CHỮ VIẾT TẮT LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực tự chủ tài chính tại Trường Đại học Xây dựng” là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi Các dữ liệu và kết[.]
Năng lực tự chủ tài chính và năng lực tự chủ tài chính của trường Đại học công lập
Khái niệm về năng lực tự chủ tài chính
Để làm rõ năng lực tự chủtài chính, trước hết làm rõ các khái niệm năng lực, tự chủ tài chính và năng lực tự chủ tài chính
Năng lực : Năng lực là tổ chức các thuộc tính tâm lý độc đáo của phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động gắn với một hoạt động cụ thể và chịu sự chi phối của môi trường, tính chất hoạt động và khả năng
Tự chủ tài chính: Là quyền tự tổ chức, phân phối và sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và tựchịu trách nhiệm trước pháp luật về sự tổ chức, phân phối, sử dụng nguần tài chính đó.
Năng lực tự chủ tài chính là: Khả năng tự tổ chức, phân phối và sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập Cụ thể được thể hiện qua:
• Tự chủ về thu, nguồn thu của đơn vị gồm nguồn kinh phí do NSNN cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn viện trợ, quà biếu, quà tặng, cho và các nguồn khác Đơn vịđược tự chủ các khoản thu và mức thu theo quy dịnh
• Tự chủ vềchi, đơn vị có quyền chi tiêu, phân phối và sử dụng nguồn tài chính Các đơn vị sự nghiệp có thểcăn cứ vào tình hình thực tế của mình mà linh hoạt điều chỉnh các khoản chi, tiết kiệm các khoản chi không cần thiết hoặc tăng chi cho các vấn đề trọng yếu, cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
Nội dung chi gồm: chi cho hoạt động thường xuyên và không thường xuyên
• Tự chủ về phân phối chênh lệch thu chi và sử dụng các quỹ: Căn cứ vào chênh lệch thu chi cuối năm các đơn vị sẽ phải trích tối thiểu 25% quỹ phát triển và hoạt động sự nghiệp, trả thu nhập tăng them cho người lao động và trích lập các quỹ.
Khái niệm năng lực tự chủ tài chính của các Trường Đại học công lập
Tự chủ là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng, một đơn vị như Nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức hoặc doanh nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ xuất bản năm 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc tổ chức không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối Khi áp dụng vào trường Đại học nó cụ thể hóa sự độc lập của một trường trên 3 mặt là:
Thứ nhất, khía cạnh tổ chức, tài chính, mối quan hệ của trường với các tổ chức khác.
Thứ hai, đề cập đến khía cạnh tự do cá nhân Nó chú ý đến khía cạnh cá nhân được bảo vệ không bị ảnh hưởng bới bên ngoài, đặc biệt là sức ép từ chính khách hàng của đơn vị Nhóm này gắn với quyền tự do học thuật của giảng viên, các nhà nghiên cứu.
Thứ ba, liên quan đến tự do điều hành các hoạt động của nhà trường Nhóm này tập trung vào quá trình vận hành nhà trường Có nghĩa là nhà trường được thực hiện chức năng mà không phụ thuộc vào ai.
Tự chủ đại học là một khái niệm phức tạp và đa chiều Các nhà nghiên cứu có cách trình bày khác nhau về phạm vi quyền tự chủ của một trường đại học Nó hay được trình bày chi tiết dưới dạng bảng kê danh mục các thẩm quyền cần có đối với một trường đại học gồm 2 loại Một là, quyền tự chủ thực chất, nó nói đến quyền tự do của các trường đại học trong việc xác định các mục tiêu và các chương trình thực hiện, điều này nói đến quyền “tự chủ” cái gì, nó liên quan đến sứ mạng, các chương trình, chương trình giảng dạy của trường đại học; Hai là, quyền tự chủ thủ tục, nó nói đến việc các trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các mục tiêu hay chương trình, hay nó nói đến các mục tiêu, chương trình này được thực hiện như thế nào.
Các yếu tố về quyền tự chủ được các nhà nghiên cứu nêu ra tạo ra khung khái niệm tự chủ ở cấp độ cơ sở giáo dục đại học Điều dễ nhận thấy, bản chất của tự chủ là phân chia quyền lực từ nhà nước đến các cơ sở giáo dục đại học Phạm vi quyền tự chủ thay đổi theo thời gian nhưng nó đều gắn với lĩnh vực học thuật, quản trị điều hành, pháp luật và vấn đề tài chính.
Các phân tích cho thấy tự chủ tài chính là một yếu tố, một thẩm quyền của tự chủ đại học Nó là một khái niệm được sử dụng khi đồng thời quan tâm đến cả vấn đề tài chính và quyền tự chủ Trong đó vấn đề tài chính là những vấn đề có liên quan đến tài chính hay những vấn đề tiền bạc Nó được mô tả bao gồm: các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, việc lập kế hoạch chiến lược, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của trường đại học Vì vậy, có thể nói tự chủ tài chính có mối quan hệ đến các nguồn lực, các chi phí, sự phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính Hiện nay các nghiên cứu đưa ra hai quan điểm về TCTC trường đại học như sau:
Một là, quan điểm nguồn lực cho rằng quyền TCTC của trường đại học gắn liền với nguồn lực Điều này dẫn tới i) quyền tự chủ trong việc giành được và phân bổ các nguồn lực tiền tệ; ii) quyền tự chủ trong việc giành được và phân bổ các nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ.
Hai là, quan điểm chủ thể cho rằng TCTC của trường đại học phải gắn liền với chủ thể, bao gồm: chủ thể pháp lý, chủ thể trong quản trị nội bộ và chủ thể kinh tế Quan điểm chủ thể nhấn mạnh tới sự hiểu biết như thế nào là đề cao, như thế nào là thu hẹp quyền TCTC.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay nên hiểu TCTC là tính đến cả yếu tố nguồn lực và chủ thể Bởi vì nếu ứng dụng hai quan điểm một cách riêng biệt thì quyền TCTC có thể bịthu hẹp nhiều mặt.
Sự cần thiết của việc tự chủ tài chính của các Trường Đại học công lập 3 1.1.4 Tính khách quan của việc thực hiện năng lực tự chủ tài chính ở Trường Đại học công lập
Sau hơn 8 năm thực hiện Nghị định 43 cho thấy, việc mở rộng trao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội được lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng ngày càng cao; thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện. Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập cũng là đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước thành lập gắn liền với chức năng cung ứng dịch vụ giáo dục đào tạo cho xã hội và được nhà nước cấp phát kinh phí hoạt động Hiện nay ta có thể thấy một thực tế các trường đại học công lập thu hút số lượng sinh viên đông đảo hơn rất nhiều so với các trường dân lập mặc dù chưa khẳng định được chất lượng giáo dục ở đâu tốt hơn Bao cấp luôn khiến con người thụ động vì vậy càng sớm càng tốt Nhà nước nên trao quyền tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các trường đại học điều này sẽ khuyến khích các trường chủ động khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn lực được giao nhằm đa dạng hóa các hoạt động đào tạo, phát triển cả số lượng và chất lượng dịch vụ giáo dục đại học.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học và cao đẳng là do ngân sách nhà nước cấp Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nguồn tài chính huy động không chỉ có nguồn ngân sách nhà nước cấp mà còn huy động từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay, nguồn thu ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, cao đẳng có tăng lên song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tài chính để duy trì và phát triển các hoạt động giáo dục đào tạo
Mặt khác, xuất phát từ thực trạng tiền lương và chính sách tiền lương hiện nay Tiền lương còn mang tính bình quân, không có sự phân biệt giữa tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức giữa khu vực cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, mức lương còn thấp chưa đảm bảo đúng nghĩa của tiền lương nên không thúc đẩy kích thích tính tích cực, sáng tạo của cán bộ, công chức, làm cho chất lượng công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đảm bảo Bên cạnh đó chưa xây dựng được thang lương, ngạch lương cho những cán bộ công chức có trình độ học hàm cao sau đại học, do vậy chưa khuyến khích được lực lượng cán bộ, công chức, viên chức học tập, nâng cao trình độ có thái độ tích cực, nhiệt huyết trong công tác Đây cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian vừa qua là rất lớn và đáng báo động.
Vì thế, việc thực hiện tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập là hếtsức cần thiết
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị đã giúp các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính ngân sách Nhà nước, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu.
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị tác động tích cực tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí và thực hành tiết kiệm tránh lãng phí Qua đó, thúc đẩy các đơn vị chủ động hơn trong các hoạt động theo hướng đa dạng hoá các loại hình đào tạo để tăng nguồn thu, khắc phục được tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động nghiệp vụ có chuyên môn của các đơn vị.
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn Hầu hết các đơn vị được giao quyền tự chủ đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính.
Giao quyền tự chủ tài chính là cơ sở xác lập nănglựcbảo đảm và hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính trong đơn vị.
Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị bảo đảm đầu tư của Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, thể chế hoá việc trả lương tăng một cách thích đáng, hợp phát từ kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị.
Trong xu thế hội nhập, cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ, kể cả trong lĩnh vực đào tạo Nếu chúng ta không kịp thời đổi mới giáo dục, các trường đào tạo ở tất cả các cấp sẽ tụt hậuvà mất dần vị trí trong lòng chính người dân Việt Nam để nhường chỗ cho các trường của nước ngoài Tự chủ trong giáo dục đào tạo trong đó có tự chủ về tài chính sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực của đội ngũ giảng viên, nội lực của nhà trường, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư
1.1.4 Tính khách quan của việc thực hiện năng lực tự chủ tài chính ở Trường Đại học công lập.
Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng; nó là một nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia và cả cộng đồng quốc tế Do nhận thức rất rõ về vai trò của giáo dục cho nên chính phủ các nước rất quan tâm và tăng cường đầu tư NSNN cho giáo dục trong đó có giáo dục đại học
Cuộc cách mạng KHCN từ những năm 80 của thế kỷ 20 đã đưa nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đó là nền kinh tế tri thức Do đó vai trò của giáo dục đại học ngày càng trở nên quan trọng, nó không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn sản sinh ra các tri thức mới, phát triển chuyển giao công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Thế giới đã chuyển từ giáo dục đại học tinh hoa sang giáo dục đại học đại chúng vì vậy số lượng sinh viên tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua Một thách thức đặt ra cho giáo dục đại học là giải bài toán giữa yêu cầu phát triển qui mô với nâng cao chất lượng Cụ thể là cần tìm kiếm thêm các nguồn tài chính ngoài ngân sách Điều này chỉ có thể giải quyết khi nhà trường là một chủ thể, có quyền xem xét lại các ưu tiên, tổ chức lại cơ cấu quản lý, tự đa dạng nguồn thu (bằng cách chia sẻ chi phí cho sinh viên, lập các quĩ tư nhân, tham gia các hoạt động tạo thu nhập khác), tăng năng suất, nâng cao hiệu quả tài chính, phân bổ lại nguồn lực nội bộ…Có nghĩa là Chính phủ giao quyền TCTC cho các trường Đây là xu thế tất yếu khách quan nhằm tạo động lực thúc đẩy các trường phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường và kinh tế tri thức.
Nội dung năng lực tự chủ tài chính của trường đại học
Theo Điều 14 nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của chính phủ và thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC Nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập bao gồm các nguồn thu sau: Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp; nguồn thu từ sự nghiệp; nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật; nguồn khác.
1.1.5.1 Tự chủ về tổ chức, nhân sự
Tổ chứcviệc tuyển dụng cán bộ, viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển
Quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức, ký hợp đồng đối với những người đã được tuyển dụng trên cơ sở đảm bảo đủ tiêu chuẩn cuả ngạch cần tuyển và phù hợp với chức danh.
Quyết định việc biệt phái điều động, nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật thuộc quyền quản lý theo đúng pháp luật.
Quyết định nâng lương đúng thời hạn, trước hạn chuyển ngạch các chức danh tương đương chuyên viên chính trở xuống theo điều kiện và pháp luật.
1.1.5.2 Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
+ Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ).
+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức + Kinh phí thực hiện cácchương trình mục tiêu quốc gia
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác)
+ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao.
+ Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có).
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm.
+ Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Kinh phí khác (nếu có).
1.1.5.3 Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
+ Thu từ hoạt động dịch vụ
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có).
+ Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng. + Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị
Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 16 nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của chính phủ và thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ về thu, mức thu như sau:
- Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách - xã hội theo quy định của nhà nước
- Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận.
- Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắpchi phí và có tích luỹ.
- Năng lựcvề chi của đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo công lập
Các đơn vị sự nghiệp căn cứ nguồn thu để có kế hoạch chi tiêu hợp lý, trên nguyên tắc thu bù chi và có chênh lệch Chi phải đúng luật, đúng đối tượng, triệt để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả chi, đảm bảo mục đích chi tiêu tài chính của đơn vị sự nghiệp Về nội dung chi, thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ và thông tư hướng dẫn bao gồm: a) Chi thường xuyên
Chi thường xuyên gồm tất cả các khoản xảy ra thường xuyên và liên tục hàng năm và được sử dụng hết trong năm đó, không thể dùng lại trong năm sau Chi thường xuyên gồm các khoản chi sau:
- Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao Trong khoản chi này thì chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định.
- Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí.
- Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật) b ) Chi không thường xuyên
Chi không thường xuyên gồm các khoản chi sau:
- Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức
- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.
- Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định.
- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định
- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao
- Chi thực hiện tinh giảnbiên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có).
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài
- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết.
- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có).
Tự chủ trong quản lý tài chính
1.1.6.1 Tự chủ trong quản lý chi tiêu
Yêu cầu chi tiêu tài chính là là các khoản chi của nhà trường phải dựa trên các tiêu chuẩn, định mức khoa học, hợp lý bảo đảm tiết kiệm, chính xác, trung thực, đúng số phát sinh, đúng mục đích, phạm vi chi tiêu và hiệu quả sử dụng; chấp hành nghiêm chế độ tài chính kế toán của Nhà nước và nhà trường qui định. Để tạo sự tự chủ trong chi tiêu thì các trường phải được giao quyền hạn rõ rang trong phân bổ nguồn lực để thực hiện cung cấp dịch vụ công một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Nhưng đi kèm quyền hạn thì cũng phải gắn trách nhiệm cụ thể, có như vậy NSNN và các nguồn lực khác phân bổ và cung cấp cho nhà trường mới được sử dụng hợp lý và hiệu quả Việc cân bằng giữa quyền quản lý và trách nhiệm là vấn đề cốt lõi trong quản lý chi tiêu của các trường đại học.
Các trường được chuyển từ chế độ dự toán sang chế độ tự hạch toán Vì vậy
Nhà nước cần xác định cho các trường đại học công lập là một chủ thể độc lập có quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng Nó phải chịu sự giám sát nội bộ, của nhà nước và xã hội về sứ mạng, chức năng, nhiệm vụ đang theo đuổi có phù hợp với qui luật vận động , nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước hay không Cho nên trong hạch toán chi tiêu tài chính của nhà trường phải bảo đảm tính độc lập và đặc thù trong hoạt động của nhà trường.
Nhà nước nên áp dụng chế độ khoán chi, các trường tự hạch toán theo khuôn khổ cho phép để vừa có hiệu quả vừa thu thêm lợi nhuận tăng thu cho nhà trương Trong năm, các trường được xác định mức chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức theo qui chế chi tiêu nội bộ Được tự chủ trong trích lập các quĩ phát triển hoạt động sự nghiệp, quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi,quĩ dự phòng ổn định thu nhập.
1.1.6.2 Tự chủ trong quản lý tài sản của trường Đó là việc các trường có trách nhiệm quản lý, nâng cao hiệu quả, hiệu suất sử dụng sử dụng tài sản cho việc thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, đồng thời làm tăng nguồn thu cho nhà trường.
Vì vậy trong năng lực TCTC nhà nước cần giao cho các trường quyền tự chủ mua sắm, sử dụng đất đai, tài sản để mở rộng nguồn thu Ví dụ như, việc mua sắm sử dụng tài sản đất đai có sẵn vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ cho thuê, liên doanh liên kết trên nguyên tắc hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước và phải bảo toàn và phát triển vốn, tài sản được giao và quản lý và sử dụng Không quá gò bó vào việc mua sắm theo các thủ tục hành chính; sử dụng đất đai, tài sản theo đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ Điều này góp phần làm giảm lãng phí, nâng cao tinh thần tiết kiệm.
Những tác động của năng lực tự chủ tài chính
Việc ứng dụng năng lực TCTC trong các trường đại học là một tất yếu do yêu cầu phát triển đặt ra Tuy nhiên nó có tác động tới nhà trường.
Nếu năng lực TCTC được xây dựng theo hướng đề cao, tăng cường tính tự chủ, những qui định trong nó phù hợp với qui luật vận động của các phạm trù tài chính kinh tế , xã hội…thì nó tác động tích cực đến nhà trường, bao gồm:
Một là, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường đại học, nó góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Bởi vì các trường muốn giữu vững và nâng cao uy tín, danh tiếng thì phải chú trọng đến các hoạt động của mình
Từ khâu tuyển sinh, chỉ tuyển các sinh viên có đủ trình độ, chất lượng phù hợp với nội dung chương trình đào tạo, không để xảy ra tuyển sinh ồ ạt, chỉ quan tâm đến số lượng.
Trong quá trình đào tạo thúc đẩy các nhà trường đổi mới nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội để thu hút thêm học sinh, sinh viên Muốn tạo ra nguồn thu, các trường phải tích cực, chủ động đa dạng hóa và đổi mới các chương trình đào tạo, hình thức đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Mặt khác năng lực TCTC sẽ khuyến khích và bắt buộc các trường tìm kiếm các hợp đồng đào tạo, NCKH Đặc biệt trong lien doanh liên kết với các trường đại học có uy tín trên thế giới nhằm tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận các nền giáo dục tiên tiến nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cung cấp nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Hai là, thúc đẩy các trường đại học nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích các trường làm tốt nhiệm vụ, sự mạng của mình, giảm được thời gian và chi phí vô ích
Trong năng lực kế hoạch hóa tập trung từ việc nhỏ đến việc lớn đều phải qua các thủ tục hành chính rườm rà phúc tạp Trong năng lực TCTC các trường sẽ năng động, chủ động và sáng tạo hơn trọng mọi nhiệm vụ được giao Giao quyền TCTC sẽ giúp trường năng động, chủ động sáng tạo hơn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ Giao quyền TCTCvà mọi hoạt động đều gắn với trách nhiệm thì các trường sẽ làm việc hiệu quả, năng suất hơn, qua đó làmgiảm chi phí kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện.
Ba là, thúc đẩy tăng thu tiết kiệm chi, nâng cao hiệu quả hoạt động tăng thu nhập cho cán bộ viên chức Điều này góp phần tạo động lực cho cán bộ viên chức nhà trường yên tâm tập trung vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, tăng nguồn thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn và các hợp đồng có tính thương mại….củng cố lòng tin, uy tín của trường, thu hút thêm học sinh, sinh viên, tạo cơ hội liên kết với các cơ sở trong và ngoài nước.
1.2 Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá năng lựctự chủ tài chính của các trường đại họccông lập
Các tiêu chí đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các trường đại học công lập
Để đo lườngphản ánh chất lượng, tác động của năng lực TCTC đối với trường đại học công lập phải dựa trên các tiêu chí cả định tính và định lượng, bao gồm:
- Tính hiệu lực, đó là: năng lực TCTC phải có giá trị thi hành trên thực tế, có nghĩa nó phải bảo đảm tính hợppháp, tính đồng bộ (không có sự chồng chéo, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật hiện hành), tính toàn diện (đầy đủ các qui định cần thiết), tính phù hợp (thể hiện độ tương thích với trình độ phát triển kinh tế xã hội)
Suy cho cùng, hiệu lực của năng lực TCTC được thể hiện khi nó đạt được tính khả thi Đây là thước đo thực tế của năng lực TCTC.
Như vậy, các qui định, qui trình, thủ tục, hồ sơ liên quan tới việc thực hiện quyền TCTC của trường đại học trong năng lực TCTC phải có tính minh bạch, công khai, rõ ràng, logic và thống nhất với nhau để tạo thành một chỉnh thể Các điều kiện áp dụng quyền TCTC vào thực tế phải dễ dàng không tạo ra năng lực “xin - cho”
Hay năng lực TCTC phải tạo ra một khung pháp lý hoàn chỉnh cho trường đại học và dựa vào đó để chủ động tổ chức các hoạt động tài chính của mình một cách hiệu quả, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ, sứ mạng của trường đại học Vì vậy năng lực TCTC phải có các chỉ tiêu định lượng, định tính mà bao hàm được hết các hoạt động của trường trong quá trình tạo lập và sử dụng nguồn thu
- Tính hiệu quả: Hiệu quả của năng lực được đo lường qua 2 khía cạnh là lợi ích và chi phí Một năng lực được coi là hiệu quả khi nó đáp ứng được mong muốn của chủ thể ban hành và đạt được mục tiêu là tác động đến các quan hệ theo hướng tích cực với một mức chi phí thấp nhất Tính hiệu quả là một chỉ tiêu quan trọng để phản ánh kết quả của năng lực TCTC đem lại so với thời kỳ chưa áp dụng năng lực TCTC cho trường đại học Nó thể hiện sự tăng giảm các chỉ tiêu có liên quan tới tài chính như sự tiết kiệm chi phí, hay lợi ích mang lại cao hơn chi phí bỏ ra, hay sự phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
- Tính linh hoạt:Tính linh hoạt trong năng lực TCTC là những qui định có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh tế xã hội, xu hướng phát triển của thị trường giáo dục đại học trong nước và quốc tế Cho phép trường tự do lựa chọn, tìm kiếm sử dụng các nguồn kinh phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong ngắn hạn và dài hạn của trường.
- Tính công bằng: Những qui định trong năng lực TCTC phải tạo ra sự công bằng giữa quyền tự chủ và trách nhiệm đi kèm Trong đó trách nhiệm của trường đại học là trách nhiệm đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động, công chúng nói chung và nhà nước Nó bao gồm việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, mang lại sự hài long cho sinh viên, cộng đồng Các thông tin tài chính phải được công khai, minh bạch Tuy nhiên, các qui định cũng cần đảm bảo sự hài hòa giữa quyền hạn và trách nhiệm, phải cân bằng giữa chi phí và lợi ích mang lại.
- Tính ràng buộc về mặt tổ chức: để đảm bảo tính hiệu quả thì các qui định trong năng lực TCTC phải phù hợp với luật pháp hiện hành Ngoài ra nó cần sự hỗ trợ về mặt hành chính để thực hiện các qui định về quyền TCTC của các trường trong thực tiễn, Tính ràng buộc về mặt tổ chức của năng lực TCTC còn thể hiện ở chỗ, nó thúc đẩy các trường tìm nguồn lực tài chính ngoài ngân sách, ví dụ như hiến tặng là một hình thức còn khá xa lạ ở Việt Nam Năng lực TCTC thành công hay không còn phụ thuộc vào mức độ cộng đồng thừa nhận nó như thế nào.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tự chủ tài chính
Để đánh giánăng lực TCTC, luận văn sử dụng hệ thống các chỉ tiêu định lượng sau: Qui mô, cơ cấu nguồn thu chi hàng năm; hiệu quả sử dụng vốn NSNN; thu nhập tăng thêm của CBVC; suất đầu tư cho 1 SV; cơ cấu tỷ lệ giảng viên trên sinh viên; số bài báo, công trình NCKH hàng năm của trường…
- Trong đó qui mô nguồn thu chi phản ánh năng lực tài chính của trường trong quá trình hoạt động Nếu qui mô nguồn thu chi càng lớn thì chứng tỏ trường càng có năng lực về tài chính và có nhiều hoạt động khác nhau
- Cơ cấu nguồn thu là tỷ lệ từng nguồn thu trong tổng nguồn thu, bao gồm: nguồn ngân sách, học phí, dịch vụ, NCKH, tài trợ, từ thiện…cơ cấu nguồn thu cho biết khả năng TCTC của trường, bởi vì nguồn thu càng đa dạng thì khả năng tự TCTC càng cao.Tỷ lệ nguồn thu cho biết nhà trường đang hoạt động dựa vào nguồn tài chính chủ yếu nào là chủ yếu và nó cũng cho biết trong điều kiện khả năng cụ thể trường nên tìm giải pháp tăng thu từ nguồn nào.
- Cơ cấu nguồn chi là tỷ lệ các mục chi (như chi lương, tiền công, thu nhập tăng thêm, điện, nước, xăng dầu, mua vật tư, dụng cụ thí nghiệm thực hành, tài liệu, chi đầu tư phát triển, NCKH…) so với tổng nguồn chi hoạt động trong năm của trường Cơ cấu nguồn chi cho biết khả năng tiết kiệm và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí trong năm của trường.
- Hiệu quả sử dụng vốn NSNN, tỷ số này dùng để đo lường một đồng vốn ngân sách được đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập cho nhà trường Nói cách khác chỉ số này cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng vốn NSNN của từng trường Công thức tính:
R NS = Tổng nguồn thu thuần
- Diện tích đất đai, mặt bằng, mặt sàn, thiết bị nhà xưởng…trên 1 sinh viên Đây là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của trường Nếu có sự thiếu hụt hoặc không đáp ứng nhu cầu về CSVC thì sẽ hạn chế việc bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo Các chỉ tiêu đánh giá gồm 1) diện tích đất đai, hạ tầng cơ sở kỹ thuật như giao thông, hạ tầng công nghệ thông tin 2) Nhà cửa, công trình kiến trúc như giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thư viện… 3) Diện tích mặt bằng, công trình phục vụ và các tiện ích khác như sân thể thao, trạm xá, ký túc xá… 4) Trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập, NCKH như thư viện, máy tính, máy chiếu, phần mềm, thiết bị chuyên ngành, thiết bị phục vụ công tác quản lý, quản trị, điều hành…
- Thu nhập tăng thêm của CBVC cho biết khả năng bảo đảm, chăm lo của nhà trường tới cán bộ, giảng viên, nhân viên Điều này cho thấy hiệu quả các hoạt động, khả năng huy động CBVC để thực hiện nhiệm vụ, theo đuổi sứ mạng của nhà trường trong tương lai Nó cũng nói nên sự đóng góp, yên tâm công tác và cống hiến của CBVC nhà trường.
- Suất đầu tư cho 1 sinh viên, phản ánh số tiền ngân sách và tổng số tiền chi phí trong năm nhà trường bỏ ra để đào tạo 1 sinh viên Suất đầu tư càng cao thì càng có khả năng nâng cao chất lượng đào tạo Công thức tính:
Suất đầu tư = Tổng chi phí trong năm
(1.2) Tổng sinh viên đào tạo bình quân năm
- Chênh lệchthu chi trên tổng nguồn thu (RCL), chỉ tiêu này cho biết trong 1 đồng nguồn thu thuần có bao nhiêu phần trăm chênh lệch thu chi
Sự biến động của chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về hiệu quả chiến lược đào tạo, NCKH, quản lý mà trường đang thực hiện Công thức tính:
R CL = Chênh lệch thu chi trong năm x 100 (1.3)
- Tỷ lệ GV/SV, nó là tổng số giáo viên cơ hữu đã qui đổi trên tổng số sinh viên đã qui đổi Nếu tỷ lệ càng lớn thì nhà trường càng có khả năng nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH.
- Số lượng, chất lượng các bài báo khoa học, các công trình NCKH: nó cho biết khả năng, uy tín của nhà trường trước người học và xã hội.
Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính tại Trường Đại học công lập
Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, quy mô, lĩnh vực hoạt động và nhiệm vụ được giao hàng năm của đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập
Các đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập khó có thể thực hiện được tự chủ tài chính trong điều kiện cơ sở vật chất hạn chế Mặt khác quy mô mỗi trường cũng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của trường như việc xác định hình thức và phương thức huy động vốn các nguồn tài chính cho giáo dục – đào tạo hay phân phối chênh lệch thu chi hàng năm của mỗi trường Với các đơn vị có quy mô lớn, lượng vốn lớn họ dễ dàng trong việc đầu tư năngcấp thiết bị, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, cải cach tiền lương Ngược lại, quy mô nhỏ sẽ khó khăn trong việc trang bị những thiết bị hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn giáo viên từ đó gặp khó khăn trong nâng cao chất lượng giảng dạy.
Tùy từng lĩnh vực mà đơn vị sự nghiệp giáo dục- đào tạo công lập có năng lựctài chính kèm theo nó cũng khác nhau Đối với các trường thuộc các lĩnh vực như tự nhiên, kỹ thuật, nông lâm thì chi phí thực hành, thí nghiệm, trang thiết bị cơ sở vật chất sẽ cao hơn so với các trường thuộc lĩnh vực khác.
Bên cạnh đó, mỗi đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo công lập đều được giao những nhiệm vụ cụ thể Các đơn vị phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài…Nhiệm vụ đó chi phối mọi hoạt động của đơn vị sự nghiệp trong đó có hoạt động tài chính ( nội dung và phạm vi nguồn thu, nhiệm vụ chi của các đơn vị là khác nhau )
Thứ hai, sự nhận thức của đơn vị về tự chủ tài chính và trình độ của người quản lý trong đơn vị
Việc thực hiện năng lực tử chủ nói chung và năng lực tử chủ tài chính nói riêng phải thực sự đem lại lợi ích cho người lao động Một khi cán bộ công nhân viên chức nhận thức được vấn đề đó thì hiệu quả công việc sẽ đem lại thực sự Bởi vì, lợi ích luôn là động lực để làm việc.
Nănglựcquản lý tài chính sẽ có hiệu quả hay hạn chế sự phát triển của đơn vị tùy thuộc vào năng lực , trình độ của người vận dụng nó Họ chính là những người đề ra nănglực tử chủ tài chính Mặt khác, đối với đơn vị việc thực hiện năng lực tử chủ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người lãnh đạo, người làm công tác quản lý tài chính.
Nhân tố khách quan
Thứ nhất, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục đào tạo
Nănglựctự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia Do đó, các đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo công lập khi xây dựng nănglựctự chủ tài chính của đơn vị mình phải căn cứ vào chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước và đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến hoạt động tự chủ tài chính của nhà trường Trong từng giai đoạn nhất định, Nhà nước đưa ra các chủ trương, chính sách tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp phù hợp với yêu cầu đổi mới và tình hình phát triển kinh tế của đất nước, theo đó mà năng lực tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập cũng có những thay đổi đáng kể
Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách chi tiêu công cho giáo dục đại học và cao đẳng là các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập Trước hết, Bộ giáo dục và đào tạo có định hướng xây dựng một nền giáo dục đại học đại chúng tích hợp vào nền giáo dục học suốt đời Cơ cấu trình độ phải tường minh và phù hợp với mô hình phổ biến nhất của thế giới, dễ thực hiện sự liên thông giữa các cấp bậc học và các loại hình đào tạo trong nước và quốc tế Có mạng lưới đa dạngcác loại hình trường về chức năng và kiểu sở hữu, bảo đảm thực hiện chương trình đào tạo và bồi dưỡng sau trung học đa giai đoạn và đa dạng Năng lựcquản lý dựa trên quyền tự chủ và trách nhiệm của xã hội và nhà trường, một chính sách tài chính bảo đảm đầu tư, kích thích tính cạnh tranh lành mạnh và huy động được tối đa các nguồn lực công và tư Vì vậy, năng lực tự chủ tài chính tại các đơn vị cũng phải có sự thay đổi thích ứng trong từng giai đoạn cụ thể để thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, tính công bằng trong các trường đại học.
Quy mô các trường đại học và cao đẳng ngày càng tăng là một xu hướng tất yếu, nhưng chi phí công cũng như các nguồn lực cung cấp cho phát triển nhà trường không tăng tương ứng Điều này kìm hãm chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng Đây là bài toán khó không chỉ đối với riêng lẻ các trường đại học và cao đẳng mà là vấn đề mang tính toàn cầu Có nhiều giải pháp đổi mới chính sách quản lý giáo dục, trong đó có giải pháp đổi mới năng lực quản lý tài chính tại các trường đại học và cao đẳng là từng bước trao quyền tự chủ tài chính cho nhà trường đã được triển khai để nâng cao chất lượng giáo dục.