1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Nâng Cao Năng Lực Tự Chủ Tài Chính Của Làng Trẻ Em Sos.pdf

115 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Tự Chủ Tài Chính Của Làng Trẻ Em Sos Hà Nội
Tác giả Trịnh Phương Thảo
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Khoa học Quản lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (7)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (8)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (9)
  • 5. Mẫu khảo sát (9)
  • 6. Câu hỏi nghiên cứu (9)
  • 7. Giả thuyết nghiên cứu (9)
  • 8. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 9. Kết cấu của Luận văn (10)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ (12)
    • 1.1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) (10)
      • 1.1.1. Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ (12)
      • 1.1.2. Khái niệm tổ chức phi chính phủ (14)
      • 1.1.3. Phân loại các tổ chức phi chính phủ (18)
      • 1.1.4. Tổng quan các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam (22)
    • 1.2. Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ (10)
      • 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức (27)
      • 1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính của tổ chức phi chính phủ (33)
      • 1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ (35)
  • CHƯƠNG II. NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM (11)
    • 2.1. Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam (11)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành và lĩnh vực hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt (39)
      • 2.1.2. Bộ máy hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam (42)
    • 2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em (11)
    • 2.3. Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam (11)
      • 2.3.1. Đối với nguồn kinh phí tự chủ từ nguồn học phí (49)
      • 2.3.2. Đối với nguồn gây quỹ (trong nước hoặc quốc tế) từ tổ chức hoặc cá nhân hoặc doanh nghiệp (53)
      • 2.3.3. Đối với nguồn ngân sách nhà nước (62)
    • 2.4. Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam .63 1. Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong giai đoạn 2010-2014 (11)
      • 2.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ (68)
    • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM (11)
      • 3.1. Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (11)
      • 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam (11)
        • 3.2.1. Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nhân sự Phòng truyền thông và phát triển Quỹ (77)
        • 3.2.2. Tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông, gây quỹ và phát triển hoạt động PR (Quan hệ công chúng) (80)
      • B. Phát triển hoạt động PR (Public relations - Quan hệ công chúng) (86)
        • 3.2.3. Phát triển hoạt động tình nguyện chuyên nghiệp (88)
        • 3.2.4. Phát triển các hoạt động có thu liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Làng (93)
        • 3.2.5. Vận động sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách cấp Trung ương và địa phương (96)
  • KẾT LUẬN (11)
  • PHỤ LỤC (11)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH PHƢƠNG THẢO NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ Hà Nội[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2014

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Mẫu khảo sát 8

6 Câu hỏi nghiên cứu 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Phương pháp nghiên cứu 9

9 Kết cấu của Luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 11

1.1 Tổ chức phi chính phủ (NGOs) 11

1.1.1 Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ 11

1.1.2 Khái niệm tổ chức phi chính phủ 13

1.1.3 Phân loại các tổ chức phi chính phủ 17

1.1.4 Tổng quan các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam 21

1.2 Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ 26

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ 26

1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính của tổ chức phi chính phủ 32

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ 34

*Kết luận Chương 1 37

CHƯƠNG II NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 38

2.1 Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam 38

2.1.1 Lịch sử hình thành và lĩnh vực hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam 38

2.1.2 Bộ máy hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam 41

2.2 Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em SOS Việt Nam 43

2.3 Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam 46

2.3.1 Đối với nguồn kinh phí tự chủ từ nguồn học phí: 48

2.3.2 Đối với nguồn gây quỹ (trong nước hoặc quốc tế) từ tổ chức hoặc cá nhân hoặc doanh nghiệp 52

Trang 3

2

2.3.3 Đối với nguồn ngân sách nhà nước 61

2.4 Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam 63 2.4.1 Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong giai đoạn 2010-2014 .63

2.4.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong những năm tới 67

*Kết luận Chương 2 70

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 71

3.1 Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay .71

3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam 76

3.2.1 Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nhân sự Phòng truyền thông và phát triển Quỹ 76

3.2.2 Tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông, gây quỹ và phát triển hoạt động PR (Quan hệ công chúng) 79

B Phát triển hoạt động PR (Public relations - Quan hệ công chúng) 85

3.2.3 Phát triển hoạt động tình nguyện chuyên nghiệp 87

3.2.4 Phát triển các hoạt động có thu liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Làng 92

3.2.5 Vận động sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách cấp Trung ương và địa phương 95

*Kết luận Chương 3 98

KẾT LUẬN 100

KHUYẾN NGHỊ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 104

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “ Nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Hà Nội” tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Bùi Thanh Quất – thầy giáo trực tiếp hướng dẫn đã chỉ bảo tận tình giúp cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Làng trẻ em SOS, đặc biệt

là Chị Hoàng Hồng Hạnh đã nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc tại Làng

Lời cuối cùng, tôi xin dành sự trân trọng cho những động viên, khích lệ, tạo điều kiện mà gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi để tôi có thể toàn tâm toàn ý thực hiện luận văn

Trịnh Phương Thảo

Trang 5

4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế……….tr 22 Bảng 1.2 Ngân sách dự kiến giai đoạn 2011- 2013 của các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam……….tr 24 Bảng 2.1 Tỷ lệ % kinh phí tự chủ do Làng trẻ em SOS Việt Nam huy động so với tổng nguồn quỹ hoạt động thường niên Giai đoạn 2010 – 2014……… tr 60 Bảng 2.2 Lộ trình mức độ tự chủ tài chính Giai đoạn 2015–2020………….tr 64

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng trẻ em SOS là một tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Kể từ ngày thành lập năm 1949 cho đến nay, tổ chức này đã mở rộng mạng lưới của mình khắp nơi trên thế giới (133 quốc gia) Việt Nam cũng không là một ngoại lệ Hệ thống Làng trẻ em SOS tại Việt Nam hiện nay đang hoạt động tại 16 tỉnh thành dựa trên nguồn ngân sách mà Hiệp hội Làng trẻ em SOS Quốc tế cung cấp hàng năm nhằm triển khai các chương trình, dự án trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Tuy nhiên, sự khủng hoảng nền kinh tế thế giới cũng như những bất ổn về chính trị đã khiến cho Làng trẻ em SOS Quốc tế nói riêng và các tổ chức phi chính phủ khác nói chung đứng trước thách thức lớn khi nguồn tài trợ vốn chủ yếu đến từ khu vực châu Âu, Bắc Mỹ và Úc có dấu hiệu suy giảm Thêm vào đó, việc Worldbank – Ngân hàng thế giới - đưa Việt Nam ra khỏi nhóm nước nghèo

và đánh giá là một quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2009 đã phần nào ảnh hưởng tới quyết định phân bổ ngân sách của SOS Quốc tế cho Việt Nam Bởi lẽ đó, đến năm 2010, Làng trẻ em SOS Quốc tế đã quyết định đặt mục tiêu yêu cầu SOS Việt Nam cần nâng cao năng lực tự chủ tài chính để hoạt động

và phát triển trong tương lai không xa, giảm tỷ lệ phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ của SOS Quốc tế

Tuy nhiên, việc tự chủ tài chính không phải là vấn đề đơn giản Đứng trước đòi hỏi này, bài toán đặt ra cho toàn bộ hệ thống các Làng trẻ em SOS ở Việt Nam chính là làm thế nào để nâng cao năng lực tự chủ tài chính, vừa đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của Làng trong việc trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, vừa đảm bảo thực hiện đúng theo Chiến lược phát triển mà Làng trẻ

em SOS quốc tế đề xuất Cụ thể hơn, đây chính là bài toán mà Văn phòng trụ sở Làng trẻ em SOS Việt Nam (Gọi tắt là Làng trẻ em SOS Việt Nam) nằm trong khu Làng trẻ em SOS tại Hà Nội phải tìm lời giải Bởi đây là cơ quan đầu não

Trang 7

6

chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động, đặc biệt là vấn đề tài chính của toàn bộ

hệ thống các Làng trẻ em SOS trên lãnh thổ Việt Nam

Đứng trước nhu cầu bức thiết đó, tác giả quyết định làm đề tài nghiên cứu giải pháp Nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Hà Nội nhằm đưa ra những khuyến nghị giúp SOS Việt Nam từng bước phát triển và vượt qua những khó khăn trong công tác quản lý

Đồng thời, tác giả hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ được

áp dụng cho riêng hệ thống Làng trẻ em SOS ở Việt Nam, mà còn có thể được ứng dụng để giúp các tổ chức phi chính phủ khác nâng cao năng lực tự chủ tài chính, góp phần phát triển hệ thống các tổ chức phi chính phủ vốn đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết những hệ lụy của một xã hội phát triển

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Năng lực tự chủ tài chính là một khái niệm mới được nhắc đến nhiều trong vài năm trở lại đây, đặc biệt từ khi Chính phủ ra quyết định về tự chủ tài chính cho các cơ quan sự nghiệp Các công trình nghiên cứu về năng lực tự chủ tài chính có thể kể đến bao gồm:

- Trần Đức Cân (2012), Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam, LATS Kinh tế Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và

thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học công lập Từ đó đưa

ra giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp như hệ thống các trường đại học công

- Lương Bá Tiến (1987), Thực hiện tự chủ tài chính của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Nxb TP Hồ Chí Minh Cuốn sách với 144 trang đã nêu lên

những nội dung và biện pháp cụ thể để thực hiện tự chủ tài chính ở các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh

- Nguyễn Khánh Tường (2005), Xây dựng quy chế như thế nào? Một số ý kiến về việc xây dựng quy chế hướng dẫn thực hiện tự chủ tài chính trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, Tạp chí tài chính, số 12/2005, tr 34-35 Bài

Trang 8

nghiên cứu trên tạp chí đề xuất cách thức xây dựng quy chế thực hiện tự chủ tài chính cho hệ thống các trường cao đẳng, đại học ngoài công lập

Những công trình nghiên cứu trên đều viết về tự chủ tài chính dưới dạng nội dung và cơ chế thực hiện, cũng như những phương án đề xuất để hoàn thiện

cơ chế tự chủ hoặc thực hiện tự chủ trong trường học hoặc trong xí nghiệp

Đối với loại hình tổ chức phi chính phủ, có hai cuốn sách nổi bật bao gồm:

- Đinh Quý Độ (2012), Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, NXH Khoa học xã hội Cuốn sách đã khái

quát lịch sử hình thành và phát triển các tổ chức phi chính phủ quốc tế Nêu lên những đặc trưng nổi bật và những tác động chủ yếu của các tổ chức đối với nền kinh tế, chính trị thế giới Đồng thời tác giả cũng trình bày chính sách mà một số quốc gia áp dụng cũng như những ý kiến đề xuất về chính sách của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ quốc tế

- Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Quyển sách giới thiệu khái quát về

tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới, tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam cũng như những dự án mà các tổ chức đang triển khai ở Việt Nam.

Riêng đối với đối tượng là Làng trẻ em SOS ở Việt Nam, mới chỉ có các khóa luận tốt nghiệp viết về hoạt động liên quan đến lĩnh vực công tác xã hội được thực hiện tại Làng Trong phạm vi hiểu biết của tác giả, chưa có bất kì tài liệu hoặc công trình nghiên cứu nào lấy hướng nghiên cứu về năng lực tự chủ tài chính đối với một tổ chức phi chính phủ như Làng trẻ em SOS làm đối tượng nghiên cứu Bởi vậy, tác giả nghĩ rằng, đề tài này thuộc một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, có giá trị không chỉ về mặt lý luận mà còn về mặt thực tiễn cho những công trình nghiên cứu sau có liên quan

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn được thực hiện nhằm hai mục tiêu nghiên cứu sau:

Trang 9

8

- Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam được đánh giá như thế nào?

- Làm thế nào để nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam luôn được đảm bảo duy trì trong giai đoạn 2010-2014, có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2012 tuy chỉ đạt

ở mức thấp, chưa đủ để đáp ứng chỉ tiêu tự chủ tài chính mà Làng trẻ em SOS đặt ra trong chiến lược phát triển đến năm 2020

- Để nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau: Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nhân sự Phòng Truyền thông và phát triển Quỹ; Tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông, gây quỹ và phát triển hoạt động PR (Public Relations – Quan hệ công chúng);; Phát triển hoạt động tình nguyện chuyên nghiệp; Phát triển các hoạt động có thu liên quan đến lĩnh vực hoạt động; Vận động sự hỗ trợ tài chính

từ nguồn ngân sách cấp Trung ương và địa phương

Trang 10

8 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng hợp, phân tích tài liệu: Phương pháp này được sử dụng nhằm xây dựng cơ sở lý luận của luận văn, đánh giá năng lực tự chủ tài chính của

Làng thông qua các tài liệu thu được

- Đối chiếu, so sánh số liệu: Phương pháp này được sử dụng để thấy sự khác biệt về năng lực tự chủ tài chính của Làng giữa các năm trong giai

đoạn 2010-2014

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin về thực trạng và nguyên nhân các vấn đề liên quan đến năng lực

tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng nhằm lấy ý kiến đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng, các giải pháp đề xuất của tác giả để đảm bảo tính khách quan và khả thi của nội

dung luận văn

- Phương pháp phân tích SWOT: Phương pháp này được sử dụng để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Làng trong bối cảnh

hiện nay để từ đó có những cơ sở đề xuất giải pháp khả thi và hiệu quả

9 Kết cấu của Luận văn

Luận văn gồm có:

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU

PHÂN NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

1.1 Tổ chức phi chính phủ (NGOs)

1.2 Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

Trang 11

10

CHƯƠNG II NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam

2.2 Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em SOS Việt Nam

2.3 Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ

em SOS Việt Nam

2.4 Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM

3.1 Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ

em SOS Việt Nam

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

1.1 Tổ chức phi chính phủ (NGOs)

1.1.1 Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ

Chưa có một tài liệu nào công bố đích xác thời gian xuất hiện tổ chức phi chính phủ (NGOs – Non Governmental Organizations) Tuy nhiên nói về nguồn gốc của loại hình tổ chức này, hầu hết các tài liệu đều có chung một quan điểm thống nhất cho rằng những tổ chức có dạng thức hoạt động tương tự như hình thức tổ chức phi chính phủ mà chúng ta đang gọi ngày hôm nay đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại dưới dạng hình hoạt động tình nguyện cứu trợ nhân đạo, từ thiện Sở dĩ quan điểm về sự xuất hiện lâu đời như vậy của tổ chức phi chính phủ bắt nguồn từ niềm tin tích cực cho rằng hoạt động nhân đạo, từ thiện thực sự là một truyền thống, niềm tự hào dân tộc của mọi quốc gia trên thế giới Chính những hoạt động này được xuất phát từ nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, gắn liền với con người có ý thức, và đặc biệt hơn là gắn liền với một xã hội có giai cấp Hơn bất kì lĩnh vực nào, hoạt động nhân đạo

và từ thiện đều mang tính chất Nhà nước và nhân dân cùng làm Bởi một trong những chức năng và mục tiêu cao nhất của nhà nước là đảm bảo được vấn đề an sinh xã hội cho nhân dân Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà nước cũng đảm bảo thực hiện được chức năng của mình một cách toàn diện nhất Đó chính là lý do

vì sao, hoạt động nhân đạo, từ thiện không phải là lĩnh vực chỉ mang tính nhà nước, chính phủ, mà nó còn mang tính quần chúng, nhân dân, cộng đồng, tư nhân, diễn ra bên ngoài chính phủ 1

Bởi vậy, một loại hình tổ chức khác, những

tổ chức mang tính phi chính phủ đã ra đời như là một tất yếu khách quan Ở giai đoạn sơ khởi này, tổ chức phi chính phủ tồn tại dưới dạng một nhóm nhỏ những

1Theo Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, tr 9-10

Trang 13

thừa nhận cần phải cứu trợ trẻ em bơ vơ, người tàn tật, người già không nơi nương tựa [8,12] một cách chính thức trong Hiến pháp của mình Cùng thời gian

đó, ở Mỹ, các tổ chức thuộc khu vực không vụ lợi về y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo cũng phát triển rầm rộ để đáp ứng việc cứu trợ những nạn nhân của chủ nghĩa tư bản [8,12] Đây chính là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của tổ

chức phi chính phủ “thực sự” sau này Theo tính toán, từ năm 1850 đến nay, đã

có hơn 100,000 tổ chức tư nhân, phi lợi nhuận chính thức đi vào hoạt động Song, cũng phải sau đó một thế kỷ (sau Chiến tranh thế giới thứ hai), các tổ chức phi chính phủ mới xuất hiện với tần suất ngày càng phổ biến hơn Sự phổ biến hơn của các tổ chức này được thể hiện ở hai chỉ số: Thứ nhất: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mỗi năm có khoảng 90 tổ chức phi chính phủ quốc tế được thành lập so với con số 10 tổ chức vào những năm 90 của thế kỷ IXX Thứ hai: Thêm vào đó, tỷ lệ % số tổ chức phi chính phủ quốc tế duy trì hoạt động được sau chiến tranh thế giới thứ hai cao hơn so với trước đó, với khoảng 30% có thể tồn tại và phát triển Ngoài các tổ chức phi chính phủ quốc tế, những tổ chức phi chính phủ mang tính địa phương, quốc gia, khu vực cũng được thành lập, tuy nhiên không phải tất cả đều tồn tại hoặc thành công, ngay cả khi chúng hợp tác

2

Theo Đinh Quý Độ, Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu,

NXH Khoa học xã hội tr 25

Trang 14

cùng với các tổ chức mang tầm cỡ quốc tế 3

Giải thích lý do cho sự phát triển khá nhanh về số lượng và quy mô của loại hình tổ chức này, người ta cho rằng

đó là do hậu quả của toàn cầu hóa cùng với sự mở rộng hợp tác và phát triển quan hệ quốc tế trong nhiều kĩnh vực khác nhau, sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, nghèo đói, cách mạng thông tin với mạng Internet toàn cầu và xu hướng bùng nổ về dân chủ ở nhiều nước trên thế giới [5,26]

Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của nhân loại trong lĩnh vực

an sinh và phúc lợi xã hội, những tổ chức này đã ra đời từ rất sớm, hoạt động dưới hình thức các nhóm người cùng chung tay hoạt động nhân đạo, từ thiện, xóa bỏ bớt những hậu quả do sự phân hóa giai cấp gây ra Nhưng mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình này mới được chú trọng và phát triển một cách chuyên nghiệp, hệ thống hơn, được thừa nhận là một tổ chức có vai trò chính thức song song với chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội

1.1.2 Khái niệm tổ chức phi chính phủ

Tổ chức phi chính phủ không là tài sản của riêng quốc gia nào, mà nó là tài sản của trí tuệ và lòng bác ái nhân loại Mặc dù phổ biến như vậy, nhưng cho đến nay, những khái niệm về Tổ chức phi chính phủ vẫn chưa được thống nhất

Về mặt ngữ nghĩa, có thể hiểu tổ chức phi chính phủ là bất kỳ tổ chức nào không thuộc chính phủ Tuy nhiên bản thân từ phi chính phủ cũng có thể bị hiểu sai lệch theo nghĩa tương đồng với chống chính phủ hoặc không cùng với chính phủ Thêm vào đó, cách hiểu này cũng có thể bao hàm cả những tổ chức trong xã hội dân sự có mục tiêu thương mại, lợi nhuận Bởi thế giải nghĩa này có phần đơn giản và không thể hiện được những đặc trưng về chức năng, mục tiêu của tổ chức phi chính phủ

Về mặt pháp lý, năm 1945, thời điểm Liên hợp quốc soạn thảo Hiến chương Liên hợp quốc và tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã sử dụng thuật

3

Trang 15

14

ngữ Tổ chức phi chính phủ NGO để phân biệt quyền tham gia của các cơ quan chuyên môn liên chính phủ với quyền tham gia của các tổ chức tư nhân quốc tế Nhưng trong Điều 71, chương 10 của Hiến chương cũng chỉ đề cập đến vai trò tư vấn của các tổ chức không thuộc các chính phủ hay nhà nước thành viên Liên hợp quốc chứ không định nghĩa cụ thể về Tổ chức phi chính phủ Phải đến năm

1950, lần đầu tiên khái niệm Tổ chức phi chính phủ mới được Hội đồng Kinh tế

và xã hội Liên hợp quốc định nghĩa một cách đơn giản: “Bất cứ tổ chức quốc tế nào không do các thỏa thuận liên chính phủ lập nên sẽ được coi là một tổ chức phi chính phủ… kể cả các tổ chức chịu nhận những người được các nhà cầm quyền chỉ định làm thành viên, miễn là với tư cách đó, họ không can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức đó.” Sau đó, đến năm 1996, Hội đồng

Kinh tế xã hội Liên hợp quốc đã xác định 4 đặc trưng cơ bản của một tổ chức phi

chính phủ hợp pháp bao gồm: 1 Phi thương mại; 2 Không tham gia vào bạo lực hoặc chủ trương bạo lực; 3 Không có ý định thay thế các chính phủ hiện có; 4 Ủng hộ các mục tiêu và chương trình nghị sự của Liên hợp quốc [17,5]

Về mặt học thuật, một số lý thuyết sâu sắc hơn về Tổ chức phi chính phủ

đã được đưa ra Ví dụ, theo Salamon và Anheier, một tổ chức phi chính phủ phải

có 5 đặc trưng: có tổ chức, độc lập, không vì mục đích lợi nhuận, tự quản và tự nguyện [15,33] Ngoài thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ với 5 đặc trưng như

Salamon và Anheier đưa ra, hiện nay nhiều học giả khác cũng sử dụng những thuật ngữ khác mà họ cho rằng thể hiện đúng hơn bản chất, đặc trưng của loại hình tổ chức này như: Tổ chức tự nguyện tư nhân (Private voluntary organization – PVO), Tổ chức phi lợi nhuận ( Non-profit organization), Tổ chức nhân dân ( People organization) Một số quan điểm khác cũng đánh đồng tổ chức phi chính phủ với tổ chức phi chính phủ quốc tế, bởi họ tin vào năng lực ảnh hưởng rộng lớn của loại tổ chức này trong xã hội Những quan điểm này còn gọi

tổ chức phi chính phủ bằng các tên gọi khác như: các nhóm gây áp lực xuyên

Trang 16

quốc gia, các nhóm hoạt động xuyên quốc gia, xã hội dân sự toàn cầu, các nhóm phong trào xã hội xuyên quốc gia… [5,19]

Ngay tại Việt Nam, thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” cũng mới được sử dụng lần đầu tiên trong Luật tổ chức Chính phủ 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã

1996 và một số văn bản pháp quy gần đây Nhưng, vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về tổ chức phi chính phủ ở nước ta Tại các cuộc hội thảo khoa học, hầu hết các ý kiến trình bày về tổ chức phi chính phủ đều tập trung vào các khía cạnh sau:

- Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ

- Được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có

sự quản lý của nhà nước

- Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân

- Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật [6,11]

Bởi vậy, trong cuốn Giáo trình về Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ, Học viện Hành chính đã cho rằng: Quan niệm về tổ chức phi chính

phủ ở nước ta được hiểu như sau: là tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách pháp nhân, cùng ngành, nghề, giới, nhu cầu… hoạt động một cách thường xuyên

để thực hiện mục tiêu chung, không vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam [6,11]

Tổng hợp lại những quan điểm trên, trong luận văn này, khái niệm Tổ chức phi chính phủ (NGOs) được hiểu là một loại hình tổ chức không phải của bất kỳ chính phủ nào, phi lợi nhuận và mang tính tự nguyện

 Là một tổ chức không thuộc bất kỳ chính phủ nào, các tổ chức phi chính phủ nhìn chung không phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi chính phủ, không bị nhà nước hay bất kỳ tổ chức liên chính phủ nào quản lý Nói cách khác, tổ chức phi chính phủ không do chính phủ thành lập, mà cũng không phải là kết quả của bất kỳ sự thỏa thuận liên nhà nước nào Vậy nên, nó tồn tại độc lập,

Trang 17

16

không hoạt động phụ thuộc vào quyền lực của bất kì quốc gia nào, hay biên giới địa lý nào, nó chỉ hoạt động phụ thuộc vào lĩnh vực nó nhắm tới để trợ giúp những người yếu thế và các chương trình phát triển xã hội và tuân thủ tôn chỉ thành lập của chính nó Dễ thấy, các tổ chức phi chính phủ là sự khái quát một mô hình tổ chức hoạt động song song, bổ trợ cho các chương trình

xã hội và kinh tế của nhà nước, do người dân tự đóng góp và xây dựng nên Tuy nhiên, không phải tổ chức phi chính phủ có nghĩa là không liên quan đến chính phủ, những tổ chức này hoàn toàn có thể nhận tài trợ từ chính phủ của nước mẹ (nước mà từ đó tổ chức được thành lập), hay từ chính phủ nước khác Nguồn tài trợ này có thể một phần hay là nguồn tài trợ duy nhất cho tổ chức đó, điều đó cũng không ảnh hưởng tới tính chất của tổ chức Thậm chí, trong số các thành viên của một tổ chức phi chính phủ, có một người là đối tượng do chính nhà cầm quyền chỉ định, thì ngay cả trong trường hợp này, các đối tượng đó cũng không được can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức Như vây, cái căn bản của tổ chức phi chính phủ không phải là nguồn tài trợ không được đến từ chính phủ, các thành viên không liên quan đến chính phủ, mà quan trọng nhất tổ chức đó không đại diện cho nhà nước, chính phủ nước mẹ, mà nó đại diện duy nhất cho chính tổ chức của mình

 Là tổ chức phi lợi nhuận, cần phải hiểu tổ chức phi chính phủ không hoạt động với mục đích chính là tiến hành hoạt động kinh doanh hay thương mại, không “chạy theo” mục tiêu tài chính trong ngắn hay dài hạn Nhưng điều đó không có nghĩa rằng hoạt động của tổ chức phi chính phủ không cần đem lại lợi nhuận Hiểu một cách đơn giản, có thể sử dụng thuật ngữ “lợi nhuận không phân phối” thay cho khái niệm “phi lợi nhuận” trong loại hình tổ chức này Điều này được hiểu là lợi nhuận/ giá trị thặng dư thu được ở các tổ chức phi chính phủ được sử dụng nhằm hoàn thành mục tiêu, sứ mệnh hoạt động của tổ chức Không có bất kỳ khoản lợi nhuận ròng nào được phân phối cho

Trang 18

lợi ích của thành viên sáng lập, ban điều hành, nhân viên… hoặc bất kỳ ai trừ các khoản bồi thường dịch vụ hợp lý

 Cuối cùng, là một tổ chức tự nguyện, tổ chức phi chính phủ không đòi hỏi phải tồn tại dựa trên luật pháp, nó được thành lập dựa trên sáng kiến cá nhân

và là kết quả của sự tự nguyên của từng thành viên trong tổ chức Bản chất này cũng chính là bản chất cơ bản của loại hình tổ chức phi chính phủ từ những ngày đầu tiên xuất hiện với hình thức sơ khai trong xã hội Sự tự nguyện cũng chính là nền tảng quan trọng nhất cho việc duy trì và điều hành, phát triển các hoạt động của loại hình tổ chức này

Các tổ chức phi chính phủ xuất hiện phổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới, nhiều nhất vẫn là tại các nước phát triển, nhưng cánh tay của nó đã vươn rộng ra

cả những nước còn đang phát triển, hay nói đúng hơn là những nước có nền kinh

tế nghèo nàn và có nhiều vấn đề xã hội Có thể nói, gần như là một quy luật, khi

mà cứ bất cứ lĩnh vực nào có nhu cầu cần giải quyết, là tổ chức phi chính phủ xuất hiện để bù vào cái khoảng trống mà nhà nước không đủ khả năng bao quát Bởi vậy, hiểu về tổ chức phi chính phủ thực sự là một kiến thức quan trọng để hiểu về xã hội hiện đại

1.1.3 Phân loại các tổ chức phi chính phủ

Có rất nhiều cách phân loại các tổ chức phi chính phủ Bởi những tổ chức này rất đa dạng về tính chất hoạt động, chức năng nhiệm vụ hay cả phạm vi địa

lý mà tổ chức đó có ảnh hưởng… Ta có thể sắp xếp phân loại nhóm tổ chức phi chính phủ như sau:

a, Theo phạm vi địa lý :

Phạm vi địa lý được nói tới ở đây có thể hiểu là phạm vi hoạt động/ phạm

vi ảnh hưởng của tổ chức đó tới cộng đồng xã hội Có thể phân tổ chức phi chính phủ thành hai nhóm: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế (International Non governmental organizations) hoặc các tổ chức phi chính phủ quốc gia (National

Trang 19

18

Non governmental organizations) Điểm khác biệt căn bản giữa hai loại hình tổ chức này là các tổ chức phi chính phủ quốc tế thường có định hướng và mối quan tâm sâu sắc về các vấn đề ở tầm khu vực hoặc quốc tế Thông thường, các

tổ chức phi chính phủ quốc tế thường đặt trụ sở tại các quốc gia phát triển Những tổ chức này cũng thường có năng lực kỹ thuật và tổ chức, khả năng tài chính khá tốt Thậm chí, một số tổ chức còn có khả năng đảm đương vai trò trung gian chuyển thông tin, nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật giữa các chính phủ, các

tổ chức, cơ quan phát triển quốc tế và các tổ chức phi chính phủ cấp quốc gia hoặc cộng đồng Nhiều ý kiến cho rằng, trong các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các thành viên sáng lập thường mang nhiều quốc tịch khác nhau

Trong khi đó, các tổ chức phi chính phủ quốc gia/cộng đồng lại định hướng về các vấn đề và mối quan tâm ở chính nước/cộng đồng mà tổ chức đó đặt trụ sở, những vấn đề này chỉ được giới hạn trong một khu vực địa lý nhất định Các thành viên trong những tổ chức này thường là các cá nhân ở cùng khu vực địa lý, bởi vậy, có thể khả năng kỹ thuật, thực thi, nguồn tài chính của tổ chức không tốt, song những vấn đề được đưa ra giải quyết đều thiết thực và mang ý nghĩa thực tiễn cao

Tuy phân chia vậy, nhưng trong thực tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế

và quốc gia/cộng đồng thường hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo thành các mạng lưới tổ chức phi chính phủ theo các vấn đề xã hội mạnh mẽ, phát huy được tối đa năng lực, sở trường của mỗi tổ chức

b, Theo chức năng hoạt động:

Theo chức năng hoạt động, có thể phân thành hai loại: các tổ chức phi chính phủ thực thi và các tổ chức phi chính phủ vận động Có thể hiểu các tổ chức phi chính phủ thực thi là nhóm các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực nhân đạo, phát triển cộng đồng, phúc lợi xã hội nhằm phân bổ hay đem lại sự phát triển hoặc các dịch vụ phúc lợi xã hội như cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, y tế, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ và quản lý môi trường…

Trang 20

Những tổ chức này đề ra và thực hiện một loạt các chương trình, cơ cấu tổ chức, định hướng hoạt động và các khu vực hoạt động dựa trên khía cạnh chương trình cần thiết hoặc theo khía cạnh địa lý

Ngược lại, đúng như tên gọi, các tổ chức phi chính phủ vận động định hướng các hoạt động chủ yếu là vận động làm thay đổi chính sách hoặc hành động, từ đó giải quyết được các mối lo ngại, quan điểm hoặc mối quan tâm cụ thể nào đó của quốc tế hay khu vực Các hoạt động vận động của những tổ chức này gây ảnh hướng tới chính sách, tập quán của các chính phủ, tới các thể chế phát triển như Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Tổ chức thương mại thế giới

và các tác nhân khác trong lĩnh vực phát triển cũng như tới công chúng và cộng đồng quốc tế Hầu hết các tổ chức phi chính phủ vận động có cùng mối quan tâm, có quyền lợi bổ sung cho nhau đều có xu hướng tập hợp thành mạng lưới và liên minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Nhưng, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối bởi thực tế, hầu hết các tổ chức phi chính phủ không hoàn toàn thể hiện rõ chức năng hoạt động riêng biệt nào Rất ít các tổ chức chỉ tập trung vào việc cung cấp dịch vụ (thực thi) hoặc chỉ tập trung vào phân tích và vận động chính sách (vận động) mà thường lựa chọn hình thức hỗn hợp để hoàn thiện sứ mệnh của tổ chức mình một cách toàn diện nhất

c, Theo tính chất hoạt động:

Dựa vào yếu tố này, cũng có một vài quan điểm phân chia loại hình tổ chức phi chính phủ được nêu ra khác nhau trong các tài liệu Tuy nhiên, quan điểm về cách phân chia tổ chức phi chính phủ dựa trên tiêu chí tính chất hoạt động của luận văn như sau: Có 3 loại hình tổ chức: các tổ chức mang tính trợ giúp nhóm người yếu thế và phát triển cộng đồng; các tổ chức phi chính phủ mang tính thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; các tổ chức mang tính hiệp hội nghề nghiệp

Trang 21

Ngoài ra, dựa vào định nghĩa về tổ chức phi chính phủ, không thể không nhắc tới nhóm hoạt động vì dân chủ, nhân quyền, tôn giáo Do những biến tướng trong hoạt động nên đôi khi nhóm tổ chức này bị hiểu là nhóm chống đối chính phủ Nhưng nếu hiểu đúng và thực hiện đúng, những nhóm tổ chức này có chức năng chủ yếu là vận động chính sách để đảm bảo việc thúc đẩy quyền dân tộc, dân chủ, tự do tôn giáo… được nâng cao, đem đến cuộc sông tốt đẹp hơn cho con người, cố vấn cho chính phủ cách xây dựng chính sách phù hợp trong quản

lý nhà nước

Cuối cùng, các tổ chức mang tính Hiệp hội nghề nghiệp lại mang tính chất trợ giúp những người trong nhóm cùng hoàn cảnh trong hoạt động, đời sống xã hội Nhóm tổ chức này tuy không có số lượng lớn nhưng là “công cụ” đắc lực hỗ trợ cho sự phát triển của ngành nghề, từ đó tạo ra sự phát triển của toàn xã hội

Có nhiều cách để phân loại các tổ chức phi chính phủ Các cách phân loại

tổ chức phi chính phủ được luận văn giới thiệu trên đây không mang nghĩa tuyệt đối Bởi hoạt động của các tổ chức phi chính phủ rất đa dạng và phức tạp Để đạt hiệu quả cao trong điều hành tổ chức, đặc biệt đối với các tổ chức có quy mô rộng lớn, việc phân loại trên càng mang ý nghĩa tương đối vì những vấn đề cần giải quyết, đối tượng thụ hưởng, dịch vụ cung ứng của mỗi tổ chức… rất cần có ranh giới mở Sự đóng kín ranh giới hoạt động sẽ gây nên những khó khăn

Trang 22

không cần thiết cho mục tiêu cuối cùng và tối thượng của các tổ chức phi chính phủ vốn là giải quyết triệt để các vấn đề xã hội

1.1.4 Tổng quan các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam

Giống như lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam cũng có nguồn gốc từ hoạt động nhân đạo, từ thiện – truyền thống của dân tộc Việt Cho tới ngày nay, sự tồn tại tất yếu, sự phát triển khách quan của rất nhiều nhóm tổ chức Hiệp hội nghề nghiệp, tôn giáo, tổ chức cứu trợ cho nhóm người yếu thế, phát triển cộng đồng… hoạt động trong phạm vi quốc gia, cộng đồng người Việt Nam là không thể phủ nhận Nói đến các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam, phải kể đến những tổ chức phi chính

phủ quốc tế và cả những tổ chức phi chính phủ quốc gia (theo cách phân loại theo phạm vi địa lý phần 1.1.3) Tuy nhiên, trong giới hạn luận văn, tác giả chỉ

đưa ra những nét khái quát về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài/ quốc tế hoạt động tại Việt Nam, để từ đó nêu bật lên bối cảnh mà tổ chức phi chính phủ SOS đang hoạt động

(Để tiện sử dụng, từ đây, trong luận văn này, cách gọi tổ chức phi chính phủ là cách gọi tắt của tổ chức phi chính phủ quốc tế)

Các tổ chức phi chính phủ bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ những năm

1950, đặc biệt từ sau Hiệp định Gionevo 1954 và trong thời kỳ Mỹ xâm chiếm miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc nước ta Từ sau năm

1975, các tổ chức phi chính phủ giúp đỡ nước Việt Nam thống nhất hàn gắn những vết thương chiến tranh, cứu trợ những vùng bị thiên tai, giúp đỡ những người khuyết tật, những người từ trại tị nạn trở về Những năm đó, những tổ chức này bắt đầu chú ý đến những dự án phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo, các dự án bảo vệ môi trường, chống những căn bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS, bại liệt, suy dinh dưỡng ở trẻ, hay quan tâm nhiều tới những vấn đề cho người yếu thế Trong suốt giai đoạn 1975 – nay, các tổ chức phi chính phủ đã có nhiều

Trang 23

22

bước đi thận trọng khi giơ tay hỗ trợ Việt Nam Từ năm 1975 – 1978, khoảng 70

tổ chức phi chính phủ vào Việt Nam viện trợ với số tiền lên tới 30 triệu đô Nhưng từ 1979 – 1988, do những lo lắng về chính trị tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ tuy không ngừng hoạt động nhưng đều hoạt động cầm chừng, giá trị các dự án đổ vào Việt Nam chỉ bằng ¼ so với trước đó Nhưng từ năm 1989 –

2000, số lượng tổ chức phi chính phủ tăng mạnh 4

Theo Ủy ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM)5, 49,5% các tổ chức phi chính phủ bắt đầu đến Việt Nam hoạt động trong giai đoạn 1990-2000, so với con số 32,5% trước năm 1990

và 15,4% sau năm 2000 Cũng theo PACCOM, trong Hội nghị quốc tế lần thứ 3

về Hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, ước tính

có khoảng 990 tổ chức phi chính phủ và Văn phòng đại diện đang hoạt động tại nhiều lĩnh vực trên khắp các tỉnh thành cả nước tính đến năm 2013 Có thể thấy, mặc dù tốc độ tăng trưởng về số lượng các tổ chức phi chính phủ vào Việt Nam bắt đầu giảm từ sau năm 2000, nhưng đó vẫn là một số lượng tổ chức rất lớn, hỗ trợ Việt Nam rất nhiều lĩnh vực để giải quyết các vấn đề xã hội Cũng trong Hội nghị, PACCOM tổng kết những lĩnh vực mà các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam đang hoạt động hiện nay bao gồm y tế, giáo dục – đào tạo, phát triển kinh

tế - xã hội, tài nguyên – môi trường, cứu trợ khẩn cấp, nhân quyền, bình đẳng giới, quản trị nhà nước, phát triển xã hội dân sự… Tuy nhiên, mặc dù có sự phân chia các lĩnh vực như vậy, nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tỉnh thành trong cả nước, hầu hết các tổ chức phi chính phủ đều hoạt động đồng thời trong nhiều lĩnh vực khác nhau Theo số liệu thống kê, có khoảng một nửa các tổ chức đồng thời hoạt động từ 2 – 4 lĩnh vực, chỉ một phần tư trong số đó tập trung vào riêng một lĩnh vực chuyên môn của mình Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy những lĩnh vực mà các tổ chức phi chinh phủ quốc tế đang hoạt động tại Việt

Trang 24

Nam trong năm 2013 Có thể thấy, lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo và cung cấp dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục là những lĩnh vực truyền thống và thu hút được nhiều tổ chức đến Việt Nam nhất Song, PACCOM nhấn mạnh, trong những năm tới, trong báo cáo hoạt động của mình các tổ chức cũng chỉ rõ sẽ giảm sự tập trung vào các lĩnh vực truyền thống mà thay vào đó là

ưu tiên cho các lĩnh vực như nhân quyền, quản trị nhà nước, phát triển các tổ chức xã hội dân sự…để đảm bảo thực hiện tốt những nỗ lực phát triển toàn diện

và bền vững tại Việt Nam

Bên cạnh số lượng và lĩnh vực hoạt động, nói riêng về nguồn vốn tài trợ, theo thống kê của PACCOM, nếu vào năm 2002, viện trợ phi chính phủ nước ngoài giúp Việt Nam chưa vượt qua mốc 100 triệu USD thì đến những năm gần

đây đã đạt mức khoảng 300 triệu USD/năm Chỉ tính riêng trong giai đoạn

2002-2012, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã tài trợ, triển khai tổng cộng 28.052 chương trình, dự án và các khoản viện trợ với tổng trị giá giải ngân xấp

xỉ 2,4 tỷ USD cho Việt Nam; trong đó trên 1,12 tỷ USD viện trợ đến từ khu vực Bắc Mỹ (47%), 813 triệu USD từ châu Âu (34%) và trên 450 triệu USD từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương (19%) Hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố và ở hầu hết các bộ,

Trang 25

24

ngành, tổ chức nhân dân Những năm gần đây, một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị, Khánh Hòa, Thái Nguyên tiếp nhận được từ 10-35 triệu USD/năm từ nguồn viện trợ phi chính phủ Một số Bộ, tổ chức nhân dân như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Chữ thập đỏ tiếp nhận được từ 5-20 triệu USD/năm 6Nếu nhìn tổng thể, viện trợ phi chính phủ nước ngoài chiếm tỷ trọng trong GDP của Việt Nam không phải lớn, tính trong cả quá trình vừa qua, năm cao có thể đạt 0,45% GDP, năm thấp (năm 2012) chiếm khoảng 0,21% GDP Hơn nữa, con

số 300 triệu USD tuy lớn, nhưng chỉ chiếm 1% trong tổng số 30 tỷ USD viện trở phi chính phủ toàn cầu Nếu tính theo đầu người, Việt Nam nhận được 3,1 USD/người, thấp hơn nhiều so với mức 9-10 USD/người ở Lào, 17 USD/người tại Campuchia Như vậy có thể thấy, tiềm năng vận động nguồn vốn tài trợ của

tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam còn rất lớn, vấn đề là PACCOM và mỗi tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam đã, đang và sẽ làm gì để tranh thủ được nguồn tài trợ khổng lồ và hữu ích đó

Có thể thấy, về tổng thể, tổng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ nhìn chung đều tăng, song, nói riêng về ngân sách hoạt động của các tổ chức thì lại không có xu hướng tăng chung như vậy Trong Báo cáo kết quả nghiên

cứu Quan hệ hợp tác giữa Việt nam và các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong năm năm qua và định hướng tương lai của Viện nghiên cứu Kinh tế, xã hội và

môi trường (ISEE), ISEE nhận định các nhóm tổ chức phi chính phủ nước ngoài gồm 3 nhóm dựa theo nguồn ngân sách hoạt động năm 2010: Nhóm có ngân sách hoạt động dưới 500.000 USD (nhóm I), nhóm có ngân sách hoạt động từ 500.000 – 1.000.000 USD (nhóm II), nhóm có ngân sách hoạt động trên 1.000.000 USD (nhóm III) Xét theo ngân sách, 70% các tổ thức thuộc nhóm I,

so với con số 15% của mỗi nhóm còn lại Số liệu thu thập được cho thấy các tổ

6

Trang 26

chức thuộc nhóm I và II không có nhiều biến động về ngân sách trong giai đoạn

2006 – 2010, nhưng nhóm III có ngân sách thấp nhất trong năm 2007 trong giai đoạn 2006-2010, rồi tăng vọt lên trong hai năm 2008-2009, nhưng lại bắt đầu giảm từ năm 2010

Báo cáo cũng nêu rõ, nhìn chung ngân sách hoạt động dự kiến của các nhóm tổ chức từ năm 2010 – 2013 đều tăng (Xem biểu đồ 2) Tuy nhiên đối với nhóm II và III, ngân sách chỉ tăng đến năm 2012, từ năm 2013 sẽ giảm xuống Nguyên nhân là bởi những tổ chức này có ngân sách dựa chủ yếu vào việc gây quỹ từ các nhà tài trợ, trong khi đó rất nhiều nhà tài trợ có ý định rút khỏi Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015 Thêm vào đó khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng đem tới những tác động tiêu cực không nhỏ đến nguồn ngân sách của các tổ chức này Bởi vậy, có thể nói, trong thời gian tới, rất nhiều tổ chức phi chính phủ đang đứng trước những khó khăn, đặc biệt là về ngân sách hoạt động khi mà nhiều nhà tài trợ quyết định rút bớt nguồn vốn tới Việt Nam – một quốc gia đang được đánh giá là đã tiến lên mức thu nhập trung bình

Tóm lại, số lượng tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam ngày càng tăng về số lượng, nhưng nguồn ngân sách hoạt động lại có xu hướng giảm tốc mặc dù tổng nguồn vốn viện trợ cho loại hình tổ chức phi chính phủ đang

Trang 27

1.2 Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

Ở Việt Nam, khái niệm tự chủ tài chính vốn được coi là một đặc trưng cơ bản khi nói về cơ chế tài chính của các tổ chức vì lợi nhuận (doanh nghiệp, ngân hàng, công ty bảo hiểm…) Chỉ đến những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam mới có sự đổi mới về tư duy và chấp nhận một khái niệm: “tự chủ tài chính” trong các cơ quan hành chính nhà nước 7, đơn vị sự nghiệp công lập8

và các tổ chức khoa học công nghệ9 Song, trong phạm vi tìm kiếm thông tin, tác giả không tìm thấy bất cứ tài liệu nào viết cụ thể về năng lực tự chủ tài chính của các

tổ chức phi chính phủ bằng tiếng Việt Trong các tài liệu tìm thấy, khái niệm tự chủ tài chính chỉ được nhắc đến như là một nguyên tắc hoạt động của loại hình

tổ chức này Ngoài ra, cách hiểu, cách nhìn nhận, đánh giả khả năng tự chủ tài chính không được đề cập tới một cách cụ thể Bởi vậy, trong chương I, luận văn

tự xây dựng khái niệm tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ dựa trên sự

Trang 28

tổng hợp từ các nguồn tài liệu nước ngoài Khái niệm trong luận văn này được hiểu theo công thức sau: Năng lực tự chủ tài chính là sự tổng hợp của hai khái niệm: năng lực tự chủ + năng lực tài chính

Năng lực tự chủ:

Từ điển Tiếng Việt nêu rõ: “tự chủ là tự mình làm chủ mình, không bị ai

bó buộc, chi phối” Theo cách hiểu này, năng lực tự chủ chính là năng lực tự do

hoạt động chủ động, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động bên ngoài

Vì vậy, năng lực tự chủ đòi hỏi tổ chức phải có khả năng đảm bảo thực hiện hoạt động của mình theo đúng mục tiêu mà không phụ thuộc vào một nguồn lực cố định nào

Đối với các tổ chức phi chính phủ quốc tế, năng lực tự chủ là một đòi hỏi tối quan trọng và được coi là nguyên tắc hoạt động do phạm vi ảnh hưởng của các tổ chức phi chính phủ quốc tế lan rộng trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến rất nhiều nhóm người yếu thế trong xã hội nói chung và đến từng chi nhánh tại các quốc gia đang phát triển nói riêng của tổ chức Chính khả năng tự chủ sẽ quyết định thời hạn tồn tại của tổ chức Đây chính là nguyên nhân vì sao mà trong lịch

sử, số lượng tổ chức phi chính phủ được thành lập thì rất lớn, nhưng đa phần trong số đó lại sớm tuyên bố giải thể do không còn khả năng tiếp tục đảm bảo hoạt động theo mục tiêu, sứ mệnh ban đầu Sự tự chủ ở các tổ chức phi chính phủ quốc tế này cần tính đồng nhất, từ tổ chức “mẹ” – tổ chức sáng lập ban đầu, cho đến các tổ chức “con” – các trụ sở của tổ chức đó tại các quốc gia để tạo nên sức mạnh tổng thể, phục vụ mục tiêu cao đẹp trên toàn cầu

Năng lực tài chính của các tổ chức phi chính phủ

Năng lực tài chính là một khái niệm mà khi nhắc tới, đa phần đều nghĩ về một tổ chức mang tính kinh doanh, dịch vụ - hay nói cách khác là một tổ chức tạo ra lợi nhuận Điều này là một thiếu sót, đồng thời cũng phản ánh sự thiếu hụt trong cách hiểu về quan niệm năng lực tài chính của các tổ chức bất vụ lợi ở Việt Nam Bởi tuy cùng là một khái niệm năng lực tài chính, nhưng nội hàm của khái

Trang 29

Katherine Scott cho rằng năng lực tài chính của một tổ chức phi chính phủ đại

diện cho những nguồn lực cũng như những mối quan hệ sẵn có của tổ chức (cả bên trong lẫn bên ngoài) cho phép các tổ chức, cá nhân theo đuổi sứ mệnh và thực hiện vai trò của mình Giống như những nguồn lực khác của tổ chức, năng lực tài chính rất phức tạp Một mặt, nó được định nghĩa là khả năng tạo ra và quản lý quỹ, mặt khác lại là công cụ và cơ chế tạo ra mối liên hệ giữa tổ chức với những người tài trợ” [13,8] Trong khi đó, học giả Bowman nhận định:

“Năng lực tài chính bao gồm những nguồn lực cho phép tổ chức có khả năng nắm bắt được cơ hội và phản ứng lại với những đe dọa bất ngờ trong khi vẫn duy trì được hoạt động bình thường của tổ chức”[18,37] Qua hai quan điểm

trên, cả bà Katherine cũng như ông Bowman đều khẳng định năng lực tài chính trước hết là một loại nguồn lực của tổ chức giống như những nguồn lực khác như nhân lực (nguồn lực con người), tin lực (nguồn lực thông tin), vật lực (cơ sở hạ tầng) Mục tiêu cơ bản cuối cùng của năng lực tài chính (tài lực) cũng là giúp tổ chức hoàn thành mục tiêu, sứ mệnh của mình dù có sự biến động của môi trường (xuất hiện cơ hội hay gặp rủi ro) Mục tiêu sứ mệnh của tổ chức ở đây cần được hiểu là những giá trị xã hội mà tổ chức đó đem lại – đúng như tinh thần tồn tại của bất kì tổ chức phi chính phủ nào chứ không đơn thuần là giá trị lợi nhuận như các tổ chức vụ lợi khác

Trang 30

Tuy nhiên, giống như nhận định của bà Katherine Scotte, năng lực tài chính của tổ chức phi chính phủ có phần khác so với tổ chức vì lợi nhuận bởi nó

còn là “công cụ và cơ chế tạo ra mối liên hệ giữa tổ chức với những người tài trợ” Điều này chính là điểm khác biệt lớn nhất khi so sánh năng lực tài chính

giữa tổ chức phi chính phủ với tổ chức vì lợi nhuận

Nếu theo cách hiểu thông thường về năng lực tài chính trong các tổ chức

vì lợi nhuận, ví dụ như năng lực tài chính của một doanh nghiệp, Tiến sĩ Phạm

Thị Vân Anh khẳng định “năng lực tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đề ra” Trong đó, nguồn lực tài chính “là vốn bằng tiền và các tài sản có thể chuyển hóa thành tiền hay tương đương tiền mà doanh nghiệp có khả năng sử dụng các công cụ tài chính để huy động đáp ứng yêu cầu cần thiết cho hoạt động của mình” Nói như vậy, trong Doanh nghiệp –

một mô hình điển hình của loại tổ chức vì lợi nhuận, năng lực tài chính được đánh giá qua khả năng đảm bảo tiền và tài sản tương đương để thực hiện mục tiêu của tổ chức Và khả năng đảm bảo tiền và tài sản tương đương của doanh nghiệp sẽ được đảm bảo từ nguồn tài chính thu được từ việc buôn bán hàng hóa, dịch vụ Sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu thụ hàng hóa, lãi ròng, doanh thu… sẽ là nguồn vốn chính để tái sản xuất trong các

tổ chức vì lợi nhuận Điều này đảm bảo cho năng lực tài chính của một tổ chức

vì lợi nhuận tương đối ổn định trong môi trường

Nhưng, tổ chức phi chính phủ, tổ chức bất vụ lợi lại có cách tìm và duy trì nguồn vốn để đảm bảo năng lực tài chính khác hẳn so với mô hình tổ chức trên Không tạo ra sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ, các tổ chức phi chính phủ hướng tới mục tiêu tạo ra sự tiến bộ xã hội tại cộng đồng, nhóm thụ hưởng theo sứ mệnh và tôn chỉ đã được tổ chức xác định từ khi được thành lập, Thêm vào đó,

vì bản chất bất vụ lợi, nên gần như toàn bộ số chi phí bỏ ra chỉ được thu lại bằng thành quả tạo ra sự thay đổi xã hội/đối tượng mà họ hướng đến Điều này đồng

Trang 31

30

nghĩa với việc nguồn tài chính của tổ chức phi chính phủ không có tính quay vòng như trong tổ chức vì lợi nhuận Vì vậy, năng lực tài chính tại các tổ chức phi chính phủ phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tạo lập và quản lý nguồn quỹ

Nói về khả năng tạo lập nguồn vốn/ hay còn gọi là nguồn quỹ của các tổ chức phi chính phủ, MANGO (một tổ chức phi chính phủ duy nhất trên thế giới

hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ khác quản lý và ổn định nguồn tài chính một cách độc lập) phân chia nguồn quỹ của các tổ chức phi chính phủ thành hai loại sau: a, Nguồn quỹ không hạn chế được huy động từ các tổ chức từ thiện, nhà tài trợ một lần thông qua việc thông cáo với toàn xã hội, các chương trình gây quỹ một lần, tiền và tài sản tặng cho, phí thành viên, nguồn xin tài trợ từ chính quyền địa phương hoặc quốc gia b, Nguồn quỹ hạn chế được huy động từ tiền tài trợ thường xuyên có cam kết của một tổ chức/cá nhân, nguồn tiền được các đối tác cam kết để thực hiện các chương trình, dự án … Chính nguồn quỹ hạn chế sẽ đem đến sự ổn định và an toàn cho chiến lược tài chính của các tổ chức phi chính phủ; trong khi nguồn quỹ không hạn chế lại cho phép các tổ chức phi chính phủ

tự do, không phụ thuộc vào các nhà tài trợ thường xuyên của tổ chức 10 Như vậy,

có thể thấy, sự ổn định tài chính của các tổ chức phi chính phủ phụ thuộc phần nhiều vào nhóm nhà tài trợ Đó là lý do vì sao khi nói đến năng lực tài chính của một tổ chức phi chính phủ, bà Katherine Scotte còn nhắc đến mặt khác năng lực

tài chính là công cụ và cơ chế tạo ra mối liên hệ giữa tổ chức với những người tài trợ

Ở vế còn lại, năng lực tài chính đề cập đến khả năng quản lý nguồn quỹ Khái niệm quản lý nguồn quỹ này mang nặng tính kinh tế (tài chính kế toán), nói

về việc sử dụng, phân bổ nguồn quỹ như thế nào, đầu tư nguồn quỹ vào các hoạt động ra sao Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý, tác giả xin phép không mạn bàn đến khả năng quản lý nguồn quỹ của

10

Theo MANGO, Types of funding, 2010

Trang 32

một tổ chức phi chính phủ Với điều kiện cho phép, nội dung này sẽ được hoàn chỉnh hơn trong luận án nghiên cứu tiến sĩ trong tương lai

Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

Như vậy, năng lực tự chủ tài chính nói đến khả năng tự đảm bảo hoạt động của tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu, sứ mệnh ban đầu khi tổ chức được hình thành thông qua khả năng đảm bảo việc tạo dựng và quản lý nguồn quỹ

Sự khác biệt chính của năng lực tự chủ tài chính trong các tổ chức phi chính phủ nằm ở chỗ nguồn quỹ này có đặc trưng phụ thuộc đa phần vào nhà tài trợ, mang tính bị động; khác với sự chủ động trong việc huy động nguồn quỹ bằng cách quay vòng vốn thông qua kinh doanh, dịch vụ và thu hồi lợi nhuận tại các tổ chức vụ lợi Bản chất nguồn tài chính trong các tổ chức phi chính phủ chỉ mang tính một chiều, thu hút nguồn quỹ rồi giải ngân cho các hoạt động chứ không thu hồi lợi nhuận để tái đầu tư Mặc dù không thể phủ nhận việc tự chủ trong quản lý quỹ cũng là một trong những lý do quan trọng khi các nhà tài trợ, nhà từ thiện quyết định có hay không cung cấp nguồn tài chính trong tổ chức Nhưng vẫn cần phải khẳng định việc tự chủ tài chính tại các tổ chức này phụ thuộc vào năng lực tự chủ trong tạo dựng nguồn quỹ nhiều hơn so với năng lực

tự chủ trong việc quản lý và đầu tư quỹ Cùng với lý do của một luận văn đặc thù chuyên ngành Khoa học quản lý, trong luận văn này, khái niệm năng lực tự chủ tài chính trong tổ chức phi chính phủ được hiểu là khả năng tự đảm bảo việc tạo dựng nguồn quỹ đáp ứng cho mục tiêu hoạt động của tổ chức

Thêm vào đó, trong “Developing a financing strategy”– tập tài liệu do

CIVIUS (Liên minh quốc tế vì sự tham gia của người dân) viết riêng về việc phát triển chiến lược tài chính cho các tổ chức phi chính phủ, năng lực tự chủ tài chính một lần nữa được khẳng định là năng lực đòi hỏi các tổ chức không được phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn tài trợ riêng biệt về tài chính Nó đòi hỏi các

Trang 33

32

tổ chức cần có nguồn tài chính đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau.11

Điều này bổ sung thêm cho quan điểm về năng lực tự chủ tài chính mà luận văn đề cập trên đây

Tóm lại, có thể nói: Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ là năng lực tự đảm bảo việc tạo dựng nguồn quỹ đáp ứng cho mục tiêu hoạt động của tổ chức mà không phụ thuộc vào một nguồn tài trợ nhất định

1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính của tổ chức phi chính phủ

Như đã trình bày trong phần 1.2.1, năng lực tự chủ tài chính của một tổ chức phi chính phủ được thể hiện qua hai yếu tố: tạo dựng quỹ và quản lý quỹ Trong phạm vi luận văn, do chỉ giới hạn ở yếu tố tạo dựng quỹ nên những nhân

tố ảnh hưởng được đề cập sau đây dựa trên sự đánh giá tác động của chúng với năng lực tạo dựng quỹ của tổ chức phi chính phủ

Những nhân tố ảnh hưởng bao gồm những nhân tố sau:

A, Nhà tài trợ

Việc tạo dựng nguồn quỹ của tổ chức phi chính phủ chịu sự chi phối rất lớn từ các nhà tài trợ Do hoạt động của tổ chức phi chính phủ nhằm hướng tới việc giải quyết các vấn đề hệ lụy của xã hội, bởi vậy, hoạt động của tổ chức không hướng đến nguồn lợi quay vòng vốn như nhiều loại hình tổ chức khác Do

đó, nguồn thu đầu vào là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính của tổ chức Việc tìm kiếm, thuyết phục được các nhà tài trợ sẽ tạo điều kiện cho tổ chức đảm bảo sự tự chủ cho các chương trình dự án của mình Tuy nhiên, cần lưu ý, các nhóm nhà tài trợ cần đa dạng, không được phụ thuộc vào một hoặc một vài nhà tài trợ duy nhất Việc tăng lên không ngừng về số lượng và

11

Theo CIVICUS, Developing the financial strategy, 2003 (p 7/55)

Trang 34

các nguồn tài trợ giúp tổ chức phi chính phủ đảm bảo mức độ ổn định tương đối

về tài chính

B, Các yếu tố liên quan tới tổ chức

Các yếu tố liên quan tới tổ chức ở đây cần hiểu về các mặt: cơ cấu tổ chức, nhân lực, tài lực, chiến lược

Về mặt cơ cấu, một tổ chức dễ đảm bảo tự chủ tài chính nếu tổ chức đó có một bộ phận chuyên môn hóa công việc phát triển quỹ Sự chuyên môn hóa đảm bảo tính thống nhất trong việc đạt mục tiêu nâng cao nguồn tài chính tự chủ của

tổ chức Đồng thời, điều này tạo cơ hội mở rộng cho tổ chức trong việc tìm kiếm, duy trì và phát triển các nguồn tài trợ tiềm năng

Về mặt nhân lực: số lượng và chất lượng nhân lực là những yếu tố quan trọng không chỉ riêng với hoạt động nhằm đảm bảo tự chủ tài chính mà còn ở nhiều hoạt động khác Sự phát triển của ngành khoa học quản lý đã chỉ ra một sự thật không thể chối cãi: nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất để đem tới thành công của tổ chức trong bất kì lĩnh vực nào

Về mặt tài lực: Nhiều tổ chức phi chính phủ hiện nay đã chủ động trong việc tìm kiếm nguồn kinh phí tự chủ thông qua các chương trình, dự án kêu gọi

sự tham gia của những người có quan tâm Tuy nhiên không phải tất cả các tổ chức đều dành kinh phí cho việc gây quỹ Bởi vậy, việc chủ động dành khoản tài chính đầu tư cho các hoạt động gây quỹ để từ đó thu hồi được sự quan tâm của công chúng, sự đóng góp của công chúng …sẽ tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa

tổ chức và xã hội sau những nỗ lực tạo một “thương hiệu” riêng về mục tiêu, năng lực hoạt động vì xã hội của tổ chức

Về mặt chiến lược: Mọi hoạt động không thể thành công nếu thiếu sự đánh giá, xây dựng và thực hiện chiến lược chắc chắn Xây dựng được chiến lược phù hợp sẽ giúp tổ chức xác định đúng đắn phương hướng, từ đó đảm bảo

sự thống nhất trong các hoạt động để đạt mục tiêu tự chủ tài chính

C, Các yếu tố liên quan đến sự tình nguyện

Trang 35

34

Một trong những đặc trưng cơ bản và cũng là nguồn gốc hình thành của tổ chức phi chính phủ là hoạt động dựa trên sự tự nguyện Sự tự nguyện đến từ những cá nhân hình thành tổ chức, từ cả những cá nhân có sự tham gia với mong muốn duy trì và phát triển tổ chức Nhưng trên hết, sự tự nguyện của mỗi cá nhân đều bắt nguồn từ mong muốn tạo ra những thay đổi tốt đẹp cho xã hội Bởi vậy, xuất phát từ động cơ trong sáng, hoạt động tình nguyện luôn song hành với mỗi tổ chức Sự tình nguyện ở đây có thể đơn thuần là sự hỗ trợ về tinh thần, về vật chất hoặc về sự trợ giúp thực hiện các hoạt động ở tổ chức Dù bằng bất kì hình thức nào, hoạt động tình nguyện cũng cung cấp một nguồn lực “vô hạn” cho mỗi tổ chức nếu biết sử dụng hợp lý nguồn lực để mở rộng mạng lưới tìm kiếm nguồn tài chính tự chủ, và giảm chi phí khiến áp lực tự chủ tài chính bớt nặng nề

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

Do cách hiểu khái niệm về năng lực tự chủ tài chính trong luận văn này chỉ đề cập đến khả năng tự chủ trong việc tạo dựng nguồn quỹ Mà nguồn quỹ của các tổ chức phi chính phủ lại có nguồn chính từ các nhà tài trợ, bởi vậy, việc đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ có thể hiểu là đánh giá mức độ tổ chức đó đảm bảo nguồn quỹ cho hoạt động mà không phụ thuộc vào nhà tài trợ hay không Cũng cần lưu ý, việc đánh giá này sẽ được đánh giá theo chu kỳ một năm một lần (năm tài khóa)

Trong cẩm nang “Types of funding” – “Các loại tài trợ” do MANGO biên

soạn, viết về năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ, MANGO cho rằng mặc dù các nhà/tổ chức tài trợ luôn tồn tại để cung cấp quỹ cho chúng

ta, nhưng những tổ chức phi chính phủ cần tự quyết định xem tổ chức mình nên

tự đảm bảo nguồn tài chính cho mình hay phụ thuộc hoàn toàn vào những nhà tài trợ Điều này có ý nghĩa rất quan trọng khi xem xét chiến lược tài chính của các

Trang 36

tổ chức phi chính phủ Bởi việc phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài trợ 100% để đáp ứng cho các chi phí điều hành (tiền thuê địa điểm, tiền lương, chi trả cho các hóa đơn…) và chi phí thực hiện các chương trình, dự án… sẽ gây khó khăn cho

tổ chức một khi các nguồn tài trợ không được ổn định do những lý do bất khả kháng Ngược lại, nếu chỉ phụ thuộc một phần vào nguồn quỹ từ các nhà tài trợ, khoản tài chính tổ chức tự huy động được sẽ giúp tổ chức kéo dài sự tồn tại cho đến khi thay đổi lại định hướng chiến lược tài chính trong sự biến động của môi trường Có thể hình dung năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức trong sơ đồ như sau:

Sự tự chủ tài chính của tổ chức sẽ nằm giữa hai thái cực: Tự đảm bảo tài chính 100% hoặc Phụ thuộc nguồn tài trợ 100% Sự tự chủ tài chính của một tổ chức phi chính phủ sẽ càng cao khi sự phụ thuộc vào nguồn quỹ từ các nhà tài trợ càng giảm Hay nói cách khác, nguồn quỹ thu được từ việc tự đảm bảo tài chính chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng thu nhập hàng năm của tổ chức, đó là thước đo cho sự tự chủ tài chính của tổ chức

Tuy nhiên, cần có sự phân định rõ giữa những khoản nào được coi là khoản thu nhập phụ thuộc nguồn tài trợ, những khoản nào được coi là khoản thu

từ việc tự chủ tài chính Bởi nói đến cùng, hầu hết tất cả các khoản thu nhập của

tổ chức phi chính phủ đều đến từ một nhóm, cá nhân gọi chung là: nhà tài trợ

Như đã đề cập trong nội dung 1.2.1 trong luận văn, nguồn quỹ của tổ chức phi chính phủ được MANGO phân thành nguồn quỹ hạn chế và nguồn quỹ không hạn chế Cả hai dạng nguồn quỹ này đều được thu thập phần lớn từ những nhà tài trợ (từ thiện) Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản chính là: nguồn quỹ hạn chế được huy động từ những nhà tài trợ có cam kết lâu dài cho tổ chức (có thể là

Tự đảm bảo tài chính 100%

Phụ thuộc nguồn tài trợ 100%

Sự tự chủ tài chính của tổ chức

Trang 37

Ngược lại, nguồn quỹ không hạn chế tuy cho phép các tổ chức được tự do tài chính hơn, (giống như nguồn tài chính thêm vào với nguồn quỹ hạn chế để đáp ứng tốt hơn nhu cầu hoạt động được tốt hơn), nhưng để có nguồn quỹ này, đòi hỏi tổ chức phải nỗ lực không nhỏ, dành thời gian, tiền bạc và công sức để vận động và xây dựng nguồn quỹ vốn không ổn định trong thời gian dài hạn Theo MANGO, việc phát triển nguồn quỹ không hạn chế này thành công đến đâu, sẽ trả lời cho câu hỏi tổ chức đó đã tự chủ tài chính được đến đâu Trong đó, những nguồn tài chính sau đây được coi là nguồn quỹ không hạn chế:

 Thu nhập từ tiền, tài sản hiến tặng

 Tiền, quà tài trợ (mọi hình thức) của các nhà tài trợ cá nhân

 Nguồn tài trợ từ địa phương, chính phủ tại quốc gia mà tổ chức đó có địa bàn (thông qua các lần gây quỹ cộng đồng, sự hỗ trợ về mặt y tế/pháp lý, nguồn tiền/cơ sở vật chất do các doanh nghiệp trao tặng…)

Trang 38

Với sự phân định rõ ràng như vậy về loại/nguồn tài chính (quỹ), có thể đánh giá

mức độ tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ theo công thức sau:

Tổng nguồn quỹ không hạn chế

Mức độ tự chủ tài chính = x 100% Tổng nguồn quỹ

Như vậy, khi nhìn vào các mục tài chính của một tổ chức, dựa vào công thức tính toán mức độ tự chủ tài chính và việc phân loại các nguồn quỹ hạn chế, nguồn quỹ không hạn chế, mức độ tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ

là một chỉ tiêu hoàn toàn có thể tính toán thành số liệu cụ thể

*Kết luận Chương 1

Ra đời từ rất sớm dưới hình thức các nhóm người cùng chung tay hoạt động nhân đạo, từ thiện, nhưng phải đến sau chiến tranh Thế giới thứ II, loại hình tổ chức phi chính phủ mới được phát triển một cách chuyên nghiệp, hệ thống Mặc dù có nhiều định nghĩa, nhưng khái niệm tổ chức phi chính phủ được hiểu trong Luận văn là một loại hình tổ chức không phải của bất kì chính phủ nào, hoạt động phi lợi nhuận và mang tính tự nguyện Với những đặc điểm riêng biệt của loại hình tổ chức này, năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ cũng được hiểu là khả năng tự đảm bảo việc tạo dựng nguồn quỹ đáp ứng cho mục tiêu hoạt động của tổ chức mà không phụ thuộc vào một nguồn tài trợ nhất định Việc đánh giá năng lực tự chủ tài chính này có thể được đo lường bằng công thức sau:

Tổng nguồn quỹ không hạn chế

Mức độ tự chủ tài chính = x 100% Tổng nguồn quỹ

(Trong đó, tổng nguồn quỹ không hạn chế và tổng nguồn quỹ được liệt kê rõ trong phần 1.2.2)

Trang 39

38

CHƯƠNG II NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM

SOS VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành và lĩnh vực hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam

SOS Việt Nam là thành viên của tổ chức phi chính phủ quốc tế, được thành lập dựa trên Hiệp định về việc thành lập Làng trẻ em SOS do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ký với Hiệp hội SOS Quốc tế ngày 22 tháng 12 năm

1987 Sự ra đời của Hiệp định cho thấy sự thấu hiểu nhu cầu bức thiết cần giải quyết những vấn đề về quyền lợi cho trẻ em của Chính phủ Việt Nam Đồng thời cũng thể hiện tầm nhìn thời đại khi Chính phủ biết tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế chân chính trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Bởi với lịch sử hình thành từ năm 1949, sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Làng trẻ em SOS quốc tế do Tiến sỹ Hermann Gmeiner xây dựng đã trở thành một tổ chức quốc tế không ngừng lớn mạnh và có uy tín toàn cầu trong việc giúp đỡ trẻ

em trên toàn thế giới mà không phân biệt tôn giáo, văn hóa hay hệ thống chính trị Cho đến nay, sau 65 năm phát triển từ Làng trẻ em SOS đầu tiên tại Imst, Cộng hòa Áo, Hiệp hội Làng trẻ em SOS Quốc tế đã có mặt tại 133 quốc gia và lãnh thổ với niềm tin: Mọi trẻ em trên thế giới dù khác nhau về địa lý, văn hóa hay tôn giáo cũng cần chung một điều: Đó là được thuộc về một mái ấm gia đình

Ngay từ những ngày đầu thành lập, Văn phòng Làng trẻ em SOS Việt Nam được xây dựng cùng với Làng trẻ em SOS Mai Dịch tại Hà Nội nhằm đảm bảo cho việc quản lý và phát triển SOS trên toàn lãnh thổ

Bởi vậy, vào năm 1997, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập (1997), Làng trẻ em SOS đã được đón nhận Huân chương Lao động hạng III do Chủ tịch nước

Trang 40

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Ở thời điểm này, Làng trẻ em SOS đã có mặt tại 7 tỉnh thành và thành phố trên cả nước

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập (2007), Làng trẻ em SOS Việt Nam lần thứ hai được vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng II do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Lúc này, 12 tỉnh thành trên

cả nước đã được xây dựng Làng trẻ em SOS tại địa phương

Với những thành tích, đóng góp trong hoạt động vì trẻ em, năm 2010, Làng trẻ em SOS nhận Chứng nhận những đóng góp tiêu biểu trong công cuộc giảm nghèo và phát triển tại Việt Nam do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trao tặng

Đến nay, sau 27 năm ký Hiệp định, SOS Việt Nam đã phát triển lớn mạnh với 16

Làng trẻ em SOS, đứng thứ 3 trong tổng số

133 quốc gia và vùng lãnh thổ có Làng trẻ

em SOS (sau Ấn Độ và Brazil)

16 Làng trẻ em SOS được xây dựng tại:

Bản đồ SOS Việt Nam

Bến Tre

Cà Mau

Đà Lạt

Đà Nẵng Điện Biên Phủ Đồng Hới

Hồ Chí Minh Hải Phòng

Hà Nội Nha Trang Quy Nhơn Thanh Hóa Việt Trì Vinh Thái Bình Gia Lai

Ngày đăng: 27/06/2023, 08:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định số 130/2005/nđ-cp ngày 17 tháng 10 năm 2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 130/2005/nđ-cp ngày 17 tháng 10 năm 2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định số 115/2005/nđ-cp ngày 17 tháng 10 năm 2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2005/nđ-cp ngày 17 tháng 10 năm 2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
3. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 43/2006/nđ-cp ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/nđ-cp ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
4. Frank Jefkins, Phá vỡ bí ẩn PR. Dịch: Nguyễn Thị Phương Anh – Ngô Anh Thy (2007), NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phá vỡ bí ẩn PR
Tác giả: Frank Jefkins, Nguyễn Thị Phương Anh, Ngô Anh Thy
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
5. Đinh Quý Độ (2012), Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, NXH Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu
Tác giả: Đinh Quý Độ
Nhà XB: NXH Khoa học xã hội
Năm: 2012
6. Khoa quản lý nhà nước về xã hội - Học viện Hành chính., Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ
Tác giả: Khoa quản lý nhà nước về xã hội - Học viện Hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2009
8. Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Trịnh Phương Thảo (2013), Vai trò của quan hệ công chúng (Public relations) đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội cho đối tượng yếu thế, Kỷ yếu hội thảo khoa học, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, trang 508-511, ISBN 978604540353-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của quan hệ công chúng (Public relations) đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội cho đối tượng yếu thế
Tác giả: Trịnh Phương Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2013
10. Trung tâm Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương Hà Nội & Quỹ Châu Á, Đóng góp từ thiện tại Việt Nam, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp từ thiện tại Việt Nam
11. Viện nghiên cứu Kinh tế, xã hội và môi trường, Báo cáo kết quả nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong năm năm qua và định hướng tương lai.TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong năm năm qua và định hướng tương lai
Tác giả: Viện nghiên cứu Kinh tế, xã hội và môi trường
13. Katherine Scott, Funding matters: The impact of Canada’s new funding regime on nonprofit and voluntary organizations, Canadian Council on Social development, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Funding matters: The impact of Canada’s new funding regime on nonprofit and voluntary organizations
Tác giả: Katherine Scott
Nhà XB: Canadian Council on Social development
Năm: 2003
15. Salamon, Lester and Helmut Anheier, Defining the Nonprofit Secter, Manchester University Press, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defining the Nonprofit Secter
Tác giả: Lester Salamon, Helmut Anheier
Nhà XB: Manchester University Press
Năm: 1997
16. SOS Children’s Villages International, International Annual Report 2013 17. Willetts, Peter, ed, The conscience of the World: The influence of Non- govermental Organizations in the UN system, London: Hurst and Co, p3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Annual Report 2013" 17. Willetts, Peter, ed, "The conscience of the World: The influence of Non-govermental Organizations in the UN system
18. Woods Bowman, Financial substainablity for non-profit organizations, Tạp chí Nonprofit management and Leadership, 2011, p37-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial substainablity for non-profit organizations
Tác giả: Woods Bowman
Nhà XB: Tạp chí Nonprofit management and Leadership
Năm: 2011
7. SOS Việt Nam, Báo cáo phát triển Làng trẻ em SOS Việt Nam năm 2013 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN