Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi suất đầu tư cổ phiếu

Một phần của tài liệu Bá Ngọc Quân_Tcnh27B.pdf (Trang 27 - 34)

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN, LỢI SUẤT ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

1.3 Tác động của tăng trưởng lợi nhuận tới lợi suất đầu tư cổ phiếu

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi suất đầu tư cổ phiếu

Các nghiên cứu khung lý thuyết cũng như thực nghiệm cho thấy có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu. Sau đây tác giả chia các nhân tố dựa trên khung lí thuyết là mô hình nhân tố của Ross (1976) tỷ suất sinh lời của các chứng khoán chịu tác động của hai nhóm nhân tố cơ bản. Đó là: (1) Các nhân tố vĩ mô; và (2) Các nhân tố thuộc về chính bản thân công ty.

Các nhân tố thuộc về chính bản thân công ty Tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp

Khi tham gia đầu tư cổ phiếu của một doanh nghiệp đồng nghĩa với việc gián tiếp đầu tư vào các công ty, các sản phẩm dịch vụ của công ty đó nên tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến trực tiếp đến giá cổ phiếu và tỷ suất sinh lời khi đầu tư. Nếu doanh nghiệp có tăng trưởng cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp, có thể thấy có sự tăng lên về doanh thu, tài sản, lợi nhuận của doanh nghiệp thể hiện rõ thông qua các kỳ báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Nhưng để tăng trưởng, doanh nghiệp phải tăng chi phí. Nếu mức chi phí gia tăng

123doc.vn

này lớn vượt quá so với mức tăng trưởng có thể làm cho lợi nhuận giảm. Vì vậy, trong các yếu tố tăng trưởng của doanh nghiệp thì tăng trưởng lợi nhuận là yếu tố được quan tâm nhiều nhất vì nó phản ảnh kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận tốt, có khả năng vẫn sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ có xu hướng tăng mạnh.

Ngược lại, khi doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận giảm, hoạt động kinh doanh có xu hướng bị đình trệ thì giả cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ giảm. Vì giá cổ phiếu sẽ tăng phản ánh đúng giá trị nội tại của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ tận dụng được lợi thế theo quy mô vì dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn với chi phí giá rẻ từ các tổ chức tài chính nên có lợi thế về vốn. Ngoài ra còn có lợi thế về con người mà có lực lượng sản xuất đạt trình độ kỹ thuật cao, quy mô lớn. Có khả năng tham gia cạnh tranh kỹ thuật cao và mới trên thế giới. Có các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức đội ngũ cán bộ kỹ thuật hùng hậu. Đa dạng hóa nghiệp vụ kinh doanh, sản xuất nhiều loại sản phẩm, mở rộng được thị phần tiêu thụ.

Quy mô của một công ty đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, và nó ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó bằng nhiều cách. Quy mô công ty được coi là một yếu tố quyết định quan trọng đến lợi nhuận của công ty (Babalola, p. 90, 2013). Một số nghiên cứu chỉ ra sự tác động của quy mô doanh nghiệp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong nghiên cứu của Malik (2011) đã chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp có mối quan hệ dương với lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có lợi tăng trưởng giúp gia tăng giá trị nội tại của doanh nghiệp, làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng lên vì vậy gia tăng tỷ suất sinh lời khi đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp.

Thời gian hoạt động

Một doanh nghiệp thành lập lâu năm, có thời gian hoạt động nhiều, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh thì hoạt động sản xuất kinh hơn so với

123doc.vn

doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu năm thường có uy tín cao, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động và quản lý, có khả năng giảm chi phí sản xuất và quản lý, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận hơn (Chander &

Aggarwal, 2008). Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp trẻ có khả năng thích ứng tốt hơn, dễ thay đổi để phù hợp với thị trường hơn (Loderer, Neusser, and Waelchli, 2009) trong khi các doanh nghiệp hoạt động lâu đời với mô hình hoạt động có thể không còn thích hợp với thị trường, mất nhiều thời gian để có thể thay đổi bộ máy, dây chuyền sản xuất.

Trong tất cả các nghiên cứu các học giả đi tìm mối quan hệ giữa thời gian hoạt động của doanh nghiệp với lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay chính là tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư.

Tính thanh khoản của cổ phiếu

Tính thanh khoản của cổ phiếu là một trong những yếu tố chính nhà đầu tư sử dụng để đánh giá một khoản đầu tư. Tính thanh khoản của cổ phiếu được xác định bởi khả năng dễ dàng mua bán hay giao dịch với giá ổn định trong ngắn hạn. Đầu tư vào một cổ phiếu có tính thanh khoản cao thường an toàn hơn những cổ phiếu có tính thanh khoản thấp. Một cổ phiếu có tính thanh khoản nhiều khả năng giữ được giá trị khi được giao dịch. Thị trường thanh khoản càng lớn chứng tỏ càng nhộn nhịp, rất dễ dàng để tìm người mua hoặc người bán. Điều này có nghĩa là người giao dịch ít có khả năng phải mua cổ phiếu với giá cao hơn hoặc bán với giá thấp hơn giá thị trường. Bên cạnh đó, thanh khoản có vai trò lớn trong phân tích kỹ thuật, góp giúp xác định giá cổ phiếu.

Khả năng thanh toán

Lợi nhuận của doanh nghiệp là cơ sở giúp doanh nghiệp có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn đồng thời giảm thiểu rủi ro phá sản cho doanh nghiệp. Nếu hệ số khả năng thanh toán quá lớn, có nghĩa là doanh nghiệp đang giữ một lượng tiền mặt dư thừa sử dụng không hiệu quả nguồn vốn. Khi đó khả năng thanh toán cao sẽ làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp. Ngoài ra, tính thanh khoản cao hơn giúp doanh nghiệp vượt qua được những tình huống bất ngờ và vượt qua khó

123doc.vn

khăn trong thời kỳ khủng hoảng.

Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn của một doanh nghiệp.

Đòn bẩy tài chính = Tỷ lệ nợ/ Vốn chủ sở hữu

Theo Pandey tỷ lệ nợ trên VCSH có ý nghĩa đối với cổ tức và rủi ro của các cổ đông, điều này ảnh hưởng đến chi phí vốn và giá trị thị trường của doanh nghiệp. Vì vậy, việc sử dụng đòn bẩy chính là một quyết định quan trọng của nhà quản lý vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ đông, rủi ro và giá trị thị trường của doanh nghiệp.

Đòn bẩy tài chính giúp cho nhà quản trị tài chính có thêm công cụ làm gia tăng lợi nhuận trên vốn cổ phần thường từ đấy mà có thể thu hút nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu hoặc đi vay từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác để tạo ra lợi nhuận cao nhất. Ngược lại, nếu không biết sử dụng đúng lúc, đúng thời điểm sẽ khiến doanh nghiệp gặp không ít rủi ro về tài chính vì gánh nặng chi phí lãi vay sẽ tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo Gu (1993) thì mức nợ tối ưu cân bằng các lợi ích nợ so với chi phí của nợ. Do đó sử dụng các khoản nợ đến một kết quả nhất định trong tỷ lệ nợ trên VCSH sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên lợi ích của nợ sẽ thấp hơn so với chi phí sau khi đạt một mức độ nào đó của cấu trúc vốn phù hợp với lý thuyết đánh đổi của cơ cấu vốn. Điều đó còn được mô tả bằng lý thuyết lá chắn thuế khi càng có nhiều công ty sử dụng nợ, thuế thu nhập công ty phải trả sẽ giảm, nhưng rủi ro tài chính của công ty sẽ lớn hơn. Dựa trên lý thuyết cân bằng cho cơ cấu vốn, các doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế của nợ mang lại lợi nhuận tốt hơn. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cũng như tỷ suất sinh lời khi tham gia vào doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính.

Một số nhân tố vĩ mô

123doc.vn

Tăng trưởng GDP

Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ thu hút các nhà đầu tư hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu nhập trên đầu người cao điều đó thúc đẩy tiêu dùng nhiều hơn, nhu cầu hàng hóa, dịch vụ sẽ gia tăng theo thúc đẩy sản xuất của doanh nghiệp phát triển làm gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp từ đó tác động đến giá của cổ phiếu. Ở khía cạnh khác, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng rất rõ rệt đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu trên TTCK. Khi nhà đầu tư kỳ vọng tăng trưởng kinh tế tốt, họ kỳ vọng giá cổ phiếu tăng và điều này sẽ tăng dòng vốn vào TTCK. Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế được kỳ vọng giảm sút hoặc thậm chí suy thoái, họ có xu hướng rút vốn ra khỏi TTCK. Bởi vậy, thị trường chứng khoán được xem là phong vũ biểu của nền kinh tế bởi vì thị trường sẽ phản ánh khá nhanh nhạy sức khỏe của nền kinh tế.

Lãi suất

Khi lãi suất biến động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Khi lãi suất tăng làm chi phí đi vay của doanh nghiệp tăng lên mà doanh thu không thay đổi sẽ làm cho lợi nhuận doanh nghiệp giảm đi đồng thời những doanh nghiệp cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh cũng khó tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ phục vụ hoạt động mở rộng kinh doanh, ngược lại khi lãi suất trên thị trường giảm sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính giúp gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp đồng thời mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh khi tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ. Vậy lãi suất thị trường biến động sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp thay đổi theo sự biến động của lợi nhuận.

Không những thế, khi lãi suất tăng lên sẽ thu hút dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng làm cho dòng tiền đổ vào TTCK bị ảnh hưởng lãi suất tăng khiến cho tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên TTCK phải tăng do nhà đầu tư đòi hỏi mức sinh lời từ chứng khoán phải cao hơn mức sinh lời khi gửi tiền vào từ hệ thống ngân hàng. Điều này dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu trên thị trường. Ngược lại khi lãi suất giảm thì dòng tiền sẽ rút khỏi hệ thống ngân hàng để tìm kênh đầu tư với mức sinh lời cao hơn. Thị trường chứng khoán là sự ưu tiên lựa chọn vì tỷ suất sinh lời cao hơn, giúp

123doc.vn

giá cổ phiếu tăng lên.

Lạm phát

Khi xảy ra lạm phát sẽ làm cho mức giá chung của hàng hóa tăng lên nó tác động trực tiếp đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp. Nếu mức tăng của giá vốn đầu vào của sản phẩm cao hơn mức tăng giá của giá bán (đầu ra) sản phẩm thì lợi nhuận doanh nghiệp có thể bị giảm đi, ngược lại sẽ làm lợi nhuận doanh nghiệp tăng lên. Vì vậy, lạm phát gây ra sự bất ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản. Lạm phát làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi từ đó làm cho giá cổ phiếu thay đổi phụ thuộc vào mức kỳ vọng của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, lạm phát cao cho thấy là một trong những biểu hiện bất ổn của nền kinh tế, có thể dẫn tới nguy cơ khủng hoảng niềm tin vào nền kinh tế, nhất là khi lạm phát leo thang ngày càng cao Chính phủ khó kiểm soát được sẽ xuất hiện khủng hoảng niềm tin dẫn đến tâm lý bán tháo cổ phiếu làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Vậy khi lạm phát xảy ra sẽ tác động mạnh đến giá cổ phiếu từ góc độ doanh nghiệp do lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp biến động cho đến góc độ quốc gia khi nền kinh tế bất ổn làm mất đi niềm tin của nhà đầu tư dẫn đến bán tháo cổ phiếu.

Tỉ giá hối đoái

Tỉ giá hối đoái tác động tới vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nền kinh tế. Khi tỉ giá tăng lên sẽ làm cho doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận, ngược lại doanh nghiệp nhập khẩu sẽ bất lợi và lợi nhuận doanh nghiệp có thể giảm và sẽ tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, tỉ giá hối đoái có thể ảnh hưởng lên TSSL của cổ phiếu thông qua tác động của nó đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK của các quốc gia. Nếu nội tệ được kỳ vọng tăng giá thì thị trường sẽ trở nên hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại sự lo ngại giảm giá đồng tiền trong nước sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi thị trường, gây ảnh hưởng không tốt đến TTCK của quốc gia.

123doc.vn

Cung tiền

Sự thay đổi của dòng tiền đang lưu thông trong thị trường sẽ có tác động vòng quay vốn của doanh nghiệp làm ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp thông qua đó lợi nhuận doanh nghiệp cũng bị biến động sẽ làm thay đổi giá cổ phiếu tác động trực tiếp đến tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư.

Mặt khác, nếu một lượng tiền lớn bị hút ra khỏi lưu thông sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhà đầu tư, tác động đến sức cầu của thị trường. Các nhà đầu tư lúc này sẽ bị giới hạn nguồn vốn kinh doanh dẫn đến bị giới hạn trong việc mua cổ phiếu và TTCK bị ảnh hưởng là một điều tất yếu.

Vậy, khi cung tiền thay đổi sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp và nguồn tiền của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán dẫn đến sự thay đổi giá cổ phiếu làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu.

Tóm lại, tỷ suất sinh lời của cổ phiếu chịu tác động bởi 2 nhân tố chính đó là các yếu tố thuộc nội tại doanh nghiệp và các yếu tố thuộc về vĩ mô. Với các yếu tố nội tại doanh nghiệp đều gây ra trực tiếp sự biến động lợi nhuận của doanh nghiệp còn với các yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính sự biến động lợi nhuận của doanh gây ra sự thay đổi trong kỳ vọng đầu tư của nhà đầu tư dẫn đến sự biến động của giá cổ phiếu làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán thông qua dòng vốn đầu tư hay giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô. Vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận với lợi suất đầu tư cổ phiếu thì yếu tố biến động lợi nhuận doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu và có quan hệ thuận chiều với lợi suất đầu tư cổ phiếu.

123doc.vn

Một phần của tài liệu Bá Ngọc Quân_Tcnh27B.pdf (Trang 27 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)