Không những thế, khi lãi suất tăng lên sẽ thu hút dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng làm cho dòng tiền đổ vào TTCK bị ảnh hưởng lãi suất tăng khiến cho tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên TTCK phải tăng do nhà đầu tư đòi hỏi mức sinh lời từ chứng khoán phải cao hơn mức sinh lời khi gửi tiền vào từ hệ thống ngân hàng Điều này dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu trên thị trường Ngược lại khi lãi suất giảm thì dòng tiền sẽ rút khỏi hệ thống ngân hàng để tìm kênh đầu tư với mức sinh lời cao hơn Thị trường chứng khoán là sự ưu tiên lựa chọn vì tỷ suất sinh lời cao hơn, giúp
123doc.vn
Trang 32giá cổ phiếu tăng lên
Lạm phát
Khi xảy ra lạm phát sẽ làm cho mức giá chung của hàng hóa tăng lên nó tác động trực tiếp đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp Nếu mức tăng của giá vốn đầu vào của sản phẩm cao hơn mức tăng giá của giá bán (đầu ra) sản phẩm thì lợi nhuận doanh nghiệp có thể bị giảm đi, ngược lại sẽ làm lợi nhuận doanh nghiệp tăng lên Vì vậy, lạm phát gây ra sự bất ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản Lạm phát làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi từ đó làm cho giá cổ phiếu thay đổi phụ thuộc vào mức kỳ vọng của nhà đầu tư Bên cạnh đó, lạm phát cao cho thấy là một trong những biểu hiện bất ổn của nền kinh tế, có thể dẫn tới nguy cơ khủng hoảng niềm tin vào nền kinh tế, nhất là khi lạm phát leo thang ngày càng cao Chính phủ khó kiểm soát được sẽ xuất hiện khủng hoảng niềm tin dẫn đến tâm lý bán tháo cổ phiếu làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu Vậy khi lạm phát xảy ra sẽ tác động mạnh đến giá cổ phiếu từ góc
độ doanh nghiệp do lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp biến động cho đến góc
độ quốc gia khi nền kinh tế bất ổn làm mất đi niềm tin của nhà đầu tư dẫn đến bán tháo cổ phiếu
Tỉ giá hối đoái
Tỉ giá hối đoái tác động tới vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nền kinh tế Khi tỉ giá tăng lên sẽ làm cho doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận, ngược lại doanh nghiệp nhập khẩu sẽ bất lợi và lợi nhuận doanh nghiệp có thể giảm và sẽ tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này Bên cạnh đó, tỉ giá hối đoái có thể ảnh hưởng lên TSSL của cổ phiếu thông qua tác động của nó đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK của các quốc gia Nếu nội tệ được kỳ vọng tăng giá thì thị trường sẽ trở nên hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại sự lo ngại giảm giá đồng tiền trong nước sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi thị trường, gây ảnh hưởng không tốt đến TTCK của quốc gia
123doc.vn
Trang 33Cung tiền
Sự thay đổi của dòng tiền đang lưu thông trong thị trường sẽ có tác động vòng quay vốn của doanh nghiệp làm ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp thông qua đó lợi nhuận doanh nghiệp cũng bị biến động sẽ làm thay đổi giá
cổ phiếu tác động trực tiếp đến tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư
Mặt khác, nếu một lượng tiền lớn bị hút ra khỏi lưu thông sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhà đầu tư, tác động đến sức cầu của thị trường Các nhà đầu tư lúc này sẽ bị giới hạn nguồn vốn kinh doanh dẫn đến bị giới hạn trong việc mua cổ phiếu và TTCK bị ảnh hưởng là một điều tất yếu
Vậy, khi cung tiền thay đổi sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp
và nguồn tiền của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán dẫn đến sự thay đổi giá cổ phiếu làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu
Tóm lại, tỷ suất sinh lời của cổ phiếu chịu tác động bởi 2 nhân tố chính đó là
các yếu tố thuộc nội tại doanh nghiệp và các yếu tố thuộc về vĩ mô Với các yếu tố nội tại doanh nghiệp đều gây ra trực tiếp sự biến động lợi nhuận của doanh nghiệp còn với các yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Chính sự biến động lợi nhuận của doanh gây ra sự thay đổi trong kỳ vọng đầu tư của nhà đầu tư dẫn đến sự biến động của giá cổ phiếu làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư Bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán thông qua dòng vốn đầu tư hay giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô Vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận với lợi suất đầu tư cổ phiếu thì yếu tố biến động lợi nhuận doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu và có quan hệ thuận chiều
với lợi suất đầu tư cổ phiếu
123doc.vn
Trang 34CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU
Để thực hiện đề tài tác giả tìm hiểu các nghiên cứu trước đây của các học giả
có liên quan đến đề tài nghiên cứu theo hai hướng tiếp cận liên quan đến vấn đề nghiên cứu: (1) tác động của thông tin lợi nhuận đến lợi suất đầu tư cổ phiếu, (2) các nhân tố ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu
2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của thông tin lợi nhuận đến lợi suất đầu tư cổ phiếu
Nghiên cứu của James Ohlson (1995) được thực hiện trên thị trường chứng khoán New York đã chỉ ra thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách cổ phiếu có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến giá cổ phiếu Kế thừa mô hình của Ohlson (1995), Graham và King (2000) thực hiện nghiên cứu trên thị trường chứng khoán châu Á bao gồm: Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Đài Loan trong giai đoạn 1987- 1996 về sự ảnh hưởng của thông tin lợi nhuận đến giá cổ phiếu Kết quả cho thấy mức độ giải thích của các thông tin kế toán đến sự thay đổi giá của cổ phiếu ở các quốc gia dao động từ 27.7% đến 68.3%, phụ thuộc vào chế độ kế toán
và sự phát triển của thị trường chứng khoán của mỗi quốc gia
Ball và Brown (1968) là người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu Nghiên cứu được thực hiện trên thị trường chứng khoán New York (NYSE) với mẫu dữ liệu thu thập từ
261 công ty trong giai đoạn từ năm 1944 – 1966 Tác giả sử dụng mô hình phân tích hồi quy OLS cho dữ liệu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin lợi nhuận là một trong các thông tin kế toán có ảnh hưởng nhất định để xác định giá cổ phiếu Đến năm 1995, giáo sư Đại học New York James Ohlson đã tìm nền tảng lý thuyết để giải thích cho mối quan hệ này Ohlson (1995) đã tìm ra mô hình chứng minh mối quan hệ của giá cổ phiếu với hai thông tin tài chính là lợi nhuận trên cổ phiếu và giá trị sổ sách trên cổ phiếu dựa trên cơ sở mô hình lợi nhuận thặng dư và chuỗi thông tin Công trình nghiên cứu này, đã trở thành cơ sở cho các nghiên cứu
về báo cáo tài chính trong mối liên với giá cổ phiếu sau này
123doc.vn
Trang 35Vận dụng mô hình của Ohlson (1995), King và Langli (1998) đã sử nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán là Anh, Đức và Na Uy trong giai đoạn trong giai đoạn 1982 – 1996 để đánh giá ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá của các cổ phiếu Với hệ thống kế toán khác nhau của ba nước thì đều cho kết quả nghiên cứu mức độ giải thích khá cao về thông tin kế toán cho sự thay đổi giá của các cổ phiếu Kết quả tại ba thị trường chứng khoán này lần lượt là 70%, 40% và 60% Mức độ giải thích của lợi nhuận và giá trị sổ sách cũng có sự khác biệt theo thời gian và giữa các quốc gia Đối với thị trường chứng khoán Đức và Na Uy cho kết quả giá trị sổ sách giữ vai trò lớn hơn lợi nhuận trong việc giải thích cho sự thay đổi giá của các cổ phiếu niêm yết Còn thị trường chứng khoán Anh lại cho rằng lợi nhuận giữ vai trò lớn hơn giá trị sổ sách
Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Collins và cộng sự (1997) về mức độ ảnh hưởng của thông tin về giá trị sổ sách đến giá cổ phiếu và lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1953 – 1993, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giải thích chung của
mô hình là 54% và không suy giảm theo thời gian Kết quả nghiên cứu này, cũng được kiểm chứng sau đó bởi nghiên cứu của Hand và Landsman (2005), thực hiện trên thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn 1984 – 1995 Đều cho mức độ giải thích của mô hình trên 50% tuy nhiên mức độ giải thích của lợi nhuận có xu hướng giảm theo thời gian trong khi giá trị sổ sách có biến động ngược lại
Ở một nghiên cứu khác trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, Chen và cộng sự (2001) đã áp dụng mô hình Ohlson (1995) với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 1991 – 1998 Các tác giả đã chỉ ra rằng lợi nhuận và giá trị sổ sách là các biến
số có mối tương quan thuận với sự thay đổi giá của các cổ phiếu Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này còn cho thấy mối liên hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu chặt chẽ hơn đối với các công ty nhỏ và các thông tin kế toán có vai trò lớn hơn trong việc giải thích biến động giá cổ phiếu đối với những cổ phiếu có tính thanh khoản cao Bên cạnh đó, các công ty có tần suất lỗ tăng lên sẽ làm suy giảm mạnh mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng (2009) sử dụng mô hình
123doc.vn
Trang 36Ohlson (1995) kết hợp với phương pháp điều chỉnh giá của Aboody và cộng sự (2002) để đo lường mới quan hệ giữa các thông tin lợi nhuận đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) tại thị trường chứng khoán Việt Nam Phương pháp nghiên cứu là mô hình định lượng với dữ liệu bảng của các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2003-2007 (chủ yếu là giai đoạn 2006- 2007) cho kết quả nghiên cứu thông tin báo cáo tài chính (EPS và giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu) có tương quan thuận với giá của các cổ phiếu ở mức ý nghĩa 1% Mô hình giải thích được 48% về thông tin lợi nhuận đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu Như vậy, thông tin lợi nhuận có tác động trực tiếp giá cổ phiếu, qua đó làm ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu của nhà đầu
Huỳnh Thiên Trang (2016) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin trên báo cáo tài chính đến giá cổ phiếu tại sàn Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Mẫu dữ liệu tác giả thu thập trong giai đoạn 2010 -2015 với các biến giải thích gồm có: EPS, BVPS, DPS, P/E, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên mỗi cổ phiếu, tỷ suất thanh toán hiện hành Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng OLS với dữ liệu bảng thu được kết quả cho thấy EPS, BVPS, tỷ lệ giá trên thu nhập, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên mỗi cổ phiếu đáng kể đến giá cổ phiếu Các biến trong mô hình giải thích được 45% biến động giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn hơn so với thị trường chứng khoán Anh, Mỹ điều này cũng
dễ hiểu vì thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thực sự phát triển và khung pháp
lý về trình bày và công bố thông tin kế toán chưa hoàn chỉnh, còn nhiều lỗ hổng Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin
kế toán và các chỉ số tài chính đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả thực hiện nghiên cứu trong thời gian 1 năm với dữ liệu nghiên cứu là thông tin kế toán và các chỉ số tài chính của 474 công ty Chính
vì nghiên cứu chỉ dựa trên số liệu thu thập trong 1 năm và giá cổ phiếu được sử dụng tại thời điểm 60 ngày kể từ khi kết thúc niên độ nên kết quả nghiên cứu mặc
dù cho thấy có hai biến là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên cổ phiếu có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với giá cổ phiếu
123doc.vn
Trang 37nhưng mức độ giải thích của các biến số trong mô hình còn khá thấp Điều này có thể lý giải do số lượng quan sát của nghiên cứu thực hiện trong thời gian quá ngắn
và đo lường các biến số trong quan sát còn chưa chuẩn nên kết quả nghiên cứu còn hạn chế
Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy thông tin trên báo cáo tài chính có
ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường Đặc biệt là thông tin lợi nhuận và giá trị
sổ sách của cổ phiếu có quan hệ thuận chiều với giá cổ phiếu Các mô hình nghiên cứu cho thấy mức độ giải thích của mối quan hệ này khá cao nhất là ở những thị trường chứng khoán phát triển Nơi mà có sự hoàn chỉnh hơn về hệ thống kế toán, khung pháp lý chặt chẽ Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy dựa trên tảng lý thuyết Ohlson (1995) trong đó biến biến động giá cổ phiếu là biến phụ thuộc, các biến lợi nhuận, giá trị sổ sách của cổ phiếu đóng vai trò biến độc lập
2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu
Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu là chủ đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây Faruquee và Uddin (2013) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu thuộc ngành tài chính ở Bangladesh Tác giả lựa chọn các biên nội tại doanh nghiệp không bao gồm các biến vĩ mô Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của 67 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Dhaka, thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ 2005 đến 2011 Kết quả phân tích hồi quy cho thấy EPS, giá trị tài sản ròng (NAV), lợi nhuận trước thuế, tỷ số P/E (giá thị trường trên lợi nhuận) có tương quan thuận với giá của các cổ phiếu thuộc ngành tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Dhaka
Nghiên cứu của Al-Qenae và cộng sự (2002) đã xây dựng mô hình gồm nhân
tố tác động là EPS, tổng sản phẩm quốc dân (GNP), lãi suất và lạm phát nhân tố ảnh hưởng là giá của các cổ phiếu niêm yết trên Thị trường chứng khoán Kuwait trong giai đoạn 1981-1997 Kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố đều có ý nghĩa thống kê
123doc.vn
Trang 38và đồng thời giá cổ phiếu có tương quan thuận với biến EPS và GNP, nhưng lại có tương quan nghịch với các biến lãi suất và lạm phát
Fama và French (1993) thực hiện nghiên cứu trên Sở Giao dịch chứng khoán New York trong giai đoạn từ 6/1963 đến 6/1992 về sự ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công ty và tỷ số BE/ME (nhân tố đo lường khả năng sinh lời của các công ty) đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ số BE/ME cao là tín hiệu về hiệu quả hoạt động kém của công ty và ngược lại Ngoài ra, trên
cơ sở kết quả nghiên cứu các tác giả đã đi đến kết luận chỉ số thị trường, quy mô công ty và tỷ số BE/ME là những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu Để kiểm chứng kết quả trên Maroney và Protopapadakis (2002) đã kiểm định
mô hình 3 nhân tố Fama – French trên thị trường chứng khoán ở các nước khác nhau bao gồm: Australia, Canada, Đức, Pháp, Nhật, Anh và Mỹ Kết quả cho thấy nhân tố quy mô và giá trị công ty đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu đều được tìm thấy ở tất cả các thị trường Dựa trên kết quả thực nghiệm tác giả đã đi đến kết luận
rằng: “Ảnh hưởng của quy mô công ty và tỷ số BE/ME là những đặc điểm mang tính
quốc tế”
Al-Tamimi và cộng sự (2007) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán UAE (United Arab Emirates) Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được tác giả thu thập từ 17 cổ phiếu trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) là nhân tố có tác động mạnh và cùng chiều đến giá của các
cổ phiếu Các nhân tố vĩ mô gồm cung tiền và GDP cũng có tương quan thuận với giá của các cổ phiếu nhưng lại không có ý nghĩa về mặt thống kê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất có tương quan nghịch với giá của các cổ niêm yết trên thị trường chứng UAE Tóm lại, kết quả hồi quy cho thấy có hai nhân tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu được tìm thấy trong nghiên cứu này, đó là: EPS, chỉ số giá tiêu dùng
Trong một nghiên cứu khác, Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) đã sử dụng phương pháp GMM (Generalized Method of Moments) để nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính công ty và các yếu tố vĩ mô đến giá của các cổ phiếu niêm
123doc.vn
Trang 39yết trên thị trường chứng khoán Karachi (Pakistan) Tác giả thu thập dữ liệu từ 221 công ty trong giai đoạn 1995-2006, với kết quả hồi quy mô hình tác giả đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa giá của cổ phiếu với yếu tố tài chính nội tại doanh nghiệp gồm các cấu trúc vốn, tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, EPS và quy
mô của công ty Còn liên quan đến các yếu tố vĩ mô, kết quả nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu có tương quan thuận với tốc độ tăng trưởng GDP, cung tiền và độ sâu tài chính Ngoài ra, với yếu tố lãi suất và tỷ lệ lạm phát thì giá cổ phiếu có tương quan nghịch
Tiếp đến, Tsoukalas (2003) thực hiện nghiên cứu trên thị trường chứng khoán chứng khoán Cyprus về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô với giá của cổ phiếu Các nhân tố vĩ mô được tác giả đưa vào nghiên cứu bao gồm: giá trị sản xuất công nghiệp, CPI, cung tiền và tỷ giá hối đoái Nhân tố phụ thuộc là giá cổ phiếu được thu thập thông qua giá đóng cửa theo quý và mẫu dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo quý trong khoản thời gian từ 1975 đến 1998 Kết quả kiểm định Ganger cho thấy giá của cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán chứng khoán Cyprus có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh tế vĩ mô được chọn để nghiên cứu
Shrestha và Liu (2008) đã ứng dụng nghiên cứu của Tsoukalas (2003) vào thị trường chứng khoán Trung Quốc để thực hiện kiểm định mối tương quan giữa giá
cổ phiếu với các yếu vĩ mô Biến độc lập được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ giá, lạm phát, cung tiền và lãi suất, biến phụ thuộc là giá đóng cửa của cổ phiếu Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập trong giai đoạn từ 01/1992 đến 12/2001 Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan thuận giữa giá cổ phiếu với giá trị sản xuất công nghiệp và cung tiền và mối tương quan nghịch giữa giá cổ phiếu với tỷ lệ lạm phát, lãi suất và
tỷ giá bằng phương pháp kiểm định đồng kết hợp (cointegration test) Thông qua các bằng chứng thực nghiệm tác giả đã chỉ ra đặc trưng của thị trường chứng khoán Trung quốc là có tính biến động rất mạnh sẽ gây ra rủi ro cao cho các nhà đầu tư ngắn hạn Vì vậy, chiến lược đầu tư dài hạn được ưu tiên hơn cả
Nghiên cứu của tác giả Easton và Harris (1991) đã chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ
123doc.vn
Trang 40suất sinh lời với biến động lợi nhuận công ty của cổ phiếu Tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy như sau:
𝑅𝑖𝑡: Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu công ty i năm thứ t
𝐸𝑃𝑆𝑖𝑡: Lợi nhuận trên cổ phiếu của công ty i năm thứ t
∆𝐸𝑃𝑆𝑖𝑡: Chênh lệch lợi nhuận của cổ phiếu công ty i năm thứ t so với năm t-1
Pi, t-1: Giá cổ phiếu công ty i năm t-1
Nghiên cứu được thực hiện trên TTCK Hoa kỳ thông qua việc lấy mẫu tất cả công ty niêm yết tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ 1969–1986 Kết quả cho thấy lợi nhuận và sự biến động lợi nhuận trên cổ phiếu so với kỳ trước đều có ý nghĩa trong việc giải thích tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại Hoa Kỳ Công trình đã xây dựng mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa lợi nhuận, EPS và tỷ suất sinh lời cổ phiếu, gọi tắt là mô hình EH (1991) và đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tác động thuận chiều của biến động lợi nhuận với tỷ suất sinh lời cổ phiếu
Ở thị trường chứng Việt Nam có nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2014) đã thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu - các bằng chứng từ Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả xây dựng mô hình dựa trên mô hình của Al-Tamimi (2007) đề xuất cho TTCK Việt Nam Nghiên cứu sử dụng mẫu là dữ liệu bao gồm chuỗi giá, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), lãi suất cho vay, tỷ giá USD/VND, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo thời gian với tần suất quý (quarterly series) Tất cả số liệu ở trên được thu thập cho khoảng thời gian từ ngày 01/10/2005 đến ngày 31/12/2012 Kết quả phân tích hồi quy cho thấy EPS và tỷ giá USD/VND có tương quan tỷ lệ thuận với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu với mức ý nghĩa thống kê ở mức 1% còn tỷ giá USD/VND cũng có tương quan tỷ lệ thuận với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu nhưng ở mức ý
123doc.vn