1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của việc trung quốc phá giá đồng nhân dân tệ đến cán cân thương mại việt nam trung quốc đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

68 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của việc trung quốc phá giá đồng nhân dân tệ đến cán cân thương mại việt nam trung quốc đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái quát chung về tỷ giá hối đoái (10)
    • 1.1.1. Khái niệm (10)
    • 1.1.2. Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái (11)
    • 1.1.3. Phân loại tỷ giá hối đoái (14)
    • 1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái (16)
  • 1.2. Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động ngoại thương (19)
    • 1.2.1. Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu (19)
    • 1.2.2. Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động nhập khẩu (21)
  • 1.3. Phá giá tiền tệ (23)
    • 1.3.1. Khái niệm phá giá tiền tệ (23)
    • 1.3.2. Khi nào thì các quốc gia phải phá giá tiền tệ (23)
    • 1.3.3. Những điều kiện cần thiết để có thể tiến hành phá giá tiền tệ (24)
    • 1.3.4. Những tác động của phá giá tiền tệ đến nền kinh tế (25)
  • CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC (27)
    • 2.1. Diễn biến việc phá giá đồng Nhân dân tệ (27)
    • 2.2. Động cơ phá giá đồng tiền của Trung Quốc (28)
    • 2.3. Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc trước khi phá giá (29)
      • 2.3.1. Về xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc (29)
      • 2.3.2. Về nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc (31)
    • 2.4. Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc sau khi phá giá (33)
      • 2.4.1. Tác động tới xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc (33)
      • 2.4.2. Tới nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc (37)
      • 2.4.3. Tác động tới các lĩnh vực khác. ........................................................... 39 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU , GIẢM TÁC ĐỘNG TỪ VIỆC PHÁ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN NỀN KIH TẾ (39)
    • 3.1. Nhóm giải pháp chung (43)
      • 3.1.1. Giải pháp liên quan đến cung (43)
      • 3.1.2. Các giải pháp liên quan đến cầu (45)
      • 3.1.3. Giải pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu (48)
      • 3.1.4. Giải pháp từ phía DN (50)
      • 3.1.5. Các chính sách từ phía nhà nước (53)
    • 3.2. Định hướng và bài học cho Việt Nam trong chính sách điều hành tỷ giá (55)
      • 3.2.1. Định hướng (55)
      • 3.2.2. Bài học được rút ra (0)

Nội dung

Trước hết, đó là những khó khăn do các mặt hàng xuất khẩu bị ép giá, hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc bị giảm tính cạnh tranh so với các hàng hóa Trung Quốc Đề tài “Nghiên c

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ TỚI NGOẠI THƯƠNG 10

1.1 Khái quát chung về tỷ giá hối đoái 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái 11

1.1.3 Phân loại tỷ giá hối đoái 14

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 16

1.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động ngoại thương 19

1.2.1 Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu 19

1.2.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động nhập khẩu 21

1.3 Phá giá tiền tệ 23

1.3.1 Khái niệm phá giá tiền tệ 23

1.3.2 Khi nào thì các quốc gia phải phá giá tiền tệ 23

1.3.3 Những điều kiện cần thiết để có thể tiến hành phá giá tiền tệ 24

1.3.4 Những tác động của phá giá tiền tệ đến nền kinh tế 25

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 27

2.1 Diễn biến việc phá giá đồng Nhân dân tệ 27

2.2 Động cơ phá giá đồng tiền của Trung Quốc 28

2.3 Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc trước khi phá giá 29

2.3.1 Về xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc 29

2.3.2 Về nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc 31

2.4 Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc sau khi phá giá 33

2.4.1 Tác động tới xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc 33

2.4.2 Tới nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc 37

2.4.3 Tác động tới các lĩnh vực khác 39

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU , GIẢM TÁC ĐỘNG TỪ VIỆC PHÁ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN NỀN KIH TẾ

Trang 2

VIỆT NAM BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG CHÍNH

SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ 43

3.1 Nhóm giải pháp chung 43

3.1.1 Giải pháp liên quan đến cung 43

3.1.2 Các giải pháp liên quan đến cầu 45

3.1.3 Giải pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu 48

3.1.4 Giải pháp từ phía DN 50

3.1.5 Các chính sách từ phía nhà nước 53

3.2 Định hướng và bài học cho Việt Nam trong chính sách điều hành tỷ giá 55

3.2.1 Định hướng 55

3.2.2 Bài học được rút ra 56

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Hình 2.2 Tình hình tăng trưởng GDP của Trung Quốc 28 Hình 2.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc tháng 07/2015 30 Hình 2.4 Cơ cấu xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc 31

Hình 2.6 Kim ngạch nhập khẩu các nhóm hàng lớn nhất 38

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

Tên đề tài: “Nghiên cứu tác động của việc Trung Quốc phá giá đồng NDT đến cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc”

 Sinh viên thực hiện:

thứ

Số năm đào tạo

Đoàn Viết Luân KTTH K55 Vận tải-Kinh tế Năm 2 4 năm

Tạ Thị Mỹ Duyên KTTH K54 Vận tải-Kinh tế Năm 3 4 năm

Hồ Thị Ngọc KTTH K54 Vận tải-Kinh tế Năm 3 4 năm

 Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Quang Huy

và chưa có nghiên cứu tương tự trước đây

4 Kết quả nghiên cứu:

 Các kiến thức chung về tỷ giá hối đoái, tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại và phá giá tiền tệ

 Đánh giá sự tác động của việc Trung Quốc phá giá đồng NDT đến cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc

 Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu Bài học cho Việt Nam

Trang 6

trong chính sách điều hành tỷ giá

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng áp dụng của đề tài:

 Về mặt kinh tế - xã hội: Đánh giá được sự tác động của việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc, cũng như một số lĩnh vực khác

 Về giáo dục và đào tạo: Các kiến thức chung về tỷ giá hối đoái, tác động của việc điều chỉnh tỷ giá đến cán cân thương mại, phá giá tiền tệ

 Khả năng áp dụng của đề tài: Các giải pháp được đề xuất nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, bài học điều hành tỷ giá cho Việt Nam

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài: không

Tp Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 05 năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực

hiện đề tài:

Tp Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 05 năm 2016

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

KHOA VẬN TẢI-KINH TẾ

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Đoàn Viết Luân

Sinh ngày: 19 tháng 04 năm 1994

Nơi sinh: Hòa An, Phú Yên, Phú Yên

Lớp: Kế toán tổng hợp 1 Khóa: 55

Khoa: Vận tải - Kinh tế

Địa chỉ liên hệ: 13/3 Đường 455, Phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, TP HCM Điện thoại: 0968703901 Email: doanvietluan@gmail.com

Sơ lược thành tích: điểm TBC học tập học kỳ I: 1.54

Tp Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 05 năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Phá giá nhân dân tệ trong tháng 8 năm 2015 đang gây ra ảnh hưởng cho nhiều quốc gia có lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều không loại trừ Việt Nam Đợt phá giá lần này đã gây ra cho nền kinh tế Việt Nam không ít những khó khăn và thách thức Trước hết, đó là những khó khăn do các mặt hàng xuất khẩu bị ép giá, hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc bị giảm tính cạnh tranh so với các hàng hóa Trung Quốc

Đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phá giá nhân dân tệ ảnh hưởng đến cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc” được thực hiện nhằm làm rõ những tác động của việc Trung Quốc phá giá đồng tiền NDT gây ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam thông qua thị trường xuất nhập khẩu, tỷ giá, tâm lý doanh nghiệp Qua đó đề tài cũng thảo luận kỹ hơn về các chính sách mà nhà ngân hàng nhà nước đưa ra để giảm thiểu tác động tới nền kinh tế hiện nay, những thành công

và hạn chế của những chính sách này Cuối cùng là đề xuất về các giải pháp đối phó với động thái phá giá tiền tệ của Trung Quốc thông qua vấn đề xuất nhập khẩu, tỷ giá, chính sách từ phía nhà nước,doanh nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu:

 Phân tích những tác động của việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đến hoạt động thương mại Việt Nam – Trung Quốc

 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu Bài học cho Việt Nam trong chính sách điều hành tỷ giá

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc, tác động của việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đến hoạt động thương mại song phương Việt Nam – Trung Quốc

Phạm vi nghiên cứu: Tác động của tỷ giá đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng cho đề tài bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp lý thuyết với thực tiễn Đồng thời, để cung cấp thông tin được

Trang 9

chính xác, cập nhật, đề tài có tham khảo các tạp chí và thông tin trên internet

5 Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày với kết cấu 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá tới ngoại thương

Chương 2: Tác động của việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá nhân dân tệ đến hoạt động thương mại Việt Nam – Trung Quốc

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, giảm tác động

từ việc phá giá NDT đến kinh tế Việt Nam Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong chính sách điều hành tỷ giá

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ TỚI NGOẠI THƯƠNG 1.1 Khái quát chung về tỷ giá hối đoái

1.1.1 Khái niệm

Tất cả chúng ta đã quá quen thuộc với khái niệm thương mại trong nước, khi

ta mua cam Sài Gòn hay bưởi Vĩnh Long, tất nhiên chúng ta sẽ trả bằng tiền đồng của Việt Nam và tất cả những người bán cũng muốn chúng ta trả cho họ bằng đồng tiền như vậy Điều đó cho thấy các giao dịch kinh tế trong phạm vi một nước rất đơn giản Song nếu chúng ta muốn mua cam California (Mỹ) thì mọi việc sẽ hoàn toàn khác Các nhà xuất khẩu Mỹ sẽ muốn chúng ta trả cho họ đô la Mỹ chứ không phải tiền đồng Việt Nam, do đó ta sẽ phải mua đô la Mỹ, từ đó dùng lượng đô la này để trả cho họ Một câu hỏi đặt ra liệu chúng ta sẽ cần bao nhiêu đô la Mỹ? Khi

ấy, chúng ta sẽ phải quan tâm đến một khái niệm mới đó là: tỷ giá hối đoái

Karl Mark (1818-1883) chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái Trong bộ “Tư bản”(1858) ông viết: “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất,cường độ tác động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ thế giới” Đây là một khái niệm khá phức tạp mang nặng tính lý luận hơn nghiên cứu thực tế song cũng đã thể hiện được phần nào tính lịch sử cũng như

sự vận động của tỷ giá Sau Mark, tỷ giá hối đoái đã được hiểu đơn giản hơn và cho đến nay khái niệm thường được sử dụng nhất là: Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền nước này tính theo đồng tiền nước khác Điều đó có nghĩa tỷ giá hối đoái cũng

là giá cả song giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt: tiền tệ

Mỗi quốc gia hiện nay thường tạo dựng cho mình một đồng tiền riêng, đồng tiền nước này là ngoại tệ của nước khác, việc thanh toán giữa các quốc gia đòi hỏi phải sử dụng đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ đó lại xuất hiện hai khái niệm

cụ thể hơn về tỷ giá hối đoái xét trên phạm vi một quốc gia:

Tỷ giá là giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ Khái niệm này biểu

trưng cho cách yết giá trực tiếp (ngoại tệ/nội tệ)

Ví dụ: tỷ giá EUR/VND (EUR: euro, đồng tiền chung Châu Âu) trên thị

trường Việt Nam ngày 27/03/2016 là 24.702 VND và ở đây giá 1EUR đã được biểu

Trang 11

hiện trực tiếp bằng VND

Tỷ giá là giá cả của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ Đây là khái niệm chỉ cách

yết giá gián tiếp (nội tệ/ngoại tệ)

Ví dụ: như tỷ giá CNY/VND (CNY: Nhân dân tệ) tại Bắc Kinh là 3.461, giá

VND chưa biểu hiện ra bên ngoài, do vậy để biết được giá VND, phải tiến hành chuyển đổi như sau: 1VND = 1/3.461CNY

Điều 4 mục 9 pháp lệnh ngoại hối của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định:

Tỷ giá hối đoái là giá một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam

Để tiện nghiên cứu, trong toàn bộ đề tài này nếu không có ghi chú gì đặc biệt thì tỷ giá tăng sẽ được hiểu là tỷ giá nội tệ tăng tức đồng nội tệ tăng giá, còn tỷ giá giảm sẽ được hiểu là tỷ giá nội tệ giảm, đồng nội tệ giảm giá Điều này cũng có nghĩa phá giá làm tỷ giá hối đoái giảm còn nâng giá làm tỷ giá hối đoái tăng

1.1.2 Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái có một quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều chế độ khác nhau, các chế độ tỷ giá hối đoái luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thương mại thế giới Từ chế độ bản vị vàng (1875-1914) đến chế độ bản vị hối đoái vàng (1944-1972) rồi chế độ tỷ giá thả nổi, thả nổi có quản lý (1975 - nay), tỷ giá đều được hình thành trên tương quan so sánh giá trị đồng tiền quốc gia này với quốc gia khác bất kể đó là vàng hay là tiền tệ của một quốc gia đơn lẻ nào đó Có thể nói trong lịch sử phát triển của mình, tỷ giá được hình thành trên hai ngang giá chính đó là ngang giá vàng và ngang giá sức mua

1.1.2.1 Ngang giá vàng

Trước năm 1850, rất nhiều quốc gia trên thế giới theo đuổi một chế độ tiền tệ song bản vị: bạc và vàng là hai loại tiền tệ chính được lưu hành trong thanh toán thương mại giữa các quốc gia, tỷ giá hối đoái do đó được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng và bạc Năm 1850, khi khám phá ra hai mỏ vàng mới ở Mỹ và

Úc, lượng vàng khai thác được đổ dồn về các quốc gia Châu Âu Nếu trước đó chỉ

có Anh tiến hành vàng hóa thanh toán (tức mọi giấy bạc của Anh đều đổi được ra vàng) thì năm 1851, Pháp và một số quốc gia khác cũng đi theo bước chân của Anh Đồng bạc bị loại khỏi thanh toán và chế độ bản vị vàng bắt đầu

Trang 12

Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước bất kì thời kỳ bản vị vàng được quyết định dựa trên việc so sánh hàm lượng vàng của hai nước với nhau Giả

sử hàm lượng vàng của đồng bảng Anh (GBP) là 1 ounce = 6 GBP trong khi hàm lượng vàng của franc Pháp (FRF) là 1 ounce = 12 FRF thì suy ra:

6GBP = 12FRF 1GBP = 2FRF

Có thể tổng quát hóa bằng công thức sau:

Tỷ giá hối đoái

ví dụ trên làm minh chứng Với hàm lượng vàng như trên giữa các đồng tiền GBP

và FRF, giả sử GBP bị sụt giá trên thị trường ngoại hối tức 1GBP= 1,8FRF; một nhà nhập khẩu Anh cần 1000FRF để mua hàng hóa từ Pháp; nếu nhà nhập khẩu mua trực tiếp FRF bằng GBP, nhà nhập khẩu sẽ phải bỏ ra 555,56 GBP để có 1000FRF Tuy nhiên, nhà nhập khẩu này đã dùng 1000FRF để mua vàng tại Anh sau đó đổi từ vàng sang GBP Qui trình 1 khiến nhà nhập khẩu phải mua vàng để có 1000FRF với giá (1000/12)*6 = 500GBP; như vậy nhà nhập khẩu này đã lãi 55,56 GBP Các nhà nhập khẩu khác cũng sẽ làm tương tự như vậy dẫn đến cầu đồng bảng tăng cho đến khi tỷ giá quay trở lại vị trí cân bằng ban đầu 1GBP = 2FRF Chế độ bản vị vàng với cơ chế ngang giá vàng đã đem lại nguồn lợi cho rất nhiều quốc gia đặc biệt là Anh Tuy nhiên đến cuối thế kỉ 19, các mỏ vàng đứng trước nguy cơ bị khai thác hết, lượng cung vàng khan hiếm dần, tình trạng giảm phát liên tiếp xảy ra, một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái mới xuất hiện: Cơ chế ngang giá sức mua

1.1.2.2 Ngang giá sức mua

Thời kì bản vị vàng qua đi, tiền giấy đảm nhận toàn bộ chức năng thanh toán, cùng với việc giấy bạc không được tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng ấn định, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái; thay vào đó, việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của hai loại tiền

tệ Tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ chế ngang giá sức mua ra đời Và để nghiên cứu cơ chế này, chúng ta hay cùng nhau tìm hiểu thuyết ngang giá sức mua

Trang 13

Ý tưởng ngang giá sức mua xuất phát từ thế kỉ thứ 19 với sự góp mặt của nhà kinh tế học trường phái cổ điển David Ricardo, sau đó được mở rộng và hệ thống hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920 Ngang giá sức mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát diễn ra ở Đức, Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia này đột nhiên sụt giảm bất ngờ Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật một giá cho rằng: Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức giá của hai quốc gia đó Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem

PD là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), PF là mức giá của giỏ hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :

Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = P D / P F

Ví dụ: tại Mỹ, một áo sơ mi bán với giá 4 USD trong khi tại Anh, cũng áo đó

nhưng giá bán là 3 GBP thì trên thị trường Mỹ, tỷ giá sẽ là 1GBP = 4/3 = 1,3 USD

Cách áp dụng tính tỷ giá như trên gọi là PPP tuyệt đối, chỉ đúng trong trường hợp chi phí vận chuyển thấp, không có rào cản nào giữa hoạt động thương mại hai nước còn khi chi phí vận chuyển cao đi cùng với cạnh tranh không hoàn hảo, có sự can thiệp của nhà nước bằng các hàng rào thuế và phi thuế thì tỷ giá hối đoái chắc chắn sẽ không hoàn toàn được xác định như trên PPP tương đối được đưa ra để khắc phục nhược điểm này.Đối với PPP tương đối thì tỷ giá được hình thành trên cơ

sở xem xét chênh lệch lạm phát giữa hai nước

%∆S = %∆ P D - %∆P F

Trong đó: %∆S: Tốc độ thay đổi của tỷ giá %∆PD: Tỷ lệ lạm phát trong nước %∆PF: Tỷ lệ lạm phát nước ngoài Điều này có thể hiểu là nếu tỉ lệ lạm phát ở Việt Nam là 10%, ở Mỹ là 5% thì giá đồng đô la sẽ được nâng lên 5% so với đồng Việt Nam Tuy nhiên, PPP tương đối lại chỉ xem xét hàng hóa mậu dịch; đối với hàng hóa phi mậu dịch như dịch vụ cắt tóc thì PPP tương đối chưa giải thích được cơ chế hình thành tỷ giá, PPP tương đối không giải thích được tại sao cắt một kiểu đầu mới giá ở Mỹ là 20 USD trong khi ở Mêhicô chỉ có 7USD Song dù thế nào đi nữa thì PPP cũng đã đưa ra được một cơ chế hình thành tỷ giá mới dựa trên cơ sở ngang giá sức mua, mặc dù tỷ giá

Trang 14

được xem là chịu tác động của nhiểu yếu tố như lạm phát, lãi suất…song cái cốt lõi của việc hình thành tỷ giá trong chế độ tiền giấy ngày nay vẫn chính là ngang giá sức mua

1.1.3 Phân loại tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái trên cơ sở thực tiễn đã được phân làm nhiều loại, dựa trên những căn cứ khác nhau mà người ta phân loại ra những cặp tỷ giá khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài, chúng em xin đưa ra những tỷ giá tiêu biểu nhất được xem là khuôn mẫu cho quá trình vận động của tỷ giá

* Căn cứ vào thời điểm thanh toán:

 Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá dùng cho các mua bán ngoại hối thanh toán ngay vào ngày hôm đó hoặc sau đó 2 ngày

 Tỷ giá kỳ hạn : là tỷ giá được dùng cho các giao dịch kỳ hạn, thời gian giữa ngày kí hợp đồng và ngày giao tiền thường kéo dài từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hay 1 năm

*Căn cứ vào tính chất của tỷ giá:

 Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa được hiểu là tỷ giá đo lường giá trị danh nghĩa của đồng tiền mà không phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước trong trao đổi thương mại quốc tế Sự phá giá tỷ giá danh nghĩa vì vậy cũng không phản ánh được sự thay đổi trong tính cạnh tranh quốc tế hàng hóa một nước như tỷ giá thực tế trình bày dưới đây

 Tỷ giá thực tế: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức giá tương đối giữa các nước, có tính đến sức mua thực tế và quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa quốc gia

*Căn cứ vào phương tiện thanh toán:

 Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại tỷ giá khác

 Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư

*Căn cứ vào cơ chế quản lý ngoại hối:

Ở những nước kém phát triển, ngoài thị trường ngoại hối chính thức còn xuất hiện thị trường chợ đen, tỷ giá được chia thành tỷ giá chính thức do ngân hàng trung

ương quy định và tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoại hối quyết định

Trang 15

*Căn cứ vào hoạt động thanh toán ngoại thương:

 Tỷ giá xuất khẩu: tỷ giá xuất khẩu được tính bằng tỷ số của giá bán hàng xuất khẩu theo điều kiện F.O.B bằng ngoại tệ với giá bán buôn xí nghiệp cộng thuế xuất khẩu bằng nội tệ

 Tỷ giá nhập khẩu: tỷ giá nhập khẩu được tính bằng tỷ số giữa giá bán buôn hàng nhập khẩu tại cảng bằng nội tệ với với giá nhập khẩu bằng ngoại tệ

*Căn cứ vào chế độ tỷ giá hối đoái:

Có 3 loại tỷ giá chính:

 Tỷ giá hối đoái cố định: là tỷ giá được nhà nước ấn định cố định trong tương quan giá cả giữa nội tệ và ngoại tệ Tỷ giá cố định được áp đặt một cách cứng nhắc, mọi biến động của tỷ giá cố định sẽ phải xoay quanh mức tỷ giá với biên độ rất nhỏ do nhà nước cho phép Nhà nước sẽ là tổ chức duy nhất được quyền quyết định thay đổi lại tỷ giá nếu có biến động quá lớn giữa ngang giá sức mua các đồng tiền Mặc dù tỷ giá cố định có ưu điểm là tạo niềm tin về đồng tiền ổn định cho các nhà đầu tư, giúp các nhà xuất, nhập khẩu tránh được rủi ro hối đoái…song tỷ giá cố định thường là căn nguyên của các cuộc khủng hoảng kinh tế do chính sách tiền tệ thường xuyên bị phụ thuộc vào quốc gia có đồng tiền được neo tỷ giá, đi kèm với việc ngân hàng trung ương phải thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối giữ tỷ giá ổn định, dẫn đến cạn kiệt lượng ngoại hối dự trữ…

 Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: tỷ giá thả nổi hoàn toàn được xác lập hoàn toàn dựa trên cung cầu ngoại hối, sự vận động hàng ngày của tỷ giá thả nổi đều phản ánh chính xác sự luân chuyển các luồng tiền tệ giữa các quốc gia, ngân hàng trung ương

sẽ không còn gặp nguy cơ cạn kiệt dự trữ ngoại hối như trong trường hợp tỷ giá cố định nữa, chính sách tiền tệ trở nên độc lập hơn Tuy vậy, trong sự vận động không hoàn hảo của thị trường, tỷ giá hoàn toàn thả nổi cũng ẩn chứa nhiều rủi ro;

đó là hễ tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong cán cân thanh toán, cụ thể hơn là cán cân thương mại để phù hợp với mức tỷ giá mới Tỷ giá thả nổi sẽ luôn gây ra sự sụt giá trên thị trường nội địa do những thay đổi về lợi nhuận của các nhà đầu tư, các nhà xuất- nhập khẩu Chưa hết, tỷ giá thả nổi còn là miếng mồi béo

bở cho những kẻ đầu cơ tiền tệ, việc đầu cơ theo trào lưu rất dễ gây tổn thương khu vực tài chính, tiền tệ của nền kinh tế

Trang 16

 Tỷ giá thả nổi có quản lý: Đây là loại tỷ giá được ưa chuộng nhất, là sự kết hợp giữa tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi, nó khắc phục được các nhược điểm của cả hai loại tỷ giá trên Trong tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá vận hành theo sự biến động cung cầu thị trường, chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ dựa trên điều chỉnh tỷ giá chính thức Tỷ giá thả nổi

có quản lý một mặt phản ánh cung cầu ngoại hối, mặt khác đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thông qua việc điều chỉnh tỷ giá của nhà nước nên được các quốc gia rất ưa chuộng Tính từ đầu năm 1970 đến nay, số quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đã tăng từ 23% (trong tổng số các quốc gia) lên tới 84% năm 2002 và Việt Nam chúng ta cũng nằm trong số các quốc gia này

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái

1.1.4.1 Cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ của một số nước so với các nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế lẫn nhau, cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia bội chi hoặc bội thu:

Nếu cán cân thanh toán quốc tế bội chi (chi >thu): thì quốc gia đó phải xuất ngoại tệ trả nợ, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng tăng lên

Ngược lại nếu cán cân thanh tóa quốc tế bội thu ( thu >chi): nước ngoài trả

nợ bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm xuống

Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong điều kiện trường hợp môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh

tế - chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh chóng đến sự thay đổi của tỷ giá

1.1.4.2 Lãi suất

Phần lớn các nhà đầu tư với qui mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền này có chiều hướng thay đổi Vấn

đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất Thông thường các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao,

Trang 17

được thực hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đổi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền Điều này

sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá

Vì thế nhà đầu tư ngày càng quan tâm so sánh giữa thu nhập do chênh lệch lãi suất mang lại phải lớn hơn sự gia tăng tỷ giá trong suốt thời gian đầu tư Đối chiếu, so sánh lãi suất của các đồng tiền khác nhau theo phương cách như trên là kỹ thuật quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trên thị trường

Tuy nhiên trong suốt thời đầu tư hay cho vay… tỷ giá biến động tăng hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia tăng

tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền.Thực tế, thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ngoại tệ thì tài sản tài chính nội địa trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn tài sản tài chính nước ngoài.Điều này khiến các nhà đầu

tư phải tái cấu trúc lại danh mục đầu tư đưa đến hệ quả là dòng vốn chảy ra khỏi thị trường vốn nước ngoài và chảy vào thị trường vốn nội địa Sự thay đổi các dòng vốn đầu tư này sau đó cũng được chuyển dịch sang thị trường ngoại hối làm giảm cầu và tăng cung ngoại tệ Kết quả là đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, hay tỷ giá giảm

1.1.4.3 Ngang giá sức mua

Ngang giá sức mua chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đốicủa hai đồng tiền, được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai nước khác nhau được tính theo đồng tiền của hai nước

Nếu cùng một số tiền ngang nhau người ta mua được một lượng hàng ngang nhau ở mọi nước thì như vậy mậu dịch quốc tế sẽ không có lãi và không kích thích ngoại thương phát triển, điều đó có nghĩa là, các đồng tiền đều ở trong tình trạng ngang nhau về sức mua

Vì vậy cần phải hiểu nền tảng của ngang giá sức mua được thể hiện:Nếu như một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ hơn thì xuất khẩu mặt hàng đó sang nước khác giá đắc hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu một mặt hàng trong quốc gia

Trang 18

sản xuất đắt hơn so với thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khầu mặt hàng đó sẽ có lợi nhuận hơn Vấn đề này là lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một mặt hàng ở các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ có điều kiện thuận lợi sản xuất ra hàng hóa với chi phí thấp, sẽ là cơ hội để các nước này đẩy mạnh xuất khẩuvà ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng

đó sản xuất trong nước giá cao hơn Sự gia tăng thương mại mậu dịch thế giới dẫn đến thực hiện khoản thu chi ngoại tệ, từ đó làm ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường và tác động đến tỷ giá hối đoái

1.1.4.4 Các điều kiện kinh tế

Về ngắn hạn, các hoạt động kinh doanh và đầu tư hàng ngày đều tác động trực tiếp đến cung và cầu vốn đặc biệt là các khoản giao dịch với quy mô lớn trên thị trường Những yếu tố kinh tế chính trị tác động tức thời đã làm thay đổi đáng kể các khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua …Mức cung, cầu ngoại tệ biến động trên thị trường thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các luồng thu chi ngoại tệ, từ

đó tác động đến tỷ giá hối đoái.

Về lâu dài, tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi tình hình và xu hướng phát triển kinh tế quốc gia cũng như các biến động trên thị trường thế giới, được thể hiện qua những yếu tố cơ bản như sau: cán cân thanh toán ; tăng trưởng kinh tế ; tỷ lệ lạm phát ;thất nghiệp ;thuế suất; cung và cầu vốn …Tất cả những nhân tố trên tạo nên áp lực cung và cầu vốn trên thị trường, vốn ngoại tệ sẽ chảy vào một nước khi các nhà đầu tư thấy có cơ hội kinh doanh và một số nước cần vốn và đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn, còn các nước khác thừa tiền thì có khả năng đầu tư sang các nước khác, dẫn đến làm dịch chuyển luồng vốn đầu tư giữa các nước Tuy nhiên, các nhà đầu tư không phải luôn luôn lúc nào cũng đầu tư chỉ vì lãi suất cao mà còn phải tính đến các yếu tố chiến lược khác như: môi trường kinh tế - chính trị ổn định, chính sách thuế quan…Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ngoài thì nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu Kết quả là cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung ngoại tệ làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ

1.1.4.5 Những yếu tố về chính trị

Sự biến động của tỷ giá trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn điều bị ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, mức độ bất ổn trong tình hình chính trị và các chính

Trang 19

sách điều tiết của Nhà nước Có thể nói sự ổn định về chính trị được xem như là điều kiện hấp dẫn thu hút vốn đầu tư và làm dịch chuyển vốn đầu tư nhanh chóng Tình hình chính trị bất ổn sẽ dẫn đến hiện tượng tháo chạy vốn, đảo ngược dòng vôn, là nguyên nhân cho nguy cơ khủng hoảng tài chính

1.1.4.6 Tình hình lạm phát trong và ngoài nước

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa nước ngoài Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa ngoại nhập và sụt giảm nhu cầu hàng hóa nội địa Sự thay đổi nhu cầu hàng hóa này sau đó sẽ được chuyển sang thị trường ngoại hối làm tăng cầu và giảm cung ngoại tệ Kết quả là ngoại tệ lên giá so với nội tệ, hay tủ giá gia tăng

1.1.4.7 Vai trò của chính phủ hay sự can thiệp của Ngân hàng Trung Ương

Chính phủ thông qua Ngân hàng Trung ương có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối Sự can thiệp này thực hiện bằng việc bán ra hoặc mua vào ngoại tệ với khối lượng lớn làm thay đổi cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương

1.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động ngoại thương

1.2.1 Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là một trong hai yếu tố cấu thành cơ bản nên hoạt động ngoại thương, tác động của tỷ giá lên ngoại thương sẽ được xem xét trước tiên thông qua tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch xuất khẩu:

Khi tỷ giá đồng nội tệ tăng lên, lượng ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu

sẽ giảm xuống, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tính ra đồng nội tệ bị thu hẹp, xuất khẩu không được khuyến khích hay xu thế chung thường gặp là một sự sút giảm trong hoạt động xuất khẩu Cụ thể là giả sử trong khoảng thời gian ngày 1 tháng 10 năm 2015, tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam tăng từ 1 USD = 22.450VND lên 1USD=21.000VND thì một nhà xuất khẩu A với doanh thu 100.000USD sẽ bị thiệt một khoản tiền là (22.450- 21.000)* 100.000 = 145.000.000 VND Nếu tỷ giá diễn biến tăng liên tục trong một thời gian dài, lợi nhuận các doanh nghiệp xuất khẩu giảm dần, lượng hàng xuất khẩu sản xuất ra cũng sẽ trở nên khan hiếm, kim

Trang 20

ngạch xuất khẩu do vậy sẽ liên tiếp sụt giảm cho đến khi trở về 0

Bên cạnh đó, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống thì một tương lai tươi sáng lại mở ra cho các nhà xuất khẩu, do lượng ngoại tệ thu về đổi ra được nhiều ngoại tệ hơn, kim ngạch xuất khẩu tăng lên, kích thích hoạt động xuất khẩu tăng trưởng và phát triển với điều kiện các chi phí đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu không tăng lên tương ứng Nhà xuất khẩu A trong ví dụ trên sẽ được lãi thay vì lỗ 145 triệu VND nếu tỷ giá giảm từ 1USD = 21000VND xuống 1USD=22450VND

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu hàng xuất khẩu:

Đối với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng nông sản, thô sơ chế dường như nhạy cảm hơn đối với mọi biến động tăng, giảm của tỷ giá hối đoái so với các mặt hàng như máy móc, thiết bị toàn bộ, xăng dầu…Lý do được đưa ra nhằm giải thích cho vấn đề này đó là độ co giãn của các mặt hàng nông sản, thô sơ chế đối với giá xuất khẩu hoặc tỷ giá hối đoái áp dụng là rất cao, do đây là các mặt hàng có thể thay thế được trong khi độ co giãn của các mặt hàng máy móc, thiết bị toàn bộ, các mặt hàng không thể thay thế được như xăng, dầu … là rất thấp Tỷ giá hối đoái tăng lên khiến giá hàng xuất khẩu bị đắt tương đối, các mặt hàng dễ bị thay thế là danh mục đầu tiên bị loại ra khỏi danh sách sử dụng của người tiêu dùng ngoại quốc và các mặt hàng này cũng sẽ mất dần trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu Giả sử người tiêu dùng Mỹ thích ăn thịt bò đóng hộp của Việt Nam được bán với mức giá 20.000VND/hộp, ở mức tỷ giá 1USD=20.000VND, chỉ cần 1USD là người tiêu dùng Mỹ đã có thể mua được một hộp; nay tỷ giá tăng lên 1USD=10.000VND thì người Mỹ phải cần đến 2USD mới có thể có thịt bò hộp của Việt Nam trong tay Lúc ấy, thay vì sử dụng thịt bò từ Việt Nam, họ sẽ sử dụng thịt

bò của Chilê với giá rẻ hơn hoặc chuyển sang ăn thịt gà Nếu giá VND vẫn giữ ở mức cao như vậy, cầu đối với thịt bò hộp của Việt Nam từ người dân Mỹ sẽ giảm dần và tiến tới bằng 0, trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ của Việt Nam, sẽ không còn dấu hiệu của thịt bò đóng hộp nữa Trái lại, khi tỷ giá giảm, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có thể sẽ trở nên phong phú hơn do tính cạnh tranh về giá, sự tăng doanh thu xuất khẩu khiến các nhà xuất khẩu đa dạng hóa mặt hàng…Đối với các mặt hàng không thể thay thế như xăng dầu thì tỷ giá có tăng hay giảm cũng hầu như không ảnh hưởng gì mấy đến cơ cấu cũng như tỷ trọng các mặt hàng này

Trang 21

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của xuất khẩu:

Đối với cạnh tranh về giá hàng xuất khẩu, một sự tăng lên của tỷ giá nội tệ của nước này so với các đồng tiền nước khác sẽ khiến hàng hóa xuất khẩu nước này trở nên kém tính cạnh tranh do giá cả đắt hơn, ngược lại nếu giá đồng nội tệ giảm tức tỷ giá giảm sẽ khiến giá hàng xuất khẩu trở nên rẻ tương đối, tính cạnh tranh về giá tăng lên Thập niên 70, Nhật Bản là quốc gia áp dụng thành công cạnh tranh về giá thông qua tỷ giá hối đoái để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, đến thập niên 80, hàng của Nhật Bản đã phủ kín Châu Âu, giành giật thị phần với thị trường Mỹ khiến xuất khẩu của Mỹ bị thu hẹp Những năm đầu của thế kỉ 21, giá hàng nông sản Mỹ tăng mạnh, giá xuất khẩu ngô từ Mỹ sang Nhật Bản năm 2001 so với 2000 giảm 11,3% từ 16 MT xuống 14,2 MT sau khi USD tăng giá 30 % so với đồng Yên (từ 93,4 JPY/1USD lên 130,8 USD/JPY) Trong cùng một thị trường tiêu thụ nếu chất lượng hàng hóa như nhau thì xu hướng chung, người tiêu dùng sẽ sử dụng sản phẩm nào rẻ hơn Và giả sử chi phí sản xuất tại các quốc gia quy về cùng một đồng tiền là ngang nhau thì nước nào có mức giảm tỷ giá đồng tiền nước mình so với giá bản tệ của thị trường tiêu thụ lớn hơn thì tính cạnh tranh về giá của nước đó cao hơn, nước đó có cơ hội phát triển xuất khẩu nhiều hơn

Tóm lại, giá đồng nội tệ giảm có lợi cho xuất khẩu, giá đồng nội tệ tăng ngược lại sẽ gây bất lợi Xu hướng này hầu như đúng đối với các quốc gia thực thi chế độ tỷ giá thả nổi hoặc thả nổi có quản lý, nơi tỷ giá danh nghĩa sát hoặc tiến sát giá trị thực, còn đối với các quốc gia theo chế độ tỷ giá cố định, việc giảm, tăng tỷ giá chính là giảm, tăng tỷ giá danh nghĩa, không phải tỷ giá thực, do đó nếu một sự giảm tỷ giá mà vẫn khiến tỷ giá danh nghĩa cao hơn tỷ giá thực thì đồng nội tệ vẫn

bị xem là định giá cao hơn giá trị thực, tác dụng thúc đẩy xuất khẩu sẽ không nhiều

1.2.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động nhập khẩu

Phần còn lại của ngoại thương chính là hoạt động nhập khẩu Có người cho rằng để ngoại thương phát triển cần tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu làm tổn hại nền kinh tế, làm tiêu tốn ngoại tệ dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại Quan niệm này dường như quá khe khắt bởi chính hoạt động nhập khẩu lại góp phần thúc đẩy xuất khẩu, nhập khẩu là tiền đề cho xuất khẩu và đến lượt xuất khẩu lại cung cấp vốn cho nhập khẩu Những ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái lên

Trang 22

ngoại thương do đó cần phải xem xét cả trên hoạt động nhập khẩu

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch nhập khẩu:

Trên phương diện kim ngạch nhập khẩu, xu hướng chung thường thấy là khi giá đồng nội tệ tăng hay tỷ giá nội tệ tăng, nhập khẩu sẽ được khuyến khích do giá nhập khẩu trở nên rẻ tương đối, chi phí nhập khẩu giảm, lượng nhập khẩu tăng lên dẫn đến sự tăng lên trong kim ngạch nhập khẩu Ví như tháng 1 năm 1999, việc đồng Peso (Argentina) tăng giá 10% so với đồng Real (Brazil) khiến lượng giầy da nhập khẩu vào Argentina tăng gần 30% so với cùng kì năm 1998 Cụ thể hơn, giả sử giá một bộ hộp đựng bút tại Mỹ là 1USD, ở mức tỷ giá 1 USD= 15000 VND, nhà nhập khẩu B của Việt Nam phải bỏ ra 100 USD (khoảng 1,5 triệu VND) để mua

100 hộp bút Nếu tỷ giá tăng 1 USD = 14000 VND, chi phí nhập khẩu 100 hộp bút

sẽ giảm xuống còn 1,4 triệu VND (khoảng 7%) Điều này đồng nghĩa với việc giá nhập khẩu hộp bút rẻ đi 7%, theo quy luật cung cầu: giá giảm - cầu tăng, để tăng lợi nhuận, các nhà nhập khẩu có thể sẽ tăng lượng nhập khẩu kéo theo sự tăng lên tương ứng trong kim ngạch nhập khẩu hộp bút.Bên cạnh đó, khi tỷ giá giảm (đồng nội tệ giảm giá) sẽ gây bất lợi cho nhập khẩu, giá nhập khẩu trở nên đắt hơn, việc các nhà nhập khẩu phải bỏ nhiều tiền hơn để mua một lượng ngoại tệ như cũ sẽ dẫn đến việc giảm lợi nhuận các nhà nhập khẩu Một khi lợi nhuận không đủ bù đắp chi phí, cầu nhập khẩu giảm xuống, do đó kim ngạch nhập khẩu giảm

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu nhập khẩu:

Trên phương diện cơ cấu nhập khẩu, một sự tăng tỷ giá hối đoái sẽ khiến các nhà quản lý cân nhắc xem sẽ phải nhập khẩu những mặt hàng gì, những mặt hàng như nông sản có thể sẽ bị hạn chế, các mặt hàng như xăng, dầu, máy móc, thiết bị toàn bộ có thể sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục nhập khẩu (điều này đặc biệt đúng với các nước đang phát triển hướng về xuất khẩu), còn một sự giảm trong tỷ giá hối đoái sẽ cho chiều hướng ngược lại

*Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu:

Xét về tính cạnh tranh nhập khẩu, không một quốc gia nào muốn sản phẩm nhập khẩu lại có tính cạnh tranh cao hơn sản phẩm trong nước, khi tỷ giá tăng lên, sản phẩm nhập khẩu có lợi thế trong khi sản phẩm trong nước lại bất lợi về giá, khi

tỷ giá giảm, cạnh tranh về giá của sản phẩm nhập khẩu không còn, việc tỷ giá giảm

Trang 23

tương đương với việc đánh thuế lên hàng nhập khẩu do đó hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, nếu tình trạng này kéo dài, hàng hóa nhập khẩu từ thị trường này có thể được thay thế bằng hàng hóa thị trường khác hoặc sản phẩm trong nước

Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận vô cùng quan trọng trong hoạt động ngoại thương, tuy nhiên tác động của tỷ giá hối đoái lên hai hoạt động then chốt này lại vận động ngược chiều nhau, nếu tỷ giá có lợi cho xuất khẩu sẽ hạn chế nhập khẩu còn nếu tỷ giá vận động theo chiều hướng có lợi cho nhập khẩu sẽ kìm hãm xuất khẩu.Việc lựa chọn sách lược sử dụng công cụ tỷ giá nhằm thúc đẩy hoạt động ngoại thương từ đó phải hài hòa hóa được lợi ích cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu, phải được xây dựng dựa trên tác động của tỷ giá hối đoái lên tổng thể hoạt động ngoại thương Thông thường, tác động của tỷ giá lên ngoại thương được xem có hiệu quả nếu nó đem lại thặng dư cán cân thương mại và kém hiệu quả khi cán cân thương mại thâm hụt, song làm thế nào để có được thặng dư thương mại thông qua điều hành tỷ giá, nghiên cứu tác động nâng giá, phá giá tiền tệ dưới đây sẽ phần nào trả lời được điều đó

1.3 Phá giá tiền tệ

1.3.1 Khái niệm phá giá tiền tệ

Một cách chung nhất, phá giá tiền tệ là việc giảm giá trị của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ so với mức mà chính phủ đã cam kết duy tì trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định Nói cách khác, phá giá tiền tệ là việc đánh tụt sức mua danh nghĩa của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ hay nâng cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ

1.3.2 Khi nào thì các quốc gia phải phá giá tiền tệ

Có thể tạm thòi phân ra hai trường hợp phá giá tiền tệ như sau:

Một là, chủ động phá giá: Khi một quốc gia phá giá tiền tệ của mình, hàng

nhập khẩu sẽ đắt hơn trong khi hàng xuất khẩu rẻ đi ở nước ngoài và nhờ đó mang tính cạnh tranh hơn Chính vì vậy, Chính phủ các nước thường sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn so với cơ chế để nền kinh tế tự điều chỉnh theo hướng suy thoái (vì khả năng cạnh tranh kém nên cầu xuất khẩu ròng giảm dẫn đến tổng cầu giảm) đi kèm với mức lạm phát thấp kéo dài cho đến khi năng lực cạnh tranh tăng lên (do

Trang 24

tiền lương, giá cả giảm xuống đến mức có khả năng cạnh tranh) Đặc biệt, chính sách này thường được áp dụng khi có một cú sốc mạnh và kéo dài đối với cán cân thương mại

Hai là, bị động phá giá: Trong trường hợp cầu về nội tệ giảm thì chính phủ

sẽ phải dùng ngoại tệ dữ trữ để mua nội tệ vào nhằm duy trì tỷ giá hối đoái và đến khi ngoại tệ dự trữ cạn kiệt thì không còn cách nào khác, chính phủ phải phá giá tiền tệ

1.3.3 Những điều kiện cần thiết để có thể tiến hành phá giá tiền tệ

Thứ nhất, mục tiêu của phá giá tiền tệ là nhằm tăng xuất khẩu, giảm nhập

khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Tuy nhiên, muốn tăng xuất khẩu không chỉ có giá cạnh tranh, mà phải có đường cầu co dãn đủ lớn Nguyên lý Marshall- Lemer chỉ ra rằng cần thiết phải có độ co giãn đường cầu hàng xuất khẩu cộng với

độ co giãn của đường cầu hàng nhập khẩu phải lớn hơn 1- nghĩa là người dân trong nước sẵn sàng chuyển từ sử dụng hàng hóa nhập khẩu giá cao sang dùng hàng nội địa giá thấp hơn, đồng thời người nước ngoài cũng sẵn sàng chuyển sang sử dụng hàng từ nước phá giá tiền tệ là Việt Nam do giá cả trở nên rẻ đi

Thứ hai, thời điểm phá giá cũng là một vấn đề Nếu giá hàng nhập khẩu đang

thấp và có xu hướng hạ thì việc phá giá mới có tác dụng vì sau khi phá giá, giá hàng nhập khẩu sẽ không bị tăng đột ngột, qua đó hạn chế sự tăng giá của hàng nội địa do giảm thiểu ảnh hưởng giá cả của nguyên liệu đầu vào nhập khẩu, cuối cùng là hạn chế mặt trái của phá giá là lạm phát tăng

Do nhiều yếu tố đầu vào của sản xuất trong nước là nhập khẩu, các chi phí sản xuất đều có liên hệ vói ngoại tệ, nên việc phá giá tiền tệ sẽ gây ra tăng chi phí sản xuất trong nước, gây ra tình trạng lạm phát

Thứ ba, Một điều kiện nữa để phá giá là một quỹ dự trữ ngoại tệ phải đủ lớn

Khi tiến hành phá giá, thị trường có xu hướng tích trữ ngoại tệ nhiều hon nhằm đảm bảo an toàn tài sản, do đó phải có một quỹ dự trữ đủ lớn nhằm can thiệp kịp thòi, đảm bảo duy trì tỷ giá đúng kế hoạch, tránh bị phá giá quá mức sẽ gây bất ổn kinh

tế

Trang 25

1.3.4 Những tác động của phá giá tiền tệ đến nền kinh tế

1.3.4.1 Trong ngắn hạn

Khi giá cả và tiền lương tương đối cứng nhắc thì ngay lập tức việc phá giá tiền tệ sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực tế thay đổi theo, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và có xu hướng làm tăng xuất khẩu ròng vì hàng xuất khẩu rẻ đi một cách tương đối trên thị trường quốc tế còn hàng nhập khẩu đắt lên tương đối tại thị trường nội địa

Tuy yậy có những yếu tố làm cho xu hướng này không phát huy tức thì: các hợp đồng đã thoả thuận trên cơ sở tỷ giá cũ, người mua cần có thời gian để điều chỉnh hành vi trước mức giá mới và quan trọng hơn là việc dồn các nguồn lực vào

và tổ chức sản xuất không thể tiến hành nhanh chóng được Như vậy trong ngắn hạn thì số lượng hàng xuất khẩu không tăng mạnh và số lượng hàng nhập khẩu không giảm mạnh Nếu giá hàng xuất khẩu ở trong nước cứng nhắc thì kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng không nhiều đồng thời giá hàng nhập khẩu tính theo nội tệ sẽ tăng lên

do tỷ giá đã thay đổi dẫn đến cán cân thanh toán vãng lai có thể xấu đi

1.3.4.2 Trong trung hạn

GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của dân cư, chi cho đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu ròng Việc phá giá làm tăng cầu về xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ điều chỉnh như sau:

• Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực nhàn rỗi sẽ được huy động và làm tăng tổng cung

• Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực không thể huy động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ tăng lên rất ít dẫn đến việc tăng tổng cầu kéo theo giá cả, tiền lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của việc phá giá Vì thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt mục tiêu tăng xuất ròng thì chính phủ phải sử dụng chính sách tài chính thắt chặt (tăng thuế hoặc giảm mua hàng của chính phủ) để tổng cầu không tăng nhằm ngăn chặn sự tăng lên của giá cả trong nước

1.3.4.3 Trong dài hạn

Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài chính thắt chặt có thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì trong dài hạn các yếu tố từ

Trang 26

phía cung sẽ tạo ra áp lực tăng giá Hàng nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh nghiệp sử dụng đầu vào nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng giá; người dân tiêu dùng hàng nhập khẩu vói giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương và gây áp lực làm cho tiền lương tăng Cuối cùng việc tăng giá cả và tiền lương trong nước vẫn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh do phá giá Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lợi thế cạnh tranh do phá giá bị triệt tiêu trong vòng từ 4 đến 5 năm

Từ những phân tích trên đây, có thể tóm lược các tác dụng của phá giá tiền tệ như sau:

(i) Khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng hóa, do đó có tác dụng khôi phục lại sự cân bằng của cán cân thương mại, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế;

ngoài, do đó có tác dụng làm tăng ngoại hối, giảm cầu ngoại hối, tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống;

đó quan hệ cung - cầu ngoại hối cũng sẽ bớt căng thẳng

Có thể nói, tác dụng chủ yếu của biện pháp phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện tình hình của cán cân thương mại Tuy nhiên, cán cân thương mại có cải thiện được hay không còn phụ thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước tiến hành phá

giá tiền tệ và năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước đó

Trang 27

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG

QUỐC

2.1 Diễn biến việc phá giá đồng Nhân dân tệ

Trong các đợt phá giá nhân dân tệ của Trung Quốc trong những năm trở lại đây thì đợt phá giá trong tháng 8 là cao điểm và lớn nhất với tổng cộng là 4,6% chỉ tính riêng tháng 8 năm 2015.Việc phá giá như vậy đã gây ra cuộc chạy đua về tỷ giá của các nước có lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn từ Trung Quốc trong đó có Việt Nam.Như chúng ta đã biết rằng Việt Nam chúng ta là đối tác làm ăn lâu năm với Trung Quốc nên nước ta nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc rất nhiều nhưng xuất khẩu hàng hóa thì không nhiều gây chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu làm gia tăng thâm hụt thương mại giữa hai quốc gia ngày càng cao

Cụ thể ngày 11/8/2015, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc bất ngờ giảm tỷ giá hối đoái tới 1,9% Đây là đợt giảm sâu nhất trong 20 năm trở lại đây, ở mức 6,2298 NDT/USD, giảm 1,86% so mức 6,1162 NDT/USD của ngày 10/8/2015

Tiếp đó, ngày 12/8, NDT tiếp tục mất giá 1,6% khiến giá trị đồng tiền này rơi xuống mức thấp nhất trong 4 năm qua

Ngày 13/8, đồng NDT ngày thứ ba liên tiếp mất giá mạnh, với mức 6,4010 NDT/USD

Sang ngày 14/8, sau ba ngày liên tiếp giảm, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã điều chỉnh tăng tỷ giá đồng NDT so với đồng USD lên 0,05%, lên 6,3975 NDT/USD

Hình 2.1: Biến động tỷ giá nhân dân tệ

Trang 28

2.2 Động cơ phá giá đồng tiền của Trung Quốc

Trong tháng 7 xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang thị trường Việt Nam cũng như các nước khác giảm gần 8% so với cùng kỳ năm 2014 Các nhà máy sản xuất xi măng, sắt thép đều không tiêu thụ được

Các đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài đối với các nhà máy ở Trung Quốc giảm liên tiếp trong 6 tháng đầu năm

Một nguyên nhân khác đó là TQ muốn giữ đồng nội tệ trong nước được ổn định thông qua đó để kích thích phát triển kinh tế nhưng vì kinh tế trung Quốc trong những quý cuối năm 2014 và đầu 2015 sụt giảm mạnh nên họ tìm cách phá giá Dưới đây là biểu đồ thể hiện tình hình tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong 3 năm trở lại đây

Hình 2.2: Tình hình tăng trưởng GDP của Trung Quốc

Tính từ giữa năm 2014 đến cuối năm 2015 thì trước khi phá giá kinh tế Trung Quốc đã giảm 3%.từ khi phá giá vào tháng 8 năm 2015 GDP của Trung Quốc tiếp tục giảm 1% trong 2 quý cuối năm tương đối nhẹ So ra kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh trong nửa đầu năm 2015, tổng cộng 7% trong 6 tháng đầu năm (tính đến thời điểm 30/6/2015), cao hơn các nền kinh tế lớn khác

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đẩy mạnh việc quốc tế hóa Nhân

Trang 29

dân tệ và mở cửa thị trường tài chính Nhu cầu sử dụng Nhân dân tệ trong các giao dịch quốc tế có xu hướng tăng làm tăng lượng tiền trong lưu thông thanh toán trên thị trường Quốc tế Chính vì những nguyên nhân đó nên họ bắt đầu quay lại để kích thích kinh tế tăng trưởng thông qua vấn đề xuất khẩu Vậy để kích thích xuất khẩu hàng hóa sang nước ngoài thì họ lại quay sang phá giá đồng tiền của mình và vì đồng Nhân dân tệ là đồng tiền mạnh nên khi phá giá thì các đồng tiền khác yếu hơn cũng buộc phải phá giá theo,và với động cơ phá giá đồng tiền nhiều lần như vậy thì Trung Quốc đang cho thấy sức ảnh hưởng của đồng Nhân dân tệ trên thị trường quốc tế nhằm nỗ lực đưa đồng tiền của mình vào rổ tiền tệ thế giới.Với lượng dự trữ ngoại hối lớn, tình hình tài khóa ổn định và hệ thống tài chính lành mạnh của Trung Quốc sẽ có thể giúp Trung Quốc ổn định đồng Nhân dân tệ sau khi phá giá

Một nguyên nhân khác là Trung Quốc muốn khẳng định vị thế,tầm ảnh hưởng đồng tiền của mình trên thị trường Quốc tế trong nỗ lực đưa đồng NDT vào

rổ tiền tệ thế giới nên đó cũng chính là thời điểm khiến Trung Quốc phá giá

Không chỉ liên quan đến thương mại mà còn liên quan đến đầu tư ,tuy Trung Quốc không phải là nhà đầu tư trực tiếp lớn vào Việt Nam nhưng chúng ta có khá nhiều dự án là do phía Trung Quốc thắng thầu liên quan đến các lĩnh vực như năng lượng ,giao thông vv từ đó có thể thấy việc Trung Quốc phá giá đồng NDT sẽ hạn chế Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam

Theo đánh giá thì cứ 1% đồng NDT giảm thì sẽ làm cho xuất khẩu Trung Quốc tăng thêm 1% và sẽ làm cho một luồng vốn cỡ 40 tỷ USD sẽ rời khỏi nước này

2.3 Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc trước khi phá giá 2.3.1 Về xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc

Nước ta là nước thuần nông nghiệp và đang trên đà phát triển vươn lên thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Các mặt hàng chúng ta sản xuất ra và xuất khẩu sang Trung Quốc thì có khoảng 100 mặt hàng khác nhau.Số liệu thống kê

sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho thấy trong 7 tháng tính từ đầu năm 2015, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đạt gần 9 tỷ USD và các nhóm mặt hàng chủ yếu sau

 Hàng nhiên liệu: Dầu thô, than, quặng kim loại…chiếm khoảng 10% trong

Trang 30

tổng lượng hàng hóa của ta xuất sang Trung Quốc

 Hàng nông lâm thủy sản thì chiếm khoảng 31,2%

 Các mặt hàng điện tử,máy vi tính,linh kiện chiếm khoảng 15,9%

 Nhóm mặt hàng dệt may,dày dép chiếm khoảng 13%

 Nhóm hàng hóa khác chiếm 29,9%

Hình 2.3: Cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc tháng 07/2015

Trong nhóm hàng nhiên liệu nước ta xuất khẩu,với sản lượng tăng nhưng không lớn.Còn lại các mặt hàng dệt may dày dép thì cũng chiếm tỉ trọng cao trong

cơ cấu xuất khẩu, nhóm hàng linh kiện điện tử máy tính cũng đang phát triển nhanh trong vài năm trở lại đây và theo số liệu thống kê thì trong 7 tháng đầu năm nhóm mặt hàng này đã chiếm tới 15,9% trong tổng lượng hàng hóa của Việt Nam xuất sang Trung Quốc

Các mặt hàng nông lâm thủy sản thì chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các nhóm ngành khác vì nước ta đặc thù là một nước nông nghiệp nên sản phẩm chủ yếu xuất sang Trung Quốc là sản phẩm thô sơ ít sản phẩm tinh.Trong nhóm hàng nông lâm thủy sản thì đối với mặt hàng gạo, trong 7 tháng đầu năm Trung Quốc vẫn chiếm đến 35% tổng giá trị xuất khẩu gạo, 36% tổng giá trị xuất khẩu rau quả, 13% tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ và 7% đối với thủy sản Về thủy sản thìTrung Quốc là khách hàng nhập khẩu thủy sản lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm 8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 Tuy nhiên, trong 7 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất

Trang 31

khẩu thủy sản sang Trung Quốc giảm 0,8% do hoạt động xuất khẩu tôm gặp nhiều trắc trở,mặt hàng cá tra cũng có nhiều tín hiệu lạc quan cho các doanh nghiệp khi

mà sản lượng cá tra xuất khẩu vào Trung Quốc gia tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm 2015

Hình 2.4: Cơ cấu xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc

Tuy nhiên, biến động của kinh tế Trung Quốc như phá giá đồng Nhân dân tệ

đã tác động cả trực tiếp và gián tiếp tới thương mại nông sản của Việt Nam

Thị trường Trung Quốc thường được đánh giá là thị trường dễ tính, có nhu cầu lớn nhập khẩu lúa gạo trong khi gạo Việt có thế mạnh như giá rẻ, vận chuyển dễ dàng sang Trung Quốc,và lượng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là theo con đường tiểu ngạch dễ bị các thương lái ép giá gây khó khăn và thiệt hại cho người dân

Mặt hàng cao su cũng là thế mạnh của nước ta trong xuất khẩu,hiện Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm

2015 với 248.000 tấn chiếm 48,3% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước

2.3.2 Về nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc

Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập siêu 19,33 tỷ USD từ thị trường Trung Quốc; cao gấp đôi kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này

Các mặt hàng mà nước ta nhập khẩu chủ yếu có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD bao gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 5,29 tỷ

35%

36%

13%

Việt Nam xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung

Quốc 7 tháng đầu năm 2015

gạo Rau quả 3rd Qtr

thủy sản Khác

Trang 32

USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 3,88 tỷ USD; vải các loại đạt 2,98 tỷ USD; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,81 tỷ USD; sắt thép các loại đạt 2,44 tỷ USD; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 1,03 tỷ USD

Hình 2.5: Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Trung Quốc

Các mặt hàng nước ta nhập khẩu chủ yếu là các máy móc thiết bị phụ tùng thay thế mà trong nước chưa sản xuất để cung ứng đủ tô nguyên chiếc cũng nằm trong top 10 nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm với giá trị đạt 696 triệu USD

Các mặt hàng này vẫn nằm trong top nhập khẩu nhiều nhất hàng năm để có thể đáp ứng cho quá trính sản xuất và tiêu dùng của nước ta trong giai đoạn phát triển

Nhập khẩu, nhất là máy móc thiết bị và sản phẩm trung gian, tiếp tục tăng mạnh, phản ánh đầu tư gia tăng và tỉ lệ nhập khẩu đầu vào rất cao.Hiện tượng này một mặt thể hiện quá trình mở rộng cơ sở sản xuất và tâm lý tích cực của nhà đầu

tư, nhưng mặt khác nó cũng thể hiện yếu kém trong cơ cấu ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu Việt Nam (dệt may,điện tử, giày dép) ,đó là việc sử dụng rất nhiều nguyên vật liệu từ một phía như Trung Quốc

Nhìn chung thì xuất khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo tăng mạnh chủ yếu nhờ tăng xuất khẩu các loại sản phẩm như điện thoại di động, đồ điện tử, máy tính

và linh kiện

vải các loại tính, sản Máy vi

phẩm điện tử

và linh kiện

sắt thép Nguyên

phụ liệu dệt, may, da, giày

Ô tô nguyên chiếc

Nhóm mặt hàng nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc 7

tháng đầu năm 2015

Nhóm mặt hàng nhập khẩu nhiều từ Trung …

Trang 33

và linh kiện Trong khi đó giá trị nhập khẩu, đặc biệt là máy móc, thiết bị cũng tăng mạnh do tăng cường hoạt động đầu tư và tỉ lệ nhập khẩu đầu vào rất cao trong nhiều mặt hàng mà trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam

2.4 Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc sau khi phá giá

Với việc phá giá bất ngờ và liên tục trong tháng 8 năm 2015 của Trung Quốc bằng cách giảm giá trị của đồng nhân dân tệ, họ đang tạo ra lợi thế cho hàng hóa của họ trên thị trường quốc tế bằng cách nâng tính cạnh tranh hàng hóa của họ kích thích xuất khẩu Trong khi hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang khối ASEAN và các nước khác chưa phát triển sôi nổi thì đây là cơ hội cho Trung Quốc

có thể kích thích nền kinh tế bằng cách chiếm lấy thị phần xuất khẩu của Việt Nam cũng như của những nước khác.Việc phá giá đồng tiền một cách có chủ ý thì đây là nguyên nhân khiến Việt Nam và các quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển cũng phải phá giá theo họ để đảm bảo sự cạnh tranh hàng hóa tại thị trường Việt Nam cũng như hàng hóa tại trị trường Trung Quốc.Kể từ khi phá giá vào tháng 8/2015, đồng Nhân dân tệ hiện đã giảm giá 4,8%.Các nhà đầu tư vào Trung Quốc ước tính đợt phá giá vào tháng 8 sẽ khiến khoảng 1.000 tỷ USD tiền vốn chảy khỏi Trung Quốc trong năm 2015

2.4.1 Tác động tới xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc

Sau khi Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ thì lượng hàng hóa xuất khẩu của ta sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh và lượng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam tăng mạnh.Mục đích của chính phủ Trung Quốc khi phá giá đồng nhân dân tệ là nhằm kích thích xuất khẩu hàng hóa nước này sang các thị trường khác.Trước khi phá giá hàng hóa Trung Quốc đã rất rẻ và cạnh tranh với hàng của Việt Nam khiến hàng Việt khó khăn trong tiêu thụ và sau khi phá giá thì hàng hóa của Trung Quốc trên thị trường Việt Nam càng có lợi thế hơn đẩy các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam vào tình cảnh khó khăn hơn

Các mặt hàng nằm trong nhóm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Trung Quốc như cao su,thiết bị linh kiện điện tử,hàng may mặc dày dép và các nhóm hàng hóa khác buộc phải hạ giá thành sản phẩm tại thị trường Trung Quốc để có thể đủ sức cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc,điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị giảm lợi nhuận và dễ dẫn đến lỗ cho doanh nghiệp Nếu các

Trang 34

doanh nghiệp Việt Nam không giảm giá thành sản phẩm thì khó có thể cạnh tranh được với hàng hóa của Trung Quốc Ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc còn phải giảm sản xuất trong giai đoạn Trung Quốc phá giá nếu các doanh nghiệp đó không thể cạnh tranh nổi

Các doanh nghiệp xuất khẩu cao su,vải sang thị trường Trung Quốc thì việc Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ đã ít nhiều ảnh hưởng tới tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp Cụ thể là khi đồng nhân dân tệ giảm giá sẽ khiến cho giá cao

su nhập khẩu mắc hơn, do đó nước này sẽ có xu hướng sử dụng cao su nội địa thay

vì nhập khẩu cao su của Việt Nam làm cho thị phần xuất khẩu cao su các năm gần đây giảm nay càng giảm nhiều hơn.Các hợp đồng thanh toán bằng đồng đô la Mỹ, trước bối cảnh đồng nhân dân tệ mất giá, các doanh nghiệp Trung Quốc phải chi thêm tiền cho các đơn hàng mua với giá trước đây, vì vậy họ đang có xu hướng ép giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam để bù đắp lại phần thâm hụt khi chuyển đổi

từ nhân dân tệ sang đô la Mỹ

Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất trong nước khi tiêu thụ tại thị trường nội địa cũng sẽ bị cạnh tranh gay gắt hơn bởi các sản phẩm dành cho sản xuất,tiêu dùng nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam với giá rẻ hơn trước đây

Các mặt hàng trong nhóm nông lâm thuỷ sản như gạo, cà phê, sắn, gỗ bông, dược liệu, các mặt hàng thủy sản thì cũng bị ảnh hưởng nhưng không đáng kể vì ngân hàng nhà nước đã chủ động nới biên độ tỷ giá từ +/- 1 lên +/- 2 để giúp các doanh nghiệp giảm khó khăn trong chênh lệch tỷ giá giúp hàng Việt nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc

Các hàng hóa của ta nằm trong nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực sang trung Quốc như gạo,cà phê,,cao su, gỗ, thủy sản không có tín hiệu tốt

Sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn tăng trưởng trong nhiều năm qua

và đang đứng thứ hai thế giới trong đó Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của chúng ta trong 7 tháng đầu năm 2015,kể từ khi phá giá thì sản lượng cà phê xuất khẩu sang Trung Quốc giảm nhẹ khoảng 8% trong tháng 9, hiện tại Trung Quốc là thị trường dễ tính nên đa phần lượng cà phê xuất khẩu sang nước này không đòi hỏi chất lượng và giá trị sản phẩm chưa cao Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hiện nay đã tập trung phát triển chế biến để xây dựng thương hiệu và

Ngày đăng: 31/05/2023, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tác động của tỷ giá hối đoái đến giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam (phát triển & hội nhập số 26 (36) - tháng 01 - 02/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tỷ giá hối đoái đến giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Nhà XB: phát triển & hội nhập
Năm: 2016
2. Diễn biến lạm phát Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh hoạt (PGS.TS. Phan Thị Cúc, Khoa tài chính – Ngân hàng, Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM) 3. Thâm hụt thương mại và cách tiếp cận liên thời kỳ (Tô Thành Trung - Kinh tế và phát triển) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến lạm phát Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh hoạt
Tác giả: PGS.TS. Phan Thị Cúc, Tô Thành Trung
Nhà XB: Khoa tài chính – Ngân hàng, Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM
4. Hoạt động xuất, nhập khẩu của việt nam trong bối cảnh Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ (TS. Đinh Thị Thanh Vân – Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội & TS. Nguyễn Đăng Tuệ - Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách Khoa Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xuất, nhập khẩu của việt nam trong bối cảnh Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ
Tác giả: TS. Đinh Thị Thanh Vân, TS. Nguyễn Đăng Tuệ
Nhà XB: Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Việt Nam dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 - Biên soạn và phát hành: Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách nhà nước) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dự toán ngân sách nhà nước năm 2015
Tác giả: Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách nhà nước)
6. Phá giá tiền tệ và một số vấn đề về phá giá tiền tệ ở Việt Nam - ThS. Nguyễn Hương Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phá giá tiền tệ và một số vấn đề về phá giá tiền tệ ở Việt Nam
Tác giả: ThS. Nguyễn Hương Giang
7. Báo cáo nghiên cứu Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu – Nguyễn Minh Thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
Tác giả: Nguyễn Minh Thảo
9. Thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc: tình hình và giải pháp – Nguyễn Hoàng Diệu Linh - Đh Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc: tình hình và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Diệu Linh
Nhà XB: Đh Kinh tế
10. Lạm phát ở Việt Nam nhìn từ góc độ vĩ mô (Phạm Vân Đình, Bùi Thị Nga- Viện Kinh tế và Phát triển, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanhTrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát ở Việt Nam nhìn từ góc độ vĩ mô
Tác giả: Phạm Vân Đình, Bùi Thị Nga
Nhà XB: Viện Kinh tế và Phát triển
8. Điểm lại cập nhật tình hinh phát triển kinh tế Việt Nam – Báo cáo The World Bank Khác
11. Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và năm 2015-Thống kê Hải quan.12. Các website Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w