BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VŨ QUỐC ÂN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN VÀ NÔNG NGHIỆP NAM BỘ LUẬN VĂN TH[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ 21, sự toàn cầu hóa và công nghệ thông tin đã tạo ra những thách thức và cơ hội mới cho giáo dục đại học và cao đẳng Chất lượng giáo dục, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội Khi các quốc gia ngày càng công nhận bằng cấp và chương trình đào tạo lẫn nhau, việc đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng trở nên vô cùng quan trọng.
Trong những thập niên gần đây, hệ thống giáo dục đại học toàn cầu đã trải qua những biến đổi sâu sắc về quy mô, cơ cấu và loại hình đào tạo Xu hướng hiện nay là tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội Các mô hình đào tạo, mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp dạy học cũng đang được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn.
Trong những thập kỷ gần đây, số lượng người học đại học và cao đẳng, cũng như số lượng cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng mới, đã tăng nhanh chóng Sự bùng nổ này không chỉ tạo ra quy mô đào tạo lớn mà còn gây áp lực lớn cho các chính phủ trong việc quản lý và cấp phát tài chính cho giáo dục.
Giáo dục đại học và cao đẳng Việt Nam đang hội nhập với các nền giáo dục quốc tế, đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng người học và cơ sở giáo dục mới Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, yêu cầu các trường phải cải tiến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, đồng thời nâng cao đời sống cho giảng viên để thu hút nhân lực chất lượng cao Nguồn tài chính cho giáo dục đến từ ba nguồn: đầu tư của Nhà nước, đóng góp của người học và xã hội Tuy nhiên, chính sách tài chính chưa hợp lý đã dẫn đến sự sụt giảm giá trị thực của kinh phí đầu tư cho đào tạo Trong khi đó, chi phí sinh hoạt và giá cả thị trường liên tục tăng, gây khó khăn cho các trường trong việc cân đối ngân sách, với mức học phí chỉ tăng từ 180.000 đồng năm 1998 lên 240.000 đồng năm 2010.
Các Trường ĐH, CĐ công lập Việt Nam hiện đang đối mặt với tình trạng kinh phí đào tạo không đủ do mức tăng 1,25 lần không bù đắp được chi phí thực tế, trong khi ngân sách nhà nước dành cho các trường hầu như không tăng Điều này dẫn đến nguy cơ thiếu hụt kinh phí cho các hoạt động của trường, ảnh hưởng đến chất lượng và quy mô đào tạo Để đối phó với tình hình này, các trường buộc phải tìm kiếm nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo tài chính cho hoạt động và phát triển.
Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ là Trường trực thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trường là đơn vị sự nghiệp có thu, sau năm năm thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của
Chính phủ đã quy định quyền tự chủ và trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Trường đã có nhiều chuyển biến tích cực, với bộ máy quản lý được tổ chức hợp lý và gọn nhẹ hơn Đội ngũ giảng viên đã tăng đáng kể về số lượng và chất lượng, đảm bảo tỷ lệ sinh viên/giảng viên theo quy định Quy mô tuyển sinh cũng tăng, đa dạng hóa ngành nghề và loại hình đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội, đặc biệt là khu vực ĐBSCL Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, Trường đã chủ động tạo nguồn thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ và nghiên cứu khoa học, nhằm tăng thu nhập cho cán bộ công chức và đầu tư phát triển sự nghiệp.
Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ đã phát huy vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập trong đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng dịch vụ công Tuy nhiên, trường đang đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm và quản lý nguồn thu, cần phải sử dụng hiệu quả các nguồn thu này để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức trong bối cảnh giáo dục đại học và cao đẳng hiện nay.
Nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ” nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý tài chính tại trường Mục tiêu là đưa ra các giải pháp cải thiện khả năng tự chủ tài chính, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và chiến lược phát triển của đơn vị.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Trường Cao đẳng
Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Nhà trường.
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu và các Trường Đại học, Cao đẳng công lập là rất cần thiết Việc hiểu rõ cơ chế này giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần đề xuất các giải pháp cải tiến nhằm tối ưu hóa hoạt động tài chính, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu giáo dục và phát triển bền vững của các cơ sở giáo dục công lập.
- Phản ánh, đánh giá thực trạng về tình hình quản lý tài chính tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ, bao gồm:
* Đưa ra bức tranh toàn cảnh về tình hình khai thác và sử dụng các nguồn tài chính tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ
* Rút ra ưu, nhược điểm, những khó khăn cũng như thuận lợi trong việc quản lý tài chính của Nhà trường
* Nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tự chủ tài chính của Nhà trường
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ.
Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính và quản lý tài chính trong đào tạo ĐH, CĐ
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề quản lý tài chính trong đào tạo ĐH, CĐ
Bài viết này sẽ trình bày bức tranh tổng quan về quản lý tài chính tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính của trường.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP
Quản lý tài chính Trường ĐH, CĐ
1.1.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Chính phủ các nước nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục đào tạo và luôn chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này, đặc biệt là giáo dục đại học.
Trước tình hình thiếu hụt nguồn lực, đặc biệt là tài chính, để phát triển giáo dục đại học, việc huy động các nguồn tài chính bên ngoài trở nên cần thiết.
NSNN thể hiện qua các hình thức như: đóng góp học phí từ cha mẹ sinh viên, phát triển khu vực giáo dục đại học tư nhân, và các hình thức khác.
Trường đại học tự tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động dịch vụ đào tạo và
Hỗ trợ tài chính từ các nguồn tư nhân cho giáo dục đại học là một biện pháp phổ biến trên toàn cầu, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
NSNN và giải quyết bài toán về nhu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay
Từ những năm 80 của thế kỷ trước, Mỹ đã chú trọng đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Ngân sách đầu tư cho giáo dục của Mỹ đã tăng đáng kể, từ khoảng 300 tỉ USD vào năm 1985 lên 653 tỉ USD vào năm 1999 Hiện nay, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục chiếm khoảng 7% GDP, với tổng chi tiêu hàng năm cho giáo dục đào tạo xấp xỉ 1.000 tỉ USD, trong đó giáo dục đại học chiếm hơn 700 tỉ USD.
Tại Mỹ, thu học phí từ sinh viên là giải pháp chính để chia sẻ chi phí giáo dục đại học Học phí được tính toán nhằm bù đắp cho các chi phí hoạt động của trường và ảnh hưởng của lạm phát Do đó, mức học phí tại các trường đại học thường có xu hướng tăng lên.
Mỹ hiện có khoảng 3.900 trường đại học, bao gồm hơn 1.800 trường tư và hơn 1.800 trường công lập Các trường tư thục thường có tiêu chuẩn cao và chủ yếu tuyển sinh viên từ tầng lớp thượng lưu, nhưng cũng có những trường dành cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.
Các trường đại học tư thục danh tiếng như Harvard, Yale, Columbia và Stanford đã sản sinh ra nhiều nhân tài xuất sắc cho nước Mỹ và toàn cầu Tuy nhiên, học phí hàng năm tại những trường này rất cao, khoảng
Các công ty Mỹ rất chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, với khoảng 150 tỉ USD được đầu tư hàng năm cho giáo dục đại học Điều này cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của thị trường đối với các trường đại học tại Mỹ.
Trường có mối quan hệ phong phú với thị trường thông qua các doanh nghiệp, nhận được sự đầu tư mạnh mẽ từ họ Sự cạnh tranh trong việc giành hợp đồng nghiên cứu khoa học, dịch vụ tư vấn và đào tạo nhân lực chất lượng cao là những yếu tố quan trọng trong mối liên kết này.
(Nguồn: Tạp chí Cộng Sản 9- 2011)
Trong cơ chế quản lý tài chính tập trung, việc phân bổ ngân sách theo tiêu chuẩn định sẵn đã hạn chế khả năng sáng tạo và ngăn cản sự đổi mới của Nhà trường Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến thiết kế chương trình và khả năng tham gia của các nhà giáo dục Do đó, các nhà kinh tế học Hoa Kỳ cần thực hiện cải cách giáo dục cơ bản với hai chiến lược: quản lý tài chính và nâng cao hiệu quả chi phí cùng chất lượng.
Nghiên cứu về Trường tư cho thấy rằng việc tập trung hóa trong bốn lĩnh vực: Quyền lực, thông tin, tri thức và kinh phí, sẽ nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo Nhà trường có quyền tự chủ trong việc phân bổ nguồn tài chính một cách hợp lý.
Khi các Trường đại học công lập được trao quyền tự chủ tài chính, các nhà quản lý địa phương vẫn giữ quyền kiểm soát chi phí như nhà cửa, lương giảng viên và các khoản mua sắm ban đầu Họ cũng cung cấp danh mục trang thiết bị chất lượng mà Nhà trường phải tuân theo.
Các chuyên gia quản lý tài chính địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các Trường Đại học trong quá trình tự chủ tài chính Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến việc một số Trường thuê giảng viên ít kinh nghiệm hoặc cho giảng viên làm thêm giờ nhằm giảm chi phí, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và hiệu quả đào tạo Để thực hiện tự chủ tài chính hiệu quả, các Trường Đại học công lập cần được trao quyền hạn phù hợp.
Nhà trường cần tự chủ trong việc tuyển chọn đội ngũ giảng viên, quyết định thời gian làm việc của các tổ chuyên môn và phân công lao động một cách hợp lý để nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn.
- Quản lý các khoản chi tiêu cho giảng viên và các phương tiện sử dụng trong Nhà trường
Các nhân tố cơ bản tác động đến quản lý tài chính ở Trường ĐH, CĐ công lập
Trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục và nâng cao năng lực tự chủ tài chính của các Trường ĐH, CĐ công lập, việc quản lý tài chính phù hợp với điều kiện cụ thể của từng Trường là rất quan trọng Hoạt động này không chỉ khuyến khích sự phát triển mà còn tạo cơ sở vững chắc cho các Trường Để quản lý tài chính hiệu quả, cần xem xét tác động của nhiều nhân tố khác nhau, từ quy mô đến tính chất của từng Trường.
1.2.1 Các nhân tố bên ngoài
1.2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá
Những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và chính sách chi tiêu công cho giáo dục đại học, cao đẳng đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống tài chính giáo dục Sự xuất hiện của nền giáo dục đại học, cao đẳng đại chúng đã dẫn đến việc điều chỉnh môi trường chính sách giáo dục, ngày càng gắn kết với cấu trúc kinh tế - xã hội Các yếu tố trước đây phù hợp với yêu cầu quản lý của các trường giờ đây không còn hiệu quả, đòi hỏi cải cách và đổi mới Mục tiêu chính của những cải cách này là nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường sự thích ứng và đảm bảo tính công bằng trong các trường.
Yếu tố lao động và việc làm cũng đang có những thay đổi quan trọng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, nhu cầu về lực lượng lao động đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng.
Trước đây chủ yếu đòi hỏi một đội ngũ lao động phải được đào tạo trong các
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, nhu cầu về lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ Đại học và Cao đẳng ngày càng gia tăng Để đáp ứng yêu cầu học tập của xã hội, hệ thống giáo dục Đại học và Cao đẳng ở hầu hết các quốc gia đã mở rộng quy mô, thu hút ngày càng nhiều sinh viên Kết quả là, số lượng các cơ sở đào tạo Đại học ngày càng tăng và mạng lưới các trường trở nên đa dạng hơn.
Sự gia tăng quy mô sinh viên và số lượng các Trường Đại học, Cao đẳng không đi kèm với sự tăng trưởng tương ứng về chi phí công và nguồn lực phát triển Điều này dẫn đến những bất cập và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục tại các Trường Đại học và Cao đẳng.
Để ngăn chặn sự suy giảm chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng, nhiều giải pháp đổi mới trong tổ chức và quản lý đã được áp dụng Hiện nay, việc nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của từng hệ thống đại học, cao đẳng mà đã trở thành mối quan tâm toàn cầu của tất cả các quốc gia.
Mục tiêu của việc đổi mới chính sách quản lý đại học và cao đẳng, bao gồm cải cách hệ thống tài chính giáo dục, là nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các trường Đồng thời, quá trình này cũng hướng tới việc từng bước trao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở giáo dục.
1.2.1.2 Chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước đối với giáo dục đào tạo ở các Trường ĐH, CĐ công lập Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định tới hoạt động quản lý tài chính của các Trường, cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp có thu là một bộ phận của chính sách tài chính quốc gia, nó là căn cứ để các
Trường Đại học cần xây dựng cơ chế quản lý tài chính độc lập Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà Nước hỗ trợ tính chủ động và sáng tạo của các Trường Đại học, điều này sẽ thúc đẩy hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của từng Trường.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà Nước quản lý hầu hết các dịch vụ xã hội, bao gồm giáo dục - đào tạo Các trường ĐH, CĐ được cấp toàn bộ kinh phí từ ngân sách nhà nước, và việc sử dụng nguồn kinh phí này hoàn toàn theo quy định của Nhà Nước Mặc dù mọi người dân đều có cơ hội học tập, nhưng do ngân sách nhà nước hạn hẹp, Nhà Nước không thể đáp ứng nhu cầu học tập của toàn xã hội về cả quy mô lẫn chất lượng giáo dục.
Việc chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội và văn hóa Lĩnh vực giáo dục cũng đã có những thay đổi rõ rệt, hướng tới xã hội hóa sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nhằm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước Hiện nay, chính sách tài chính trong giáo dục - đào tạo đối với các trường đại học công lập đang được đổi mới theo hướng tích cực.
- Tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho Nhà trường
- Tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà Nước và đầu tư cho giáo dục-đào tạo
- Sắp xếp bộ máy và tổ chức lao động hợp lý
- Tăng thu nhập cho cán bộ viên chức và người lao động
1.2.2.1 Chế độ chính sách của Nhà trường và quy mô, bộ máy quản lý tài chính của Trường ĐH, CĐ công lập
Các Trường công lập và dân lập cần xây dựng cơ chế quản lý tài chính phù hợp với chính sách của Nhà Nước Tùy thuộc vào quy mô, mỗi Trường sẽ điều chỉnh các quan hệ tài chính như huy động nguồn tài chính và phân phối chênh lệch thu - chi hàng năm Các Trường có quy mô lớn và nguồn vốn dồi dào sẽ dễ dàng đầu tư nâng cấp trang thiết bị, cải thiện trình độ giáo viên và chất lượng sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.
Mặc dù bộ máy quản lý lớn có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng dẫn đến sự kém linh hoạt và chi phí cao trong quản lý Ngược lại, các trường có quy mô nhỏ thường dễ dàng thích ứng với những thay đổi về cơ chế, chính sách và tổ chức bộ máy.
Việc trang bị trang thiết bị hiện đại và nâng cao trình độ giáo viên gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thách thức trong việc cải thiện chất lượng giảng dạy.
1.2.2.2 Nhiệm vụ, mục tiêu, xu hướng vận động phát triển của Trường ĐH,
CĐ công lập và những vấn đề mới đặt ra trong việc quản lý tài chính, nguồn tài chính ở Nhà trường
Trong bối cảnh hiện đại, giáo dục đại học và cao đẳng đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức lớn, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo Để đáp ứng các yêu cầu này, giáo dục đại học và cao đẳng tại Việt Nam cần thực hiện các cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng về mục tiêu và xu hướng phát triển.
- Xu hướng đại chúng hoá: chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng và phổ cập
Những so sánh về tình hình tài chính chi cho giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng của Việt Nam so với thế giới
chung và giáo dục đại học nói riêng của Việt Nam so với thế giới
1.3.1 Chi phí hàng năm cho giáo dục tính theo sức mua tương đương
Phân tích số liệu thống kê chi phí hàng năm cho giáo dục theo sức mua tương đương cho thấy rằng chi phí giáo dục bình quân cho mỗi học sinh, sinh viên ở Mỹ là cao nhất, đạt 12.023 USD trong năm học 2002/2003.
USD/học sinh, sinh viên/năm), gấp hơn 16 lần Việt Nam (năm 2006 chi cho 1 học sinh, sinh viên ở Việt Nam là 723 USD theo sức mua tương đương), ở
Pháp là 7.807 USD (gấp hơn 11 lần Việt Nam), ở Thái Lan là 3.170 USD,
Malaysia là 3.031 USD (gấp hơn 4 lần Việt Nam) Số liệu được tổng hợp trong biểu sau:
Biểu 1.5: Chi phí hàng năm cho giáo dục tính theo sức mua tương đương
(Dola Mỹ theo sức mua tương đương)
Cao hơn so với Việt Nam
Nhóm các nước phát triển
Nhóm các nước mới p.triển
(Nguồn: http://www.uis.unesco.org/publications/wei 2006, 2007; UNESCO Institute for Statististics)
1.3.2 Tỷ lệ chi của Nhà Nước và người dân cho đại học và sau đại học
Tỷ lệ chi cho giáo dục đại học và sau đại học giữa Nhà Nước và người dân ở 8 nước phát triển có sự chênh lệch rõ rệt, với Nhà Nước chiếm 75,7% và người dân chỉ chi trả 24,3% vào năm 2004.
Nhà Nước cao hơn tỷ lệ bình quân, đó là: Đức 86,4%, Pháp 83,9%, Hungary:
Theo khảo sát, 79% các nước phát triển có tỷ lệ chi từ Nhà Nước thấp hơn mức bình quân Cụ thể, Mỹ chi 35,4%, Hàn Quốc 21%, Nhật Bản 41,2%, Úc 47,2% và Anh 69,6% Trong số 4 nước mới phát triển được khảo sát (Chi Lê, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia), tỷ lệ chi bình quân của Nhà Nước là 55,2%, trong khi người dân chi trả 44,8% Đáng chú ý, Ấn Độ có tỷ lệ chi từ Nhà Nước cao nhất với 86,1%, tiếp theo là Thái Lan với 67,5%.
Tỷ lệ chi cho giáo dục đại học của Nhà Nước ở Việt Nam năm 2006 là 63,3%, trong khi người dân chỉ chiếm 36,7% So với các quốc gia khác, Chi Lê có tỷ lệ chi thấp hơn với 15,5% và Indonesia là 43,8% Tỷ lệ chi của Việt Nam tương đương với Thái Lan, cao hơn mức trung bình của các nước mới phát triển, nhưng vẫn thấp hơn so với các nước phát triển Số liệu chi tiết được trình bày trong biểu đồ kèm theo.
Biểu 1.6: Tỷ lệ chi của Nhà Nước và người dân cho đại học và sau đại học
Tên nước Nhà Nước trả
Người học trả (%) Nhóm nước phát triển (OECD)
Tỷ lệ bình quân nhóm nước phát triển 75,7 24,3
Nhóm nước mới phát triển Ấn Độ 86,1 13,9
Tỷ lệ bình quân nhóm nước mới phát triển
( Nguồn: UNESCO/UIS WEI và OECD countries, OECD, 2007)
1.3.3 Chi NSNN cho giáo dục so với GDP
Số liệu được tổng hợp trong biểu sau:
Biểu 1.7: Chi ngân sách Nhà Nước cho giáo dục
Tỷ lệ chi cho giáo dục đào tạo trong GDP (%)
Nhóm nước phát triển (OECD) Úc 2004 4,8
Tỷ lệ bình quân của nhóm nước phát triển 2004 5,4
Nhóm nước mới phát triển
Tỷ lệ bình quân của nhóm nước mới phát triển 2004 3,9
(Nguồn: UNESCO/UIS WEI và OECD countries, OECD, 2007)
Chi cho giáo dục và đào tạo ở 8 nước phát triển (Úc, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Hungary) dao động từ 3,6% đến 5,8% so với GDP, với Pháp dẫn đầu ở mức 5,8% và Hungary có tỷ lệ thấp nhất.
Nhật Bản có tỷ lệ chi cho giáo dục là 3,6% GDP, trong khi Anh và Mỹ đều đạt 5,3% GDP Tỷ lệ bình quân chi cho giáo dục ở các nước phát triển là 5,4% GDP Đối với nhóm 7 nước mới phát triển gồm Chi Lê, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Jamaica, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục có sự khác biệt đáng kể.
0,9% GDP ở Indonesia đến 6,2% GDP ở Malaysia Tỷ lệ bình quân của nhóm nước này là 3,9% GDP
Việt Nam có tỷ lệ chi tiêu của Nhà Nước cho giáo dục đào tạo đạt 5,6% GDP, cao hơn so với nhiều quốc gia phát triển và mới phát triển Trong nhóm các nước phát triển, Việt Nam chỉ đứng sau Pháp, và trong nhóm các nước mới phát triển, chỉ thấp hơn Malaysia.
1.3.4 Tổng chi xã hội cho giáo dục
So sánh tổng chi cho giáo dục của xã hội, bao gồm chi từ ngân sách nhà nước và chi từ người dân, với GDP ở một số quốc gia cho thấy Mỹ có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất với 7,4% GDP, trong khi Nhật Bản có tỷ lệ thấp nhất với 4,8% GDP Hàn Quốc nằm ở giữa hai quốc gia này.
Tỷ lệ GDP của Việt Nam đạt 7,2%, trong khi Pháp là 6,1% Một số quốc gia, mặc dù có tỷ lệ chi ngân sách nhà nước không cao, nhưng lại có tỷ lệ tổng chi xã hội cho giáo dục cao, cho thấy người dân ở những nước này chi tiêu nhiều cho giáo dục, như Hàn Quốc và Mỹ Tỷ lệ tổng chi cho giáo dục so với GDP bình quân ở nhóm các nước phát triển là 5,7%, trong khi chi tiêu tư nhân cho giáo dục chiếm 0,3% GDP.
Phân tích cho thấy, trong nhóm các nước mới phát triển, Chi Lê chi cho giáo dục 6,4% GDP, trong khi Indonesia chỉ chi 1,5% GDP.
Philippines có tỷ lệ chi của người dân cho giáo dục khá cao, tương ứng là
Tỷ lệ chi cho giáo dục của Việt Nam là 2,9% GDP, trong khi đó tỷ lệ chi của các nước mới phát triển trung bình là 5,3% GDP Đặc biệt, người dân Việt Nam chi cho giáo dục ở mức 1,9% GDP, thấp hơn mức trung bình 1,4% GDP của nhóm các nước này.
Tổng hợp các so sánh Việt Nam với nhóm các nước phát triển và mới phát triển trong biểu sau:
Biểu 1.8: Đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam so với các nước phát triển và mới phát triển Đại học
Nhà Nước chi GDĐT/ GDP Dân chi GDĐT/ GDP
1.1 Nhà Nước chi bình quân
- Nước thấp nhất Hàn Quốc
- Nước cao nhất Hàn Quốc
2 Các nước mới phát triển
2.1 Nhà Nước chi bình quân
- Nước cao nhất Ấn Độ
- Nước thấp nhất Chi Lê
- Nước cao nhất Chi Lê
- Nước thấp nhất Ấn Độ
(Nguồn: UNESCO/UIS WEI và OECD countries, OECD, 2007)
Việt Nam có tỷ lệ tổng chi xã hội cho giáo dục trong GDP đạt 7,2%, cao hơn mức trung bình của các nước phát triển (5,7%) và các nước mới phát triển (5,3%).
Chi tiêu cho giáo dục của Việt Nam đạt 5,6% GDP, vượt qua mức trung bình của các nước phát triển (5,4%) và các nước mới phát triển (3,9%) Tỷ lệ chi tiêu của người dân cho giáo dục/GDP ở Việt Nam là 1,6%, cao hơn mức trung bình của các nước mới phát triển (1,4%) và các nước phát triển (0,3%), nhưng vẫn thấp hơn một số quốc gia như Chi Lê (2,9%) và Philippines (1,9%).
Tuy nhiên do tổng GDP của Việt Nam thấp hơn so với các nước khác nên suất đầu tư cho giáo dục còn hạn chế.
Những đổi mới cơ chế tài chính của các Trường ĐH, CĐ công lập ở nước ta hiện nay
1.4.1 Về cơ chế tài chính
Cơ chế quản lý tài chính của các Trường ĐH, CĐ công lập hiện nay đang thực theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
Quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và quản lý tài chính.
1.4.1.1 Khái niệm và phân loại về tự chủ tài chính
Tự chủ tài chính là khái niệm liên quan đến việc được giao khoán kinh phí, có quyền khai thác các nguồn tài chính theo quy định của pháp luật, và sử dụng các kết quả tài chính theo quy định hiện hành.
- Phân loại tự chủ tài chính:
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, (số thu >0% số chi)
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách Nhà Nước cấp, (số thu >10% -
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, với kinh phí hoạt động thường xuyên được ngân sách Nhà Nước đảm bảo toàn bộ, khi số thu chỉ chiếm dưới 10% số chi.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp sẽ được duy trì trong 3 năm, sau đó sẽ tiến hành xem xét và phân loại lại để đảm bảo tính phù hợp.
1.4.1.2 Mục tiêu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp giúp họ tổ chức công việc hiệu quả, sắp xếp bộ máy hợp lý và sử dụng nguồn lực tài chính một cách tối ưu Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho xã hội mà còn tăng nguồn thu, từ đó cải thiện thu nhập cho người lao động.
Chủ trương xã hội hoá trong cung cấp dịch vụ cho xã hội nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, từ đó phát triển các hoạt động sự nghiệp và giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà Nước.
Nhà nước khuyến khích quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp, đồng thời tiếp tục đầu tư để phát triển hoạt động sự nghiệp Điều này nhằm đảm bảo rằng các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như những khu vực sâu, xa và đặc biệt khó khăn, được cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn theo quy định.
1.4.1.3 Nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Hoàn thành nhiệm vụ được giao là rất quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ Các hoạt động này cần phải phù hợp với chức năng và nhiệm vụ đã được xác định, đồng thời phải tương thích với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị.
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật
Thực hiện quyền tự chủ cần gắn liền với trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên và pháp luật về các quyết định của mình, đồng thời phải chịu sự kiểm tra, giám sát từ các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền.
- Bảo đảm lợi ích của Nhà Nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
Theo Thông tư số 71/2006/TT-BTC, các Trường ĐH, CĐ được tự chủ tài chính, bao gồm quyền quyết định về khoản thu và mức thu phí, lệ phí trong giới hạn Nhà Nước quy định Các hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết có thể tự quyết định mức thu theo nguyên tắc bù đắp chi phí và tích lũy Tự chủ chi cho hoạt động thường xuyên và thu phí, lệ phí, nhưng các khoản chi không thường xuyên như nhiệm vụ KHCN và chương trình mục tiêu quốc gia cần có sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền Trường cũng có quyền quyết định một số khoản chi quản lý và chi nghiệp vụ chuyên môn với mức chi linh hoạt hơn so với quy định của Nhà Nước Các khoản chi cho sửa chữa lớn, mua sắm tài sản cố định, hoặc đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy định pháp luật.
Doanh nghiệp có thể sử dụng phần chênh lệch thu lớn hơn chi sau khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nước để chi trả cho người lao động Nguyên tắc chi trả dựa trên hiệu suất công tác, khuyến khích những người có đóng góp lớn cho việc tăng thu và tiết kiệm chi Mức thu nhập không bị khống chế cho từng lao động, nhưng không được vượt quá 3 lần quỹ tiền lương theo cấp bậc, chức vụ đối với các đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí.
Quản lý, thu, chi của các Trường được quy định tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC và cần được cụ thể hóa trong “Quy chế chi tiêu nội bộ” của Nhà trường.
1.4.2 Những thuận lợi và khó khăn trong cơ chế tài chính hiện nay trong
Trường ĐH, CĐ công lập
Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục-đào tạo, đồng thời khuyến khích động lực làm việc và cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên, giúp đơn vị hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Các Trường đã chủ động sử dụng ngân sách nhà nước, nhân lực và tài sản để nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, đồng thời mở rộng nguồn thu Cụ thể, họ đã huy động vốn từ cán bộ viên chức và nhà đầu tư thông qua hợp đồng lao động hoặc vay từ tổ chức tín dụng để đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị thí nghiệm và nghiên cứu khoa học, từ đó cải thiện cơ sở vật chất Ngoài ra, các Trường cũng đã thành lập quỹ đầu tư phát triển để mua sắm tài sản, nhằm nâng cao chất lượng học tập và mở rộng hoạt động dịch vụ, tạo nguồn thu và tăng thu nhập cho người lao động.
Nhiều Trường đã mở rộng quy mô và đa dạng hóa ngành nghề, cấp bậc đào tạo thông qua các hình thức đào tạo tập trung và từ xa Một số Trường lớn đã mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy hoặc liên kết với nước ngoài để mở khoa, lớp đào tạo Đồng thời, các Trường cũng áp dụng nhiều giải pháp quản lý nội bộ và thực hành tiết kiệm chi phí, như xây dựng tiêu chuẩn và định mức chi phí, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, hệ số quy đổi giờ giảng lý thuyết, thực hành, thực tập, và đơn giá giờ giảng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan tới quản lý tài chính ở các Trường ĐH, CĐ công lập
chính ở các Trường ĐH, CĐ công lập
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu và bài viết đã được công bố về quản lý tài chính tại các Trường Đại học trên toàn quốc Dưới đây là một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này.
- Bộ GD&ĐT (2008b), Hội nghị tổng kết năm học 2007-2008 khối các Trường đại học, cao đẳng, Tài liệu hội nghị, ngày 27/08/2008, Hà Nội
- Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Lê Phước Minh (2001), “Vấn đề thu chi trong giáo dục Đại học và một số ý kiến về tạo nguồn”, Tạp chí Giáo dục, (7)
- Lê Ngọc Đức, Nguyễn Danh Nguyên (2009), “Vấn đề tự chủ-tự chịu trách nhiệm của các Trường ĐH, CĐ Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học,
Ban liên lạc các Trường đại học và cao đẳng Việt Nam tổ chức, tháng
- Ngân hàng Thế giới, nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, Hà Nội, (1996)
- Nguyễn Duy Bắc (2002), “Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần xã hội hoá”, Tạp chí lý luận Chính trị
- Nguyễn Duy Tạo (2000), Hoàn thiện quản lý tài chính các Trường đào tạo công lập ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh
Trần Thị Thu Hà (1993) đã thực hiện luận án Phó tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, tập trung vào việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách trong hệ thống giáo dục Quốc dân.
Trần Xuân Hải (2000) đã trình bày trong luận án Tiến sĩ Kinh tế của mình tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội về các giải pháp vốn đầu tư nhằm phát triển sự nghiệp đào tạo trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam.
- Trần Văn Phong (2001), Nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các Trường Đại học công lập trong giai đoạn hiện nay, Luận án Thạc sĩ Kinh tế,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Tại địa chỉ http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/www.taichinhdientu.vn/Con-nhieu-ton-tai-trong-tu-chu-tai-chinh-tai-cac-don-vi-hanh-chinh-su-nghiep/6547953.epi, bài viết đề cập đến sự tồn tại của nhiều vấn đề trong việc tự chủ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện quản lý tài chính để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị này.
Còn nhiều tồn tại trong tự chủ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp
Phạm Văn Ngọc (2001) trong luận án Thạc sĩ Kinh tế đã nghiên cứu về việc đổi mới quản lý tài chính nhằm đáp ứng mô hình của Đại học Quốc gia Hà Nội Bài viết nêu rõ thực trạng hiện tại và đề xuất các giải pháp cần thiết để cải thiện hiệu quả quản lý tài chính trong bối cảnh giáo dục đại học.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phan Huy Hùng (2010) trong bài viết “Quản lý Nhà Nước đối với các Trường đại học Việt Nam nhằm bảo đảm sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm” đã nêu rõ tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ các trường đại học Việt Nam đạt được sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm Bài viết được đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà Nước, số 2/2010, trang 37-41, với mã ISSN 0868-2828, nhấn mạnh rằng sự tự chủ trong giáo dục đại học là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu xã hội.
Các nghiên cứu hiện có đã tiếp cận vấn đề đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, nguồn tài chính và quản lý tài chính tại các Trường đào tạo công lập từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào tập trung chuyên biệt vào việc quản lý tài chính, đặc biệt là đề xuất các phương án nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho các trường này.
Trường đại học, cao đẳng
Dựa trên các nghiên cứu và bài học kinh nghiệm từ trong và ngoài nước, chúng ta có thể áp dụng những mô hình quản lý tài chính tiên tiến vào giáo dục đại học và cao đẳng tại Việt Nam, đặc biệt là cho Trường Cao đẳng Cơ điện.
Nông nghiệp Nam Bộ nói riêng, để:
Tăng cường quản lý tài chính là cần thiết để phát huy các yếu tố nội tại của Nhà trường, nhằm tối đa hóa nguồn thu ngoài ngân sách Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho các Trường đại học và cao đẳng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Xã hội hiện đại đang đặt ra những yêu cầu mới cho thị trường sức lao động, đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng công lập cần chuyển mình Việc xây dựng mô hình tự chủ cho các trường đại học và cao đẳng công lập là cần thiết, thay thế cho mô hình truyền thống, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học và thị trường lao động.
- Đổi mới công tác phân bổ và quản lý ngân sách giáo dục
Cần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hoá giáo dục, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách và các giải pháp hiệu quả Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển quy mô giáo dục về số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo.
Phát triển các trường ngoài công lập là cần thiết để hoàn thiện và ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ, từ đó tạo ra sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục.
- Khuyến khích đa dạng hoá các nguồn thu của các Trường đại học, cao đẳng, nhất là các nguồn thu ngoài NSNN cấp
Cải tiến quản lý cơ chế tài chính và thực hiện phân cấp phân quyền là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng mô hình các Trường đại học, cao đẳng tự chủ và tự chịu trách nhiệm, phù hợp với tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.