1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ tài chính của trường cao đẳng nghề cơ giới ninh bình

121 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình trên và nhu cầu về tri thức đòi hỏi về nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới thiết bị công nghệ, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng buộc các trường đại học cao đẳng phải t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Phan Thị Hương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thờ i gian thực tâ ̣p, nghiên cứu và hoàn thành luâ ̣n văn vừa qua, tôi đã nhâ ̣n được sự quan tâm, giúp đỡ nhiê ̣t tình của các cơ quan, tổ chức và

cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả các tâ ̣p thể và các cá nhâ ̣n đã tâ ̣n

tình giúp đỡ tôi trong suố t quá trình nghiên cứu đề tài vừa qua

Tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Lê Minh Chính đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suố t quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin trân tro ̣ng cảm ơn Ban giám hiê ̣u trường Đa ̣i ho ̣c Lâm nghiê ̣p, khoa Sau đa ̣i ho ̣c, các thầy giáo cô giáo trực tiếp giảng da ̣y các bô ̣ môm đã cung cấp cho tôi những kiến thức giúp tôi hoàn thành bài luâ ̣n văn này

Tôi xin trân tro ̣ng cảm ơn sự giúp đỡ của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình đã ta ̣o điều kiê ̣n giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiê ̣n đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Phan Thị Hương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 5

1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 5

1.1.1 Khái niê ̣m và phân loa ̣i đơn vi ̣ sự nghiê ̣p công lâ ̣p 5

1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập 8

1.1.3 Vai trò của các đơn vị sự nghiệp công lập trong nền kinh tế thị trường 10

1.2 Cơ chế tài chính của giáo dục 11

1.2.1 Khái niê ̣m về cơ chế quản lý tài chính 11

12.2 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập11 1.2.3 Đánh giá chung về cơ chế tài chính giáo dục của nước ta 12

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao quyền tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 16

1.3.1 Khái quát về những qui định của pháp luật về quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập 16

1.3.2 Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các trường các trường dạy nghề công lập 19

Trang 4

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự

nghiệp công lập 32

1.4.1 Chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước 32

1.4.2 Đặc thù hoạt động của các Trường dạy nghề trực thuộc Bộ NN và PTNTT 33

1.5 Tình hình nghiên cứu, giải quyết thực hiện quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 35

1.5.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 35

1.5.2 Kinh nghiệm của một số cơ sở giáo dục tại Việt Nam 41

1.6 Thuận lợi và khó khăn trong việc nghiên cứu về tự chủ tài chính của các trường công lập 42

1.6.1 Thuận lợi 42

1.6.2 Khó khăn 45

1.7 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập 47

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU 49

2.1 Lịch sử hình thành, chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề đào tạo của trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 49

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 49

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 51

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trường 53

2.1.4 Ngành nghề đào tạo 54

2.1.5 Các thuận lợi và khó khăn 59

2.2 Phương pháp nghiên cứu 60

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 60

2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 60

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62

Trang 5

3.1 Thực trạng năng lực tự chủ của trường cao đẳng nghề cơ giới ninh bình 62

3.1.1 Thực trang các nguồn thu của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 62

3.1.2 Thực trang các nguồn chi của Trường cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình trong 3 năm 2011, 2012, 2013 68

3.1.3 Thực trang các khoản chi theo nhóm thanh toán của Trường cao đẳng nghề giới Ninh Bình trong 3 năm 2011, 2012, 2013 72

3.1.4 Đầu tư kinh phí trên học sinh-sinh viên 78

3.1.5 Phân quyền trong quản lý tài chính 82

3.1.6 Tình hình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ 84

3.1.7 Các chỉ tiêu chủ yếu phản ảnh tự chủ tài chính 86

3.2 Đánh giá chung về tình hình thực hiện tự chủ tài chính của trường 95

3.2.1 Những kết quả đạt được 95

3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 98

3.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ tài chính của trường cao đẳng nghề cơ giới ninh bình 100

3.3.1 Định hướng hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 100

3.3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực tự chủ tài chính của trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 102

KẾT LUẬN 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

8 QCCTNB Quy chế chi tiêu nội bộ

9 HSSV Học sinh sinh viên

10 TSCĐ Tài sản cố định

11 GVDN Giáo viên dạy nghề

12 LĐLĐ Liên đoàn lao động

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Ngành nghề đào ta ̣o của Nhà Trường 54

Bảng 3.1: Tổng hợp thực trạng các nguồn thu trong 3 giai đoạn 63

Bảng 3.2: Tổng hợp thực trạng các nguồn chi trong 3 giai đoạn 70

Bảng 3.3: Thực trang các khoản chi theo nhóm thanh toán của Trường 72

Bảng 3.4: Danh mục thiết bị mua sắm theo CTMT năm 2011 74

Bảng 3.5: Danh mục thiết bị mua sắm theo CTMT năm 2012 74

Bảng 3.6: Danh mục thiết bị mua sắm theo CTMT năm 2013 75

Bảng 3.7: Các chỉ tiêu đánh giá tình hình đầu tư kinh phí trong 3 năm 2011, 2012, 2013 79

Bảng 3.8: Tỷ trọng thu sự nghiệp tự đảm bảo kinh phí của Trường cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 87

Bảng 3.9: Hê ̣ số chức danh 90

Bảng 3.10: Mức chi trả thu nhập tăng thêm của Trường cao đẳng nghề Cơ giớ i Ninh Bình 3 năm 2011-2013 92

Bảng 3.11: Tình hình trích lập quỹ 3 năm 2011-2013 93

Bảng 3.12: Tỷ trọng chênh lệch thu chi trong các hoạt động được trích bổ sung kinh phí khác của Trường 3 năm 2011, 2012, 2013 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ hình học phí kết hợp mở rộng các chính sách hỗ trợ 37Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của trường 53Hình 3.1: Biểu đồ tổng hơ ̣p nguồn thu của trường 63Hình 3.2: Biểu đồtổng hơ ̣p nguồn chi của Trường trong 3 giai đoạn (2011,

2012, 2013) 70

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức hiện nay, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao được coi là chìa khóa cho sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người học cũng như của thị trường lao động, tăng cường tính thực tiễn, chú trọng năng lực hành nghề của người tốt nghiệp Sự bùng nổ của quy mô đào tạo cũng như sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo gây nhiều khó khăn cho các chính phủ trong vấn đề quản lý và chu cấp tài chính

Giáo dục, đào tạo Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó trước xu thế tăng nhanh của số lượng người học và các cơ sở giáo dục, đào tạo mới được thành lập Xu thế cạnh tranh khốc liệt giữa các trường đại học, cao đẳng,

các trường nghề đòi hỏi các trường không ngừng phải đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học và nâng cao đời sống cho đội ngũ cán bộ giảng viên, để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho

sự phát triển bền vững của nhà trường Trong khi đó kinh phí cho giáo dục đại học, cao đẳng , các trường nghề xuất phát từ 3 nguồn: Đầu tư của ngân sách Nhà nước, đóng góp của người học và của xã hội Tuy nhiên, do sự thiếu hợp

lý trong chính sách và cơ chế tài chính đại học, cao đẳng và các trường da ̣y nghề hiện nay, các trường công lập đứng trước nguy cơ không đủ kinh phí chi trả cho những hoạt động của trường, chưa nói tới việc tái đầu tư để giữ vững

và nâng cao chất lượng đào tạo

Từ nhiều năm qua kinh phí đầu tư cho đào tạo từ ngân sách Nhà nước

và từ học phí tính trên đầu học sinh-sinh viên sụt giảm giá trị thực nhiều lần,

cụ thể: Mức lương tối thiểu của cán bộ, giảng viên từ 180.000đ năm 2000 tăng lên 830.000đ năm 2011 (tăng 4,6 lần) năm 2012 lên 1.050.000đ ( tăng

Trang 10

1,2 lần) năm 2013 lên 1.150.000đ, chi tiền điện nước tăng 3-4 lần, giá các loại dụng cụ, vật tư thực hành thực tập, điện nước, xăng dầu tăng đáng kể, tất cả các khoản tăng này đều do trường tự cân đối chi trả, trong khi đó mức học phí thu theo (QĐ 70/1998/QĐ-TTg) tối đa là 160.000đ, đến tháng 7 năm 2010 học phí được thu theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP (tăng 1,25 lần) nhưng đối với các trường dạy nghề, thì có trường áp dụng theo mức thu cũ hoặc nâng mức thu tăng lên không đáng kể, vì tuỳ theo ngành nghề đào tạo và tuyển sinh gặp khó khăn, đã thực sự trở nên hạn chế và không bù đắp được phần thiếu hụt trong chi phí đào tạo, trong khi kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước dành cho các trường đại học cao đẳng hầu như không tăng (tỷ lệ tăng chỉ bù đắp cho tỷ lệ trượt giá theo tiền lương tối thiểu) Trước tình hình trên và nhu cầu về tri thức đòi hỏi về nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới thiết bị công nghệ, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng buộc các trường đại học cao đẳng phải tìm kiếm những nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước để tăng quyền tự chủ về tài chính có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội và vượt qua những thử thách trong xu hướng hội nhập hiện nay

Các trường dạy nghề là đơn vị sự nghiệp có thu, sau khi thực hiện Nghị định 10/NĐ-CP/2001 ngày 06/01/2002 của Thủ tướng chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp công lập và các thông tư hướng dẫn thực hiện, các trường dạy nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣, bô ̣ máy quản lý được tổ chức go ̣n nhe ̣ hơn, đô ̣i ngũ giáo viên đã tăng lên đáng kể về số lượng và chất lượng, đảm bảo tỷ lê ̣ học sinh-sinh viên/giáo viên theo quy

đi ̣nh nhờ cơ chế tuyển du ̣ng linh hoa ̣t Quy mô tuyển sinh tăng, đáp ứng nhu cầu học tâ ̣p và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hô ̣i Các trường

Trang 11

đã không thu ̣ đô ̣ng, phu ̣ thuô ̣c vào ngân sách Nhà nước mà đã chủ đô ̣ng ha ̣ch toán, huy đô ̣ng nguồn lực từ các hoa ̣t đô ̣ng cung cấp di ̣ch vu ̣ và nghiên cứu khoa học để tăng nguồ n thu, tiết kiê ̣m chi phí, tăng thu nhâ ̣p cho cán bô ̣ công chứ c, viên chức của trường và đầu tư phát triển sự nghiê ̣p, các trường dạy nghề đã phát huy được vai trò của đơn vi ̣ sự nghiê ̣p công lâ ̣p trong công tác đào ta ̣o nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa ho ̣c, chất lượng cung ứng di ̣ch vu ̣ công trong giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c-cao đẳng chuyên nghiê ̣p và các trường da ̣y nghề đã được nâng lên

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, tôi chọn đề tài:

“Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Trường cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu thực trạng năng lực tự chủ tài chính của Trường Cao đẳng nghề cơ giới Ninh Bình, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về tài chính và tự chủ tài chính Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 24/5/2006 Chỉnh phủ của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình trong 3 năm : Năm 2011, 2012, 2013 (Nghị định 43)

Trang 12

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về nội dung: Tình hình năng lực tự chủ tài chính của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình;

+ Phạm vi không gian: Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình

+ Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm

2011-2013

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề năng lực tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập;

- Thực trạng tự chủ tài chính của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh

Bình;

- Giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Trường Cao

đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1 Kha ́ i niê ̣m và phân loại đơn vi ̣ sự nghiê ̣p công lập

1.1.1.1 Kha ́ i niê ̣m đơn vị sự nghiệp công lập

Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có cấp thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội thành lập theo qui định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước

Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị sự nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và có tài khoản riêng để thực hiện nhiệm vụ hoạt động sự nghiệp, nhằm cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, Trong quá trình hoạt động sự nghiệp các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước cho phép tạo lập các nguồn thu như: Thu phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt động sản xuất dịch vụ của đơn vị

Theo các văn bản pháp quy Để xác định ĐVSN công lập dựa vào các tiêu chuẩn sau:

- Có quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền

ở Trung ương hoặc địa phương

- Được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm

vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện các khoản thu theo chế độ Nhà nước quy định

Trang 14

1.1.1.2 Phân loại sự nghiê ̣p công lập

* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động

- ĐVSN kinh tế: Là đơn vị sự nghiệp gắn liền với các hoạt động kinh tế của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế như: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp, Thủy lợi, Thủy sản, Giao thông, công nghiệp, Thương mại, địa chính, khí tượng thủy văn

- ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao bao gồm: trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các liên đoàn, đội thể thao, các câu lạc

bộ thể dục thể thao

- ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin bao gồm: Các đơn vị nghệ thuật, bảo tàng, cơ quan báo chí, tạp chí, thư viện công cộng, trung tâm thông tin triển lãm

- ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm: Các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các cơ sở giáo dục mần non, các trường tiểu học, trung học, các trường dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học, học viện

- ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm: Các cơ sở khám chữa bệnh, trung tâm điều dưỡng

- ĐVSN công lập hoạt động trong vĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao gồm: Các đoàn nghệ thuật, trung tâm chiếu phim quốc gia, nhà văn hóa, thư viện, bảo tồn, bảo tàng, đài phát thanh, trung tâm báo chí xuất bản

- ĐVSN khác như các trung tâm kiểm định an toàn lao động, các đơn vị dịch vụ tư vấn, dịch vụ giải quyết việc làm

* Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)

Trang 15

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn

vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)

Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh, phân loại lại cho phù hợp

Căn cứ xác định để phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định dựa trên việc xác định mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị (tính theo tỷ lệ %) thực hiện theo thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện NĐ43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ được xác định theo công thức sau:

Mức đảm bảo chi phí hoạt

động thường xuyên của đơn vị

Tổng số nguồn thu sự nghiệp

= - Tổng số chi hoạt động thường xuyên

x100

Trong đó:

* Tổng số thu sự nghiệp bao gồm:

- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước

- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị

- Thu khác (nếu có)

Trang 16

- Lãi chia từ hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ

* Tổng số chi hoạt động thường xuyên

- Chi hoạt động thường xuyên theo theo chức năng nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm : Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản phải nộp theo lương, dịch vụ công cộng, chi phí chuyên môn,…

- Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí

- Chi các hoạt động dịch vụ liên quan đến các hoạt động kinh doanh dịch

vụ của đơn vị

1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập

- ĐVSN công lập là tổ chức hoạt động không vì mực tiêu lợi nhuận ĐVSN công lập có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và những dịch vụ xã hội công cộng và những dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt bình thường của các ngành trong xã hội Với chức năng và nhiệm vụ như vậy, nên những hoạt động của ĐVSN hoàn toàn mang tính chất phục vụ nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và hoạt động của ĐVSN đặc biệt là hoạt động tài chính không nhằm mục tiệu lợi nhuận

Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội Mà các hoạt động sự nghiệp này do các ĐVSN công lập được nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp cho thị trường Nhà nước tổ chức, duy trì

và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng Do đó việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 17

Đặc điểm đầu tiên của ĐVSN công lập xuất phát từ tính chất của dịch

vụ công Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và người dân do Nhà nước đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Dịch vụ công được cung ứng trước hết nhằm đáp ứng lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng, xã hội Việc cung ứng dịch

vụ cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động SXKD ĐVSN công lập trong quá trình hoạt động được phép thu các loại phí, lệ phí

để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước đồng thời cũng khuyến khích các đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn để cung ứng dịch vụ công ngày càng tốt cho xã hội

- Nguồn lực tài chính phục vụ chi hoạt động của ĐVSN công lập được lấy từ nhiều nguồn khác nhau với những hình thức và phương pháp khác nhau, tuy nhiên nguồn lực tài chính chủ yếu phục vụ cho hoạt động và duy trì

sự tồn tại của bộ máy tổ chức từ ngân sách Nhà nước cấp Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính đảm bảo duy trì sự hoạt động bình thường của các đơn vị Các đơn vị này có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công, không đòi hỏi người được phục vụ trả thù lao Do đó NSNN phải cấp kinh phí để duy trì hoạt động của đơn vị này Trong xu thế cải cách tài chính công trong tổng ngân sách Nhà nước cấp đang có xu hướng giảm không nhiều vẫn là nguồn kinh phí chủ yếu

- ĐVSN công lập được thành lập và hoạt động trên cơ sở của pháp luật,

là đơn vị thực hiện các công việc trên cơ sở chấp hành các nhiệm vụ của pháp luật, chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước Các ĐVSN công lập trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực của Nhà nước, chịu

Trang 18

sự lãnh đạo, gián sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó

1.1.3 Vai trò của các đơn vị sự nghiệp công lập trong nền kinh tế thị trường

Các ĐVSN công lập là các đơn vị thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động của các ngành kinh tế quốc dân Hoạt động của các đơn vị này không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu mang tính phục vụ Các đơn vị này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế có các đơn vị sự nghiệp của các ngành như: nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, thủy lợi…Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân Trong thời gian qua, các ĐVSN công lập đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Điều đó được thể hiện:

- Giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các dịch vụ do ĐVSN cung cấp phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của đông đảo nhân dân

- ĐVSN công lập thông qua việc điều tiết các hoạt động cung cấp dịch

vụ của mình giúp Nhà nước đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch

vụ này, nhằm khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường Đơn vị

sự nghiệp công lập trực tiếp cung ứng các dịch vụ đòi hỏi vốn đầu tư cao, ít lợi nhuận mà tư nhân không muốn đầu tư

- Hoạt động của ĐVSN sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh doanh hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu

Trang 19

quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá tinh thần của nhân dân

- Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực cùng với nguồn ngân sách nhà nước đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn cung cấp các dịch vụ công

1.2 Cơ chế tài chính của giáo dục

1.2.1 Kha ́ i niê ̣m về cơ chế quản lý tài chính

Cơ chế quản lý tài chính được hiểu là tổng thể các nguyên tắc, phương pháp và biện pháp tác động lên các hoạt động tài chính phát sinh của đơn vị trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Như vậy, về thực chất cơ chế tự chủ tài chính là một trong những phương thức của

cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp nói chung

12.2 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập

Nội dung cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với ĐVSN công lập theo Nghị định số10/2001/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP gồm những nội dung cơ bản sau:

1 Xác định nhu cầu tài chính cho các mục tiêu phát triển giáo dục Xác định các nguồn lực từ ngân sách và xã hội và các giải pháp huy động và sử dụng tài chính khả thi và hiệu quả, từ đó đảm bảo cân đối nhu cầu và nguồn lực tài chính bền vững cho phát triển hệ thống giáo dục quốc dân

2 Quy định về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và địa phương trong việc lập và thực hiện kế hoạch ngân sách giáo dục

3 Quy định về nguyên tắc xác định mức học phí mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Quy định về thẩm quyền quyết định mức học phí và xác định mức học phí của các cơ quan trung ương, địa phương và các cơ sở giáo dục

Trang 20

4 Xây dựng các chính sách của nhà nước hỗ trợ việc học tập của nhân dân, quy định đối tượng không phải đóng học phí, miễn giảm học phí, đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập; đối tượng được hưởng học bổng chính sách

và trợ cấp xã hội; đối tượng được vay vốn ưu đãi để đi học Quy định cơ chế thực hiện miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập

5 Xây dựng cơ chế và chính sách khuyến khích xã hội đầu tư cho giáo dục

6 Quy định về lương và các chính sách khuyến khích đối với nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục

7 Quy định các nghĩa vụ và quyền hạn về tài chính của các cơ sở giáo dục

8 Quy định về trách nhiệm và quyền giám sát, kiểm tra của các Bộ và

cơ quan quản lý nhà nước, người học, gia đình người học và xã hội đối với việc sử dụng ngân sách giáo dục

1.2.3 Đánh giá chung về cơ chế tài chính giáo dục của nước ta

Đầu tư cho giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay bao gồm các nguồn kinh phí sau: Ngân sách nhà nước (bao gồm cả: công trái giáo dục, vay nợ, viện trợ); Các nguồn ngoài ngân sách nhà nước (học phí, các nguồn thu dịch

vụ khoa học công nghệ, đóng góp hảo tâm của các cá nhân, tổ chức ); trong

đó nguồn ngân sách nhà nước là chủ yếu và có ý nghĩa quyết định

Từ năm 2010 đến nay, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đều tăng hàng năm, năm sau cao hơn năm trước Tỷ trọng chi của ngân sách Nhà nước cho giáo dục trong GDP năm 2011 là 4,1% (bằng 15,5% tổng chi ngân sách nhà nước), năm 2012 là 5,6% (bằng 18,4% tổng chi ngân sách nhà nước) Từ năm 2013, Chính phủ đã dành 20% chi ngân sách cho giáo dục Điều này thể hiện rõ sự quan tâm của nhà nước đối với giáo dục, tuy nhiên GDP của nước

ta còn rất thấp trong khi cơ sở vật chất của ngành còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu, đời sống của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn rất khó khăn nhưng phải đảm bảo đáp ứng qui mô giáo dục tăng nhanh hàng năm với yêu

Trang 21

cầu nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Đây là mâu thuẫn rất lớn mà ngành giáo dục đã và đang phải đối mặt

Các kết quả đã đạt được:

- Nhà nước đã ưu tiên đầu tư cao cho giáo dục trong suốt 10 năm qua, đến năm 2013 đã đạt 20% tổng chi ngân sách như Nghị quyết của Quốc hội Phần chi của nhà nước giữ vai trò quyết định sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân (chiếm 92,7% tổng chi ở các trường công lập và chiếm 78,2% tổng chi toàn xã hội tại các trường công lập và ngoài công lập)

- Ngân sách nhà nước bước đầu đã tập trung cho các cấp học phổ cập, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn và phát triển đội ngũ nhà giáo

- Nhà nước đã ban hành một số định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư cho giáo dục

- Đã ban hành một số văn bản về phân cấp quản lý và sử dụng ngân sách giáo dục nhằm tăng quyền tự chủ tự, chịu trách nhiệm về tài chính của các cơ sở giáo dục

- Chính sách xã hội hóa giáo dục gần đây đã khuyến khích đầu tư của

xã hội cho giáo dục, nhất là việc phát triển các trường ngoài công lập ở giáo dục mầm non, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và cao đẳng, đại học đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

- Bên cạnh các chính sách tiền lương chung, nhà nước đã ban hành phụ cấp theo lương đối với nhà giáo, tạo điều kiện để đảm bảo thu nhập cho giáo viên, nhất là đối với giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn

- Một số chính sách cấp học bổng, miễn giảm học phí và cho vay đi học đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách và người nghèo đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thực hiện công bằng xã hội

Trang 22

- Một số quy định về kiểm tra, giám sát và công khai sử dụng tài chính

ở các cơ sở giáo dục bước đầu đã có tác động tích cực đến nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục

Những tồn tại:

- Chậm đổi mới, chậm ban hành các văn bản hướng dẫn Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị

sự nghiệp công lập Các Bộ chủ quản chưa phối hợp với Bộ Tài chính để ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp trực thuộc, chưa có các quy định cụ thể về việc liên doanh liên kết, về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành, chất lượng và kết quả hoạt động của đơn vị được giao quyền tự chủ nên các đơn vị còn nhiều vướng mắc

- Mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên còn thấp, ở hầu hết các địa phương không đảm bảo được cơ cấu chi 80% cho chi lương, các khoản có tính chất lương, bảo hiểm và 20% chi ngoài lương theo Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp so với nhu cầu rất lớn của ngành

- Định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo (giáo viên, điều kiện về cơ sở vật chất ), chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân

- Việc miễn, giảm học phí trong các cơ sở giáo dục do các trường phải

tự thực hiện Còn thiếu những cơ chế cụ thể trong việc hỗ trợ học sinh thuộc gia đình có hoàn cảnh khó khăn đi học được

- Phương thức phân bổ và quản lý tài chính hiện nay giữa các bộ, ngành trung ương và giữa trung ương với địa phương cho thấy sự bất cập trong quản

Trang 23

lý, giám sát nguồn ngân sách cho giáo dục Việc kiểm tra, phê duyệt quyết toán thu chi hàng năm là trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính đồng cấp Như vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo không quản lý ngân sách toàn ngành, thiếu thông tin để tổng hợp, theo dõi và đánh giá hiệu quả đầu tư của ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục

- Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hàng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách và dự kiến kinh phí theo trần ngân sách được xác định trước để cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công

- Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính trong các cơ sở giáo dục công lập chưa phát huy được hiệu quả Với nguồn ngân sách cấp hàng năm còn hạn hẹp và mức thu học phí rất thấp nên các cơ sở giáo dục không thể có đủ nguồn lực để bổ sung thu nhập cho giáo viên và tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

- Mặc dù đã có chủ trương và chính sách khuyến khích xã hội hoá giáo dục, tuy nhiên vẫn chưa có cơ chế hữu hiệu nhằm huy động nhiều hơn nữa các nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục

Cơ chế tài chính giáo dục còn nhiều bất hợp lý, chưa góp phần tạo động lực cho giáo dục và đào tạo tự phát triển nhanh với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Theo ý kiến của nhiều hiệu trưởng,

sự lệ thuộc về nguồn tài chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý Trong tổng số nguồn lực tài chính của các trường, ngân sách đào tạo chiếm 68%, học phí chiếm 26%, các khoản thu khác chiếm 6% mà nguồn ngân sách phụ thuộc vào số lượng sinh viên nên để gia tăng nguồn thu, các trường đều mở rộng quy mô đào tạo hoặc giảm hệ

Trang 24

chính quy, phát triển hệ đào tạo phi chính quy, trong khi không tăng được các điều kiện bảo đảm chất lượng, nhất là về giáo viên Phần lớn ngân sách ít ỏi dành để chi thường xuyên, nhiều nhất là lương, nên không có tiền để đầu tư phát triển Kinh phí hạn chế tác động không nhỏ đến hoạt động nghiên cứu khoa học, trả tiền dạy vượt giờ cho giáo viên… khiến cho mức thu nhập bình quân của giảng viên tại các trường công lập thấp

Không được tự chủ nên các trường khó huy động được những nguồn lực khác, kể cả từ hợp tác quốc tế hoặc thậm chí có nguồn nhưng không có cơ chế để chi

Tóm lại: Trong những năm qua các quy định về cơ chế quản lý tài chính cho quản lý giáo dục vẫn còn chậm đổi mới, còn nhiều bất hợp lý, hạn chế sự năng động sáng tạo của các nhà trường Trong khi đó, lẽ ra các trường Đại học cần được tự quyết định và chủ động về khai thác, tìm kiếm các nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho tài sản tương lai và cân đối các nguồn tài chính thu và chi nhằm bảo đảm hệ

thống tài chính minh bạch, tuân thủ pháp luật và không vụ lợi

Trước những bất cập nói trên và nhu cầu tăng chất lượng và quy mô giáo dục, việc đổi mới cơ chế tài chính giáo dục trong thời gian tới là một yêu cầu rất cấp thiết

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao quyền tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập

1.3.1 Khái quát về những qui định của pháp luật về quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Cải cách tài chính công là một trong bốn nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001, trong đó, cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp là bước đột phá Để triển khai chương trình

Trang 25

này, ngày 16/01/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP

về đổi mới cơ chế tài chính, trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp có thu

Mục đích của sự đổi mới này là thực hiện việc trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc sử dụng lao động và các nguồn lực tài chính của đơn vị, tạo quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp ; từ đó tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động sắp xếo lao động, tổ chức công việc, quản lý tài chính

Sau bốn năm thực hiện Nghị định 10/2001/NĐ-CP (2002-2005), cho thấy cơ chế tài chính mới đã tạo hành lang pháp lý rộng hơn cho các đơn vị trong việc quản lý tài chính ; các đơn vị rất phấn khởi, chủ động trong quá trình sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của mình, thu nhập của cán bộ, viên chức bước đầu được cải thiện đáng kể

Bên cạnh những kết quả tích cực mà do cơ chế tài chính mới đem lại, Nghị định 10/2002/CP cũng bộc lộ một số điểm bất cập Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó, ngày 24/5/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tại Nghị định này quy định các tổ chức khoa học và Công nghệ (trước đây được gọi chung là các đơn vị sự nghiệp có thu và áp dụng cơ chế tài chính theo Nghị định 10/2002/cp) thực hiện theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ

Nhằm khắc phục những hạn chế của Nghị định 10/2002/CP, ngày 25 tháng 4 năm 2006 Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ về tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, đó là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP có bốn mục tiêu, là:

Trang 26

- Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSN trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

- Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động

sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước

- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với ĐVSN, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội; đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn

- Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với ĐVSN với cơ chế quản

lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước

Việc thực hiện quyền tự chủ theo Nghị định 43/2000/CP dựa trên bốn nguyên tắc sau:

Một là, hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất

hàng hoá, cung cấp dịch vụ phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị

Hai là, thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật

Ba là, thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ

quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Bốn là, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá

nhân theo quy định của pháp luật

Trang 27

Điểm mới của Nghị định số 43/2006/CP quy định rõ, cụ thể tất cả các loại hình ĐVSN gồm: ĐVSN có thu tự đảm bảo chi phí, ĐVSN đảm bảo một phần chi phí và ĐVSN không có thu

Các trường đại học, cao đẳng công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân là những đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp

ĐVSN công lập được chia thành 3 loại hình như sau:

- Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động gồm có các ĐVSN có mức thu

tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%

- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động gồm các ĐVSN có mức tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% đến 100%

- Đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động gồm có ĐVSN có mức bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống và các đơn vị không có nguồn thu

Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên được xác định theo công thức sau:

Mức tự bảo đảm chi

phí hoạt động thường

xuyên của đơn vị (%)

Tổng số nguồn thu sự nghiệp

X 100 Tổng số chi hoạt động thường xuyên

1.3.2 Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các trường các trường dạy nghề công lập

1.3.2.1 Tư ̣ chủ về nguồn tài chính

a) Kinh phí do nhà nước cấp

- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng,

nhiệm vụ được giao đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

Trang 28

(sau khi đã cân đối nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn

vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định ;

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp

có thẩm quyền phê duyệt;

- Kinh phí khác

b) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp

- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể:

Sự nghiệp giáo dục đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiền thu sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác;

Trang 29

- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi NH c) Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật

1.3.2.2 Tư ̣ chủ về nội dung chi

Đi đôi với việc quy định nguồn tài chính thì Nghị định 43/2006/CP cũng quy định rõ các nội dung chi cụ thể như sau:

a) Chi thường xuyên, gồm:

- Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;

- Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật)

b) Chi không thường xuyên, gồm:

- Chi thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy và học tập;

- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;

- Chi công tác nghiên cứ khoa học;

- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định;

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

Trang 30

- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;

- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;

- Các khoản chi khác theo quy định

1.3.2.3 Tự chủ trong việc tạo lập các khoản thu và quy định mức thu

- Đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các

tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

- Các đơn vị sự nghiệp công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do Nhà nước quy định

Đối với những hoạt động liên doanh liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và

Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động tuỳ theo lĩnh vực và khả năng của đơn vị, được:

Trang 31

- Quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn huy động theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Tham dự đấu thầu các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đơn vị

- Sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng mua sắm trang thiết

bị phục vụ công việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định hiện hành của nhà nước

1.3.2.5 Quyền tự chủ trong việc huy động vốn và vay vốn tín dụng

Đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ được quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn

vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

1.3.2.6 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

Với quan điểm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp, Nhà nước đã cho phép các đơn vị sự nghiệp được chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của mình, làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện

và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm soát chi

Quy chế chi tiêu nội bộ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ban hành sau khi tổ chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị và có ý kiến thống nhất của đơn vị

Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý

Trang 32

Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, thủ trưởng đơn vị được quy định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Đối với một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi đơn vị sự nghiệp phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước:

- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;

- Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc;

- Chế độ công tác phí nước ngoài;

- Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam;

- Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Chế độ chính sách thực hiện tinh giản biên chế;

- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện trợ thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước;

- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định;

Thủ trưởng đơn vị căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện năm trước, quyết định phương thức khoán chi phí cho từng cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện nước, công tác phí; kinh phí tiết kiệm do thực hiện khoán được xác định chênh lệch thu chi và được phân phối,

sử dụng theo chế độ quy định

1.3.2.7 Chủ động trích lập, sử dụng các quỹ và chi trả tiền lương, thu nhập

Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trang 33

Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:

- Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá

3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và đảm bảo nguyên tắc người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi thì được trả nhiều hơn

Việc sử dụng các quỹ được quy định như sau:

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị

và theo quy định của pháp luật Việc sử dụng quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người LĐ

- Quỹ khen thưởng dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp

Trang 34

vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế

Giao quyền tự chủ tài chính cho các ĐVSN góp phần xoá bỏ cơ chế xin cho, lành mạnh hoá NSNN, thúc đẩy thực hiện công khai và minh bạch tài chính ngân sách Cùng với quá trình thực hiện cơ chế giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho ĐVSN công lập thì căn cứ và định mức phân bổ ngân sách ngày càng rõ ràng, công khai và minh bạch hơn

1.3.2.8 Sự cần nâng cao quyền tự chủ tài chính các trường dạy nghề công lập

Nếu phân theo mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên thì

có ba loại hình ĐVSN gồm ĐVSN tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, ĐVSN tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động Theo đó những quy định về cơ chế quản lý tài chính của mỗi loại hình cũng khác nhau Đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động có mức độ về tự chủ lớn hơn đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động có mức độ tự chủ thấp nhất so với hai loại hình trên Tính tự chủ tài chính càng cao khi mức

độ kinh phí sử dụng phụ thuộc vào ngân sách nhà nước càng thấp Việc quy định như vậy đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả trong quản lý tài chính, khuyến khích sự phát triển của đơn vị, khuyến khích xã hội hoá hoạt động sự nghiệp

Bên cạnh đó mỗi lĩnh vực sự nghiệp có những đặc thù riêng nên có những điều kiện, cơ hội khác nhau để phát huy, mở rộng, khai thác các nguồn thu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nâng cao chất lượng phục vụ

Trang 35

Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, nguồn kinh phí hoạt động được hình thành từ hai nguồn chủ yếu: nguồn kinh phí NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp (thu học phí, thu từ hoạt động dịch vụ, thu khác ) trong đó nguồn ngân sách nhà nước là chủ yếu Giáo dục đào tạo luôn là lĩnh vực được Nhà nước ưu tiên, phấn đấu tăng chi ngân sách cho giáo dục chiếm 20% tổng chi NSNN tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập có cơ hội nâng cao chất lượng, tăng nguồn kinh phí phục vụ cho mục đích phát triển chiến lược giáo dục và đa dạng hoá các loại hình giáo dục Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, Nhà nước điều chỉnh tăng học phí theo lộ trình

Từ đó các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập có thêm nguồn thu để nâng cao chất lượng giáo dục, giảm gánh nặng cho ngân sách băng cách tăng cường quyền tự chủ tài chính của các trường, giao quyền cho các trường trong việc

tự quyết định học phí

Như vậy, có thể thấy vấn đề tăng cường tự chủ tài chính tại các ĐVSN công lập phụ thuộc vào từng lĩnh vực, loại hình hoạt động và chức năng nhiệm vụ được giao của đơn vị

Trước khi thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính, trong suốt một thời gian dài, Nhà nước ta áp dụng một cơ chế quản lý tài chính chung cho tất cả các cơ quan đơn vị từ các cơ quan hành chính đến đơn

vị sự nghiệp Cơ chế tài chính cũ chưa có sự phân biệt đối với các cơ quan nhà nước và các ĐVSN công lập Mặc dù về tính chất hoạt động, chức năng

và nhiệm vụ của ĐVSN công lập và cơ quan nhà nước là giống nhau Hiệu quả quản lý theo chức năng và nhiệm vụ của ĐVSN công lập bị gò bó và bị động trong thực hiện chức năng nhiệm vụ, có tư tưởng ỷ lại vào NSNN, không chủ động trong sử dụng nguồn ngân sách cấp và khai thác các nguồn tài chính vào đầu tư phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ với chất lượng

Trang 36

ngày càng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của xã hội Quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của ĐVSN chưa được bảo đảm

Cơ chế quản lý tài chính ĐVSN công lập được xác định trên cơ sở trách nhiệm và lợi ích của toàn dân nhưng chủ yếu quản lý chi tiết các yếu tố đầu vào hơn là “đầu ra” và “kết quả” nên không phát huy được quyền tự chủ, sáng tạo Cơ chế phân phối và khuyến khích vật chất, tiền lương, tiền thưởng phúc lợi còn mang tính bình quân chưa tạo động lực khuyến khích ĐVSN công lập chủ động sáng tạo phát huy nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng

và hiệu quả cung cấp dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội

Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu ra đời trong quá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn

vị sự nghiệp công để hoạt động theo cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả Ngày 16/01/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về cơ chế tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu Trên thực tế khi được giao quyền tự chủ, các trường dạy nghề công lập đã chú trọng hơn trong việc phát triển và

mở rộng các hoạt động dịch vụ để tăng thu Tuy nhiên qua thực tế triển khai,

cơ chế này đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập như đối tượng thực hiện chỉ giới hạn ở các đơn vị sự nghiệp có thu, phạm vi tự chủ mới chỉ ở lĩnh vực tài chính, các đơn vị sự nghiệp có thu chưa được trao quyền về nhiệm vụ tổ chức

bộ máy biên chế Nhằm khắc phục những hạn chế của Nghị định 10/2002/CP, ngày 25/4/2006 Chính phủ ban hành Nghị định 43/2006/CP quy định quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các trường dạy nghề công lập trực thuộc Bộ NN&PTNT là một bước đi quan trọng thúc đẩy

Bộ NN&PTNT rà soát lại và xác định đúng chức năng, nhiệm vụ, biên chế của các trường dạy trực thuộc Bộ NN&PTNT từ đó có cơ chế quản lý phù

Trang 37

hợp, góp phần đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước, xoá bỏ tình trạng hành chính hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường dạy nghề trực thuộc Bộ NN&PTNT, chuyển dần từ cơ chế quản lý theo yếu tố đầu vào sang cơ chế quản lý theo đầu ra và kết quả hoạt động đối với trường dạy nghề trực thuộc Bộ NN&PTNT

Các trường dạy nghề trực thuộc Bộ NN&PTNT đã phát huy mọi khả năng sẵn có của đơn vị về nguồn nhân lực, máy móc, trang thiết bị, phương tiện để sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng ngày càng cao cho xã hội, tạo điều kiện cho người học có cơ hội được tiếp xúc lựa chọn các hoạt động dịch vụ với nhiều cấp độ khác nhau, phù hợp với khả năng chi trả của họ Đối với các trường dạy nghề công trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đã tổ chức nhiều hình thức đào tạo như đào tạo chính quy, đào tạo thường xuyên, đào tạo tập trung và đào tạo từ xa, tổ chức liên doanh liên kết đào tạo với nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài vào

mở lớp đào tạo hoặc gửi đi đào tạo nước ngoài

Cơ chế tự chủ tài chính cho phép và đòi hỏi các trường dạy nghề trực thuộc Bộ chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng các chuẩn đánh giá “đầu ra” và “kết quả” của từng hoạt động, quyết định mức chi phù hợp với đặc thù của đơn vị Từ đó đã sử dụng kinh phí NSNN cấp giao thực hiện tự chủ và các nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ tiết kiệm và hiệu quả hơn, góp phần cải thiện thu nhập cho cán bộ, viên chức với cơ chế phân phối theo hiệu quả công việc của từng bộ phận, cán bộ viên chức Thu nhập của cán bộ, viên chức và người lao động ở các trường dạy nghề công lập trực thuộc Bộ được giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính không chỉ được đảm bảo đủ tiền lương cơ bản theo cấp bậc chức vụ do Nhà nước quy định mà còn giải quyết được thu nhập tăng thêm ở các mức độ khác nhau từ

Trang 38

kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và tiết kiệm chi hoạt động thường xuyên

Giao quyền tự chủ tài chính cho các trường dạy nghề công lập góp phần xoá bỏ cơ chế xin - cho, lành mạnh hoá NSNN, thúc đẩy thực hiện công khai và minh bạch tài chính ngân sách Cùng với quá trình thực hiện cơ chế giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các trường dạy nghề công lập thì căn cứ và định mức phân bổ ngân sách ngày càng rõ ràng, công khai và minh bạch hơn

Với những kết quả đạt được như trên có thể khẳng định việc giao quyền

tự chủ tài chính cho các trường dạy nghề công lập trực thuộc Bộ Nn&PTNT

là đúng hướng phù hợp với tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước, cho phép đòi hỏi các trường dạy nghề công lập tự chủ và tự chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động của mình hướng tới phục vụ xã hội, từng bước hướng tới thực hiện cơ chế quản lý ngân sách theo đầu ra và kết quả Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện:

+ Để đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ hơn và tạo động lực thúc đẩy các trường phát huy tốt quyền tự chủ của mình trong thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính thì có cần khống chế mức thu nhập tăng thêm trả cho cán bộ, viên chức của các trường dạy nghề công lập hay không Bởi quy định này giảm dần sự khuyến khích các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tích cực tìm kiếm các biện pháp hữu hiệu để tổ chức thực hiện quản lý tài chính, tiết kiệm các khoản chi, khai thác có hiệu quả các nguồn thu theo quy định của pháp luật Vì vậy không nên khống chế tổng mức thu nhập tăng thêm trả cho cán bộ viên chức trong các trường dạy nghề công lập thực hiện cơ chế

tự chủ Nếu quy định khống chế tổng mức thu nhập tăng thêm để đảm bảo công bằng thì nên sử dụng chính sách thuế thu nhập cá nhân

Trang 39

+ Cơ chế giao quyền tự chủ tài chính thực chất là một bước khởi đầu chuyển đổi cơ chế quản lý theo đầu vào dần sang cơ chế quản lý theo đầu ra với nguyên tắc phải hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện quyền tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm của mình Việc đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các trường dạy nghề công lập bằng thước đo nào và đánh giá như thế nào

để có thể xác định đơn vị đã thực hiện trách nhiệm của mình đến đâu và hoàn thành hay không hoàn thành Giao quyền tự chủ tài chính cho các trường dạy nghề công lập với yêu cầu các đơn vị phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì việc kiểm soát và đánh giá đầu ra và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của đơn vị thực hiện tự chủ là quan trọng hàng đầu Thực tế trong quá trình triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường công lập đang gặp khó khăn trong việc xác định và xây dựng các tiêu chí chuẩn mực để kiểm soát và đánh giá hoạt động nói chung và thực hiện nhiệm vụ được giao nói riêng

Cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường dạy nghề trực thuộc Bộ NN&PTNT là bước đầu của sự trao quyền cho các trường dạy nghề chủ động sử dụng nguồn kinh phí NSNN giao và thực hiệm việc tạo lập nguồn thu tại các trường dạy nghề Do đặc thù của các trường dạy nghề, kinh phí NSNN giao tự chủ tài chính nên việc chi tiêu gắn liền với trách nhiệm được giao, sản phẩm của các trường dạy nghề được kinh phí NSNN giao thực hiện dạy nghề sau khi sản phẩm hoàn thành, được bán ra thị trường thu lại một phần chi phí nên có đặc thù riêng,

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính các trường gặp phải nhiều vướng mắc như: Cơ chế chính sách của nhà nước còn thiếu đồng bộ, chậm đổi mới, chậm ban hành các văn bản hướng dẫn Nghị định 43 quy định, Bộ chủ quản phối hợp với các Bộ để ra văn bản hướng dẫn lĩnh vực

Bộ chủ quản phụ trách nhưng hầu như các bộ vẫn chưa có văn bản hướng dẫn

Trang 40

Việc phân cấp đầu tư, mua sắm tài sản, XDCB cho đơn vị tự thực hiện của Bộ chủ quản đã được thực hiện nhưng giá trị tài sản phân cấp còn thấp, nhiều định mức, tiêu chuẩn như định mức giờ giảng, chế độ thanh toán ngoài giờ

đã lạc hậu nhưng vẫn sử dụng làm hạn chế tính chủ động, tự chủ tài chính của các trường

Nghị định 43/2006/CP thực chất chỉ là giao quyền tự chủ cho các trường trong việc tổ chức chi, chưa giao quyền tự chủ về huy động nguồn lực tài chính từ học phí do người học đóng góp Đây là một bất cập lớn cho các trường trong việc chủ động tìm kiếm, huy động nguồn lực tài chính cho đầu

tư phát triển, thu hút nhân tài, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng đào tạo, trong khi ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo hàng năm tăng không đáng kể Ngoài ra, Nhà nước chưa có hướng dẫn, chưa có quy định cụ thể về việc liên doanh, liên kết, về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành, chất lượng và kết quả hoạt động của đơn vị được giao quyền tự chủ nên việc triển khai, thực hiện còn nhiều vướng mắc Mặt khác, tính chủ động của các trường trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính còn mang tính hình thức

Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập của cơ chế tài chính hiện hành

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập

1.4.1 Chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước

Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định tới hoạt động quản lý tài chính của trường đại học Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp có thu là một bộ phận của chính sách tài chính quốc gia, nó là căn cứ

để các trường đại học xây dựng cơ chế quản lý tài chính riêng Vì vậy, nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát huy tính chủ

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bắc (2002), "Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần xã hội hóa”, Tạp chí lý luận Chính trị, (Số 15) tr 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần xã hội hóa
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 2002
2. Bộ LĐTBXH (1991), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và xã hội về việc thành lập Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình 3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (195), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng nghề cơ giới Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và xã hội về việc thành lập Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình" 3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (195), "Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông
Tác giả: Bộ LĐTBXH
Năm: 1991
8. Phạm Thị Huyền (2008), Tình hình thực hiện tự chủ tài chính của trường Đại học ngoại thương Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện tự chủ tài chính của trường Đại học ngoại thương Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Huyền
Năm: 2008
9. Ngân hàng Thế giới (1996), Nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 1996
10. Trần Thị Minh Ngọc (2010), Một số giải pháp nhằm tăng cường tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp khối đào tạo trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Luận văn thạc sỹ, Học viện tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm tăng cường tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp khối đào tạo trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Trần Thị Minh Ngọc
Năm: 2010
11. Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình (2011-2013), Quy chế chi tiêu nội bộ của trong 3 năm, tỉnh Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế chi tiêu nội bộ của trong 3 năm
12. Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình (2011-2013), Báo cáo Quyết toán trong 3 năm, tỉnh Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quyết toán trong 3 năm
13. Đỗ Duy Thuần (2009), Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm nâng cao tự chủ của các trường Đại học, cao đẳng, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm nâng cao tự chủ của các trường Đại học, cao đẳng
Tác giả: Đỗ Duy Thuần
Năm: 2009
4. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 hướng dẫn Nghị định 43 Khác
5. Bộ Lao động TB&XH (2011), Thông tư liên tịch 68/TTLT-BGDĐT-BNV- BTC-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 54/2011NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo Khác
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSN công lập Khác
7. Chính phủ (2011), Nghị định số 54/2011/NĐ- CP ngày 4/7/2011 về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w