1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1 luận án vu xuan truong

204 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi Đua, Khen Thưởng Ở Các Trung Đoàn Bộ Binh Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Thể loại luận án
Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN,công tác TĐ, KT là một nội dung cơ bản của công tác tư tưởng; một biện phápquan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm tạo động lực, thúc đẩy to

Trang 1

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI

ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG

2.1 Các trung đoàn bộ binh và công tác thi đua, khen thưởng ở các trung

đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam 33 2.2 Quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc đổi mới công tác thi đua,

khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam 62

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TIẾN HÀNH CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG

3.1 Thực trạng công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh

trong Quân đội nhân dân Việt Nam 79 3.2 Nguyên nhân của thực trạng và một số kinh nghiệm tiến hành

công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI

ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 119 4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở

các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 119 4.2 Những giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung

đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 130

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁ ĐÃ CÔNG

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. Điển hình tiên tiến ĐHTT

2 Hạ sĩ quan, binh sĩ HSQ, BS

3 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN

4 Quân nhân chuyên nghiệp QNCN

5 Sẵn sàng chiến đấu SSCĐ

6 Thi đua, khen thưởng TĐ, KT

7 Thi đua quyết thắng TĐQT

8 Trung đoàn bộ binh TĐBB

9 Vững mạnh toàn diện VMTD

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Thi đua, khen thưởng (TĐ, KT) là một trong những động lực phát triển;biện pháp quan trọng thúc đẩy các cá nhân, tổ chức trong xã hội hăng hái, nỗ lựcphấn đấu không ngừng trong học tập, lao động và công tác Công tác TĐ, KT làmột bộ phận quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhànước và các đoàn thể cách mạng nhằm tổ chức, tập hợp, vận động quần chúng,khơi dậy tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, tính tích cực, tự giác, năngđộng, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trong Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN),công tác TĐ, KT là một nội dung cơ bản của công tác tư tưởng; một biện phápquan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm tạo động lực, thúc đẩy toàn quânthực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng, hoàn thiệnphẩm chất, năng lực người quân nhân cách mạng, xây dựng tổ chức đảng trongsạch, vững mạnh tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện (VMTD)

Các trung đoàn bộ binh (TĐBB) trong QĐNDVN là lực lượng nòng cốtthực hiện mọi nhiệm vụ của các sư đoàn, quân khu, quân đoàn, nhất là nhiệm

vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) và chiến đấu Chất lượng thực hiệncác nhiệm vụ, kết quả huấn luyện, SSCĐ của các TĐBB trực tiếp ảnh hưởngđến sức mạnh chiến đấu, trình độ, khả năng SSCĐ của các sư đoàn bộ binh.Hiện nay, công tác TĐ, KT ở các TĐBB được tiến hành thường xuyên, liêntục, gắn với các mặt công tác, với các nhiệm vụ nhất là các nhiệm vụ khó khăn,phức tạp và có sự tham gia của đông đảo các tổ chức, lực lượng trong và ngoàiđơn vị Công tác TĐ, KT ở các TĐBB có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng, gópphần tập hợp, cổ vũ, động viên, khơi dậy khát vọng cống hiến của các cá nhân,tập thể, đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực, hăng hái thực hiện thắng lợi nhiệm vụchính trị và các nhiệm vụ khác của các TĐBB, góp phần xây dựng tổ chứcđảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD, các tổ chức quần chúng,hội đồng quân nhân vững mạnh xuất sắc

Trang 4

Những năm qua, nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác

TĐ, KT, đa số các chủ thể, lực lượng ở các TĐBB đã nêu cao vai trò, tráchnhiệm trong xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chứcthực hiện công tác TĐ, KT; về cơ bản nội dung, hình thức, biện pháp công tác

TĐ, KT ở các TĐBB đã được triển khai thực hiện chặt chẽ, bám sát với thựctiễn nhiệm vụ và bước đầu đã mang lại hiệu quả; kết quả công TĐ, KT ngàycàng được nâng lên, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng thực hiệnnhiệm vụ của các cá nhân, tổ chức, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vữngmạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD Tuy nhiên, việc thực hiện công tác TĐ, KT ởcác TĐBB còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập: một số cấp ủy, cán bộ các cấp

và hội đồng (tổ) thi đua - khen thưởng ở các TĐBB nhận thức có mặt cònchưa đầy đủ, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất và tổchức thực hiện công tác TĐ, KT có thời điểm chưa cao; một số nội dung, hìnhthức, biện pháp công tác TĐ, KT đã được triển khai thực hiện nhưng vẫn cònđơn điệu, sơ cứng, có lúc chưa sát với thực tiễn nhiệm vụ và đối tượng; kếtquả công tác TĐ, KT gắn với việc hoàn thành nhiệm vụ của một số cá nhân,

tổ chức ở các TĐBB có thời điểm chưa thật sự vững chắc

Hiện nay, những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đất nước và yêucầu thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIIcủa Đảng đã đặt ra nhiều vấn đề đối với đổi mới của công tác TĐ, KT và phongtrào thi đua yêu nước Trước sự phát triển mạnh mẽ của Cuộc các mạng côngnghiệp lần thứ tư; những mối đe dọa của an ninh phi truyền thống và nhữngtiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thùđịch đã và đang tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó cócông tác TĐ, KT Bên cạnh đó, bệnh “thành tích”, che dấu khuyết điểm, thổiphồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạythành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” trong cán bộ, đảng viên vàcác tổ chức có nguy cơ bùng phát làm ảnh hưởng đến vai trò, ý nghĩa của côngtác TĐ, KT Trong những năm tới, trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựngQĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân

Trang 5

chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; trước sự phát triển vềphương hướng, nhiệm vụ công tác TĐ, KT và phong trào thi đua Quyết thắng(TĐQT) trong toàn quân và nhiệm vụ của các TĐBB, đòi hỏi cần phải đổi mớimạnh mẽ công tác TĐ, KT để góp phần tập hợp, cổ vũ, động viên, khơi dậykhát vọng cống hiến của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) và hạ sĩquan, binh sĩ (HSQ, BS) ở các TĐBB, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vượt quakhó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng tổchức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, chuyên ngành Xây

dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn công tác TĐ, KT

và đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB; đề xuất những giải pháp đổi mới

công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; khát quátgiá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và xác định những vấn đề luận

án tập trung nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác TĐ, KT vàđổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Đánh giá đúng thực trạng công tác TĐ, KT; xác định nguyên nhân vàrút ra một số kinh nghiệm tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB trongQĐNDVN

Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp đổi mới công tác TĐ, KT ởcác TĐBB trong QĐNDVN hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Trang 6

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác

TĐ, KT và đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB đủ quân thuộc các sư đoàn

bộ binh trong QĐNDVN Tập trung điều tra, khảo sát ở các TĐBB thuộc Sưđoàn bộ binh 3, Quân khu 1; Sư đoàn bộ binh 395, Quân khu 3; Sư đoàn bộbinh 2, Quân khu 5; Sư đoàn bộ binh 5, Quân khu 7; Sư đoàn bộ binh 330,Quân khu 9; Sư đoàn bộ binh 312, Quân đoàn 1; Sư đoàn bộ binh 325, Quânđoàn 2; Sư đoàn bộ binh 9, Quân đoàn 4 Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sátphục vụ nghiên cứu luận án chủ yếu từ năm 2015 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở thực tiễn

Hiện thực công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN; kế thừa có

chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan; các

tư liệu, số liệu, các báo cáo sơ kết, tổng kết CTĐ, CTCT và công tác TĐ, KTcủa các sư đoàn, quân khu, quân đoàn và toàn quân; kết quả điều tra, khảo sátthực tế của tác giả ở các TĐBB trong QĐNDVN

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành; trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp: Phân tích và tổnghợp, lôgíc và lịch sử, thống kê và so sánh, điều tra xã hội học, tổng kết thựctiễn và phương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng và làm rõ quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp đổi mớicông tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Trang 7

Rút ra một số kinh nghiệm tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB trongQĐNDVN.

Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong các giảipháp đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm những vấn

đề lý luận, thực tiễn về công tác TĐ, KT và đổi mới công tác TĐ, KT ở cácTĐBB trong QĐNDVN hiện nay

Góp phần cung cấp thêm những luận cứ khoa học phục vụ các cấp ủy, tổchức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng ở các TĐBB trong lãnh đạo, chỉđạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐ, KT

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy,học tập môn CTĐ, CTCT ở các học viện, trường sĩ quan trong QĐNDVN

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

Trang 8

1.1.1 Các công trình khoa học về thi đua, khen thưởng

X.I Xu-rơ-ni-tren-cô (1982), Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô [174] Trong cuốn sách, tác giả có nhiều bài viết khẳng định về vai trò

của thi đua và các ĐHTT trong xây dựng XHCN Đồng thời, tác giả cũng làm

rõ vai trò, sự cần thiết của tổ chức đảng trong lãnh đạo phong trào thi đuaXHCN Tác giả cũng đã chỉ rõ một số kết quả trong tổ chức thi đua XHCN ởLiên Xô như: “phong trào thi đua XHCN đã được nâng lên một trình độ mới;nội dung của nó đã trở lên sâu sắc hơn, các hình thức đã được mở rộng, hiệuquả của thi đua đã được nâng cao” [174, tr.60] Trên cơ sở đó, tác giả đặt ranhững yêu cầu đối với cấp ủy, tổ chức đảng trong tổ chức thi đua XHCN:

“Đảng ta cần triệt để phát triển những nguyên tắc dân chủ của phong trào thiđua XHCN không ngừng thực hiện những nguyên tắc của V.I Lênin về tổchức thi đua: công khai, so sánh kết quả, khả năng lắp lại kinh nghiệm trênthực tế” [174, tr.62] Đối với cấp ủy đảng “các vấn đề tổ chức thi đua xã hộichủ nghĩa, phổ biến những sáng kiến lớn, kinh nghiệm sản xuất tiên tiến là đốitượng quan tâm đặc biệt” và “cần quan tâm đặc biệt đến phong trào thi đuanâng cấp chất lượng công tác” [174, tr.64]

Đặng Tiểu Bình (1995), Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc

[11] Trong cuốn sách, khi bàn về vai trò của khen thưởng, tác giả đã khẳngđịnh: “Phải có thưởng có phạt, thưởng phạt phân minh Chúng ta thực hiệnphương châm lấy cổ vũ tinh thần là chính, cổ vũ vật chất là phụ Cấp huychương, giấy khen là cổ vũ tinh thần, là sự vinh danh về mặt chính trị Điều này

là cần thiết nhưng cổ vũ bằng vật chất cũng không thể thiếu được” [11, tr.29]

Do đó, tác giả đặt ra yêu cầu phải khôi phục lại chế độ tiền thưởng, nhữngngười sáng tạo, phát minh phải cấp tiền thưởng, những người có cống hiến đặcbiệt cũng phải cấp tiền thưởng, những người có thành quả quan trọng trongnghiên cứu khoa học ngoài khuyến khích ban thưởng cho việc phát minh, sángtạo của họ, còn có thể nâng bậc lương của họ Và nếu họ đã làm mấy năm màkhông có thành tích thì nên để họ chuyển ngành

Vương Lạc Phu, Tưởng Nguyệt Thần (2000), Khoa học lãnh đạo hiện đại [112] Theo các tác giả, để tiến hành công tác chính trị tư tưởng có hiệu quả

cần thực hiện tốt phương pháp giáo dục ĐHTT Tác giả cũng chỉ rõ quan niệm,vai trò của ĐHTT, trong đó khẳng định: “Trong một quần thể thường có những

Trang 9

người tiên tiến, trung bình và chậm tiến Những người điển hình tiên tiến đều

cố gắng tích cực xây dựng sự nghiệp của chúng ta” [112, tr.417] Theo các tácgiả, để phát huy vai trò của ĐHTT trong các hoạt động: trước hết cần căn cứvào nhiệm vụ trung tâm và nhu cầu phát triển của tình hình để chọn điển hình;hai là, cần thực sự cầu thị và tuyên truyền điển hình; ba là, cần giáo dục choquần chúng có nhận thức đúng đắn, cố gắng học tập ĐHTT Mặt khác, khi giáodục những ĐHTT cần có thái độ đối xử đúng đắn, khiêm tốn thành thật học tậpquần chúng, cố gắng đạt thành tích cao và tiếp tục vươn lên Để phát huy đượctối đa sức mạnh của con người nói chung và nhân tài nói riêng, tác giả đòi hỏitrong nghệ thuật lãnh đạo cần thực hiện nghiêm chế độ thưởng - phạt:

Chế độ thưởng - phạt là một chế độ khen thưởng vật chất hoặc danh

dự đối với người có thành tích nổi bật và xử phạt đối với người mắcsai lầm Có ba cách khen thưởng chủ yếu: khen thưởng danh dự,khen thưởng vật chất và khen thưởng đề bạt Thưởng phạt cần phảiphân biệt rõ ràng, thỏa đáng và kịp thời Bất kỳ thưởng hay phạt đềucần dựa vào tiêu chuẩn nhất định [112, tr.358]

Xắcxavắt Xuânthếpphimmason (2003), Công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay [173] Trong phần đánh giá thực trạng công

tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tác giả đã làm rõ một số hạnchế, khuyết điểm, trong đó chỉ rõ: “một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trìchưa quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào thi đua, nhất là công tác kiểmtra, giám sát chưa chặt chẽ; thực hiện bình xét khen thưởng ở một số đơn vị chưanghiêm túc, chưa tạo được động lực đối với cán bộ, đảng viên” [173, tr.78] Đểtăng cường công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay, tác

đề xuất các giải pháp như: tăng cường sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối, trực tiếp

về mọi mặt của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; phát huy vai tròtích cực của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị; xây dựng chương trình

kế hoạch CTTT phù hợp với thực tiễn; xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làmCTTT tinh gọn, hoạt động hiệu quả Trong đó, giải pháp “mở rộng dân chủ,phát huy tự do tư tưởng trong công tác tư tưởng của Đảng”, tác giả, nhấn mạnh

“các tổ chức đảng cần mở rộng dân chủ, chú trọng đẩy mạnh các phong trào thiđua, để huy động được trí tuệ, sức lực của đông đảo cán bộ, đảng viên trongcác nhiệm vụ”; đồng thời bên cạnh đó cần làm tốt “việc phát huy dân chủ trong

Trang 10

phân loại, đánh giá cán bộ, đảng viên; tiến hành biểu dương, khen thưởng kịpthời, công bằng, chính xác” [173, tr.110]

Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc

(2005), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ đổi mới [34] Trong cuốn

sách, khi luận giải yêu cầu về sự kết hợp giữa giải quyết vấn đề tư tưởng vớigiải quyết vấn đề thực tế, tác giả đã chỉ rõ cần phải “đẩy mạnh các phong tràothi đua để giải quyết các vấn đề trên thực tế mới nảy sinh, trong thi đua cầnphải làm được nhiều hơn nữa những việc được lòng người, ấm lòng người, ổnđịnh lòng người” [34, tr.248] Tác giả cũng đã khẳng định cần phải tổ chức,

“triển khai các hoạt động thi đua “hai tốt” - đơn vị phục vụ tốt, các nhân viênphục vụ tốt; cơ quan tổ chức hoạt động thi đua trở thành “công nhân viên đượclòng dân” [34, tr.257] Về phương pháp “nêu gương điển hình”, theo tác giảcần tìm ra những tập thể, cá nhân tiên tiến đáng kính trọng đại diện cho cáctầng lớp khác nhau trong toàn xã hội, “dùng nhiều hình thức để tuyên truyền tạo

ra sức cảm hóa, giáo dục mạnh mẽ, thấm nhuần vào tư tưởng và hành vi của mọingười, quần chúng sẽ học tập, noi theo tạo nên bầu không khí tốt đẹp tôn vinhtiên tiến, học tập và thi đua với tiên tiến trong toàn xã hội” [34, tr.258] Tác giả

đã khẳng định để phát huy được vai trò của điển hình, “trước hết phải giỏi pháthiện và nhân rộng điển hình có cơ sở sâu rộng trong quần chúng và mang đậmmàu sắc thời đại… Phải chú trọng giới thiệu tư tưởng và việc làm của họ, triệt

để phát huy tác dụng gương mẫu, lôi cuốn của điển hình… hết sức tránh thổiphồng, xa rời thực tế.” [34, tr.102]

Sẳmlan Phănkhảvông (2013), Xây dựng cán bộ chuyên trách công tác

thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [109] Tác giả luận án đã làm rõ một số đặc điểm về công tác

TĐ, KT và cơ quan chuyên trách làm công tác TĐ, KT ở các tỉnh, thành phốcủa Lào, khẳng định: Ở Lào chưa có Luật TĐ, KT; các tỉnh, thành phố của Lào

có các tổ chức làm công tác TĐ, KT như: Hội đồng TĐ, KT; ban TĐ, KT; các

cơ quan chuyên trách này được thành lập và hoạt động theo Nghị định số253/TTCP, ngày 19/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhândân Lào về tổ chức và hoạt động của Bộ Nội vụ Bên cạnh đó, tác giả cũng đãtập trung làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung, hình thức, nguyên tắc thi đua vàkhen thưởng; luận giải khái niệm, vai trò, nội dung công tác TĐ, KT ở các tỉnh

Trang 11

thành phố của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Trên cơ sở đánh giá ưu điểm,hạn chế trong xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác TĐ, KT, theo tácgiả để xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách này cần tập trung vào một số giảipháp cơ bản sau: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy tỉnh, thành phố;nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giáđối với cán bộ; đề cao và phát huy tinh thần tự học, tự rèn của cán bộ; đặc biệt

là cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy công tác TĐ, KT cấp tỉnh, nâng caochất lượng tổ chức đảng trong các cơ quan chuyên trách công tác TĐ, KT cấptỉnh; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong cơ quan TĐ, KT

Adrian Gostick, Chester Elton (2017), Câu chuyện nhà quản lý Cà rốt và nghệ thuật khen thưởng [68] Trong cuốn sách, các tác giả đã làm rõ vai trò của

khen thưởng thông qua câu chuyện củ Cà rốt, một loại thực phẩm không thểthiếu trong bữa ăn của các gia đình Âu - Mỹ Theo các tác giả, nếu cà rốt cầnthiết cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi thì mọi lời khen cũng vậy: “Có những lờinói không mất tiền mua hay những phần thưởng tuy khiêm tốn nhưng có thểgóp phần tạo ra một môi trường làm việc mà nhiều người muốn gắn bó” [68,tr.12] Thông qua các câu chuyện ngụ ngôn hiện đại và những luận giải của cáctác giả, đã cho thấy tầm quan trọng thực sự của khen thưởng đối với việc khơidậy những tiềm năng to lớn trong đội ngũ nhân viên Các tác giả khẳng định:

“Sự ghi nhận và khen thưởng kịp thời sẽ chứng tỏ rằng các cấp lãnh đạo đangtích cực bám sát các hoạt động của nhân viên và sẵn sàng dành những phầnthưởng xứng đáng cho những ai có thành tích vượt trội” [68, tr.90] Mặt khác,các tác giả đã đề xuất cho các nhà quản lý những chiến lược và giải pháp hữuhiệu, góp phần củng cố lòng trung thành và tăng cường hiệu năng lực làm việccủa nhân viên bằng cách ghi nhận thành tích của họ thông qua một phươngpháp khen thưởng khá đơn giản gọi là “Bí quyết củ cà rốt”

Ken Lloyd (2019), 151 Ý tưởng khen thưởng nhân viên [87] Tác giả cuốn

sách đã nhấn mạnh, làm rõ vai trò, sự cần thiết phải tiến hành khen thưởng đốivới nhân viên Đồng thời, theo tác giả, khen thưởng cũng phải đúng cách, cóphương pháp và cách làm cho phù hợp để có thể khơi dậy được tinh thần, trách

Trang 12

nhiệm của nhân viên Trong cuốn sách, tác giả cũng đã đưa ra 151 cách để lãnhđạo, người quản lý áp dụng khen thưởng một cách phù hợp, đem lại hiệu quả caonhất Trong đó, tác giả đã tập trung luận giải một số cách thức, biện pháp khenthưởng nhân viên như cách sử dụng ngôn từ; tặng những danh hiệu; cho điểmthưởng; phần thưởng từ các buổi đào tạo; gửi thư khen ngợi thành tích; độngviên khích lệ; đăng bài trên báo; tặng thưởng bằng trang phục…

1.1.2 Các công trình khoa học về thi đua, khen thưởng trong lực lượng vũ trang

A.A Grê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô Viết

[69] Trong cuốn sách, tác giả đã khẳng định để nâng cao hiệu quả CTĐ, CTCTcần phải chú trọng mở rộng phong trào thi đua XHCN: “Một trong nhữnghướng hết sức quan trọng của CTĐ, CTCT trong quân đội là việc mở rộngphong trào thi đua XHCN trong binh sĩ Phong trào thi đua XHCN là mộtphương tiện mạnh mẽ để động viên các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ do ĐảngCộng sản đề ra cho các lực lượng vũ trang [69, tr.527] Tác giả đã làm rõ bốnnguyên nhân chủ yếu cần phải đẩy mạnh việc tổ chức thi đua XHCN; chỉ rayêu cầu đối với người chỉ huy, các cơ quan chính trị, bộ tham mưu trong tổchức thi đua; đồng thời khẳng định: “cần phải triệt để thực hiện những nguyên

lý của Lênin về thi đua xã hội chủ nghĩa, phát triển ở toàn thể binh sĩ, như V.I.Lênin đã dạy, nguyện vọng nhất thiết phải tiến xa hơn nữa, nhất thiết phảigiành được nhiều hơn nữa…” [69, tr.527] Theo tác giả, cần phải nâng cao hơnnữa vai trò của thi đua, mở rộng các lĩnh vực tác động của nó đến tất cả các mặtcủa công tác huấn luyện và cuộc sống của quân đội, lãnh đạo thi đua một cách

cụ thể, nhổ tận gốc những yếu tố của chủ nghĩa hình thức, tạo ra trong các đơn

vị một không khí tìm tòi sáng tạo

A.A Ê-pi-sép (1980), Công tác tư tưởng trong các lực lượng vũ trang

Xô Viết [66] Trong cuốn sách, tác giả đã khái quát vai trò của TĐ, KT đối với

việc giáo dục các quân nhân trong lực lượng vũ trang: “sự khắc phục khó khăn,

cố gắng phấn đấu đạt mục tiêu đã định, thực hiện chỉ tiêu thi đua XHCN đãcam kết, sẽ giúp cho sự hình thành những nét quan trọng của thế giới quan nhưtính triệt để, kiên trì, quyết tâm” [66, tr.59] Tác giả cho rằng, điều tác động đếnnội tâm con người không phải là ở bản thân sự khen thưởng hay trừng phạt mà

Trang 13

là ở chỗ khen thưởng hay trừng phạt có công bằng không, có đúng với điềulệnh quy định hay không Tác giả cũng đã chỉ rõ một số yêu cầu khi thực hiệnkhen thưởng: “Hay khen thưởng luôn về những hành động bình thường thìkhông có tác dụng tích cực mà lại có thể gây cho mọi người quân nhân đượckhen thái độ tự cao đối với đồng đội, làm nảy nở cái gọi là tinh thần kiêu ngạođâm ra coi khen thưởng là lẽ đương nhiên” [66, tr.140].

P.I Các-pen-cô (1981), Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô Viết [27] Trong Chương VIII, tác giả đã luận giải rất cụ thể,

chi tiết về vấn đề thi đua XHCN trong Quân đội và Hải quân Xô Viết: làm rõquan điểm của V.I Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô và những nguyên tắc tổchức thi đua XHCN; chỉ rõ vai trò của thi đua trong nâng cao SSCĐ; nhữngphương hướng chủ yếu, nội dung cơ bản trong giao ước thi đua; chỉ ra một sốkinh nghiệm tổ chức thi đua XHCN trong phân đội, binh đội, hạm đội Theotác giả, bí quyết của thắng lợi trong thi đua nằm trong công tác chính trị - tưtưởng và công tác tổ chức hàng ngày, trong việc bảo đảm tính công khai rõràng, dễ dàng so sánh kết quả, tích cực phổ biến và vận dụng trong thực tế kinhnghiệm của những chiến sĩ giỏi Tác giả đã khẳng định: “Thi đua là công việcsáng tạo và sinh động, không cho phép hình thức chủ nghĩa, hời hợt, rùm benghay ba hoa Đảm bảo hiệu lực của thi đua chính là sự đoàn kết, hợp đồng cómục tiêu trong công tác của cán bộ chỉ huy, cơ quan tham mưu, cán bộ chínhtrị, các tổ chức đảng và tổ chức đoàn [27, tr.300]

Chương Tư Nghị (2006), Công tác chính trị của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ mới [105] Tác giả chỉ rõ, những tấm gương điển

hình có tác dụng rất lớn trong việc động viên, giáo dục và thúc đẩy con người.Theo tác giả, “phải dùng mọi phương tiện để tiến hành tuyên truyền giới thiệurộng rãi về kinh nghiệm và sự tích của các tấm gương điển hình Kiên trì khôngmệt mỏi, chú trọng năng xuất chất lượng hiệu quả, phát huy đầy đủ và mở rộngvai trò tác dụng của điển hình tiên tiến trong công tác giáo dục bộ đội” [105,tr.416] Tác giả cũng chỉ rõ, để tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức kỷ luậtcủa quân nhân, yêu cầu của công tác chính trị là phải thực hiện đúng đắn chế

độ thưởng phạt; đối với những đơn vị, cá nhân tuân thủ tốt về kỷ luật, pháp luật

Trang 14

thì phải khen thưởng thích đáng Theo tác giả, để việc khen thưởng chính xác,hợp lý phải chú ý đến tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục khen thưởng: “Với bất kỳ aiđều phải căn cứ theo tiêu chuẩn đã đề ra để thực hiện thưởng phạt… Thực hiệnthưởng phạt phải theo trình tự và quyền hạn theo quy định của tổ chức, phảitrên cơ sở phát huy đầy đủ dân chủ tập trung ý kiến chính xác” [105, tr.102].Trong thực hiện đường lối quần chúng, tác giả đã chỉ ra “Tám kinh nghiệmthực hiện đường lối quần chúng” mà Tổng cục Chính trị đã tổng kết trong thời

kỳ chiến tranh chống Nhật: “Thủ trưởng phụ trách, từng người ra tay; khêu gợi

tư tưởng tự giác của chiến sĩ; đi sâu cổ vũ động viên công tác; phát động thiđua cách mạng; biểu dương khen ngợi; bồi dưỡng điển hình; vận dụng sáchbáo; phát huy dân chủ” [105, tr.123]

Sỏnxay Chănnhalạt (2012), Giáo dục chính trị, tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay [29] Theo tác giả để giáo dục chính

trị, tư tưởng cho HSQ, BS, có thể “thông qua các phong trào thi đua yêu nước,thi đua tìm hiểu truyền thống lịch sử dân tộc, cách mạng, địa phương, quân đội

và đơn vị”, thông qua việc “tiến hành biểu dương người tốt, việc tốt, học tậpcác cá nhân, đơn vị điển hình tiên tiến” [29, tr.57] Khi phân tích làm rõ nhữngkinh nghiệm trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho HSQ, BS, tác giả đã nhấnmạnh cần phải “tuyên truyền mạnh mẽ, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, truyềnthống yêu nước, các tấm gương người tốt, việc tốt; nhân rộng, quảng bá cáctấm gương điển hình tiên tiến, tích cực làm cho cái tốt ngày càng nảy nở, đẩylùi cái tiêu cực lạc hậu” [29, tr.90] Trong giải pháp “đổi mới và hoàn thiệnchương trình nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị cho hạ sĩquan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào”, tác giả đã chỉ ra các hình thức, phươngpháp cụ thể, trong đó cần chú trọng “đổi mới tổ chức các phong trào thi đuatrên các mặt, các lĩnh vực, đi sâu vào các hoạt động gắn với chức trách, nhiệm

vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ” [29, tr.128] để giáo dục chính trị, tư tưởng có hiệuquả và tạo động lực thúc đẩy HSQ, BS hoàn thành tốt nhiệm vụ

Thimsảo Đuôngchămpa (2016), Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào hiện nay [65] Tác giả đã làm rõ quan niệm cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và đặc điểm của các TĐBB Quân đội nhân dân Lào Trong phần đánh giá thực trạng chất

Trang 15

lượng giáo dục chính trị cho HSQ, BS ở các TĐBB Quân đội nhân dân Lào, tácgiả đã chỉ rõ nhưng ưu điểm trong thực hiện các phong trào thi đua Khi đánhgiá về công tác khen thưởng, tác giả đã chỉ rõ tính đa dạng trong đối tượngkhen thưởng không chỉ tập trung ở cán bộ, chỉ huy mà còn có cả hạ sĩ quan,binh sĩ: “có 25,99% HSQ, BS vinh dự được Đảng, Nhà nước khen thưởng nhândịp kỷ niệm 65 năm thành lập Quân đội, trong đó có 15, 23% HSQ, BS đượctặng Bằng khen và 10,76 % được tặng Giấy khen” Trong giải pháp “đổi mớinội dung, chương trình, vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp giáodục chính trị cho cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở các trung đoàn bộ binh Quân độinhân dân Lào”, tác giả nhấn mạnh cần phải đổi mới hình thức tổ chức các hoạtđộng thực tiễn như: “phát động và duy trì thường xuyên phong trào thi đua sôinổi trong suốt quá trình giáo dục chính trị cho HSQ, BS; coi trọng công tác cổ

vũ, động viên bộ đội là hình thức giáo dục động cơ quan trọng Kết hợp hàihòa giữa động viên tinh thần với khuyến khích lợi ích vật chất” [65, tr.148]

ChenYa Tien (2019), Lý thuyết quân sự Trung Hoa xưa và nay [146].

Tác giả cuốn sách đã luận giải những lý thuyết quân sự của Trung hoa gắn vớitừng giai đoạn cụ thể như lý thuyết quân sự cổ điển, tư tưởng quân sự MaoTrạch Đông; tư tưởng cải cách quân sự Đặng Tiểu Bình Trong lý thuyết quân

sự cổ điển của Trung hoa, tác giả nhấn mạnh và làm rõ hệ thống tưởng thưởng

và luật pháp, trong đó khẳng định: “Dựa trên hệ thống tưởng thưởng, kẻ nàogiết được nhiều địch nhất sẽ được thưởng nhiều nhất” [146, tr.55] Mặt khác,theo tác giả lý thuyết quân sự của Trung Hoa trong tư tưởng của Mao TrạchĐông, Đặng Tiểu Bình và cho đến nay đều nhấn mạnh vai trò của đội ngũchính ủy, công tác huấn luyện chính trị và vai trò của việc biểu dương, khenthưởng đối với các binh sĩ trong quân đội Tác giả cũng chỉ rõ một trong nhữngyếu tố quan trọng của lý thuyết quân sự Trung Hoa là phải khơi dậy được sứcmạnh tinh thần của các binh sĩ và phát huy vai trò của các gương chiến đấudũng cảm, các ĐHTT trong thực hiện nhiệm vụ của quân đội; đồng thời đặt ranhững yêu cầu đối với người chỉ huy, những chính ủy trong quân đội cần đẩymạnh việc biểu dương, khen thưởng, tuyên truyền, nhân rộng các ĐHTT

1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình khoa học về công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng của Đảng và Nhà nước

Mai Trường Giang, Viết Anh Đức (2011), Trang vàng thi đua - khen

Trang 16

thưởng Việt Nam [67] Các tác giả đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và

Nhà nước đối với công tác TĐ, KT thông qua việc ban hành các chỉ thị, cácvăn bản luật, nghị định, thông tư Bên cạnh đó, trong cuốn sách các tác giả đãgiới thiệu một số nội dung chủ yếu trong Báo cáo tổng kết công tác TĐ, KTgiai đoạn 2005 - 2010, nhấn mạnh thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của nhữnghạn chế trong công tác TĐ, KT chủ yếu do tác động mặt trái kinh tế thị trường;nhận thức, trách nhiệm của một số lực lượng tham gia chưa tốt; hệ thống phápluật về thi đua được xây dựng và ban hành nhưng chưa đồng bộ; bộ máy cán bộchuyên trách chưa đáp ứng được yêu cầu Mặt khác, Trong cuốn sách, các tácgiả đã giới thiệu cụ thể những kết quả, thành tích tiêu biểu của các gương sángtrên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh ; đồng thời đãtập trung giới thiệu những thông tin về nội dung, hình thức của thi đua và khenthưởng; làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Ban Thi đua - khen thưởngTrung ương, hội đồng (tổ) thi đua các cấp

Trần Thị Hà (Chủ nhiệm, 2013), Cơ sở lí luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay [72] Các tác giả

của đề tài đã luận giải sâu sắc những vấn đề lí luận chung về công tác TĐ,KT; hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh và các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về TĐ,

KT Các tác giả đã khái quát những vấn đề chủ yếu về TĐ, KT ở các nước:Liên Xô (trước đây), chế độ khen thưởng của Liên bang Nga, Cộng hòaPháp, Trung Quốc Các tác giả đã tập trung khảo sát, đánh giá thực trạngcông tác TĐ, KT và quy định của pháp luật về TĐ, KT; tổ chức bộ máy vàcán bộ làm công tác TĐ, KT, trong đó đã chỉ rõ ưu, khuyết điểm, nguyênnhân Đồng thời, các tác giả đã phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung giảipháp chủ yếu đổi mới công tác TĐ, KT trong giai đoạn hiện nay và đề xuấtmột số kiến nghị Nội dung các kiến nghị tập trung đề nghị với Bộ Chínhtrị; kiến nghị với Quốc hội; kiến nghị đổi mới hoạt động của cơ quantruyền thông để tuyên truyền các gương ĐHTT, ứng dụng công nghệ thôngtin trong hệ thống tổ chức TĐ, KT; củng cố và nâng cao chất lượng hoạtđộng của hội đồng TĐ, KT các cấp; đẩy mạnh bồi dưỡng chuyên môn,nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác TĐ, KT; thành lập viện nghiên cứu, bồidưỡng, đào tạo cán bộ TĐ, KT Đề tài cũng đã rút ra một số kinh nghiệm của

Trang 17

một số nước tư bản trong thực hiện công tác khen thưởng

Nguyễn Khắc Hà (2015), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay [71] Tác giả

luận án đã làm rõ khái niệm, vai trò công tác TĐ, KT; chỉ ra những đặc điểm

cơ bản của công tác TĐ, KT ở nước ta hiện nay: một là, công tác TĐKT là

hoạt động liên quan đến đông đảo nhân dân, diễn ra trên phạm vi rộng lớn

trong thời gian khá dài; hai là, công tác TĐKT ở nước ta hiện nay là hoạt

động của các tổ chức trong HTCT và các tổ chức khác trong xã hội, song chủyếu là hoạt động của các tổ chức trong HTCT dưới sự lãnh đạo của các cấp

ủy đảng; ba là, công tác TĐKT ở nước ta hiện nay chịu tác động của việc xây

dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vừa có hợp tác,vừa có cạnh tranh; đồng thời vẫn còn chịu tác động của tâm lý, tập tập quáncủa người sản xuất nhỏ, hoạt động lâu dài trong cơ chế hành chính, tập trungbao cấp và trong chiến tranh Tác giả đã đưa ra quan niệm, vai trò, đặc điểmcủa cán bộ, lãnh đạo, quản lý chuyên trách công TĐ, KT Tác giả đã làm rõnhững giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyêntrách công tác TĐ, KT, trong đó nhấn mạnh cần phải “Nâng cao nhận thứccủa các cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo đơn vị về vị trí, vai trò của TĐ,

KT và việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác

Các cấp các ngành đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nướcsâu rộng, đều khắp, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọngthực hiện thắng lợi các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội,quốc phòng, an ninh Qua phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều

Trang 18

gương người tốt, việc tốt, nhiều tập thể cá nhân điển hình tiên tiến,lập nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực… [6, tr.208]

Tác giả đã chỉ ra những chặng đường lịch sử của phong trào thi đua yêunước qua các thời kỳ cách mạng cho đến công cuộc đổi mới hiện nay vớinhững mô hình, gương điển hình tiên tiến và những kết quả cụ thể trong thựchiện phong trào thi đua yêu nước của các cơ quan, địa phương, đơn vị; đồngthời nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác TĐ, KT.Việt Hà, Mai Chi (2020), “Một số giải pháp đổi mới khen thưởng cấp nhànước cho tổ chức, các nhân nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội nhập” [73] Cáctác giả đã khẳng định, khen thưởng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có vị trí,vai trò quan trọng trong công tác TĐ, KT: “khen thưởng cho tổ chức, các nhânnước ngoài thể hiện sự ghi nhận, biểu dương thành tích, sự tri ân sâu sắc đếncác tập thể, cá nhân nước ngoài có công lao đóng góp vào công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” [73, tr.18] Trên cơ sở chỉ ra kết quả đạt đượctrong công tác khen thưởng, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp đổi mớicông tác khen thưởng cho tổ chức, các nhân nước ngoài trong thời kỳ CNH,

HĐH và hội nhập quốc tế: Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng,

chính quyền về tầm quan trọng của khen thưởng tổ chức cá nhân, nước ngoài

Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu của cơ quan chuyên trách công tác TĐ, KT Ba là, hoàn thiện thể chế chính sách khen thưởng tổ chức cá nhân nước ngoài Bốn là, cần thực hiện phân cấp, phê duyệt chủ trương khen thưởng cho các tổ chức cá nhân nước ngoài Năm là, đổi mới

phương thức phối hợp giữa cơ quan làm công tác khen thưởng với các cơ quan

có liên quan Sáu là, đổi mới quy trình thủ tục hồ sơ khen thưởng cấp nhà nước

đảm bảo việc khen thưởng được chính xác, đúng đối tượng

Nguyễn Phú Trọng (2020), “Bài phát biểu tại Đại hội thi đua yêu nước

toàn quốc lần thứ X” [152] Trong bài phát biểu, tác giả đã nhấn mạnh “công

tác TĐ, KT có tầm quan trọng đặc biệt góp phần tạo ra động lực thúc đẩy cáchoạt động cách mạng” [152, tr.2] Tác giả đã khẳng định những giá trị của tư

Trang 19

tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và những thành tựu phát triển kinh tế

-xã hội của đất nước trong 5 năm qua có sự đóng góp tích cực của phong trào thiđua yêu nước Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tác giả đã chỉ rõ những hạnchế, khuyết điểm của công tác TĐ, KT: “Hội đồng TĐ-KT ở một số đơn vịchưa thực hiện tốt công tác tham mưu, kiểm tra, giám sát và thực hiện công tác

TĐ, KT theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao” [152, tr.3] Để thực hiệntốt công tác TĐ, KT trong thời gian tới, tác giả nhấn mạnh thêm một số vấn đề

chủ yếu sau: Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức

thực hiện thật tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhất là quán triệt sâu sắc tư tưởng thi

đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thứ hai, tổ chức các phong trào thi đua

cần có mục tiêu thiết thực, cụ thể gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị,

phát triển kinh tế - xã hội và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục Thứ

ba, nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ và

thực chất, bảo đảm khen thưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có

tác dụng giáo dục và nêu gương Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên

truyền các phong trào thi đua, phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng pháthiện, tuyên truyền, nhân rộng ĐHTT, nêu gương người tốt, việc tốt nhằm thúcđẩy, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, góp phần tạo động lực thi đua hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Thứ năm, thi đua phải bảo đảm sự lãnh đạo

của Đảng, gắn liền với tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng

Xuân Hồng, Thế Kiệt (2021), “Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu

nước góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” [79].

Các tác giả đã khái quát, luận giải một số quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; đồng thời làm rõ vai trò, ý nghĩa của thiđua và khẳng định, trong những năm qua phong trào thi đua yêu nước đãgóp phần quan trọng vào những thành tựu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong giai đoạn cách mạng mới, việc đẩymạnh phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyếtĐại hội XIII của Đảng là rất cần thiết, trong đó, theo các tác giả cần tập

trung vào một số biện pháp sau: Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của

Trang 20

Đảng đối với công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT ở tất cả các cấp, các

ngành và mỗi địa phương Hai là, xác định mục tiêu, nội dung thi đua vừa

có tính toàn diện vừa có tính đột phá vào những trọng tâm, trọng điểm,

nhất là những khâu khó, những mặt yếu của từng địa phương, đơn vị Ba

là, việc bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng ĐHTT phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên Bốn là, gắn kết các phong trào thi đua yêu nước với thực

hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làmtheo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nguyễn Thế Anh (2021), Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay [1] Tác giả luận án đã tập trung làm rõ những vấn đề lý

luận về thực hiện pháp luật TĐ, KT bao gồm: khái niệm, đặc điểm, nội dung,vai trò, các hình thức thực hiện pháp luật TĐ, KT và các yếu tố tác động tớithực hiện pháp luật TĐ, KT ở Việt Nam Tác giả luận án cũng đã làm rõ cácquy định khen thưởng của một số nước trên thế giới gồm như Cu Ba, TrungQuốc, Thái Lan và một số quốc gia khác như Anh, Hoa Kỳ, Pháp, trên cơ sở đóchỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt so với thực hiện pháp luật thi đua,khen thưởng ở Việt Nam Tác giả đã phân tích, đánh giá khái quát quá trìnhphát triển của pháp luật TĐ, KT ở Việt Nam, thực trạng thực hiện pháp luật

TĐ, KT ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của kếtquả, hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đã xác định 04 quan điểm.và đề xuất 06giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật TĐ, KT ở Việt Nam hiện nay:

Một là, nâng cao nhận thức trong thực hiện pháp luật TĐ, KT; Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật TĐ, KT; Ba là, nâng cao chất lượng, đổi mới

hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp và cơ quan làm công

tác TĐ, KT; Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT; Năm là, tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin trong thực hiện pháp luật TĐ, KT; Sáu là, tăng cường thanh tra, kiểm

tra, giám sát và xử lý khiếu nại tố cáo trong thực hiện pháp luật TĐ, KT

Đỗ Đức Dương (2022), “Những yêu cầu đặt ra về quản lý Nhà nướcđối với công tác thi đua, khen thưởng” [42] Tác giả đã nhấn mạnh, làm rõtính tất yếu khách quan, quan niệm về quản lý Nhà nước đối với công tác

TĐ, KT; đồng thời chỉ rõ những kết quả đã đạt được trong lãnh đạo, chỉ

Trang 21

đạo, tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước đối với công tác TĐ, KT Theotác giả, trong những năm tới để nâng cao công tác quản lý Nhà nước về

TĐ, KT cần tập trung một số vấn đề sau: Một là, các cơ quan, đơn vị, địa

phương tiếp tục quán triệt sâu sắc những quan điểm, chủ trương, chính

sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về TĐ, KT Hai là, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT có năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống Ba

là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước Bốn là, làm tốt công tác sơ kết, tổng

kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng ĐHTT trong công tác TĐ, KT

1.2.2 Các công trình khoa học về công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Mai Hồng Bỉnh (Chủ nhiệm, 2011), Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [10] Các tác giả

của đề tài đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về nâng cao chất lượngcông tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội, trong đó đã xây dựng vàluận giải được quan niệm:

Công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội là hoạt động có mụcđích, có kế hoạch, có tổ chức của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy,các tổ chức quần chúng trong việc sử dụng các biện pháp công tác tưtưởng, tổ chức, chính sách tác động vào đối tượng thi đua, khen thưởngnhằm giáo dục, cổ vũ động viên, tập hợp, tổ chức cán bộ, chiến sĩ pháthuy tài năng, trí tuệ sáng tạo vào các lĩnh vực hoạt động, xây dựng đơn

vị vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnhchiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao [10, tr.16].Các tác giả đã làm rõ quan niệm về chất lượng và nhóm tiêu chí đánh giáchất lượng; phân tích, làm rõ quan niệm và những vấn đề có tính nguyên tắc nângcao chất lượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội Các tác giả đã tậptrung đánh giá thực trạng chất lượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quânđội, chỉ ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Mặt khác, các tác giả đã đưa ra

Trang 22

dự báo những nhân tố tác động, yêu cầu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chấtlượng công tác TĐ, KT ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay.

Đinh Tiến Dũng (2016), Công tác tư tưởng - văn hóa trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam [40] Trong cuốn sách, tác giả đã đánh giá tổng

quát công tác tư tưởng - văn hóa giai đoạn 1975 - 2015, trong đó chỉ rõ: “Trongthi đua vẫn còn tách rời giữa thi đua với khen thưởng, các cuộc vận động, cácphong trào nhiều nhưng xuất hiện sự chồng chéo, thiếu sự kết hợp chặt chẽ”[40, tr.90] Mặt khác, tác giả đã đề xuất sáu giải pháp cần thực hiện đối vớicông tác tư tưởng - văn hóa, trong đó cần tập trung “khẩn trương nghiên cứugiải pháp lồng ghép các cuộc vận động, các phong trào của toàn quân và cácngành để tạo thành, xây dựng một cuộc vận động thi đua yêu nước lớn trongtoàn quân, hướng về cơ sở, lấy cấp tiểu đoàn, trung đoàn (tương đương) làmtrọng tâm chỉ đạo hướng dẫn” [40, tr.234] Tác giả đã làm rõ vai trò, đặc điểm,những hạn chế của cấp cơ sở đặc biệt là ở cấp tiểu đoàn, trung đoàn (tươngđương) trong thực hiện phong trào thi đua; đặt ra yêu cầu cụ thể cần nghiên cứu

sự lồng ghép những nội dung, tiêu chuẩn của các phong trào, các cuộc vậnđộng mang tính toàn quân để phục vụ cho hoạt động ở đơn vị cơ sở; tiếp tụcnghiên cứu và tổ chức lại cơ quan chỉ đạo và cơ quan thường trực phụ trách thiđua và bảo đảm sự phối hợp các hoạt động của từng ngành trong toàn quân

Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2018), Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [35] Trong cuốn

sách, tập thể tác giả đã chỉ rõ, công tác TĐ, KT là một trong chín nội dung chủyếu của công tác tư tưởng trong quân đội hiện nay Trong phần đánh giá thựctrạng công tác tư tưởng, tác giả cũng đã chỉ rõ những ưu điểm đạt được trongthực hiện công tác TĐ, KT Về những hạn chế, khuyết điểm, tác giả đã khẳngđịnh: việc tổ chức phong trào thi đua ở một số đơn vị chưa thực chất, hiệu quảthấp; khen thưởng thiếu kịp thời, chưa sát đối tượng; tỷ lệ khen thưởng chưacân đối, có đơn vị khen thưởng nhiều cho lãnh đạo, chỉ huy Trong giải phápđổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức phương pháp tiếnhành công tác tư tưởng phù hợp với thực tiễn xây dựng và chiến đấu của quân

Trang 23

đội, tập thể tác giả nhấn mạnh cần phải gắn hoạt động TĐ, KT với nhiệm vụchính trị của đơn vị, tổ chức thực hiện thắng lợi phong trào thi đua trong quânđội Biểu dương, khen thưởng kịp thời cách làm hay, sáng tạo, những tấmgương ĐHTT trong huấn luyện, chiến đấu, cứu hộ, cứu nạn, xóa đói giảmnghèo, kết hợp đẩy mạnh phong trào TĐQT với tuyên truyền, cổ vũ động viêncác nhân tố mới, ĐHTT, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực.

Bùi Quang Cường (Tổng Chủ biên, 2019), Lý luận và thực tiễn xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam về chính trị [38] Trong giải pháp “Tăng cường đổi

mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ cách cách mạng, nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới” [38,tr.142], các tác giả nhấn mạnh ngoài việc đổi mới nội dung, phương pháp công tácdục chính trị, công tác tuyên tuyền cổ động, công tác văn hóa quần chúng, còn cần

“đổi mới nội dung, phương pháp công tác thi đua, khen thưởng” [38, tr.149] Trên

cơ sở làm rõ vai trò của TĐ, KT trong quân đội là một biện pháp tổ chức thực tiễn,một phương pháp cách mạng tích cực để động viên trí sáng tạo, ý chí quyết tâm,năng lực hành động, nhằm tạo nên phong trào cách mạng của quần chúng, thựchiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội, các tác giả đã khẳng định

để đổi mới công tác TĐ, KT cần tập trung thực hiện tốt các khâu, bước: Từ việclập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch thi đua; duy trì và mở rộng phong tràothi đua và thực hiện có nền nếp sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thi đua

Phạm Tiến Dũng (2019), “Kết quả và kinh nghiệm tổ chức công tác thiđua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng của Học viện Chính trị

giai đoạn 2014-2019” [41] Tác giả đã chỉ rõ những kết quả đã đạt được trong

công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT của Học viện Chính trị trong nhữngnăm qua Trong đó, tác giả nhấn mạnh, Thường vụ Đảng ủy, Ban Giám đốcHọc viện đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt côngtác TĐ, KT và phong trào TĐQT; đã thực hiện tốt các hoạt động thi đua trọngđiểm; công tác khen thưởng đã được triển khai thực hiện chặt chẽ, nghiêmtúc Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, tác giả rút ra một số kinh nghiệm

trong tổ chức công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT như: Thứ nhất, quán triệt

sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của trên, tạo sự chuyển biến cơ bản,

Trang 24

vững chắc trong nhận thức của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp Thứ hai, cần coi trọng công tác giáo dục, xây dựng động cơ thi đua đúng đắn Thứ ba, công

tác TĐ, KT và phong trào TĐQT phải được tổ chức một cách khoa học, luôn

đổi mới sáng tạo cả về nội dung, hình thức, biện pháp Thứ tư, làm tốt công tác phát hiện bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng các ĐHTT Thứ năm, cần

tăng cường chỉ đạo xây dựng điểm, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm

Tổng cục Chính trị (2020), Kỷ yếu Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ X [149] Trong Phần thứ nhất của kỷ yếu, đã thể hiện rõ các văn

kiện chủ yếu của Đại hội TĐQT toàn quân lần thứ X như: Báo cáo tổng kếtcông tác TĐ, KT và phong trào TĐQT với tiêu đề “Phát huy bản chất cáchmạng, truyền thống quân đội anh hùng và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”,toàn quân đẩy mạnh thi đua hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, góp phần xứngđáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [149, tr.11]; “Thư gửi cán bộ,chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp công nhân viên chức, người lao động toànquân” [149, tr.59] Trong Phần thứ hai của kỷ yếu, đã thể hiện rõ các báo cáoĐHTT tại Đại hội TĐQT toàn quân lần thứ X: trong đó có 39 báo cáo của các tậpthể và 25 báo cáo của các cá nhân ĐHTT với những cách làm hay, mô hình sángtạo trong thực hiện công tác TĐ, KT và phong trào TĐQT, góp phần quan trọngvào việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị Mặt khác,trong Phần thứ ba của kỷ yếu, cũng đã giới thiệu cụ thể một số tư liệu về Đại hộiTĐQT toàn quân lần thứ X như: một số thông tin về thời gian, địa điểm và đại biểutham gia Đại hội; danh sách 03 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lựclượng vũ trang nhân dân (Tổng cục II, Bộ Quốc phòng; Viện 78 (nay là Cục 78),Tổng cục II, Bộ Quốc phòng; Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng); 17 cá nhân đượctặng danh hiệu “Chiến sĩ Thi đua toàn quốc” giai đoạn 2015-2020 và 157 tập thể,

143 cá nhân ĐHTT tham dự Đại hội TĐQT toàn quân lần thứ X

Nguyễn Trọng Nghĩa (2020), “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệuquả công tác thi đua, khen thưởng trong Quân đội” [106] Tác giả đã chỉ rõ nhữngkết quả đạt được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác TĐ, KT và phong tràoTĐQT; việc thực hiện các nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thi đua; việctuyên truyền, tôn vinh, nhân rộng ĐHTT và việc thực hiện công tác khen

Trang 25

thưởng… Bên cạnh kết quả nổi bật, tác giả cũng chỉ rõ việc đổi mới công tác TĐ,

KT vẫn còn có mặt hạn chế như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, tổchức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị có mặt chưađúng mức; chưa có nhiều ĐHTT có phạm vi lan tỏa sâu rộng trong toàn quân,toàn quốc; việc khen thưởng có biểu hiện chưa cân đối, chạy theo số lượng Theotác giả, để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công TĐ, KT trong Quân đội

thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số biện pháp sau: Một là, tiếp tục

quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ

Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về công tác thi đua, khen thưởng Hai là, tăng

cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác TĐ, KT và phong

trào TĐQT Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào thi đua Bốn là, thực hiện tốt công tác xây dựng, bồi dưỡng và nhân ĐHTT. Năm là, tiếp tục đổi mới công tác khen thưởng, bảo đảm chính xác, kịp

thời, dân chủ, chặt chẽ, đúng đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, hồ sơ

Nguyễn Đình Khiêm (2021), “Sư đoàn bộ binh 395 đẩy mạnh phong tràoThi đua Quyết thắng” [82] Tác giả đã nhấn mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm vụ khác của Sư đoàn, cần phải tiến hànhđồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo; trong đó, đẩy mạnhphong trào TĐQT là nội dung, giải pháp quan trọng, tạo động lực thúc đẩy các

cơ quan, đơn vị và từng cá nhân khắc phục khó khăn, thi đua hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh “tiêu biểu, mẫumực”, Sư đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” Trên cơ sở nhữngkết quả đã đạt được, tác giả khái quát và làm rõ một số kinh nghiệm trong tổ

chức phong trào TĐQT của Sư đoàn bộ binh 395 như: Một là, tăng cường

tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác

TĐ, KT và phong trào TĐQT; Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy,

tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các

cấp; Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào TĐQT; Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với khen thưởng; kịp thời

phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng, nhân rộng ĐHTT

Nguyễn Minh Trí (2022), “Giá trị luận điểm “Thi đua là gieo trồng, khenthưởng là thu hoạch” - Ý nghĩa đối với phong trào thi đua ở đơn vị cơ sở” [150]

Trang 26

Tác giả đã làm rõ vai trò, mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng Trong đó, tácgiả đã tập trung luận giải và khẳng định: Thi đua là nền tảng của khen thưởng; khenthưởng là động lực để thúc đẩy phong trào thi đua; thi đua và khen thưởng có mốiquan hệ hữu cơ với nhau Theo tác giả, để giải quyết tốt mối quan hệ giữa thi đuavới khen thưởng, các đơn vị cơ sở trong quân đội cần nắm vững và thực hiện tốt

một số vấn đề sau: Một là, quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, bám sát nội dung định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự lãnh

đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đối với công tác TĐ, KT Hai là,

đẩy mạnh phong trào TĐQT ở đơn vị, nhất là cuộc vận động “Phát huy truyền

thống, cống hiến tài năng xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” Ba là, đổi mới, nâng cao chất

lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ và thực chất, bảo đảm khenthưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có tác dụng động viên, giáo dục,

nêu gương Bốn là, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết khen thưởng

kịp thời đối với các tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong các phong trào thiđua và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn

đề luận án tập trung nghiên cứu

1.3.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đề tài luận án

Có thể khẳng định, những công trình khoa học nghiên cứu về TĐ, KT,công tác TĐ, KT và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT của các tácgiả nước ngoài và trong nước đã được công bố là tương đối đa dạng, phongphú Đặc biệt, về vấn đề đổi mới công tác TĐ, KT trong QĐNDVN đã có một

số tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ Các công trình trên mặc dù có đốitượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, song đây đều là những công trìnhkhoa học tiêu biểu được nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có giá trị khoa học

cả về lý luận và thực tiễn Có thể khái quát giá trị của các công trình khoa học

đã tổng quan đối với đề tài luận án, trên một số vấn đề sau:

Một là, các công trình khoa học đã tổng quan ở trong và ngoài nước,

giúp cho đề tài luận án có thể nghiên cứu, kế thừa, luận giải rõ hơn lý luận chủ

Trang 27

nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của các đảng cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh

về thi đua và khen thưởng; đồng thời giúp cho đề tài luận án có cơ sở lý luận đểlàm rõ quan niệm, vai trò, nội dung, hình thức, biện pháp, mối quan hệ giữa thiđua và khen thưởng ở các TĐBB trong QĐNDVN Trong đó, các công trìnhkhoa học đã tổng quan chỉ rõ vai trò của TĐ, KT chính là động lực quan trọng

để thúc đẩy các cá nhân, tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời nhấn mạnhthi đua và khen thưởng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là cơ sở, là tiền đềcho nhau và đặt ra yêu cầu khi tiến hành thi đua phải phát huy được tính tựgiác, sáng tạo của quần chúng; khen thưởng phải công bằng, chính xác; các cấp

ủy, tổ chức đảng phải quan tâm, chú trọng lãnh đạo chặt chẽ

Hai là, các công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cho đề tài luận

án cơ sở khoa học trong việc làm rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhữngvấn đề lý luận về công tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác

TĐ, KT Trong đó, các công trình khoa học đã tổng quan, tập trung luận giải,làm rõ quan niệm, vai trò, nội dung, đặc điểm của công tác TĐ, KT; chỉ rõquan niệm, vai trò, biện pháp phát hiện, bồi dưỡng, nhân ĐHTT và làm rõ vaitrò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT Đồng thời, các côngtrình đã luận giải, làm rõ quan niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng công tác

TĐ, KT; quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc trong nâng cao chấtlượng công tác TĐ, KT ở các đơn vị cơ sở trong QĐNDVN Những vấn đềtrên là cơ sở giúp đề tài luận án làm rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu tậptrung vào công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN; đồng thời giúp đềtài luận án có thể kế thừa một số vấn đề lý luận để luận giải, làm rõ quanniệm, đặc điểm, vai trò công tác TĐ, KT và xây dựng quan niệm, làm rõ nộidung, hình thức, biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT

Ba là, các công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cơ sở thực tiễn

giúp đề tài luận án có thể kế thừa trong đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân

và một số kinh nghiệm trong tiến hành công tác TĐ, KT Trong đó, một sốcông trình khoa học đã khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng công tác TĐ, KT dựa

Trang 28

trên các góc độ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng; về nội dung,biện pháp tiến hành công tác TĐ, KT; đánh giá kết quả thực hiện phong trào thiđua và công tác khen thưởng Đồng thời, các công trình khoa học đã chỉ ra nguyênnhân của những hạn chế, khuyết điểm, chủ yếu là do công tác giáo dục, xây dựngđộng cơ thi đua còn chưa hiệu quả; tác động của mặt trái kinh tế thị trường; sựphối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác TĐ, KT chưa chặtchẽ Trên cơ sở đó, các công trình đã rút ra một số kinh nghiệm trong nâng caochất lượng công tác TĐ, KT như: cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo củacấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng; tuyên truyền, phổ biến, học tập kinhnghiệm của các ĐHTT; bảo đảm tốt cơ sở vật chất cho công tác TĐ, KT.

Bốn là, một số công trình khoa học đã tổng quan cung cấp cho đề tài

luận án cơ sở để xác định những yếu tác động và đề xuất các giải pháp đổi mới,nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT Trong đó, các công trình đã chỉ rõ sự tácđộng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, sự phát triển của nhiệm vụ bảo

vệ Tổ quốc, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị Để đổi mới, nâng cao chấtlượng công tác TĐ, KT trong QĐNDVN, một số công trình đã đề xuất các giảipháp như: Quán triệt, thực hiện tốt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước về công tác TĐ, KT; nâng cao nhận thức, trách nhiệmcủa các tổ chức, lực lượng; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chứcphong trào thi đua; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐ, KT; phát hiện,bồi dưỡng, nhân ĐHTT; thực hiện tốt việc đổi mới công tác khen thưởng

Như vậy, các công trình khoa học đã tổng quan, có liên quan đến TĐ,KT; công tác TĐ, KT và đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KTcho thấy, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của cáccông trình có sự khác nhau rõ nét Kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học trên đã cung cấp những giá trị lý luận, thực tiễn cho đề tài luận

án Đây thực sự là nguồn tư liệu phong phú, những luận cứ khoa học cả về

lý luận và thực tiễn để nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừa, bổ sung, pháttriển trong quá trình nghiên cứu, xây dựng luận án Tuy vậy, cho đến nay

Trang 29

chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách trực tiếp, cơ bản, hệthống và chuyên sâu về đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trongQĐNDVN dưới góc độ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhànước Vì vậy đề tài luận án là công trình nghiên cứu độc lập, không trùnglặp với các công trình đã công bố

1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

và giá trị lý luận, thực tiễn của các công trình khoa học đã tổng quan đối với đềtài luận án, để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án cần tậptrung nghiên cứu một số vấn đề sau:

Một là, luận giải, làm rõ TĐ, KT và công tác TĐ, KT ở các TĐBB

trong QĐNDVN Trong đó, tập trung xây dựng quan niệm, khát quát cơ cấu

tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ và làm rõ đặc điểm, vai trò của cácTĐBB trong QĐNDVN; đồng thời xây dựng và làm rõ quan niệm, chỉ rõmục đích, chủ thể, đối tượng, lực lượng, nội dung, hình thức, biện pháp côngtác TĐ, KT và luận giải đặc điểm, vai trò, tiêu chí đánh giá công tác TĐ, KT

ở các TĐBB trong QĐNDVN

Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới công tác TĐ, KT ở các

TĐBB trong QĐNDVN Tập trung nghiên cứu, xây dựng, làm rõ quan niệm;luận giải nội dung, hình thức, biện pháp và những vấn đề có tính nguyên tắctrong đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Ba là, tiến hành nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu,

số liệu; đánh giá đúng thực trạng công tác TĐ, KT ở các TĐBB; phân tích, luậngiải làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; rút ra một

số kinh nghiệm tiến hành công tác TĐ, KT ở các TĐBB trong QĐNDVN

Bốn là, phân tích, dự báo những yếu tố tác động đến đổi mới công tác

TĐ, KT ở các TĐBB; xác định các yêu cầu và đề xuất hệ thống giải phápđồng bộ, toàn diện nhằm đổi mới công tác TĐ, KT ở các TĐBB trongQĐNDVN hiện nay

Kết luận chương 1

Trang 30

Ở ngoài nước và trong nước đã có khá nhiều các công trình khoa họcnghiên cứu về TĐ, KT; công tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng côngtác TĐ, KT Các công trình này, có đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vinghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều là các công trình khoa học cógiá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với đề tài luận án.

Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án cho thấy

TĐ, KT; công tác TĐ, KT; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TĐ, KT lànhững vấn đề rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của các đảng cộng sản,trong công tác quản lý của nhà nước đối với xã hội và các lực lượng vũ trang.Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến “Đổi mới công tác thiđua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Namhiện nay” có ý nghĩa rất quan trọng, giúp nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắcđược lịch sử vấn đề nghiên cứu, nâng cao tri thức, năng lực nghiên cứu, kế thừa

có chọn lọc một cách đúng đắn, sáng tạo kết quả của các công trình, từ đó đềxuất những ý tưởng mới, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt

ra, góp phần thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ của luận án đã xác định

Từ kết quả tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tàiluận án cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứumột cách cơ bản, có hệ thống dưới góc độ khoa học chính trị, chuyên ngànhXây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước về lý luận, thực tiễn “Đổi mới côngtác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân

Việt Nam hiện nay” Do đó, việc lựa chọn đề tài luận án là hoàn toàn độc lập,

không trùng lặp với các công trình khoa học đã được nghiệm thu, công bố

Trang 31

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC THI ĐUA,

KHEN THƯỞNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA,

KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH

TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1 Các trung đoàn bộ binh và công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1.1 Quan niệm, tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Quan niệm TĐBB trong QĐNDVN

Khi đề cập về quan niệm trung đoàn, Từ điển Bách khoa quân sự ViệtNam đã chỉ rõ:

Trung đoàn là binh đội chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn Thườnggồm 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế sưđoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh hoặc được tổ chức độc lập trong quânđoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn để tácchiến và thực hiện nhiệm vụ khác Có trung đoàn chiến đấu (trungđoàn bộ binh; trung đoàn bộ binh cơ giới; trung đoàn xe tăng; trungđoàn pháo binh; trung đoàn đặc công; trung đoàn không quân; trungđoàn hải quân đánh bộ ), trung đoàn bảo đảm hoặc phục vụ (trungđoàn công binh; trung đoàn thông tin; trung đoàn hóa học; trung đoànvận tải ) [168, tr.1124]

Trong QĐNDVN, trung đoàn được quy định về tổ chức lần đầu tiêntheo Sắc lệnh số 33-SL, ngày 22/3/1946 về “Quy định cấp bậc, quân phục,phù hiệu, cấp hiệu cho Lục quân toàn quốc” và được biên chế chi tiết (trungđoàn bộ binh), theo Sắc lệnh số 71-SL, ngày 22/5/1946 về “Quân đội củanước Việt Nam là một Quân đội quốc gia” của Chủ tịch nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa và các văn bản tiếp sau của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Thammưu Hiện nay, TĐBB trong QĐNDVN bao gồm có TĐBB đủ quân, làmnhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ; TĐBB rút gọn (biên chế 01 tiểu đoàn bộ binh

đủ quân) và TĐBB khung thường trực, trực thuộc các sư đoàn bộ binh, các

Trang 32

quân khu, quân đoàn và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố

Hồ Chí Minh, bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Theo

đó, hiện nay có 33 TĐBB đủ quân trực thuộc các sư đoàn bộ binh, đóng quântrên mọi miền của Tổ quốc [Phụ lục 1]

Theo cách hiểu trên, có thể quan niệm: Trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là đơn vị chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn; là lực lượng nòng cốt hợp thành các sư đoàn bộ binh, về cơ bản được biên chế

đủ quân số, vũ khí trang bị theo quy định để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và các nhiệm vụ khác được giao, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết của các cấp; góp phần trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh.

Tổ chức, biên chế của các TĐBB trong QĐNDVN

Hiện nay, các TĐBB được tổ chức, biên chế theo Quyết định số508/QĐ-TM, ngày 30/3/2018 của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN “Về việcban hành Biểu tổ chức, biên chế sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộcquân khu, quân đoàn” Tổ chức, biên chế của các TĐBB đủ quân trongQĐNDVN bao gồm: Ban chỉ huy trung đoàn (trung đoàn trưởng; chính ủy; phótrung đoàn trưởng - tham mưu trưởng; phó trung đoàn trưởng; phó chính ủy);các cơ quan (ban tham mưu, ban chính trị, ban hậu cần, ban kỹ thuật); 03 tiểuđoàn bộ binh, 08 đại đội trực thuộc và 01 trung đội vệ binh (mỗi tiểu đoàn bộbinh có 03 đại đội bộ binh; 01 đại đội binh chủng và 03 trung đội trực thuộc)

Về tổ chức đảng ở các TĐBB làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, đượcthành lập theo đúng quy định của Điều lệ Đảng; Quy định số 49-QĐ/TW, ngày22/12/2021 của Bộ Chính trị về “Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân ViệtNam” và quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ

cơ sở ở đơn vị chiến đấu trong QĐNDVN Tổ chức đảng ở các TĐBB là tổchức cơ sở đảng 3 cấp, gồm đảng ủy trung đoàn; đảng ủy tiểu đoàn và chi bộ ởcác cơ quan trung đoàn, tiểu đoàn bộ và các đại đội

Về tổ chức quần chúng ở các TĐBB gồm có Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh và Hội phụ nữ Trước hết, đối với Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh ở các TĐBB được tổ chức theo Hướng dẫn số16-HD/TWĐTN-BTC, ngày 17/8/2018 của Ban Chấp hành Trung ương

Trang 33

Đoàn về “Thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” Theo đó, Đoànthanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các TĐBB là tổ chức cơ sở đoàn 3 cấp:Đoàn cơ sở được thành lập ở trung đoàn; liên chi đoàn ở các tiểu đoàn và chiđoàn được thành lập ở các đại đội Đối với Hội phụ nữ, căn cứ vào Điều lệHội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và tình hình thực tiễn của đơn vị, ở cácTĐBB thành lập chi hội phụ nữ cơ sở cấp trung đoàn.

Về tổ chức hội đồng quân nhân ở các TĐBB được tổ chức theo Thông tư

số 165/2018/TT-BQP, ngày 01/12/2018 của Bộ Quốc phòng, “Quy định về tổchức và hoạt động của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.Hội đồng quân nhân ở các TĐBB được thành lập ở các đại đội, tiểu đoàn bộ vàkhối cơ quan trung đoàn, do đại hội quân nhân bầu ra để thực hiện phát huy dânchủ về quân sự - chuyên môn, chính trị, kinh tế - đời sống ở cơ quan, đơn vị

Chức năng, nhiệm vụ của các TĐBB trong QĐNDVN

Về chức năng của các TĐBB: Điều 25, Luật Quốc phòng đã chỉ rõ:

“Quân đội nhân dân có chức năng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiếnđấu bảo vệ Tổ quốc; thực hiện công tác vận động, tuyên truyền chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; laođộng sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, tham giaphòng thủ dân sự, cùng toàn dân xây dựng đất nước; thực hiện nghĩa

vụ quốc tế” [127, tr.21]

Các TĐBB là một bộ phận, lực lượng nòng cốt của các sư đoàn bộ binhtrong thực hiện các nhiệm vụ; căn cứ vào chức năng của QĐNDVN, của các sưđoàn, quân khu, quân đoàn; căn cứ Quyết định số 508/QĐ-TM ngày 30/3/2018của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN “Về việc ban hành Biểu tổ chức, biên chế

sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quân khu, quân đoàn”, có thể kháiquát chức năng của các TĐBB đó là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, độiquân lao động sản xuất Thực hiện các chức năng trên, là trách nhiệm của các

tổ chức, lực lượng ở các TĐBB

Về nhiệm vụ của các TĐBB: Xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN; quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của Quân đội, củacác quân khu, quân đoàn và sư đoàn; căn cứ vào Điều 1 và Điều 2 của Điềulệnh chiến đấu trung đoàn bộ binh và thực tiễn hoạt động, có thể khái quátnhững nhiệm vụ chủ yếu của các TĐBB trong QĐNDVN như sau:

Trang 34

Một là, thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, nâng cao chất lượng tổng

hợp, trình độ, khả năng SSCĐ và chiến đấu trong mọi tình huống

Hai là, xây dựng nền nếp chính quy, duy trì kỷ luật; xây đảng bộ trung

đoàn trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, đơn vị VMTD

Ba là, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm

đời sống vật chất, tinh thần cho sĩ quan, QNCN và HSQ, BS; thực hiện chế

độ, chính sách hậu phương quân đội

Bốn là, thực hiện công tác kỹ thuật, tài chính; tiến hành công tác dân

vận, tham gia xây dựng cơ sở chính trị trên địa bàn đóng quân vững mạnh;tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh,thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn

Năm là, đấu tranh phòng, chống làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn

“diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; sẵn sàng nhận vàhoàn thành các nhiệm vụ đột xuất trên giao

2.1.1.2 Đặc điểm của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Một là, các TĐBB được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, về cơ bản được biên chế khá đầy đủ quân số, vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật; hạ tầng cơ

sở từng bước được đầu tư xây dựng ngày càng chính quy.

Hiện nay, các TĐBB trong QĐNDVN được tổ chức chặt chẽ, thống nhất

từ trên xuống dưới theo đúng điều lệnh, điều lệ của quân đội, với đầy đủ hệthống các tổ chức từ tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy đến tổ chức quần chúng, hộiđồng quân nhân; có đầy đủ các cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹthuật), các tiểu đoàn và đại đội trực thuộc Về cơ bản các TĐBB thường đượcbiên chế khá đầy đủ quân số theo quy định về biểu tổ chức, biên chế sư đoàn

bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quân khu, quân đoàn Mặt khác, các TĐBBđược trang bị, sử dụng một lượng vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật đadạng, nhiều chủng loại như: các loại vũ khí, trang bị của bộ binh đến pháobinh, phòng không; các phương tiện vận tải, trang thiết bị kỹ thuật chuyên mônnghiệp vụ của quân y, thông tin, trinh sát Các loại vũ khí, trang bị, phươngtiện kỹ thuật của các TĐBB đều được sử dụng trong huấn luyện, SSCĐ và gópphần quan trọng giúp các TĐBB có thể thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được

Trang 35

giao Hiện nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đa số các TĐBB đang từngbước được đầu tư về hạ tầng cơ sở, hệ thống doanh trại, các kho trạm ngày càngchính quy, khang trang Từ sở (ban) chỉ huy các cấp, hệ thống hội trường, phòngtruyền thống, phòng Hồ Chí Minh, thư viện, đến nhà ở, phòng sinh hoạt chung,khu vui chơi giải trí, thể dục thể thao, khuôn viên, cảnh quan đơn vị đều đượclãnh đạo, chỉ huy các cấp quan tâm đầu tư xây dựng đảm bảo chính quy, xanh,sạch, đẹp Đặc điểm trên là điều kiện thuận lợi để công tác TĐ, KT ở các TĐBBđược tiến hành chặt chẽ theo các cấp; đồng thời có thể huy động được sức mạnhtổng hợp của các tổ chức, lực lượng và cơ sở vật chất, phương tiện Quá trình tiếnhành công tác TĐ, KT ở các TĐBB cũng đặt ra yêu cầu cần phải bám sát tổ chức,biên chế của đơn vị; đẩy mạnh các phong trào thi đua và kịp thời biểu dương,khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ, nhất là trongquản lý, sử dụng vũ khí, trang bị; đồng thời cần kết hợp chặt chẽ với việc tổ chứctốt hội thi xây dựng “Doanh trại chính quy, xanh sạch, đẹp” ở các đơn vị.

Hai là, nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm vụ khác của các TĐBB thường diễn ra với cường độ cao, khẩn trương, trong điều kiện khó khăn, vất

vả và hy sinh.

Trong thời bình, các TĐBB phải thực hiện nhiều nhiệm vụ, song nhiệm

vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, SSCĐ Đối với nhiệm vụ huấn luyện ở cácTĐBB được lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ theo đúng phươngchâm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6mối kết hợp trong huấn luyện; chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu theonhiệm vụ, đối tượng, địa bàn tác chiến và sát tình huống chiến đấu Đồng thời,nhiệm vụ SSCĐ ở các TĐBB cũng được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằmnâng cao trình độ, khả năng SSCĐ, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống xảyra; các đơn vị duy trì chặt chẽ chế độ trực ban, trực chiến, trực SSCĐ; thườngxuyên tổ chức và luyện tập thành thục các phương án SSCĐ trong thực hiện cácnhiệm vụ A, A2, A3, A4 Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, các TĐBB cònphải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác như: giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo,phát triển kinh tế - xã hội; phòng chống thiên tai, dịch bệnh; tham gia cứu hộ,cứu nạn… Những nhiệm vụ mà các TĐBB phải thực hiện thường diễn ra với

Trang 36

cường độ cao, khẩn trương, trong điều kiện có nhiều khó khăn, vất vả, diễn ra cảngày lẫn đêm, trong mọi địa hình, khí hậu, thời tiết khắc nghiệt Thậm chí, một

số nhiệm vụ các TĐBB phải thực hiện ở xa đơn vị, diễn ra dài ngày, công táchiệp đồng, bảo đảm gặp nhiều khó khăn, gắn liền với tính chất gian khổ, hy sinh.Đặc điểm trên, đòi hỏi công tác TĐ, KT ở các TĐBB cần đẩy mạnh công táctuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ đúng đắn cho sĩquan, QNCN và HSQ, BS trong thực hiện các nhiệm vụ; tăng cường tổ chức cácphong trào thi đua bám sát các nhiệm vụ của đơn vị, nhất là nhiệm vụ huấnluyện, SSCĐ và làm tốt việc biểu dương, khen thưởng để cổ vũ, động viên, khơidậy khát vọng cống hiến sĩ quan, QNCN và HSQ, BS quyết tâm khắc phục khókhăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao

Ba là, các TĐBB có khả năng hoạt động độc lập hoặc chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng trong đội hình của cấp trên

Các TĐBB là binh đội chiến thuật binh chủng hợp thành của QĐNDVN,lực lượng chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu của sư đoàn bộ binh.Trong chiến đấu, các TĐBB có thể thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, khó khăn,phức tạp mà cấp trên giao hoặc được bố trí ở những vị trí then chốt, trên cáchướng, mũi độc lập Do vậy, căn cứ vào lực lượng, vũ khí, trang bị theo biên chếhoặc được cấp trên tăng cường về lực lượng, phương tiện, các TĐBB có thể phảiđộc lập tác chiến, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.Khi chiến đấu trong đội hình cấp trên, các TĐBB có thể đảm nhiệm là bộ phậntiến công hoặc phòng ngự trên các hướng chủ yếu, thứ yếu, phía sau hoặc làmlực lượng dự bị binh chủng hợp thành Dù đảm nhiệm ở bộ phận nào các TĐBBcũng là lực lượng chủ yếu trong chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng; chủđộng phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với pháo binh, phòng không, không quân,thông tin, hóa học… và lực lượng vũ trang địa phương trong đánh chiếm cácmục tiêu cũng như đánh bại các đợt tấn công của địch Trong thời bình, khi cótình huống xảy ra, các TĐBB có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ đột xuất trêngiao hoặc có thể phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ đơn vị bạn, lực lượng vũ trang địaphương tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn đóng quân

Trang 37

Đặc điểm trên, đặt ra đối với lãnh đạo, chỉ huy ở các TĐBB trong tiến hành côngtác TĐ, KT cần bám sát đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu độc lập và hiệpđồng quân, binh chúng trong đội hình cấp trên; chú trọng thực hiện tốt các nộidung, hình thức, biện pháp công tác TĐ, KT trong chiến đấu; tập trung đẩy mạnhcác phong trào thi đua và kịp thời làm tốt việc biểu dương, khen thưởng, bìnhcông, báo công để cổ vũ, động viên sĩ quan, QNCN và HSQ, BS ở các TĐBBthực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu trong mọi tình huống.

Bốn là, các TĐBB thường bố trí và hoạt động trên các địa bàn chiến lược, khu vực phòng thủ trọng yếu của đất nước.

Nằm trong biên chế và căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của các sư đoàn bộbinh, quân khu, quân đoàn, do vậy các TĐBB thường được bố trí đóng quântrên địa bàn rộng, mang tính chiến lược và trong khu vực phòng thủ trọng yếucủa đất nước, của các tỉnh, thành phố Đây là những địa bàn có vị trí chiếnlược cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, thậm chí một sốTĐBB đóng quân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, vẫn còn tồn tại những phong tụctập quán lạc hậu, nơi mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng, đẩymạnh các hoạt động chống phá Vì vậy, việc thực hiện tốt công tác tuyêntruyền vận động nhân dân; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và lựclượng vũ trang địa phương đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chốngphá của các thế lực thù địch; tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phươngvững mạnh, thế trận lòng dân vững chắc, địa bàn đóng quân an toàn, ổn định

và phát triển cũng là nhiệm vụ quan trọng của các TĐBB hiện nay Đặc điểmtrên, đòi hỏi công tác TĐ, KT ở TĐBB cần gắn kết chặt chẽ với công tác TĐ,

KT và phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của địa phương; nắmchắc tình hình địa bàn đóng quân; tăng cường các hoạt động, giao lưu, phốihợp, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với cấp ủy, chính quyền địa phương trongtiến hành công tác TĐ, KT và trong tham gia xử lý các tình huống xảy ra trênđịa bàn một cách nhanh chóng, kịp thời

Trang 38

2.1.1.3 Vai trò của các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Hiện nay, các TĐBB có vai trò rất quan trọng đối với sự vững mạnh của

quân đội nói chung và của các sư đoàn, quân khu, quân đoàn nói riêng Vai tròcủa các TĐBB được biểu hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Một là, các TĐBB là lực lượng nòng cốt, chủ yếu góp phần trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh trong QĐNDVN

Sức mạnh của các sư đoàn bộ binh trong QĐNDVN là sức mạnh tổnghợp của nhiều yếu tố, nhiều tổ chức, lực lượng, đó là sức mạnh toàn diện vềchính trị, tư tưởng và tổ chức Sức mạnh đó là sự liên kết, tác động qua lại,gắn bó chặt chẽ giữa các cá nhân và tổ chức trong các sư đoàn bộ binh Để cóđược sức mạnh tổng hợp, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trướchết các sư đoàn bộ binh phải huy động sức mạnh của các yếu tố, nhất là phảiphát huy được vai trò của các TĐBB và đơn vị trực thuộc Theo Biểu tổ chức,biên chế Sư đoàn bộ binh đủ quân (thời bình) thuộc quân khu, quân đoàn, cácTĐBB chính là nền tảng, lực lượng quan trọng của các sư đoàn bộ binh trongthực hiện các nhiệm vụ Với quân số, vũ khí trang bị hiện có, các TĐBB làlực lượng nòng cốt, chủ yếu trong thực hiện huấn luyện, SSCĐ và các nhiệm

vụ khác được giao, đặc biệt là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trongphòng chống thiên tai, dịch bệnh, tham gia cứu hộ, cứu nạn… của các sư đoàn

bộ binh Các TĐBB hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là yếu tố quan trọng gópphần trực tiếp vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của các sư đoàn bộ binh.Ngược lại, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các TĐBB thấp, sẽ trực tiếplàm giảm đi sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh Mặt khác, cácTĐBB còn góp phần trọng trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất,năng lực của sĩ quan, QNCN và HSQ, BS đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụcủa các sư đoàn bộ binh trong tình hình mới Như vậy, sự vững mạnh cácTĐBB ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn bộ binh

cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Trang 39

Hai là, các TĐBB là nơi trực tiếp quán triệt, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên.

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị,mệnh lệnh của các cấp đòi hỏi các tổ chức, lực lượng trong quân đội quán triệt,

tổ chức thực hiện nghiêm túc Trong đó, các TĐBB là đơn vị cơ sở trongQĐNDVN, là nơi trực tiếp quán triệt, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên.Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của các TĐBB, thông qua hoạt động thựctiễn của sĩ quan, QNCN và HSQ, BS mà đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của các cấp sư đoàn, quân khu,quân đoàn được cụ thể hóa, hiện thực hóa trong cuộc sống Quá trình triển khai

tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các TĐBB, chính là thực tiễn quan trọng để kiểmnghiệm, khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên Thôngqua việc nghiên cứu, quán triệt, tổ chức thực hiện, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm,góp phần kịp thời phát hiện những vấn đề mới, các khó khăn, vướng mắc vànhững tâm tư, nguyện vọng chính đáng của sĩ quan, QNCN và HSQ, BS Đâychính là cơ sở giúp cho các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì ở các TĐBB kịpthời bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, biện pháp để tổ chức thực hiện thắnglợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, các chỉ thị,mệnh lệnh của cấp trên trong thực tiễn

Ba là, các TĐBB là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện sĩ quan, QNCN và HSQ, BS góp phần xây dựng người quân nhân cách mạng đáp ứng yêu cầu phát triển của Quân đội và xã hội.

Các TĐBB là những trường học thực tiễn trong Quân đội, trực tiếpquản lý, giáo dục, rèn luyện sĩ quan, QNCN và HSQ, BS Ở môi trường này,các sĩ quan, QNCN và HSQ, BS tiếp tục được học tập, giáo dục toàn diện vềcác kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn; đượcbồi dưỡng, rèn luyện về thể lực, kỹ chiến thuật quân sự, nâng cao phẩm chất

Trang 40

chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… Thông qua thực tiễn hoạt động quân sự ởcác TĐBB đã góp phần đào tạo ra những người quân nhân cách mạng có bảnlĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có sức khoẻ

và kiến thức, kỹ năng quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đặc biệt là hàng năm, có rất nhiều thanh niên ở các địa phương trong cảnước tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự Những thanh niên này cơ bản đềuđược giáo dục, rèn luyện ở các tiểu đoàn, đại đội huấn luyện chiến sĩ mới ở cácTĐBB Thông qua quá trình huấn luyện, rèn luyện ở các TĐBB, một số HSQ,

BS có đủ tiêu chuẩn về năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống sẽ được cấp ủy, tổchức đảng, cán bộ chủ trì các cấp lựa chọn đưa đi đào tạo, bồi dưỡng để pháttriển đảng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi tham gia thi tuyển sinh vào các họcviện, trường sĩ quan, tạo nguồn cán bộ phục vụ lâu dài trong quân đội Đối vớicác HSQ, BS còn lại, sau khi hết thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự trở về địaphương, phần lớn đã tích cực học tập, nâng cao trình độ, tiếp tục có những đónggóp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước.Như vậy, thông qua quá trình học tập, rèn luyện ở các TĐBB, đã góp phần hìnhthành, hoàn thiện, phát triển các phẩm chất, năng lực cho sĩ quan, QNCN vàHSQ, BS đáp ứng yêu cầu phát triển của quân đội và xã hội

Bốn là, các TĐBB là lực lượng chủ yếu góp phần tăng cường mối quan

hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương trên địa bàn đóng quân vững mạnh.

Các TĐBB trong QĐNDVN hiện nay đóng quân trên các vùng miền của cảnước, góp phần quan trọng trong phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các banngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy truyềnthống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các mục tiêuphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương Đồngthời, các TĐBB còn tích cực tham gia cùng với địa phương làm thất bại âmmưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, gópphần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân

Ngày đăng: 25/06/2023, 13:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2021), Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2021
2. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, số 21-KL/TW, ngày 25/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
3. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Quy định về những điều đảng viên không được làm, số 37-QĐ/TW, ngày 25/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về những điều đảng viên không được làm
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
4. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, số 21-NQ/TW, ngày 16/6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về tăng cường củng cố xâydựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viêntrong giai đoạn mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2022
5. Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (2018), Hướng dẫn về thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, số 18-HD/TWĐTN-BTC, ngày 17/8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về thực hiện Điều lệĐoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đoàn
Năm: 2018
6. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2018), 70 năm thi đua yêu nước (1948-2018), Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70 năm thi đua yêu nước (1948-2018)
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2018
7. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2020), Công văn về việc nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, số 139/BTĐKT-VI ngày 20/01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn về việc nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
8. Ngô Quốc Bảo (2021), “Sư đoàn 395, Quân khu 3 - hiệu quả từ thực hiện phong trào thi đua Quyết thắng”, Tạp chí Thi đua, khen thưởng, số 254, tr.24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư đoàn 395, Quân khu 3 - hiệu quả từ thực hiện phongtrào thi đua Quyết thắng”," Tạp chí Thi đua, khen thưởng
Tác giả: Ngô Quốc Bảo
Năm: 2021
9. Nguyễn Đình Bắc (2017), “Phong trào thi đua yêu nước ở thanh niên quân đội”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 10, tr.10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thi đua yêu nước ở thanh niên quân đội
Tác giả: Nguyễn Đình Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật
Năm: 2017
10. Mai Hồng Bỉnh (Chủ nhiệm, 2011), Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay, Đề tài độc lập cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay
Tác giả: Mai Hồng Bỉnh
Nhà XB: Đề tài độc lập cấp Bộ Quốc phòng
Năm: 2011
11. Đặng Tiểu Bình (1995), Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc, (người dịch Ngô Tử Quỳnh, Đặng Minh Khôi, Trần Hà Phương, Nguyễn Bá Cự, Võ Ca, Đỗ Thúc Thuần), Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách và mở cửa của Trung Quốc
Tác giả: Đặng Tiểu Bình, Ngô Tử Quỳnh, Đặng Minh Khôi, Trần Hà Phương, Nguyễn Bá Cự, Võ Ca, Đỗ Thúc Thuần
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 1995
12. Bộ Chính trị (2014), Chỉ thị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, số 34-CT/TW, ngày 07/4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
13. Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, số 05-CT/TW, ngày 15/5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
16. Bộ Chính trị (2022), Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, số 69-QĐ/TW, ngày 06/7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2022
17. Bộ Quốc phòng (2013), Thông tư về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng, số 14/2013/TT-BQP, ngày 24/01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
18. Bộ Quốc phòng (2014), Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 160/2014/TT- BQP, ngày 09/11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
19. Bộ Quốc phòng (2018), Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 151/2018/TT- BQP, ngày 12/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định chi tiết và hướng dẫn thi đua, khen thưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
20. Bộ Quốc phòng (2018), Thông tư về quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 165/2018/TT-BQP, ngày 01/12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
21. Bộ Quốc phòng (2018), Điều lệnh chiến đấu trung đoàn bộ binh, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệnh chiến đấu trung đoàn bộ binh
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2018
22. Bộ Quốc phòng (2020), Thông tư về quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội nhân dân Việt Nam, số 138/2020/TT-BQP, ngày 10/11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG (TỔ) THI ĐUA - KHEN THƯỞNG  Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - 1 luận án   vu xuan truong
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG (TỔ) THI ĐUA - KHEN THƯỞNG Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (Trang 188)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w