1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình hình sâu hại lạc và biện pháp hoá học phòng chống chúng tại huyện nghi lộc tỉnh nghệ an vụ xuân 2006

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 7,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MụC ĐíCH đề tài Nghiên cứu thành phần sâu hại lạc, diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính và thử nghiệm một số loại thuốc hoá học trong phòng chống chúng làm cơ sở cho việc lựa chọn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

-

TRịNH THạch lam

Nghiên cứu tình hình sâu hại lạc

và biện pháp hoá học phòng chống chúng tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An vụ xuân 2006

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Mã số: 60.62.10 Người hướng dẫn khoa học: pgs ts Đặng Thị Dung

Hà nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đ6 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trịnh Thạch Lam

Trang 3

Lời cảm ơn

Có được kết quả nghiên cứu này

Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

PGS TS Đặng Thị Dung – Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học Trường Đại học Nông Nghiệp I, người đã hết sức tận tình và chu đáo Cô

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, chỉ dẫn cho tôi từng bước đi để tập làm và hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Nghiệp I, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian học tập

và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Bảo vệ thực vật Nghệ

An và các anh chị em đồng nghiệp, những người đã tạo mọi điều kiện về thời gian và giúp đỡ cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo địa phương và bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn những người thân trong gia

đình, bạn bè đã động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và

Tác giả luận văn

Trịnh Thạch Lam

Trang 5

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 25

4.1 Thành phần sâu hại lạc vụ xuân 2006 tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An 31 4.2 Diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính trên lạc ở vụ xuân 2006 tại

4.2.1 Diễn biến mật độ sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) trên lạc vụ xuân

4.2.2 Diễn biến mật độ sâu xanh (Helicoverpa armigera Hiibner) trên lạc vụ

4.2.3 Diễn biến mật độ sâu đục quả đậu rau (Maruca testulalis Geyer) trên lạc

4.2.4 Diễn biến mật độ câu cấu xanh nhỏ (Platymycterus sieversi Reitler) trên

4.3 Thành phần thiên địch (côn trùng ký sinh, côn trùng và nhện lớn bắt mồi)

4.4 Côn trùng ký sinh sâu non sâu khoang hại lạc vụ xuân 2006 tại Nghi lộc,

4.4.1 Thành phần côn trùng kí sinh sâu non sâu khoang Spodoptera litura Fabr hại lạc vụ xuân 2006 tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An 53

Trang 6

4.4.2 Mỗi quan hệ giữa mật độ sâu khoang Spodoptera litura Fabr và tỷ lệ kí sinh trên lạc vụ xuân 2006 tại Nghi Liên, Nghi lộc Nghệ An 54 4.4.3 Mỗi quan hệ giữa mật độ sâu khoang Spodoptera litura Fabr và tỷ lệ kí sinh trên lạc vụ xuân 2006 tại Nghi Ân, Nghi lộc Nghệ An 56 4.5 Kết quả khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với một số loài sâu hại chính trên lạc ở vụ lạc xuân 2006 tại Nghi Lộc, Nghệ An 59 4.5.1 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu khoang Spodoptera litura

4.5.2 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu xanh Helicoverpa armigera

4.6 ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến một số côn trùng và nhện bắt mồi chính

4.6.1 ảnh hưởng của thuốc đến trưởng thành bọ cánh cộc Paederus fuscipes

4.6.3 ảnh hưởng của thuốc đến trưởng thành bọ rùa đỏ Micraspis discolor

Số liệu khí tượng huyện Nghi Lộc (tháng 1 – tháng 5 năm 2006) 89

Trang 7

Danh mục các bảng trong luận văn

Bảng 4.1 Thành phần sâu hại lạc vụ xuân 2006 tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An

32 Bảng 4.2 Diễn biến mật độ sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) trên vụ xuân

Bảng 4.3 Diễn biến mật độ sâu xanh (Helicoverpa armigera Hiibner) trên lạc

Bảng 4.4 Diễn biến mật độ sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulalis Geyer) trên

Bảng 4.5 Diễn biến mật độ câu cấu xanh nhỏ (Platymycterus sieversi Reitler)

Bảng 4.6 Thành phần thiên địch sâu hại lạc vụ xuân 2006 tại huyện Nghi Lộc,

Bảng 4.11 Hiệu lực của một số loại thuốc thuốc đối với sâu khoang ở giai

Trang 8

Bảng 4.12 Hiệu lực của một số loại thuốc thuốc đối với sâu khoang ở giai

Bảng 4.16 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu khoang Spodoptera

Bảng 4.17 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu xanh Helicoverpa

Bảng 4.18 ảnh hưởng của thuốc đến trưởng thành bọ cánh cộc Paederus

Bảng 4.20 ảnh hưởng của thuốc đến trưởng thành bọ rùa đỏ Micraspis

Trang 9

Danh mục các hình, ảnh trong luận văn

ảnh 2 ổ trứng và sâu non mới nở của sâu khoang Spodoptera litura 36

ảnh 3 Câu cấu xanh nhỏ Platymycterus sieversi và triệu chứng gây hại của

Hình 5 Diễn biến mật độ sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) trên lạc vụ

Hình 6 Diễn biến mật độ sâu xanh (Helicoverpa armigera Hiibner) trên lạc

Hình 7 Diễn biến mật độ sâu đục quả đậu rau (Maruca testulalis Geyer) trên

Hình 8 Diễn biến mật độ câu cấu xanh nhỏ (Platymycterus sieversi Reitler)

Hình 9 Mỗi quan hệ giữa mật độ sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) và tỷ

lệ kí sinh trên lạc vụ xuân 2006 tại Nghi Liên, Nghi lộc Nghệ An 56 Hình 10 Mỗi quan hệ giữa mật độ sâu khoang Spodoptera litura Fabr và tỷ lệ

kí sinh trên lạc vụ xuân 2006 tại Nghi Ân, Nghi lộc Nghệ An 58

Trang 10

Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t BVTV: B¶o vÖ thùc vËt

ICRISAT: ViÖn nghiªn cøu c©y cã dÇu quèc tÕ t¹i Ên §é

BMAT: B¾t måi ¨n thÞt

VSV: Vi sinh vËt

HTX: Hîp t¸c x6

CTV: Céng t¸c viªn

Trang 11

1 mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Cây lạc (Arachis hypogeae L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao và được coi là cây công nghiệp chủ yếu của nhiều nước trên thế giới Hiện nay trên thế giới, lạc là cây lấy dầu thực vật

đứng thứ hai về năng suất và sản lượng (sau cây đậu tương), với diện tích 20 -

21 triệu ha, sản lượng 25 - 26 triệu tấn/năm (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996) [25]

ở Việt Nam cây lạc được du nhập và trồng trọt từ bao giờ cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào xác minh cụ thể Nhưng đến nay thì lạc là cây họ đậu

có diện tích lớn nhất được gieo trồng khắp từ bắc đến nam, nó không những

được coi là mặt hàng xuất khẩu quan trọng (khoảng 35 nghìn tấn/năm) mà còn

được coi là cây cải tạo đất tốt trong hệ thống canh tác đa canh ở nước ta Mặt khác lạc là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, giá trị dinh dưỡng đa dạng, là nguồn protein và lipit quan trọng đối với đa số nhân dân ta đặc biệt là nông dân có điều kiện kinh tế không cao [25]

Từ năm 1990 trở lại đây, diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng lạc không ngừng tăng lên, từ 201.400 ha năm 1990 lên 243.900 ha năm 2000 (tăng 21,1%) và đến năm 2004 là 258.700 ha (tăng 28,45 %) (Trần Đình Long) [22]

Theo Tổng cục thống kê (2004) [30], tổng diện tích lạc của cả nước đạt 258,7 nghìn ha, năng suất trung bình 17,4 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 451,1 nghìn tấn Dự kiến trong giai đoạn 2005 – 2010 đưa diện tích trồng lạc lên 330 nghìn ha, sản lượng đạt 550-560 nghìn tấn [34]

ở nước ta, Nghệ An được coi là vùng trồng lạc có truyền thống lâu đời,

nó đóng vai trò là cây cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu của vùng đất cát

Trang 12

ven biển, vùng đất b6i và đất đồi Hiện nay Nghệ An là địa phương có diện tích gieo trồng lạc lớn nhất trong cả nước (24,1 nghìn ha và sản lượng là 48,5 nghìn tấn) chủ yếu tập trung tại một số huyện ven biển như Nghi Lộc (4300 ha), Diễn Châu (3800 ha), và chủ yếu được sản xuất trong vụ xuân [7]

Theo Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, trong thời gian tới sẽ tiếp tục đầu tư thâm canh, mở rộng sản xuất lạc để đến năm 2010 sẽ đưa diện tích gieo trồng lạc của tỉnh lên đến 35 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha [32]

Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất lạc thì sâu hại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế Để phòng trừ sâu hại lạc chúng ta đ6 sử dụng nhiều biện pháp nhưng chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thuốc trừ sâu Người nông dân trồng lạc ở phía Bắc thường phun thuốc trung bình 1 – 3 lần/vụ, phía Nam là 8 – 13 lần/vụ với nhiều chủng loại thuốc và đôi khi trộn chúng với nhau Qua một thời gian sử dụng thuốc đơn thuần đ6 làm thay đổi sâu sắc hệ sinh thái đồng ruộng Chính

điều này đ6 làm cho mật độ quần thể của một số loài sâu có vai trò quan trọng tăng lên hàng năm như sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Heliothis armigera Hiib) dẫn đến mức độ gây hại lớn Chỉ tính riêng sâu khoang gây hại ở một số vùng đ6 có tới 81% lá bị hại và năng suất giảm 18% (Theo Nguyễn Thị Chắt và ctv, 1996a) [4]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Vượng (1996a) [37] cũng đ6 chỉ ra rằng, rệp đen (Aphis craccivora Koch) gây hại vào thời kỳ 35 ngày sau mọc với mật độ 5 con/búp, nếu phòng trừ muộn hơn một tuần thì có thể gây thiệt hại đến trên 20% năng suất

Xuất phát từ tình hình thực tế của sản xuất, đồng thời để góp phần ổn

định, nâng cao năng suất, phẩm chất lạc ở Nghệ An nói chung và ở Nghi Lộc nói riêng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

Trang 13

“Nghiên cứu tình hình sâu hại lạc và biện pháp hoá học phòng chống chúng tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An vụ xuân 2006”

1.2 MụC ĐíCH đề tài

Nghiên cứu thành phần sâu hại lạc, diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính và thử nghiệm một số loại thuốc hoá học trong phòng chống chúng làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp phòng chống thích hợp tại vùng nghiên cứu 1.3 yêu cầu của đề tài

- Điều tra thành phần sâu hại lạc và thiên địch của chúng (côn trùng ký sinh, côn trùng và nhện bắt mồi) vụ xuân năm 2006 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

- Điều tra diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính trên lạc

- Khảo sát, đánh giá hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc bảo vệ thực vật (Match 50ND, Peran 50EC, Kinalux 25EC) đối với một số loài sâu hại chính

- Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của các loại thuốc trên đến một số loài thiên địch chính

Trang 14

2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 2.1 Tình hình sản xuất lạc

Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, giá trị công nghiệp mà cây lạc (Arachis hypogeae L.) được trồng phổ biến từ những miền khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt

đới tới những vùng ở 400 vĩ Bắc và những vùng phía Nam xích đạo Đây là cây trồng có nguồn gốc từ vùng Gand Chaco thuộc phía Nam châu Mỹ và được trồng ở Mexico từ thời tiền Columbian Đến thế kỷ XVI người Tây Ban Nha

đưa đến miền Tây châu Phi, Philippines, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, ấn

Độ, và Mandagasca Các nước sản xuất lạc nhiều trên thế giới bao gồm ấn

Độ, Trung Quốc, Nigeria, Mỹ, Indonesia, Xênêgan, Malawi, Brazin, Xu Đăng, Achentina Trong thập niên 80, các nước này chiếm tới 80% cả về năng suất lẫn sản lượng Trong đó ấn Độ là nước có diện tích và sản lượng lớn nhất trên thế giới (40,2 % diện tích, 33 % sản lượng), (Hill and Waller, 1985) [47] Các nước trồng lạc chủ yếu trên thế giới gồm ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Su Đăng và Mỹ với diện tích trên 24,7 triệu ha, tổng sản lượng 33 triệu tấn Riêng ở ấn Độ diện tích lạc hàng năm vào khoảng 6,9 triệu ha với tổng sản lượng 5,3 triệu tấn và được trồng chủ yếu ở các bang Andhra Pradesh, Karnataka, Tamil Nadu and Maharashtra [45]

ở khu vực Đông Nam á, diện tích trồng lạc chỉ chiếm 12,61% và sản lượng cũng chỉ chiếm 12,95% của châu á Trong các nước trồng lạc ở khu vực này thì Miễn Điện là nước có diện tích lớn nhất (577,2 ngàn ha), chiếm 39,04% diện tích của khu vực Nhìn chung năng suất lạc ở khu vực Đông Nam

á là chưa cao, trung bình chỉ đạt 11,7 tạ/ha Nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực là Malaixia (trung bình 23,3 tạ/ha) Về xuất khẩu lạc chỉ có 3 nước là Việt nam, Thái Lan, Inđônêxia, trong đó Việt Nam là nước có khối

Trang 15

lượng xuất khẩu lạc lớn nhất (33,8 ngàn tấn), chiếm 45,3% khối lượng lạc xuất khẩu trong khu vực, (Fleccher S M, Ping Zhang, 1992) [45]

Đến năm 2002 diện tích gieo trồng lạc của thế giới là 21,35 triệu ha, năng suất trung bình 14,3 tạ/ha, sản lượng đạt 30,58 triệu tấn Diện tích gieo trồng chủ yếu tập trung ở các nước Châu á (63,17%), Châu Phi (31,81%) Các nước

có diện tích lớn như ấn Độ (7,5 triệu ha), Trung Quốc (4,5 triệu ha), Nigeria (1,21 triệu ha) [26]

Mặc dù ấn Độ là nước có diện tích gieo trồng lạc lớn nhất thế giới nhưng năng suất lại thấp dưới mức trung bình Năng suất lạc cao nhất là ở Ixaren đạt

65 tạ/ha [25]

Theo Lê Văn Diễn (1991) [9] cho biết, ở Việt Nam lạc được phân bố trên

4 vùng chính là Trung du Bắc bộ, đồng bằng Sông Hồng, Khu IV cũ và Đông Nam bộ Bốn vùng này chiếm 74,9% diện tích và 74% sản lượng trong đó vùng lớn nhất là Đông Nam bộ chiếm 25% diện tích, 29% sản lượng Tỉnh có nhiều lạc nhất là Nghệ Tĩnh chiếm 13,7% diện tích và 12,7% sản lượng Tuy nhiên do chưa được đầu tư thâm canh thích đáng vì vậy năng suất bình quân mới chỉ đạt 9,8 tạ/ha, thấp hơn năng suất bình quân của thế giới là 1,2 tạ/ha Tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn (1996) [25] cũng đ6 chỉ ra rằng, trong những năm chiến tranh (1955 – 1975) diện tích lạc cả nước cao nhất chỉ đạt 86 nghìn ha, nhưng ngay sau khi thống nhất đất nước, sản xuất lạc tăng nhanh và trong những năm 80 diện tích lạc đ6 vượt quá 200 nghìn ha với sản lượng trên

200 nghìn tấn, đến năm 1994 đ6 đạt 246 nghìn ha với sản lượng trên 300 nghìn tấn Tuy nhiên năng suất lạc ở giai đoạn này vẫn chưa cao mới chỉ đạt 11,9 tạ/ha Các vùng trồng lạc chính bao gồm Vùng Trung du Bắc bộ (chiếm 10%), vùng Khu IV cũ (chiếm 15 – 20%), vùng Tây nguyên và Đông Nam bộ (chiếm 30- 35%) và là vùng trồng lạc lớn nhất trong cả nước ở giai đoạn này

Trang 16

các tỉnh có diện tích lạc lớn nhất (năm 1994) là Tây Ninh (31,7 nghìn ha), Nghệ An (21,8 nghìn ha), Sông Bé (13,4 nghìn ha), Đăk Lắk (12,3 nghìn ha), Thanh Hoá (11 nghìn ha)

Theo Tổng cục thống kê (2004) [30], diện tích trồng lạc được phân bố cụ thể như sau: Vùng đồng bằng Sông Hồng 33,6 nghìn ha chiếm 12,98%, Đông Bắc bộ 34,4 nghìn ha chiếm 13,3%, Tây Bắc bộ 8 nghìn ha, chiếm 3,1%, Bắc Trung bộ 79,2 nghìn ha, chiếm 30,2%, Tây Nguyên 24,8 nghìn ha, chiếm 9,6%, Đông Nam bộ 41,3 nghìn ha, chiếm 15,9%, Đồng bằng Sông Cửu Long

13 nghìn ha, chiếm 5% Qua đây chúng ta có thể thấy khu vực Bắc Trung bộ

là nơi có diện tích lạc lớn nhất nước (30,2%) trong đó Nghệ An có 24,1 nghìn

ha chiếm 9,3% diện tích của cả nước và 30,4% diện tích lạc của khu vực Bắc Trung bộ

Từ những kết quả trên chúng ta có thể thấy rằng, trong vòng 10 năm qua (1994 – 2004) thì sản xuất lạc có sự thay đổi mạnh về cả diện tích, năng suất

và vùng phân bố sản xuất Nếu như năm 1994 diện tích cả nước là 246 nghìn

ha, sản lượng trên 300 nghìn tấn, năng suất trung bình 11,9 tạ/ha và vùng sản xuất lạc lớn nhất là vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ (chiếm 30 – 35%) thì

đến năm 2004 diện tích lạc cả nước đạt 258,7 nghìn ha, sản lượng 451,1 nghìn tấn, năng suất trung bình 17,4 tạ/ha Vùng sản xuất lớn nhất là vùng Bắc Trung bộ (chiếm 30,4%) còn vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ chỉ chiếm 20% và Nghệ An đ6 vượt lên trên Tây Ninh trở thành tỉnh trồng lạc nhiều nhất trong cả nước

Để góp phần nâng cao hơn nữa năng suất lạc, trong những năm qua các nhà chọn tạo giống đ6 nghiên cứu, đưa ra các giống lạc có năng suất cao, ổn

định

Theo thông tin từ trung tâm ICRISAT (1993) [48] tại ấn Độ người ta đ6 lai tạo ra trên 6000 giống và dòng lạc nhằm tìm ra các giống có tính chống

Trang 17

chịu sâu hại lạc như bọ trĩ, rầy xanh, rệp và đ6 tìm ra khoảng 100 giống lạc

có biểu hiện kháng sâu, một số giống, dòng có khả năng kháng đồng thời nhiều loại sâu như ICG 5420, NCAC 343

Việt Nam chúng ta bắt đầu tham gia mạng lưới châu á về cây cốc và cây

họ đậu từ năm 1989 Riêng đối với cây lạc các cơ quan nghiên cứu khoa học của Việt Nam đ6 nhận 600 dòng, giống lạc từ viện nghiên cứu quốc tế về cây trồng ở vùng bán khô hạn (ICRISAT) Mục tiêu của các nhà khoa học nước ta

là sử dụng nguồn vật liệu này để chọn tạo ra các giống lạc cho năng suất tốt, mang gen kháng sâu bệnh, phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam [24] Kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Đình Long và ctv (1991) [21] cũng đ6 tìm ra được một số giống lạc có khả năng kháng sâu như 75/23, V79, I.4480, HB5

Theo Trần Văn Lài (1993) [19] đ6 thí nghiệm so sánh các giống lạc tại Vĩnh Phú, Hà Bắc, Nghệ An và kết luận rằng: các giống mới V79, 1686, 75/23 cho năng suất cao hơn các giống địa phương từ 21 – 45% Giống 79 –

85 nhập nội từ Sênêgan là giống cho năng suất cao, ổn định qua nhiều vụ Trong thời gian qua, trong khuôn khổ chương trình Đậu đỗ Quốc gia đ6 nhập nội hàng nghìn mẫu giống với các đặc tính qúi, trong đó có những giống

đặc biệt xuất sắc như: năng suất cao (L14, L15, L02, LVT…), giống có thời gian sinh trưởng ngắn (Chico, JL24, L05,…), giống có chất lượng xuất khẩu cao (L08), giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn (MD7), giống kháng bệnh

đốm lá cao (ICGV87157, ICGV 87314) Tác giả cũng cho biết rằng, một số giống nhập nội đ6 góp phần quan trọng trong công tác cải tiến giống trong nước Một số giống khác đ6 được tuyển chọn trực tiếp và hiện nay đang phát triển rộng ngoài sản xuất trên qui mô hàng vạn ha như L.02, L14, LVT, L05 (Trần Đình Long, 2002) [22]

Trang 18

ở Nghệ An theo tác giả Nguyễn Quỳnh Anh (1995) [1] cũng có nhận xét rằng giống lạc Sen lai 75/23 cho năng suất cao hơn từ 30 – 50% so với giống lạc Sen, mặt khác khả năng chịu hạn và chịu sâu bệnh cũng tốt hơn Cũng theo tác giả thì giống V79 cũng cho năng suất cao hơn giống lạc sen từ 15 – 20% 2.2 Những nghiên cứu về sâu hại lạc

Lạc là một trong những cây trồng khá giàu dinh dưỡng vì vậy trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nó bị khá nhiều loài gây hại, đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất, tăng chi phí đầu tư cho sản xuất

và là lý do hạn chế việc tăng năng suất lạc [33]

Theo Smith and Barfield (1982) [56], các loài sử dụng cây lạc làm thức

ăn gồm 360 loài, trong đó có 6% là những loài gây hại quan trọng

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Hill và Waller (1985) [47] đ6 chỉ ra rằng trên cây lạc ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại chính và 40 loài gây hại thứ yếu Những loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), ban miêu (Epicauta impresicornic Pic) và các loài (Epicauta spp) Các loài sâu hại này được mô tả chi tiết về ký chủ, phạm vi phân bố, triệu chứng tác hại, một số đặc điểm hình thái, sinh học

và biện pháp phòng trừ

Còn theo nghiên cứu của tác giả Wallis E S và ctv (1986) [57], trên cây lạc chỉ tính riêng sâu đục củ và hại rễ đ6 có tới 15 loài, thuộc 12 họ, 9 bộ côn trùng Trong đó các họ như kiến (Focmicidae), họ bọ hung (Scarabacidae), họ ngài đèn (Actiidae), họ ngài độc (Lymantridae), họ ngài đục lá (Phyllocnistidae), họ ngài cuốn lá (Tortricidae), họ ngài sáng (Pyralidae), rầy nhảy (Cicadelliae), mỗi họ có một loài, còn các họ ngài đêm (Noctuidae), bọ trĩ (Thripidae), mối (Termitidae) mỗi họ có hai loài

Trang 19

ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương, theo tác giả Waterhouse (1997) [60]

đ6 xác định được 157 loài sâu hại trên lạc trong số 160 loài thu được Trong

đó có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25 loài đ6 được đầu tư nghiên cứu tỷ mỷ

và một số loài đ6 áp dụng biện pháp phòng trừ có hiệu quả Còn tại vùng đông nam châu á có 37 loài sâu hại trên lạc trong đó 19 loài có mức độ phổ biến cao [59]

Tại Trung Quốc, tác giả Ching Tieng Tseng (1991) [44] cho biết các loài gây hại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của sản xuất lạc bao gồm sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu keo da láng (Spodoptera exigua Hiib), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib) Tổng giá trị phòng trừ các loài sâu này ước tính vào khoảng 5 tỷ nhân dân tệ

ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 – 1968 của Viện Bảo vệ thực vật thì chỉ riêng Miền Bắc đ6 có đến 45 loài sâu hại lạc khác nhau [36]

Kết quả nghiên cứu tác giả Phạm Văn Lầm (2002) [20] cũng cho biết, trên cây lạc ở nước ta có 85 loài sâu hại thuộc 8 bộ, 30 họ Ngoài ra còn một

số loài sâu hại có kích thước cơ thể nhỏ như rệp muội, rệp sáp, nhện nhỏ, bọ cánh tơ hoặc là bị bỏ sót hoặc là có thu thập nhưng chưa xác định được tên khoa học

Mặc dù số lượng sâu hại lạc là tương đối lớn nhưng ở mỗi thời kỳ phát triển của cây lạc cũng chỉ có một số đại diện quan trọng như: thời kỳ gieo hạt, cây con có kiến nâu nhạt (Pheidole sp.), kiến vàng (Cecophyla sp.), mối (Capritermes sp.), dế mèn lớn (Barachytrerpes portentorus), bọ hung cánh cam đậm (Anomala) hay nâu đậm (Holotricchia), sâu thép (Agriotes), sâu xám (Agrotis ifsilon) Thời kỳ sinh trưởng sinh thực có cào cào (Pantanga succincta), rệp muội (Aphis sp.), sâu khoang, sâu xanh, bọ đầu dài, ban miêu

Trang 20

đen, ban miêu khoang vàng nhỏ, sâu cuốn lá, sâu róm, bọ trĩ Trong số đó có một số loài gây hại quan trọng như dế mèn lớn, rệp muội đen, ban miêu đen sọc trắng, sâu cuốn lá, sâu róm (Bộ môn Côn Trùng – Trường đại học nông nghiệp 1 Hà Nội, 2004) [3]

Các tác giả Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ (2003) [13] cho biết, ở nước

ta có hơn 40 loài côn trùng hại lạc, trong đó các loài gây hại phổ biến gồm rầy xanh (Empoasca motti Fabr.), sâu cuốn lá đậu (Hedylepta indicata Fabr.), sâu

đục quả đậu (Maruca testulalis Geyer), bọ dừa nâu (Lepidiota signatha Saunder), bọ trĩ (Scirtothrip dorsalis Hood), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) Riêng nhóm sâu hại lá (sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu đục quả) thường có mật độ cao và gây hại nặng từ khi cây lạc có 4 lá lớn tới khi ra hoa và quả chắc, còn đối với nhóm chích hút (bọ rĩ, rầy xanh) thường có tỷ lệ gây hại cao vào giai đoạn ra hoa và quả chắc

Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc viện nghiên cứu quốc tế

về cây trồng ở vùng bán khô hạn (ICRISAT, 1993) [48] cũng cho thấy ở Miền Bắc Việt Nam có 51 loài sâu hại trên lạc, trong đó có 47 loài hại trên đồng và

4 loài sâu hại trong kho Các loài gây hại đáng kể là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulaslis Geyer), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), bọ phấn (Bemisia sp.), bọ trĩ, rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) và sùng trắng (Anomala pallida) còn ở Miền Nam thu được 30 loài sâu hại trên lạc trong đó

28 loài gây hại trên đồng và 2 loài gây hại trong kho, những loài gây hại đáng

kể ở Miền Nam là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), sâu róm, sâu keo da láng (Spodoptera exigua Hiib), sâu đục quả đậu (Maruca testulaslis Geyer)

Theo tác giả Lương Minh Khôi và ctv (1991a) [16], vùng Hà Nội có 21 loài thường xuyên xuất hiện gây hại trên lạc Trong đó 10 loài gây hại có ảnh

Trang 21

hưởng đến hiệu quả kinh tế bao gồm: sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr), bọ trĩ (Caliothrips inducus Baynall), rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), ban miêu sọc trắng (Epicauta gorhami Marseul), rầy xanh lá mạ (Empoasca flavescens Fabr), câu cấu và sâu róm chỉ

đỏ (Euproctis sp.) Trong vụ lạc xuân chủng loại sâu nhiều hơn và thường xảy

ra dịch Các loài thường xảy ra dịch là sâu khoang (ở thời kỳ lạc đâm tia phát triển củ) và các loài quan trọng khác như sâu cuốn lá, câu cấu và sâu róm Ngược lại thì vụ Hè thu các loài như rầy xanh, bọ trĩ hay phát sinh mạnh ở đầu

vụ còn vào cuối vụ thì sâu róm thường phát triển mạnh Thời vụ muộn bị sâu hại nặng hơn vụ sớm

Theo Nguyễn Thị Chắt và ctv (1998) [6], cho biết ở một số tỉnh Miền Nam có 55 loài sâu hại trên lạc Trong đó có 24 loài thường xuyên xuất hiện

từ mức trung bình cho đến nhiều Các loài xuất hiện nhiều nhất gồm sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.), rầy xanh (Empoasca sp.), rệp đen (Aphis craccivora Koch), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis Hood) Đặc biệt là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) là loài xuất hiện gây hại ngay từ khi cây mọc mầm và kéo dài cho đến khi thu hoạch

Tác giả Ngô Thế Dân và ctv [8] cũng đ6 ghi nhận trên cây lạc ở Miền Nam có 30 loài sâu hại khác nhau Các loài quan trọng nhất là sâu khoang, sâu xanh, sâu đục lá (Aproaerema modicella) và sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulaslis Geyer)

Các tác giả Lương Minh Khôi, Ngô Thế Dân và ctv (1991) [17b], tại trung tâm giống cây trồng Việt Xô, HTX Tiên Dương (Đông Anh – Hà Nội)

có 25 loài sâu hại thường xuyên xuất hiện trên lạc, đậu xanh Trong đó có 4 loài gây hai chính là sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu róm, ban miêu Vụ xuân các

Trang 22

loài như ban miêu, sâu khoang, sâu cuốn lá thường phát sinh thành dịch Đặc biệt là sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) thường phát sinh cao vào cuối tháng 4 đến đầu tháng 5

Tại Nghệ An, Hà Bắc, Hà Tây tác giả Phạm Thị Vượng (1996b) [38], đ6 ghi nhận được 46 loài gây hại trên đồng và 4 loài gây hại trong kho, bổ sung thêm 14 loài mới so với kết quả điều tra cơ bản của viện BVTV năm 1967 –

1968 Trong đó 5 loài mới ghi nhận thuộc nhóm chích hút (1 loài rầy và 4 loài

bọ trĩ) Các loài sâu ăn lá phổ biến nhất là sâu khoang, sâu xanh, sâu đục quả

đậu đỗ và sâu cuốn lá Riêng tại huyện Diễn Châu – Nghệ An lạc trên nền luân canh lạc – lúa có 23 loài sâu hại thuộc 6 bộ, 12 họ, trong đó nổi bật lên một số sâu hại chính như rệp Aphis craccivora Koch, rầy xanh lá mạ Empoasca motti, bọ trĩ Thips palmi, sâu xanh Helicoverpa armigera, Sâu khoang Spodoptera litura, sâu róm Euprotis sp, có tần suất bắt gặp cao

Tại Hà Tĩnh tác giả Nguyễn Đức Khánh (2002) [15] cho biết trong 36 loài sâu hại thu được trên lạc thì chỉ có 4 loài gây hại chính là sậu đục quả đậu

đỗ, sâu cuốn (Archips asiaticus Walsingham), sâu khoang, sâu xanh

Trong vụ lạc Xuân tại Thanh Hoá tác giả Lê Văn Ninh (2002) [27] đ6 ghi nhận được 24 loài sâu hại lạc Tại đây các loài gây hại trên mặt đất chiếm ưu thế ở thời kỳ cây con gây hại chính có sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr) và dế mèn lớn (Barachytrerpes portentorus Licht), ở giai đoạn sau thì sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib) là những loài gây hại nặng hơn cả

Từ những kết quả nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy rằng thành phần sâu hại trên lạc là rất phong phú Tuy nhiên tuỳ vào từng vùng địa lý khác nhau thì thành phần sâu hại cũng như số loài sâu hại chính cũng có sự khác nhau Nhưng chung quy lại thì các loài thường xuyên xuất hiện và gây hại có

ý nghĩa kinh tế gồm có sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh

Trang 23

(Hellicoverpa armigera Hiib), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.), sâu

đục quả đậu đỗ (Maruca testulaslis Geyer), rệp (Aphis craccivora Koch), bọ trĩ, ban miêu (Epicauta sp.)

Mặc dù thành phần sâu hại trên lạc là rất phong phú nhưng theo tác giả Anitha (1992) [43] thì có thể sắp xếp chúng thành 2 nhóm cơ bản là Nhóm sâu hại trong đất gồm có mối, rệp sáp hại rễ, kiến và sâu non bọ hung và nhóm hại trên mặt đất gồm, sâu xám, sâu khoang, sâu cuốn lá, sâu xanh, bọ trĩ, rệp muội, nhện đỏ, sâu róm

Về mức độ thiệt hại kinh tế do sâu hại gây ra thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, điều kiện môi trường, mật độ dịch hại Trong hơn 90 loài côn trùng gây hại trên lạc chỉ có ít loài gây hại có ý nghĩa kinh tế trên diện rộng Một số loài trước đây chỉ là thứ yếu như rệp muội, bọ trĩ, nhện thì nay chúng đ6 và đang trở thành những loài quan trọng (IKISAN) [49]

Theo đánh giá của tác giả Ranga Rao and Wightman (1994) [53], tại ấn

Độ các loài sâu gây hại nguy hiểm gồm nhóm sâu ăn lá như sâu vẽ bùa, sâu róm (Amsacta sp.), bọ trĩ (Thrips palmi), sâu khoang, sâu xanh và một số sâu hại trong đất Thiệt hại kinh tế do chúng gây ra vào khoảng 15 – 20% năng suất

Kết quả nghiên cứu trên lạc tại vùng Hyderabad, ấn Độ trong mùa khô

1980 – 1981 và 1981 – 1982 cho thấy bọ trĩ gây hại có thể là giảm đến 17% năng suất lạc quả và 30% năng suất chất xanh Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào tình hình thời tiết [53]

Còn tác giả Smith and Barfield (1982) [56] cho biết nhờ phòng trừ được

bọ trĩ gây hại mà năng suất lạc tại Brazin tăng thêm từ 35 – 50%

Trang 24

Tác giả Wightman, J A [61] cho biết trên lạc tác hại của sâu khoang phụ thuộc vào mật độ và giai đoạn sinh trưởng của cây Nếu sau gieo 10 ngày, mật

độ sâu là 1 con/cây, diện tích lá bị ăn là 47% thì năng suất sẽ giảm 22% Nhưng nếu với mật độ 10 con/cây thì năng suất sẽ giảm là 56% Song ở giai

đoạn cây hình thành củ, cũng với mật độ như trên thì năng suất giảm ít hơn nhiều (9% và 16% tương ứng với mật độ) Do đó việc phòng trừ sâu khoang trên lạc là rất cần thiết

Tác giả Lê Văn Thuyết và ctv (1993) [31] đ6 kết luận riêng sùng trắng hại trong đất cũng có thể gây thiệt hại từ 3,2 đến 25,5% số củ

Tác giả Phạm Thi Vượng (2000) [40] cho biết trong 23 loài sâu hại trên cây lạc thì sâu khoang là loài gây hại nguy hiểm nhất, tỷ lệ lá bị hại có thể lên tới 81% và thiệt hại năng suất có thể đến 18%

Theo đánh giá của hai tác giả Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ (2003)[13] thì nhóm sâu hại trong đất như ấu trùng bọ dừa nâu (Lepidiota signatha Saunder), bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope) có thể gây thiệt hại tới 40% năng suất, đặc biệt là ở những vùng đất cát ven sông

Rệp đen (Aphis craccivora Koch) khi đạt mật độ 5 con/búp nếu phòng trừ muộn một tuần có thể gây thiệt hại cho năng suất 450kg lạc củ/ha (Phạm Thị Vượng và ctv, 2003) [41] Tuy nhiên theo tác giả thì đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nhóm sâu hại trong đất như dế, mối đặc biệt là bọ hung (Anomala sp.) là những đối tượng gây giảm năng suất đáng kể Thiệt hại do chúng gây ra nhiều khi còn cao hơn nhiều so với nhóm gây hại trên mặt đất Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Minh Khôi (1991c) [18], thì rệp đen (Aphis craccivora Koch) và bọ trĩ (Caliothrips inducus Baynall) có thể làm giảm từ 17 – 30% năng suất lạc, sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr) gây hại làm khuyết mật độ cây con cũng làm giảm từ 10 – 15% năng suất, nhưng sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) là loài gây hại nguy hiểm nhất thiệt hại

Trang 25

về năng suất do loài này gây ra có thể lên tới 81% Bên cạnh các loài gây hại trên mặt đất thì thiệt hại gây ra do những loài dưới mặt đất cũng tương đối lớn Riêng sùng trắng (Holotrichia sp.) đ6 có thể gây thiệt hại tới 10% năng suất Qua các kết quả nghiên cứu về tác hại của sâu hại lạc chúng ta có thể thấy thiệt hại về năng suất lạc do sâu hại gây ra là rất lớn, tuy nhiên tuỳ thuộc vào vùng sinh thái, đất đai, điều kiện canh tác, loài gây hại mà thiệt hại do chúng gây ra có sự khác nhau Nhưng chung quy lại thì thiệt hại do sâu gây ra cho sản xuất lạc trung bình từ 10 – 30% nếu không được quản lý tốt

Ngoài những tác hại trực tiếp do sâu gây ra thì thiệt hại gián tiếp thông qua con đường truyền lan bệnh virus đôi khi còn lớn hơn Tại châu Phi chỉ tính riêng thiệt hại do bệnh virus gây ra cho nền sản xuất lạc của Nigeria trong năm 1975 đ6 lên tới 250 triệu đô la Họ bọ rầy (Jassidae) có thể truyền tới 14 loại virus khác nhau, họ rệp muội (Aphididae) truyền 48 loại virus, họ Aleyrodidae truyền 18 loại virus Riêng bệnh chết chồi (Bud necrois disease) truyền lan nhờ rầy xanh và bọ trĩ đ6 gây ra thiệt hại lên tới 90 triệu đô la mỗi năm ở một số nước châu á như Trung Quốc, ấn độ (Ranga Rao G V and Wightman J.A, 1993) [53] (dẫn theo Phạm Thi Vượng, 1997) [39]

2.3 những Nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên

Kẻ thù tự nhiên là yếu tố có vai trò quan trọng trong điều hoà số lượng chủng quần dịch hại, giữ chúng ở mức duy trì như những mắt xích trong mạng lưới dinh dưỡng Sự vắng mặt của kẻ thù tự nhiên là một trong những yếu tố quan trọng làm cho sâu hại gia tăng nhanh về mặt số lượng và dễ phát sinh thành dịch

Theo Ranga Rao and Shanower (1988) [52], thành phần thiên địch của sâu hại lạc vùng Andhra Pradesh (ấn Độ) thu được 67 loài, trong đó côn trùng

và nhện lớn bắt mồi ăn thịt thu được 44 loài, 23 loài côn trùng ký sinh Riêng

Trang 26

trên sâu khoang Spodoptera litura Fabr tìm thấy 6 loài, sâu xanh 7 loài, sâu

đo 3 loài, sâu cuốn lá 4 loài, còn lại là ký sinh sâu róm và sâu hại khác

Tác giả Waterhouse (1987) [58] cho biết ở ấn Độ loài sâu xanh (Helicoverpa armigera Hiib) bị 37 loài ký sinh, trong đó 8 loài có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng ở châu Phi, sâu xanh bị 23 loài ký sinh tấn công, trong đó 20 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài thuộc bộ hai cánh, sâu khoang bị 46 loài ký sinh trong đó 36 loài thuộc bộ cánh màng và 10 loài thuộc bộ hai cánh

Trên một số cây trồng khác sâu khoang và sâu xanh cũng bị lực lượng côn trùng ký sinh khống chế mạnh, riêng sâu khoang có tới 48 loài ăn thịt, 71 loài ký sinh, 25 loài tuyến trùng và vi sinh vật ký sinh (bảng 2.1)

Số lượng loài thiên địch Tên nước

Ký sinh ăn thịt Tuyến trùng Vi sinh vật

Trang 27

Số liệu nghiên cứu 10 năm (1984 – 1993) của trung tâm ICRISAT về ký sinh sâu non của sâu vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy tỷ lệ sâu chết bởi

ký sinh khá cao, biến động từ 6 – 9%, trung bình trong mùa m−a là 34% và sau mùa m−a là 40% nhờ đó đ6 làm giảm đáng kể mật độ sâu vẽ bùa Đối với sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) khi điều tra đ6 bắt gặp ký sinh trứng Trichogramma spp tuy nhiên tỷ lệ ký sinh thấp Kết quả điều tra qua 17 vụ cho thấy sâu non sâu khoang chủ yếu bị ký sinh ở giai đoạn sâu non, tỷ lệ chết

do ký sinh từ 10 – 36%, trung bình là 15% Ký sinh thu đ−ợc chủ yếu là ruồi thuộc họ Tachinidae (Paribaea orbata Wideman, Exorista xanthopis Wideman) và một loài ong ký sinh sâu non (Ichneumon sp.), thuộc họ Ichneumonidae Tuy nhiên sự xuất hiện và hiệu quả của ký sinh là có sự khác nhau tuỳ thuộc vào thời vụ khác nhau (Ranga Rao and Wighman,1994) [53] Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị V−ợng và ctv (2000) [40] cho biết thành phần thiên địch của sâu hại lạc là khá phong phú Trên một số loài sâu hại nh− bọ trĩ, rầy xanh, sâu xanh, sâu khoang, rệp và sâu cuốn lá lạc ở một số vùng trồng lạc phía bắc đ6 thu đ−ợc 16 loài Trong đó có 9 loại bắt mồi ăn thịt (BMAT) gồm Paederus sp., Coccinella transversalis Thumb, Micraspis discolor Fabr., Chlaenius sp., Paranasoona cirrfrans Heimer, Clubiona japonica Boes et Str, Ummeliata insecticepts Boes et Str, Pardosa venatris (Lucas), Neoscona elliptica Tikada et Bal Định danh đ−ợc 5 loài ký sinh trên sâu khoang gồm Metopius rufus, Ichneumon sp., Exorista xanthopis, Paribaea orbata, Beckrina sp và 2 loài VSV là Paecilomyces fumosoroseus

và Nuclear Polyedrosis Virus ngoài ra còn có một số VSV ký sinh với tỷ lệ cao nh−ng vẫn ch−a có cơ hội định loại

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Chắt (1996a) [4] tại Tràng Bản – Tây Ninh và Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trên đồng lạc động vật ăn mồi phần lớn là nhện lớn, bọ rùa và chủ yếu tập trung vào thời gian nửa

Trang 28

đầu của vụ Về ký sinh thì đa dạng hơn bao gồm ong kén trắng, ong kén vàng, nấm ký sinh màu trắng – màu xanh, vi khuẩn gây chết nhũn, virus gây chết treo vv Ký sinh chủ yếu tập trung vào nửa sau của vụ đậu Ngoài ra tác giả còn cho biết trứng sâu khoang không bị ký sinh nhưng ấu trùng bị ký sinh 8%, chết do các nguyên nhân khác 66%

Tại Hà Tĩnh tác giả Nguyễn Đức Khánh (2002) [15] cho biết trên lạc ở vụ xuân có 13 loài thiên địch, trong đó có 7 loài BMAT, 2 loài ong ký sinh, 4 loài còn lại thuộc nhóm VSV ký sinh Trong 13 loài trên có 2 loài có mức độ phổ biến cao gồm bọ rùa đỏ (Micraspis sp.), bọ ba khoang hai chấm trắng (Ophionae ishii Habu)

ở Thanh Hoá theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Văn Ninh (2002) [27] thì thiên địch của loài rệp đen (Aphis craccivora Koch) thu được là 19 loài thuộc 5 bộ, 11 họ, trong đó có 18 loài thuộc BMAT và 1 loài côn trùng ký sinh Bộ có số lượng lớn nhất là bộ cánh cứng (10 loài) tiếp theo là bộ nhện lớn (4 loài), bộ cánh da (2 loài), bộ hai cánh (2 loài) và bộ cánh màng (1 loài) Các loài thường xuyên xuất hiện là bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabr), bọ cánh cộc nâu (Paederus fuscipes Curtis), bọ đuôi kìm nâu dài (Labidura riparia Pallas), ruồi ăn rệp (Epistrophe balteata Deregeer)

Tại Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc, nhận xét về ký sinh sâu non sâu khoang tác giả Phạm Thị Vượng (1996b) [38] cho biết ở cả 3 địa phương tỷ lệ sâu non sâu khoang bị ký sinh đều rất thấp, tỷ lệ ký sinh cao nhất vào tháng 5/1994 là 4,91% (tại Hà Tây), 4,39% (tại Nghệ An) và 2,98% (tại Hà Bắc) Qua những nghiên cứu trên đây chúng ta có thể thấy thành phần, số lượng

kẻ thù tự nhiên của sâu hại lạc là rất phong phú và vai trò của chúng trong việc hạn chế số lượng sâu hại cũng tương đối lớn Nếu chúng ta quan tâm đúng mức thì có thể lợi dụng được lượng kẻ thù tự nhiên này vào công tác phòng trừ

Trang 29

sâu hại nhằm hạn chế các nhược điểm do biện pháp hoá học gây ra, giảm được chi phí phòng trừ, tăng hiệu quả sản xuất

2.4 những Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ

Trong công tác phòng trừ sâu hại lạc đ6 có rất nhiều biện pháp được sử dụng như canh tác kỹ thuật, giống chống chịu, hoá học, sinh học và trong các biện pháp đó thì hoá học vẫn là biện pháp được nông dân sử dụng nhiều hơn cả và quy mô sử dụng có xu thế tăng dần

Canh tác kỹ thuật là một trong những biện pháp phòng trừ dịch hại quan trọng, trong một số trường hợp nó có thể phòng trừ dịch hại một cách hoàn hảo mà không cần đến sự hỗ trợ của các biện pháp khác [12]

ở ấn Độ người nông dân trồng lạc đ6 biết áp dụng biện pháp canh tác trong phòng trừ sâu hại Họ đ6 hiểu được chức năng của một số cây dẫn dụ sâu hại như trồng cây thầu dầu để thu hút trưởng thành sâu khoang đến đẻ trứng sau đó gom lại và tiêu diệt trước khi sâu nở Ngoài ra, những nghiên cứu khác cũng cho thấy trồng cây hướng dương trên ruộng lạc ngoài việc có tác dụng dẫn dụ trưởng thành sâu khoang và sâu xanh đến đẻ trứng thì đây còn là nơi đậu của những loài chim đến bắt sâu (Ranga Rao G V and Wightman J

A (1994) [54]

Khi nghiên cứu về mật độ và thời vụ tác giả Lynch và ctv (1986) [50] cho thấy rằng, trồng lạc khoảng cách dày, trồng sớm giúp cho lạc tránh được sự gây hại của bọ trĩ và bệnh chết chồi Mặt khác việc thu hoạch lạc sớm hoặc

đúng thời vụ có tác dụng hạn chế được tác hại của mối và một số sâu đục quả khác

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Vượng (1997) [39], trồng xen hướng dương dẫn dụ sâu hại trên ruộng lạc với mật độ 1 cây/10m2 xung

Trang 30

quanh ruộng lạc có tác dụng làm giảm thiệt hại, giúp nông dân giảm được số lần phun thuốc từ 1- 3 lần/vụ, bảo vệ quần thể thiên địch

Nghiên cứu về phản ứng của giống lạc với sâu hại ngoài tự nhiên tác giả Lương Minh Khôi (1991a) [16] cho biết các giống lạc như Sen lai, Trạm xuyên, B5000, K306 bị nhiễm sâu hại nhẹ và trung bình đồng thời mức giảm năng suất ít hơn so với các giống khác

Tại vùng trồng lạc Nam Thịnh – Diễn Châu - Nghệ An các giống lạc như ICGV 86031, 86162, 86510, 87453, 90224, 90227, 90228, 91172, 91173 từ ICRISAT đều là những giống có phản ứng kháng vừa đến kháng cao đối với

bọ trĩ và rầy xanh so với các giống của địa phương là Sen lai và Sen Nghệ An Trong đó các giống ICGV 86510, 90224, 90228, 91173 có tiềm năng năng suất cao hơn hai giống địa phương [39]

Trung tâm ICRISAT tại ấn Độ cũng đ6 lai tạo ra trên 6000 giống và dòng lạc với mục đích là kháng sâu, cho tiềm năng năng suất cao và họ đ6 đưa ra những kết quả nghiên cứu về mức độ kháng khác nhau của cây lạc với các loài sâu hại như rầy xanh, bọ trĩ, rệp, sâu vẽ bùa, sâu khoang Một số dòng lạc có khả năng kháng đồng thời vài loại sâu hại Có tới 100 giống lạc d6 có biểu hiện kháng với rầy xanh, bọ trĩ như ICG5204, dòng ICG2271 Trong bộ giống khảo nghiệm thì giống lạc hoang dại Arachis có khả năng kháng cao với sâu khoang, sâu vẽ bùa, rệp và sâu đục rễ Những thí nghiệm gần đây với việc đánh giá tác hại nhân tạo và tự nhiên cũng cho thấy dòng lạc ICGV86031

có mức kháng cao với sâu vẽ bùa và sâu khoang [54]

Từ cuối những năm 40 của thế kỷ trước sau khi thuốc trừ sâu hữu cơ đặc biệt là thuốc clo hữu cơ (DDT) ra đời thì người ta đ6 gạt bỏ đi các biện pháp khác ngoài biện pháp hoá học để phòng trừ dịch hại cây trồng bởi đây là biện pháp đưa lại hiệu quả nhanh chóng, thuận tiện và dập tắt được nạn dịch có nguy cơ lan tràn [12]

Trang 31

Tuy nhiên việc sử dụng thuốc trừ sâu một cách phổ biến như hiện nay của nông dân trên đồng lạc đang là nguy cơ phá huỷ môi trường sinh thái và làm tăng giá thành sản xuất lạc Các nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Vượng [39] cho thấy: trên lạc sự gây hại của sâu đục quả (Maruca testulalis) và bọ trĩ giữa các công thức phun thuốc (Wofatox và Bi58) và không phun thuốc không có

sự sai khác nhau một cách có ý nghĩa Mặt khác cho dù nông dân phun tới 3 lần/vụ bằng Wofatox thì thiệt hại do sâu khoang, rầy xanh, sâu đục quả cũng không khác so với công thức trồng xen cây hướng dương

ở các vùng trồng lạc như Diễn Châu – Nghệ An, Việt Yên – Hà Bắc khi triển khai các thí nghiệm phòng trừ sâu hại lạc tác giả Lê Văn Thuyết và ctv (1993) [31] đ6 đề cập tới số lần cần thiết phải phun thuốc trừ sâu cho cho một

vụ lạc và mật độ sâu khi nào cần dùng thuốc hoá học Tác giả cho rằng chỉ nên phun thuốc phòng trừ sâu hại nhiều nhất là 2 lần/vụ, khi có mật độ sâu chích hút và ăn lá cao thì mới có thể có hiệu quả kinh tế (l6i 393.000đ/ha) Ngược lại phun thuốc trừ sâu khi mật độ sâu hại thấp thì người sản xuất có thể

bị lỗ tới 133.000đ/ha

Để trừ sùng trắng (Lepidiota signata) một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm cho sản xuất lạc, tác giả Phạm Thị Vượng [39] đ6 tiến hành thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc sinh học, hoá học trong điều kiện chậu vại và kết quả cho thấy thuốc Basudin 10H với lượng sử dụng 30kg/ha cho hiệu quả diệt trừ cao nhất (đạt 100% sau 20 ngày) trong khi đó hiệu lực của thuốc Regent 0,3G với lượng sử dụng 10kg/ha hiệu lực chỉ đạt 20% sau 20 ngày Đặc biệt là thuốc sinh học Metarhizium với lượng sử dụng 7kg/ha cũng cho hiệu quả diệt trừ cao tới 80% sau 20 ngày

Theo tác giả Lương Minh Khôi (1991c) [18], tại vùng lạc ở Hà Nội việc

sử dụng thuốc Wofatox (nồng độ 0,1%) và Metaphos (nồng độ 0,15%) trong

Trang 32

phòng trừ sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) cho hiệu quả diệt trừ sâu cao từ 87,8 – 98,3%

Kết quả khảo nghiệm thuốc BVTV năm 1990 trên cây lạc ở các tỉnh phía Nam cho thấy các loại thuốc như Trebon (75 g.ai/ha), Decis (18,7 g.ai/ha), Dimecron (1000 g.ai/ha), Danitol (75 g.ai/ha), Sherzol (0,75 lít thành phẩm/ha), Methyl parathion (750 g.ai/ha), Sumi (37,5 g.ai/ha), Sumithion (750 g.ai/ha), Padan (950 g.ai/ha), Sevil (1275 g.ai/ha) đều là những loại thuốc cho hiệu lực trừ sâu cao [23]

Theo tác giả Nguyễn Thị Chắt [4],[5], thì ở các vùng trồng lạc phía Nam cần thận trọng trong việc sử dụng thuốc BVTV để trừ sâu Thời điểm phun thuốc hợp lý nhất là giai đoạn 30 ngày và 60 ngày sau gieo Tác giả cũng cho biết trong 3 loại thuốc đ6 khảo nghiệm là (Atabron 5EC, Lenate 40SP và Centari WDG) trong phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) thì Atabron 5EC nồng độ 0,05%, Lenate 40SP nồng độ 0,1% đều có khả năng phòng trừ sâu khoang trên lạc, còn riêng thuốc Centari WDG nồng độ 10 – 20g/8 lít nước (0,5 – 1kg/ha) thì hiệu lực của thuốc chỉ biểu hiện ở 4 – 5 ngày sau xử lý

Theo Phạm Thị Vượng [37],[40],[41], trên ruộng lạc ở các tỉnh phía Bắc chỉ nên phun thuốc sâu ở giai đoạn 45 ngày tuổi nếu 100% số cây bị hại và 70 ngày tuổi nếu sâu hại 70% cây và mật độ 2 con/cây Kết quả khảo nghiệm 3 loại thuốc (Kinalux, Sumicidin, NPV- BT) trong phòng trừ sâu khoang cho thấy thuốc Kinalux ở nồng độ 1,5 lít/ha cho hiệu quả cao nhất đạt 90 –100% ở 1- 4 ngày sau phun, NPV- BT có hiệu lực trừ sâu cao nhất sau 8 ngày đạt 77,1% Hiệu lực của thuốc BT đối với sâu đục quả (Maruca testulalis) cao nhất 22,4% và 44,45% đối với sâu xanh, tuy hiệu lực trừ sâu không cao song tác hại của chúng đối với quần thể thiên địch trên ruộng giảm 3 lần so với Sumicidin Đối với rệp đen (Aphis craccivora) thì thuốc Ofatox cho hiệu lực

Trang 33

cao nhất đạt 97,9% ở 3 ngày sau phun, tiếp theo là chế phẩm thảo mộc AV5

đạt 85,76% ở 5 ngày sau phun và dầu khoáng HD3 đạt 82,7% ở 1 ngày sau phun

Ngoài các biện pháp trên thì việc sử dụng bẫy pheromon để dự tính dự báo sự phát sinh của sâu hại để từ đó có quyết định thời điểm phòng trừ hiệu quả cũng là một hướng đi được nhiều nhà khoa học quan tâm Năm 1990 tác giả Lương Minh Khôi [16], đ6 thí nghiệm 7 loại pheromon đối với sâu khoang của Liên Xô sản xuất và kết quả thu được cho thấy các loại pheromon đều ít nhiều có tác dụng thu hút sâu khoang vào bẫy và có tính chuyên tính rất cao Kết quả sử dụng bẫy pheromon của tác giả Phạm Thị Vượng (1997) [39]

ở một số địa phương cũng cho thấy trong vụ xuân mật độ trưởng thành sâu khoang ở vùng lạc Nghệ An, Hà Tây, Hà Nội có 2 cao điểm Cao điểm thứ nhất là vào giai đoạn cây lạc có hoa, cao điểm thứ 2 là vào giai đoạn đâm tia

và vào chắc ở cả 3 vùng vào cao điểm thứ 2 mật độ trưởng thành vào bẫy đều lên tới trên 150 con/bẫy/tuần

Qua những kết quả nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu về sâu hại lạc và biện pháp phòng trừ cũng đ6 được nhiều nhà khoa học quan tâm Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của mình cũng sẽ góp thêm một phần nhỏ bé vào chương trình bảo vệ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lạc nói riêng

Trang 34

3 NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

3.1 địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

- Các ruộng điều tra và ruộng thí nghiệm phun thuốc được tiến hành tại các x6 Nghi Ân và Nghi Liên thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Đây là những x6 có diện tích sản xuất lạc lớn của huyện Nghi Lộc

- Thí nghiệm nhân nuôi sâu để tiến hành đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng được tiến hành tại nhà lưới của trung tâm BVTV vùng khu 4 và phòng thí nghiệm chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Nghệ An

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành thực hiện trong thời gian từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006

3.2 đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Một số loài sâu hại chính trên lạc: Sâu khoang, sâu xanh, câu cấu xanh nhỏ …

- Một số loài côn trùng ký sinh, côn trùng và nhện bắt mồi chính trên cây lạc (Bọ cánh cộc, bọ rùa đỏ, nhện lớn, ong kí sinh sâu khoang)

3.2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

3.2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Cây trồng:

+ Giống lạc đang được trồng phổ biến ở địa phương (L14)

- Các loại thuốc thử nghiệm:

Trang 35

+ Match 50ND: Thuốc có chứa 500g hoạt chất Lufenuron/1 lít thương phẩm

+ Peran 50 EC: Thuốc có chứa 500 g hoạt chất Permethrin/1 lít thương phẩm

+ Kinalux 25EC: Thuốc có chứa 250g hoạt chất Quinalphos/1 lít thương phẩm

3.2.2.2 Dụng cụ nghiên cứu

- Dụng cụ thu bắt: Vợt, ống hút, túi nilon, ống nghiệm, hộp đựng mẫu

- Dụng cụ nuôi sâu: Hộp nuôi sâu, lồng lưới nuôi sâu (bao gồm lồng to có kích thước 100 x 100 x 120cm, lồng nhỏ có kích thước 40 x 40 x 60cm, đĩa petri, chậu trồng cây, bút lông, giấy thấm vv

- Dụng cụ thí nghiệm: ống đong, bình phun thuốc (loại bơm tay thể tích

1 lít và loại deo vai thể tích 12 lít)

- Các dụng cụ khác: Nhiệt ẩm kế, kính lúp tay, kính lúp điện, panh, kéo, giấy lọc

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch

- Điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính trên lạc

- Xác định tỷ lệ ký sinh trong tự nhiên

- Khảo sát hiệu lực thuốc trên đồng ruộng

- Khảo sát hiệu lực thuốc trong phòng thí nghiệm

- Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến một số loài thiên địch chính (côn trùng và nhện lớn) ở trong phòng thí nghiệm

Trang 36

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 Điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch

Điều tra định kỳ 7 ngày một lần theo hai phương pháp (phương pháp 5

điểm chéo góc và phương pháp điều tra tự do) Quan sát, phát hiện và thu thập tất cả các mẫu sâu hại, thiên địch (côn trùng ký sinh, côn trùng và nhện bắt mồi) bắt gặp về nuôi tiếp cho tới trưởng thành để giám định phân loại

Mức độ phổ biến của các loài được lượng hoá theo tần suất bắt gặp (%) 3.3.2.2 Điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính trên lạc

Điều tra định kỳ 7 ngày một lần theo phương pháp của viện BVTV (2000) [35] và có bổ sung theo quyết định số 82/3003/QĐ-BNN [2] Trên mỗi công thức chọn 3 - 5 ruộng đại diện, mỗi ruộng điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 5 – 10 khóm nằm trên 1 hàng Điều tra theo kiểu cuốn chiếu, lần

điều tra sau dịch chuyển sang hàng bên cạnh và cách kỳ điều tra trước ít nhất

5 khóm Riêng đối với giai đoạn cây con mỗi điểm điều tra 1m2

3.3.2.3 Xác định tỷ lệ ký sinh trong tự nhiên

Qua mỗi kỳ điều tra thu ít nhất 30 sâu non mỗi loại (sâu hại chính) đem

về phòng thí nghiệm nuôi tiếp để theo dõi tỷ lệ sâu bị ký sinh (%)

3.3.2.4 Khảo sát hiệu lực thuốc trên đồng ruộng

Thí nghiệm gồm 4 công thức trong đó có 3 công thức thí nghiệm tương ứng với 3 loại thuốc và 1 công thức đối chứng (phun nước l6) được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức lặp lại 3 lần Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 30m2, dải bảo vệ rộng 1m, và khoảng cách giữa các ô là 0,5m (theo sơ đồ 3.1) Sau đó theo dõi số sâu sống trước xử lý thuốc 1 ngày và sau xử lý thuốc 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày, từ đó tính hiệu lực (%) của thuốc

Trang 37

Hình 3.1 Sơ đồ thí nghiệm phun thuốc hoá học Ghi chú: I1 Công thức 1 lần nhắc lại 1

II3 Công thức 3 lần nhắc lại 3 …

- Các loại thuốc thí nghiệm được bố trí với các công thức

Công thức Tên thuốc Lượng thuốc thương phẩm /ha Nồng độ(%ai)

3.3.2.5 Khảo sát hiệu lực thuốc trong phòng thí nghiệm

Khảo sát hiệu lực các loại thuốc đối với các tuổi sâu khác nhau của sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) Mỗi công thức thí nghiệm ít nhất 30 sâu, lặp lại 3 lần Sâu được nhân nuôi hàng loạt trong nhà lưới bằng thức ăn sạch sau đó phân tuổi và thả vào chậu đ6 trồng sẵn cây lạc (được cách ly bằng lồng

Trang 38

lưới), phun thuốc đều lên cây theo nồng độ và liều lượng khuyến cáo Công thức đối chứng được phun bằng nước l6

Theo dõi, tính toán hiệu lực (%) của thuốc ở 1h, 6h, 12h, 24h, 48h và 72h sau khi xử lý

3.3.2.6 Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến một số loài thiên

địch chính ỏ trong phòng thí nghiệm

- Chúng tôi tiến hành thử nghiệm trên 3 đối tượng bắt mồi chính là Bọ cánh cộc, Bọ rùa đỏ, Nhện lớn

- Nguồn thiên địch thí nghiệm được thu trực tiếp ngoài ruộng sản xuất

- Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Hassan (1985) [46] (dẫn theo Lê Thị Kim Oanh, 2003) [28]

* Đối với bọ cánh cộc và nhện lớn

Chuẩn bị các hộp nhựa kích thước 20 x 12 x 10cm có chứa đất mùn ẩm dày khoảng 4cm Đặt các hộp nhựa này vào khay và phun thuốc trừ sâu pha ở nồng độ khuyến cáo sao cho các tia thuốc phun ra đều khắp trên mặt hộp (đối chứng được phun bằng nước l6) Lượng nước thuốc phun khoảng 30 – 35 ml/m2 Thả 10 cá thể thiên địch vào mỗi hộp đất đ6 được xử lý thuốc Thí nghiệm được lặp lại 3 lần Theo dõi và xác định tỷ lệ chết sau 1h, 6h, 12h, 24h, 48h và 72h

* Đối với bọ rùa đỏ

Nhúng lá lạc vào dung dịch thuốc đ6 pha theo nồng độ khuyến cáo của từng loại trong 20 giây (đối chứng được nhúng bằng nước l6) Để lá khô tự nhiên, sau đó cắt lá và đặt vào đĩa petri sao cho lá phủ kín mặt đáy của đĩa Thả vào mỗi đĩa 10 bọ rùa và thí nghiệm được nhắc lại 3 lần Theo dõi và xác

định tỷ lệ chết sau 1h, 6h, 12h, 24h, 48h và 72h

Trang 39

Mức độ ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch được xác định bằng công thức Abbott Cấp độc của các loại thuốc đối với thiên địch được đánh giá theo thang phân cấp của tổ chức đấu tranh sinh học Quốc tế (IOBC, 1985) [46] (dẫn theo Lê Thị Kim Oanh, 2003) [28] như sau:

Cấp 1 (thuốc ít độc): Tỷ lệ giảm quần thể < 50%

Cấp 2 (thuốc độc nhẹ): Tỷ lệ giảm quần thể > 50 – < 80%

Cấp 3 (thuốc độc trung bình): Tỷ lệ giảm quần thể 80 – 99%

Cấp 4 (thuốc độc cao): Tỷ lệ giảm quần thể > 99%

3.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán

Tổng số sâu, thiên địch điều tra

- Mật độ sâu hại và thiên địch (con/m2) =

Tồng diện tích điều tra (m2)

Xuất hiện trung bình (++)

Xuất hiện nhiều (+++)

Trang 40

Hiệu lực của thuốc trừ sâu ngoài đồng tính theo công thức Handerson Tilton:

Ta x Cb

HL (%) = (1 -

Tb x Ca ) x 100 Hiệu lực của thuốc trừ sâu trong phòng thí nghiệm tính theo công thức Abbott

Ca - Ta

E (%) =

Ca x 100 Trong đó:

HL: Hiệu lực thuốc ở ngoài đồng

E: Hiệu lực thuốc ở trong phòng thí nghiệm

Ta : Số cá thể sống ở công thức xử lý sau phun

Tb: Số cá thể sống ở công thức xử lý trước phun

Ca: Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau phun

Cb: Số cá thể sống ở công thức đối chứng trước phun

3.5 Xử lý, bảo quản và giám định mẫu vật

Mẫu vật thu về được xử lý bằng rượu mạnh 45% hoặc cồn 70% (trừ pha trưởng thành bộ cánh vẩy) để giám định phân loại

3.6 Xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê thông thường và thống kê so sánh IRRISTART

Ngày đăng: 25/07/2021, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. L−ơng Minh Khôi (1991a), "Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu đỗ, lạc năm 1991", Hội nghị khoa học, Viện BVTV tháng 1/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu đỗ, lạc năm 1991
17. L−ơng Minh Khôi (1991b), “Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại lạc năm 1989 - 1990”, Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc, đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội tr.122 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại lạc năm 1989 - 1990
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
20. Phạm Văn Lầm (2002), "Những kết quả chính của công tác điều tra cơ bản côn trùng trong 50 năm qua", Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học và công nghệ BVTV, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 308 - 312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả chính của công tác điều tra cơ bản côn trùng trong 50 năm qua
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
21. Trần Đình Long (1991), "Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam", Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc, đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr 43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gen cây lạc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Long
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1991
23. Tạ Minh (1993), “Kết quả khảo sát thuốc BVTV năm 1990 ở các tỉnh phía Nam”, Tạp chí bảo vệ thực vật, số 3, Tr.23 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát thuốc BVTV năm 1990 ở các tỉnh phía Nam
Tác giả: Tạ Minh
Năm: 1993
31. Lê Văn Thuyết và ctv (1993), "Một số kết quả nghiên cứu sâu hại lạc năm 1991 - 1992", Tạp chí BVTV số 4 tr. 2-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu sâu hại lạc năm 1991 - 1992
Tác giả: Lê Văn Thuyết và ctv
Năm: 1993
33. Viện Bảo vệ thực vật, “Sâu hại lạc và biện pháp phòng trừ”, Báo cáo tổng kết 10 năm hợp tác Việt Nam – ICRISAT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại lạc và biện pháp phòng trừ
38. Phạm Thị V−ợng (1996b), “ Nhận xét về ký sinh sâu non sâu khoang Spodoptera litura Fabr. hại lạc tại Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc", Tạp chí bảo vệ thực vật số 4 tr. 26 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về ký sinh sâu non sâu khoang Spodoptera litura Fabr. hại lạc tại Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc
47. Hill and Waller (1985), “Pest and diseases of tropical crops”, Volume 2, Field handbook (Produced by long man group F. E. Ltd) Printed in Hong Kong, p. 320 - 324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pest and diseases of tropical crops
Tác giả: Hill and Waller
Năm: 1985
57. Wallis E. S. and Byth D. E. (1986), "Food legume improvement for Asian farming systems", Proceeding of international workshop held in Khon Kaen, Thai Land, 1-5 Sept, ACIAR (in Food legume research program, P.130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food legume improvement for Asian farming systems
Tác giả: Wallis E. S. and Byth D. E
Năm: 1986
61. Wightman, J.A., K.M. Dick., G.V. Rang Rao et all., (1990), “Pest of groundnut in Semi-Arid Tropics”, In Insect Pest of Food Legumes, Edited by S.R. Singh, Copyright 1990 by John Wiley &amp; Son Ltd: 24-257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pest of groundnut in Semi-Arid Tropics
Tác giả: Wightman, J.A., K.M. Dick., G.V. Rang Rao et all
Năm: 1990
9. Lê Văn Diên (1991), Kinh tế sản xuất lạc ở Việt nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr 33 Khác
10. Hoàng Thị Lệ Giang (1996), Tìm hiểu ảnh h−ởng của một số loại thuốc hoá học bảo vệ thực vật đến côn trùng bắt mồi và nhện lớn ăn thịt sâu hại lúa vụ đông xuân 1995 tại Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Nông Nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội Khác
11. Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung (1995), Cây lạc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 201-225 Khác
12. Hà Quang Hùng (1998), Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
13. Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ (2003), Côn trùng học ứng dụng, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 80 - 81 Khác
14. Nguyễn Minh Hiếu (2003), Giáo trình Cây công nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Đức Khánh (2002), Sâu hại chính trên lạc, một số đặc điểm hình thái sinh vật học của loài sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus Walsingham và biện pháp phòng trừ vụ xuân 2002 tại huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh, Luận văn thạc sỹ Nông Nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội Khác
18. L−ơng Minh Khôi và ctv (1991c), "Một số kết quả nghiên cứu sâu hại Khác
19. Trần Văn Lài (1993), Kỹ thuật trồng lạc, đậu, Vừng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w