CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN TỚI LỢI SUẤT ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU . 25
2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của thông tin lợi nhuận đến lợi suất đầu tư cổ phiếu
Nghiên cứu của James Ohlson (1995) được thực hiện trên thị trường chứng khoán New York đã chỉ ra thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách cổ phiếu có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến giá cổ phiếu. Kế thừa mô hình của Ohlson (1995), Graham và King (2000) thực hiện nghiên cứu trên thị trường chứng khoán châu Á bao gồm: Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Đài Loan trong giai đoạn 1987- 1996 về sự ảnh hưởng của thông tin lợi nhuận đến giá cổ phiếu. Kết quả cho thấy mức độ giải thích của các thông tin kế toán đến sự thay đổi giá của cổ phiếu ở các quốc gia dao động từ 27.7% đến 68.3%, phụ thuộc vào chế độ kế toán và sự phát triển của thị trường chứng khoán của mỗi quốc gia.
Ball và Brown (1968) là người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu. Nghiên cứu được thực hiện trên thị trường chứng khoán New York (NYSE) với mẫu dữ liệu thu thập từ 261 công ty trong giai đoạn từ năm 1944 – 1966. Tác giả sử dụng mô hình phân tích hồi quy OLS cho dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin lợi nhuận là một trong các thông tin kế toán có ảnh hưởng nhất định để xác định giá cổ phiếu. Đến năm 1995, giáo sư Đại học New York James Ohlson đã tìm nền tảng lý thuyết để giải thích cho mối quan hệ này. Ohlson (1995) đã tìm ra mô hình chứng minh mối quan hệ của giá cổ phiếu với hai thông tin tài chính là lợi nhuận trên cổ phiếu và giá trị sổ sách trên cổ phiếu dựa trên cơ sở mô hình lợi nhuận thặng dư và chuỗi thông tin. Công trình nghiên cứu này, đã trở thành cơ sở cho các nghiên cứu về báo cáo tài chính trong mối liên với giá cổ phiếu sau này.
123doc.vn
Vận dụng mô hình của Ohlson (1995), King và Langli (1998) đã sử nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán là Anh, Đức và Na Uy trong giai đoạn trong giai đoạn 1982 – 1996 để đánh giá ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá của các cổ phiếu. Với hệ thống kế toán khác nhau của ba nước thì đều cho kết quả nghiên cứu mức độ giải thích khá cao về thông tin kế toán cho sự thay đổi giá của các cổ phiếu. Kết quả tại ba thị trường chứng khoán này lần lượt là 70%, 40% và 60%. Mức độ giải thích của lợi nhuận và giá trị sổ sách cũng có sự khác biệt theo thời gian và giữa các quốc gia. Đối với thị trường chứng khoán Đức và Na Uy cho kết quả giá trị sổ sách giữ vai trò lớn hơn lợi nhuận trong việc giải thích cho sự thay đổi giá của các cổ phiếu niêm yết. Còn thị trường chứng khoán Anh lại cho rằng lợi nhuận giữ vai trò lớn hơn giá trị sổ sách.
Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Collins và cộng sự (1997) về mức độ ảnh hưởng của thông tin về giá trị sổ sách đến giá cổ phiếu và lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1953 – 1993, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giải thích chung của mô hình là 54% và không suy giảm theo thời gian. Kết quả nghiên cứu này, cũng được kiểm chứng sau đó bởi nghiên cứu của Hand và Landsman (2005), thực hiện trên thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn 1984 – 1995. Đều cho mức độ giải thích của mô hình trên 50% tuy nhiên mức độ giải thích của lợi nhuận có xu hướng giảm theo thời gian trong khi giá trị sổ sách có biến động ngược lại.
Ở một nghiên cứu khác trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, Chen và cộng sự (2001) đã áp dụng mô hình Ohlson (1995) với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 1991 – 1998. Các tác giả đã chỉ ra rằng lợi nhuận và giá trị sổ sách là các biến số có mối tương quan thuận với sự thay đổi giá của các cổ phiếu. Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này còn cho thấy mối liên hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu chặt chẽ hơn đối với các công ty nhỏ và các thông tin kế toán có vai trò lớn hơn trong việc giải thích biến động giá cổ phiếu đối với những cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Bên cạnh đó, các công ty có tần suất lỗ tăng lên sẽ làm suy giảm mạnh mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng (2009) sử dụng mô hình
123doc.vn
Ohlson (1995) kết hợp với phương pháp điều chỉnh giá của Aboody và cộng sự (2002) để đo lường mới quan hệ giữa các thông tin lợi nhuận đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu là mô hình định lượng với dữ liệu bảng của các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2003-2007 (chủ yếu là giai đoạn 2006- 2007) cho kết quả nghiên cứu thông tin báo cáo tài chính (EPS và giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu) có tương quan thuận với giá của các cổ phiếu ở mức ý nghĩa 1%. Mô hình giải thích được 48% về thông tin lợi nhuận đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu. Như vậy, thông tin lợi nhuận có tác động trực tiếp giá cổ phiếu, qua đó làm ảnh hưởng đến lợi suất đầu tư cổ phiếu của nhà đầu.
Huỳnh Thiên Trang (2016) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin trên báo cáo tài chính đến giá cổ phiếu tại sàn Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu dữ liệu tác giả thu thập trong giai đoạn 2010 -2015 với các biến giải thích gồm có: EPS, BVPS, DPS, P/E, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên mỗi cổ phiếu, tỷ suất thanh toán hiện hành. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng OLS với dữ liệu bảng thu được kết quả cho thấy EPS, BVPS, tỷ lệ giá trên thu nhập, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên mỗi cổ phiếu đáng kể đến giá cổ phiếu. Các biến trong mô hình giải thích được 45% biến động giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn hơn so với thị trường chứng khoán Anh, Mỹ điều này cũng dễ hiểu vì thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thực sự phát triển và khung pháp lý về trình bày và công bố thông tin kế toán chưa hoàn chỉnh, còn nhiều lỗ hổng.
Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin kế toán và các chỉ số tài chính đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả thực hiện nghiên cứu trong thời gian 1 năm với dữ liệu nghiên cứu là thông tin kế toán và các chỉ số tài chính của 474 công ty. Chính vì nghiên cứu chỉ dựa trên số liệu thu thập trong 1 năm và giá cổ phiếu được sử dụng tại thời điểm 60 ngày kể từ khi kết thúc niên độ nên kết quả nghiên cứu mặc dù cho thấy có hai biến là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên cổ phiếu có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với giá cổ phiếu
123doc.vn
nhưng mức độ giải thích của các biến số trong mô hình còn khá thấp. Điều này có thể lý giải do số lượng quan sát của nghiên cứu thực hiện trong thời gian quá ngắn và đo lường các biến số trong quan sát còn chưa chuẩn nên kết quả nghiên cứu còn hạn chế.
Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy thông tin trên báo cáo tài chính có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường. Đặc biệt là thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách của cổ phiếu có quan hệ thuận chiều với giá cổ phiếu. Các mô hình nghiên cứu cho thấy mức độ giải thích của mối quan hệ này khá cao nhất là ở những thị trường chứng khoán phát triển. Nơi mà có sự hoàn chỉnh hơn về hệ thống kế toán, khung pháp lý chặt chẽ. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy dựa trên tảng lý thuyết Ohlson (1995) trong đó biến biến động giá cổ phiếu là biến phụ thuộc, các biến lợi nhuận, giá trị sổ sách của cổ phiếu đóng vai trò biến độc lập.