1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 19611975

206 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975
Tác giả Đặng Thị An
Người hướng dẫn TS Dương Đình Lập, PGS.TS Hồ Xuân Quang
Trường học Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các PTTĐYN ở miền Bắc trong những năm 1961-1975 trêncác phương diện: nhân tố tác động, quá trình hình thành, phát triển, kết quả…từ đó đánh giá đặc điểm, ý nghĩa của nó t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Họ và tên tác giả luận án

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

Trang 2

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Họ và tên tác giả luận án

LỜI CAM ĐOAN

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

Trang 3

Những đánh giá, kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất cứcông trình nào.

Tác giả luận án

Đặng Thị An

Trang 5

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện Lịch sử Quân sự ViệtNam, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của rất nhiều cá nhân, tậpthể ở trong và ngoài cơ sở đào tạo Bởi lẽ đó, tôi xin bày tỏ và gửi lời cảm ơnchân thành nhất đến:

- Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng; các thầy giáo, côgiáo, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các Phòng, Ban, đặc biệt là Bộ môn Lịch sửkháng chiến chống Mỹ; Phòng Thông tin -Tư liệu, Ban Sau Đại học nay thuộcPhòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo…đã dành cho tôi sự quan tâm,giúp đỡ, cả sự động viên thường xuyên và kịp thời

- Tập thể hướng dẫn khoa học là: Tiến sĩ Dương Đình Lập và Phó Giáo

sư, Tiến sĩ Hồ Xuân Quang đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian nghiêncứu, cho tôi nhiều chỉ dẫn, đóng góp và những định hướng khoa học có giá trị

- Các cán bộ, nhân viên Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội, Thư việnTrường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sử học, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I,Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III… đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận nguồntài liệu phong phú, có giá trị phục vụ cho quá trình nghiên cứu

- Cán bộ, chiến sĩ, các anh, chị công tác tại Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốcphòng; các anh chị em đang theo học nghiên cứu sinh các khóa tại Viện đãthường xuyên chia sẻ thông tin và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi học tập,nghiên cứu

- Các Thầy, Cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đang công tác tại Khoa Lý luậnChính trị-Luật và Quản lý Nhà nước, Trường Đại học Quy Nhơn đã động viên vàchia sẻ công việc, giúp tôi có thể tập trung nhiều thời gian để hoàn thành chươngtrình đào tạo và luận án tiến sĩ

- Gia đình, người thân đã tin tưởng, chia sẻ những khó khăn, tạo nhiều điềukiện, cổ vũ, động viên giúp tôi kiên trì và an tâm học tập, nghiên cứu trong thờigian qua

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả luận án Đặng Thị An

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Nguồn tài liệu

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp mới của luận án

7 Kết cấu của luận án

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về thi đua ở các nước XHCN

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.2 Nhận xét và hướng nghiên cứu của luận án

1.2.1 Nhận xét

1.2.2 Hướng nghiên cứu của luận án

Chương 2 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIÊN BẮC

TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

2.1 Cơ sở hình thành phong trào thi đua yêu nước

2.1.1 Cơ sở lý luận về thi đua yêu nước

2.1.2 Thực tiễn phong trào thi đua yêu nước trước năm 1961

2.2 Bối cảnh lịch sử và sự phát triển của phong trào thi đua yêu

nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1965

2.2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước

2.2.2 Một số phong trào thi đua tiêu biểu

3.1.1 Bối cảnh lịch sử mới và nhiệm vụ của miền Bắc

3.1.2 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh phong trào thi

đua yêu nước

3.2 Một số phong trào thi đua tiêu biểu

3.2.1 Phong trào “Ba sẵn sàng”

1

1233455

6 6

68

21

2125

26 26

2630

38

384479

Trang 7

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1 Nhận xét

4.1.1 Đặc điểm

4.1.2 Ý nghĩa

4.2 Một số kinh nghiệm

4.2.1 Tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời

phát huy vai trò của Nhà nước và các đoàn thể chính trị-xã hội trong

việc phát động và tổ chức thi đua yêu nước hiệu quả, thiết thực

4.2.2 Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, động viên khí thế thi

đua, đặc biệt chú trọng việc khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự

tôn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thi

đua yêu nước

4.2.3 Căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn

cách mạng để xác định mục đích, nội dung, hình thức thi đua thích hợp

4.2.4 Lắng nghe nguyện vọng của nhân dân, phát huy tính chủ động,

sáng tạo của cá nhân và tiến hành thi đua thường xuyên, liên tục trên cơ

sở lấy lòng yêu nước làm gốc, xem công việc hàng ngày là nền tảng của

thi đua

4.2.5 Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh

nghiệm, phổ biến sáng kiến, kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng

những điển hình tiên tiến sau mỗi đợt thi đua

Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

137 137

137144

151

151

154157

159

161164

165

168 169

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

03 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

11 PTTĐ XHCN Phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữnước, được kết tinh, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, tinh thần yêu nướctrở thành giá trị cơ bản và bền vững nhất trong hệ giá trị truyền thống của dân tộcViệt Nam Tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tình cảm, tư tưởng của mỗingười dân Việt Nam, trở thành nguồn “năng lực nội sinh” không bao giờ cạn và

là vũ khí tinh thần mà vận nước thịnh hay suy, mất hay còn, phần rất quan trọng

tùy thuộc vào việc chúng ta phát huy hay quên lãng thứ vũ khí tinh thần ấy.Ngày 11/6/1948, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọithi đua ái quốc, chính thức phát động PTTĐYN trong toàn Đảng, toàn dân vàtoàn quân Từ đây, PTTĐ ái quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã thực

sự trở thành một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân phát huy tàinăng, trí tuệ của mình góp phần lập nên những chiến công hiển hách trong sựnghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Liên tục trong hơn 70 năm qua, trong mỗi chặng đường phát triển của cáchmạng, PTTĐYN như những làn sóng trào dâng mang theo khí thế hào hùng củadân tộc, tạo động lực đoàn kết toàn dân đấu tranh

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), đặc biệt là từ khi Ban

Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 07-NQ/TW (26/01/1961) Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, PTTĐYN ở miền

Bắc có nhiều bước tiến mạnh mẽ Với sự đa dạng về nội dung, sự phong phú vềhình thức, gắn với nhiều hành động thiết thực, PTTĐYN đã đi vào lịch sử nhưmột minh chứng thuyết phục cho sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kếtdân tộc, ý chí tự lực tự cường, trí thông minh, niềm đam mê sáng tạo và cốnghiến của quân dân miền Bắc, góp phần xứng đáng vào quá trình hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược

Từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay, quán triệt tinh thần “Thi đua

là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua” Đảng và Nhà nước tiếp tục duy trì, phát

huy sức mạnh của lòng yêu nước, chú trọng vào việc phát động, tổ chức cácPTTĐYN toàn diện, thiết thực, hiệu quả Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới-cuộc thi đua vĩ đại chống lại “những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻtốt tươi” của dân tộc vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,

Trang 10

văn minh, TĐYN không chỉ là phương pháp cách mạng mà tiếp tục là nhiệm

vụ chính trị căn bản của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân PTTĐYN đã bướcsang một giai đoạn mới với những nội dung mới, ngày càng phát triển mạnh

mẽ và rộng khắp Qua các PTTĐYN đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anhhùng, chiến sĩ thi đua, các điển hình tiên tiến trong cả nước TĐYN thực sự đãmang lại những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trongkhu vực và trên trường quốc tế Tuy nhiên, tình hình trong nước, quốc tế vàkhu vực hiện có nhiều chuyển biến mau lẹ chứa đựng nhiều cơ hội và tháchthức có tác động trực tiếp đến quá trình phát động, tổ chức các PTTĐYN Bêncạnh những thành tựu quan trọng đạt được, TĐYN hiện vẫn đang đứng trướcnhiều tồn tại, yếu kém cần thiết phải được khắc phục

Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề này cho thấy, đã có nhiều tác giả tiếpcận, tìm hiểu về PTTĐYN nói chung, PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước nói riêng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trìnhnghiên cứu nào về PTTĐYN ở miền Bắc một cách toàn diện, hệ thống và sâusắc Việc nghiên cứu các PTTĐYN ở miền Bắc trong những năm 1961-1975 trêncác phương diện: nhân tố tác động, quá trình hình thành, phát triển, kết quả…từ

đó đánh giá đặc điểm, ý nghĩa của nó trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miềnNam, thống nhất Tổ quốc là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.Kết quả nghiên cứu không chỉ là cơ sở cho việc tái hiện chân thực các PTTĐYNvới những điển hình tiêu biểu mà còn là cơ sở khẳng định chủ trương đúng đắncủa Đảng, sự vận dụng linh hoạt của các cấp ủy, đoàn thể ở địa phương; giúp làmsáng tỏ vị trí, vai trò của miền Bắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mộthậu phương chiến lược Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này có ýnghĩa thiết thực trong việc tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, thực hành thi đuatích cực và hiệu quả trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát sự quan tâm đặc biệt dành cho các PTTĐYN cùng với sự nhậnthức đầy đủ về ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, nghiên cứu sinh quyết

định chọn đề tài: “Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành

Trang 11

1961-1975; từ đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa, kinh nghiệm để vận dụng vàoquá trình phát động, tổ chức có hiệu quả các PTTĐYN trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá các kết quả nghiên cứu, xác

định hướng tiếp cận và nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, nhân tố tác động đến quá trình phát động

và tổ chức các PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nướcnhững năm 1961-1975

- Tái hiện thực tiễn PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹnhững năm 1961-1975 thông qua phân tích quá trình hình thành, các giai đoạnphát triển và kết quả nổi bật một số PTTĐYN tiêu biểu

- Luận giải một số đặc điểm, đánh giá ý nghĩa của PTTĐYN ở miền Bắctrong kháng chiến chống Mỹ, những năm 1961-1975; đúc rút một số kinh nghiệm

có thể kế thừa, vận dụng vào quá trình phát động, tổ chức các phong trào TĐYNtrong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: từ năm 1961-1975 (từ ngày Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết 07-NQ/TW “Về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt kế hoạch Nhà nước năm 1961 và 5 năm lần thứ nhất”(26/1/1961) đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc

thắng lợi)

- Phạm vi về không gian: trên phạm vi miền Bắc (vùng lãnh thổ do chính

phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý hành chính, kể từ phía bắc vĩ tuyến 17,nay tương ứng với phần địa giới hành chính phía bắc tỉnh Quảng Trị), đặc biệt làcác địa phương có PTTĐYN tiêu biểu (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, TháiBình, Quảng Bình )

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành và

thực tiễn PTTĐYN ở miền Bắc ở một số ngành, giới, tầng lớp trong xã hội, cụthể là tập trung vào các phong trào: “Gió Đại Phong”, “Sóng Duyên Hải”,

“Trống Bắc Lý”, “Cờ Ba nhất”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”…

4 Nguồn tài liệu

- Hệ thống văn kiện của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội; các tác phẩm của

Trang 12

Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội về thi đua yêunước.

- Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vàlịch sử các bộ, ban, ngành, tỉnh, địa phương, lịch sử các giới, tầng lớp xã hội…ởmiền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

- Các công trình nghiên cứu về PTTĐYN qua các thời kỳ, nhất là nghiêncứu về PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; kỷ yếu hộithảo, luận văn, luận án, bài báo khoa học… có liên quan đến PTTĐYN

- Các hồi ký, nhật ký, chuyện kể về những tấm gương điển hình trongPTTĐYN ở miền Bắc những năm 1961-1975

Luận án đặc biệt chú trọng khai thác, sử dụng nguồn tài liệu lưu trữ tạiTrung tâm lưu trữ quốc gia, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sửquân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên quan điểm phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua và thi đua yêu nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử vàphương pháp lôgic, luận án kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứukhác như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Trong đó:

Phương pháp lịch sử được sử dụng trong việc nghiên cứu quá trình hìnhthành, phát triển của các PTTĐYN tiêu biểu ở miền Bắc theo một trình tự liên tụcvới những nhân chứng và số liệu lịch sử trong không gian và thời gian cụ thểnhằm phục dựng chân thực diễn tiến của PTTĐYN qua các giai đoạn với tínhchất và khuynh hướng phát triển của nó

Phương pháp logic được sử dụng khi nghiên cứu những chuyển biến củaPTTĐYN ở các giai đoạn phát triển, phân tích, đánh giá các nhận định, rút ranhững nhận xét về đặc điểm, ý nghĩa của PTTĐYN, trên cơ sở những căn cứlogic và luận chứng khoa học để rút ra những kinh nghiệm vận dụng

Phương pháp so sánh (so sánh đồng đại và so sánh lịch đại) được sử dụngtrong việc nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt nhằm làm rõ đặc điểm,tính chất nổi bật của PTTĐYN trong từng giai đoạn cũng như sự khác nhau, bướcphát triển của PTTĐYN giữa các giai đoạn

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng linh hoạt các phương pháp

Trang 13

6 Đóng góp mới của luận án

- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử về PTTĐYN, đặc biệt là PTTĐYN ởmiền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975

- Góp phần làm rõ cơ sở hình thành các PTTĐYN, đặc biệt làm rõ sự lãnhđạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xãhội trong việc phát động và tổ chức thực hiện PTTĐYN

- Phục dựng một cách khách quan, khoa học một số PTTĐYN điển hình ởmiền Bắc qua hai giai đoạn 1961-1965 và 1965-1975; làm rõ giá trị to lớn củacác PTTĐYN đó đối với sự phát triển của miền Bắc và đối với thắng lợi của sựnghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam (1961-1975)

- Rút ra đặc điểm, ý nghĩa của PTTĐYN ở miền Bắc trong cuộc khángchiến chống Mỹ những năm 1961-1975, cung cấp luận cứ khoa học và một sốkinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần giáo dục truyền thống cáchmạng, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và họctập lịch sử, nhất là chuyên đề về thi đua yêu nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của

Luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1965Chương 3: Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1975Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm1961-1975 là đề tài thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, lãnh đạo Đảng, Nhànước, những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực thi đua-khen thưởng Quakhảo sát nguồn tư liệu thu thập được, có thể nhận thấy vấn đề này đã được tiếpcận nhiều góc độ và mức độ khác nhau và tổng quan thành các nhóm sau:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về thi đua ở các nước XHCN

- Tác phẩm “Bàn về thi đua xã hội chủ nghĩa” của V.I Lênin và J.Stalin,

xuất bản năm 1959 [101] là nghiên cứu với những luận giải sâu sắc về thi đuaXHCN V.I.Lênin đã phân tích kỹ tâm lý của công nhân và người lao động trongđiều kiện họ chưa thực sự nhận thức rõ vai trò làm chủ của mình vì từng camchịu làm nô lệ quá lâu Chính từ lý do đó, theo V.I.Lênin, công tác tổ chức cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc khơi dậy ở họ ý thức và tinh thần trách

nhiệm Ông cho rằng:“Hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, nếu không phải là nhiệm vụ quan trọng hơn cả, là phát triển rộng rãi chừng nào hay chừng ấy óc sáng kiến tự do của công nhân, của tất cả những người lao động và nói chung, của tất cả những người bị bóc lột, trong lao động sáng tạo của họ về mặt tổ chức”[101, tr.11] Ở một khía cạnh khác, J.Stalin chỉ rõ: “Hình như không còn phải hoài nghi gì nữa, việc thi đua của hàng triệu quần chúng công nhân hiện đang phát triển rộng lớn, nếu không phải là sự kiện quan trọng nhất trong công cuộc kiến thiết của chúng ta, thì cũng là một trong những sự kiện quan trọng nhất”[101, tr.193] Đồng thời với việc luận dẫn nhiều khẳng định của

V.I.Lênin về thi đua trong điều kiện CNXH, J.Stalin đã phân tích sự khác nhau

về bản chất giữa thi đua XHCN với cạnh tranh trong xã hội tư bản

- Cuốn “Tổ chức thi đua như thế nào?” của V.I.Lênin, xuất bản năm 1976

[102] là công trình phê phán CNTB và cạnh tranh trong xã hội TBCN Trên cơ sở

đó khẳng định tổ chức thi đua như một nhiệm vụ trong chế độ XHCN:“Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền, là phải

tổ chức thi đua” [102, tr.8]; khẳng định tính ưu việt của thi đua XHCN, tác giả

làm rõ sự khác nhau căn bản giữa lao động của người công nhân trong xã hội tưbản và trong xã hội XHCN; làm rõ ý nghĩa của thi đua XHCN, khả năng áp dụng,thu hút, tổ chức, tạo điều kiện cho thi đua của người lao động

Trang 15

- Trong cuốn “Những người trinh sát của tương lai” của X.Ghéc-sơ-Béc,

xuất bản năm 1962 [164], bên cạnh việc dẫn luận quan điểm của V.I.Lênin về thiđua trong trong chế độ XHCN đã chỉ rõ việc tổ chức TĐYN là nhiệm vụ đượcĐảng Cộng sản Bôn-sê-vich Nga và V.I.Lênin đặc biệt quan tâm Nhiệm vụ đóđược tiến hành thường xuyên, liên tục, sự ra đời và phát triển của các phong trào

là có sự kế thừa Kết quả của các PTTĐ phản ánh tính đúng đắn về lý luận cũngnhư vai trò của V.I.Lênin, góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết nhiệm vụchính trị trong từng thời kỳ

- Cuốn “Thi đua xã hội chủ nghĩa là như thế nào” của I-a-cốp Svét-xơ, xuất

bản năm 1975 [88] là công trình khái lược một số quan điểm cơ bản của C.Mác,Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về nguồn gốc, bản chất, nguyên tắc tổ chức thi đuatrong xã hội XHCN [88, tr.5-22]; trình bày sự ra đời của PTTĐ XHCN ở Liên

Xô ngay từ những ngày đầu tiên sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mườibằng Ngày thứ Bảy cộng sản được tổ chức năm 1919 với sự tham gia của 15công nhân trạm sửa chữa đầu máy xe lửa Mátxcơva Xoóc-ti-rô-anai-a trênđường sắt Mát-xcơva-Ca-dan và sự phát triển rộng rãi của phong trào này vàonăm 1920, với Ngày thứ Bảy cộng sản toàn tỉnh và toàn Nga (thu hút 15 triệungười lao động tham gia) và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào này vào

những năm sau đó Theo tác giả, “những ngày thứ bảy cộng sản đầu tiên là

tiền đề quan trọng để phát triển PTTĐ XHCN” ở Liên Xô [88, tr.27] Tác giả

cuốn sách còn đồng thời làm rõ những bước tiến quan trọng của PTTĐ XHCN

ở Liên Xô, đặc biệt là từ năm 1930 (khi thi đua XHCN thực sự trở thànhphong trào rộng rãi của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động LiênXô) qua nhiều PTTĐ cụ thể của các cấp ngành, từ đó khẳng định được giá trị lýluận và thực tiễn to lớn của nó đối với sự phát triển sản xuất, giáo dục thái độ đốivới lao động, đối với tài sản XHCN Không chỉ cung cấp những vấn đề lý luận cơbản về thi đua XHCN, nội dung cuốn sách còn là minh chứng sinh động cho sựphát triển sôi nổi của PTTĐ ở Liên Xô qua các thời kỳ

- Cuốn “Kinh nghiệm tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa trong một xưởng máy” của Thạch Lam và Quý Nghĩa, xuất bản năm 1959 [94] là tài liệu giới thiệu

về xưởng máy quốc doanh Thượng Hải Nhờ tổ chức Đảng và các tổ chức kháctrong nhà máy coi trọng và mở rộng thi đua trong quần chúng công nhân màPTTĐ ở nhà máy đã lôi cuốn trên 90% công nhân tham gia Trong quá trình tổchức và mở rộng thi đua, xưởng máy quốc doanh Thượng Hải đã để lại nhiều

Trang 16

kinh nghiệm tốt, đặc biệt là kinh nghiệm về công tác tuyên truyền cổ động, côngtác tổ chức thi đua ở các phòng, ban, công tác tổng kết, bình bầu khen thưởng vàvấn đề xây dựng nề nếp công tác thường xuyên của Công đoàn Công trình khẳngđịnh tính tất yếu và những nguyên tắc cơ bản của thi đua XHCN, đặc biệt cungcấp nhiều kinh nghiệm bổ ích cho những người trực tiếp làm công tác thi đua-khen thưởng.

- Cuốn “Vài nét về phong trào thi đua Thiên Lý Mã”, xuất bản năm 1964,

[159] là nghiên cứu phản ánh quá trình công nhân Triều Tiên xây dựng CNXHtrên nửa phần đất nước đã được giải phóng sau khi đánh tan cuộc vũ trang xâmlược của đế quốc Mỹ Giai cấp công nhân Triều Tiên đã cùng với toàn dân sángtạo ra nhiều hình thức thi đua phong phú, trong đó Thiên Lý Mã được đánh giá làmột điển hình Phong trào Thiên Lý Mã là trường học giáo dục nhân dân laođộng thành những con người cộng sản chủ nghĩa Công trình đề cập đến bản chấtcủa phong trào tổ, đội Thiên Lý Mã; sự phát sinh, phát triển cũng như ý nghĩa,tác dụng của phong trào Thiên Lý Mã…Đồng thời chỉ ra những kinh nghiệmphong phú về vận động tổ chức, lãnh đạo thi đua, lãnh đạo sản xuất, cải tiến kỹthuật, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền cổ động, phổ biến và lãnh đạo công nhânquán triệt đường lối của Đảng Lao động Triều Tiên

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.1.2.1 Công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ và về hậu phương miền Bắc có đề cập đến phong trào thi đua yêu nước

- Nhóm công trình là sách và các đề tài khoa học của các cơ quan Trung

ương, địa phương, của cá nhân, đơn vị viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, vềhậu phương miền Bắc có đề cập đến PTTĐYN khá phong phú được phản ánh ởnhiều cấp độ và trên nhiều khía cạnh

+ Cuốn “Thi đua yêu nước-trước kia và hiện nay” của Nguyễn Văn Tạo, xuất bản năm 1958 [133] là công trình đầu tiên có cái nhìn bao quát về TĐYN

qua hai thời kỳ Theo tác giả, nếu TĐYN trong kháng chiến (1945-1954) là thiđua để giết giặc, giải phóng đất nước thì TĐYN trong hòa bình (1954-1958) làkhôi phục kinh tế và phát triển văn hóa để hàn gắn vết thương chiến tranh, cảithiện đời sống nhân dân Tác giả cho rằng: kiến thiết miền Bắc tiến lên CNXH làphát huy truyền thống thi đua yêu nước với nội dung thi đua XHCN Đề cập đếnvấn đề lãnh đạo thi đua và phương pháp tổ chức thi đua (phần VI) tác giả chỉ rõmối quan hệ giữa yêu nước với yêu CNXH, từ đó làm rõ động lực của TĐYN,

trong đó nhấn mạnh “Phong trào thi đua yêu nước là một sáng tạo rất đặc sắc

Trang 17

của cách mạng Việt Nam, theo đường lối chủ nghĩa Mác-Lênin và những kinh nghiệm quý báu của Liên Xô, Trung Quốc….Thi đua là một phong trào cách mạng, một phương pháp công tác cách mạng Chỉ có dưới sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng, dưới một chính thể cách mạng, thì mới có một phong trào quần chúng thi đua mạnh mẽ, bồng bột, phấn khởi, vì lợi ích của cách mạng và lợi ích của bản thân mình” [133, tr.82-83].

Từ năm 1961, thực tiễn PTTĐYN dưới sự lãnh đạo của Đảng thực sự lớnmạnh với sự đa dạng về nội dung, sự phong phú về hình thức Bước ngoặt quantrọng này đã được phản ánh trong một số công trình nghiên cứu Tiêu biểu như:

+ Cuốn sách Bước tiến mới của phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất bản năm 1962 [55] là tập hợp nhiều bài

phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nướctại Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ ba (1962) Mỗibài phát biểu trong cuốn sách là những phân tích, đánh giá mang ý nghĩa lý luận

và thực tiễn sâu sắc mà nếu đặt trong mối quan hệ đối chiếu, so sánh, người đọc

sẽ có cái nhìn tổng quan về những vấn đề lý luận chung, những nội dung cơ bảncũng như thành tựu, hạn chế của TĐYN trong giai đoạn 1958-1962;

+ Cuốn Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước của Lê Thanh Nghị, xuất bản năm 1963

[118] đã phân tích sâu sắc, có hệ thống và hết sức thuyết phục về những tiến bộ,những khuyết điểm của PTTĐ năm 1962 Trên cơ sở đó chỉ rõ phương hướng vànội dung thi đua năm 1963, những công việc cần làm nhằm tiếp tục đẩy mạnhPTTĐYN

+ Từ năm 1964, PTTĐYN với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai, rasức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miềnNam”, PTTĐ phấn đấu trở thành tổ, đội lao động XHCN diễn ra sôi nổi và cónhững bước tiến quan trọng trong hầu khắp các xí nghiệp, công trường, cơ quan,bệnh viện, trường học Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đếnPTTĐ phấn đấu trở thành tổ, đội lao động XHCN được xuất bản trong thời gian

này Có thể kể đến: cuốn Tổ lao động xã hội chủ nghĩa nâng cao năng suất lao động của tác giả Lê Hồng Tâm [134] Tác giả khẳng định: không ngừng nâng cao

năng suất lao động là thực hiện “mỗi người làm việc bằng hai” vì CNXH vàthống nhất Tổ quốc Cuốn sách còn đề cập một số biện pháp cụ thể nhằm khôngngừng nâng cao năng suất lao động trong đó nhấn mạnh vai trò của “Bộ tứ” vàhoạt động của tổ chức công đoàn trong việc góp phần không ngừng nâng cao

Trang 18

năng suất lao động của tổ lao động XHCN; tác giả Lâm Hồng Kỳ trong cuốn Một

số kinh nghiệm xây dựng và củng cố phong trào tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa ở cơ sở, xuất bản năm 1965 [89] cũng chỉ rõ: “Phong trào thi đua yêu nước phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ lòng tha thiết yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa là mục tiêu trực tiếp của mỗi người lao động, của mỗi tập thể lao động

ở tất cả các ngành hoạt động kinh tế và văn hóa trên toàn miền Bắc nước ta Phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa là hình thức thi đua cao nhất, toàn diện nhất so với mọi phong trào thi đua từ trước đến nay” [89, tr.5].

Tác giả khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng và củng cố PTTĐYNphấn đấu trở thành tổ, đội lao động XHCN ở cơ sở, đồng thời chỉ ra những kinhnghiệm cần thiết đối với cán bộ cấp cơ sở

+ Một số tác giả khác đề cập đến vai trò của tổ chức công đoàn trong quátrình thúc đẩy sự phát triển của PTTĐ xây dựng tổ, đội lao động XHCN, đặc biệt

trong cuộc vận động “Ba cao điểm” Cuốn Công tác thi đua sản xuất của công đoàn, xuất bản năm 1964 [143] đã làm rõ vị trí, nhiệm vụ, nội dung công tác thi

đua sản xuất của công đoàn cũng như những quan điểm cơ bản về thi đua, nhữngnguyên tắc cơ bản trong tổ chức thi đua, việc vận dụng những nguyên lý của Chủ

nghĩa Mác-Lênin về thi đua vào việc tổ chức chỉ đạo PTTĐ của Đảng Cuốn Nắm vững yêu cầu nội dung Hội nghị “Ba cao điểm”, xuất bản năm 1964 [29] làmsáng tỏ mục đích, yêu cầu và tác dụng của hội nghị những tổ, đội và người đạt

năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều Theo các tác giả: “Việc mở hội nghị những tổ, đội và người đạt “năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều”

là một hình thức tốt để phát huy trí tuệ của cá nhân và trí tuệ tập thể để kết hợp cán bộ kỹ thuật với công nhân, kết hợp công nhân với công nhân trong việc đúc kết, chọn lựa sáng kiến, kinh nghiệm” [29, tr.13]; cuốn Công đoàn vận động phong trào thi đua phát huy sáng kiến hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, xuất bản năm 1977 [31] đã làm rõ vị trí, tầm quan trọng của PTTĐ phát huy sáng kiến hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật: “Thi đua mà không hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật thì nội dung thi đua sẽ trống rỗng, không có ý nghĩa và chỉ còn

là vấn đề tăng cường độ lao động” [31, tr.9], đồng thời chỉ ra trách nhiệm của

công đoàn cơ sở, nội dung chủ yếu của công tác công đoàn vận động PTTĐ pháthuy sáng kiến, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện chương trình hợp

lý hóa ở tổ sản xuất, những nội dung và cách thức hoạt động cụ thể

+ Từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cho đến nay, các

Trang 19

tác giả có nhiều nghiên cứu mang tính khái quát hơn về lịch sử cuộc kháng chiếnchống Mỹ, về hậu phương miền Bắc trong đó có đề cập đến TĐYN Tiêu biểu là

Bộ sách gồm 9 tập Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), xuất

bản năm 2013 là công trình nghiên cứu có giá trị được biên soạn bởi tập thể cácnhà khoa học của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Các tác giả đã phân tíchnguyên nhân, diễn biến, tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử của cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong đó có một số tập phản ánh quá trìnhquân dân miền Bắc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, quân sự…có đềcập đến PTTĐYN Cụ thể: ở chương 10, tập III [48], trên cơ sở phân tích nhữngthuận lợi và khó khăn cơ bản của miền Bắc khi bước vào xây dựng CNXH, các

tác giả cho rằng từ năm 1961:“Phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội hướng về miền Nam ruột thịt không chỉ phát triển sôi động trên các mặt trận công nghiệp, nông nghiệp,… mà còn dấy lên mạnh mẽ trong ngành giáo dục”

[48, tr.83] Nhiều số liệu phản ánh diễn biến, đặc biệt là kết quả các PTTĐ tiêubiểu như: Gió Đại Phong, Sóng Duyên Hải, Trống Bắc Lý, Cờ Ba nhất…là kếtquả nghiên cứu có ý nghĩa góp phần phác họa diện mạo của một hậu phươngmiền Bắc sục sôi khí thế TĐYN; ở chương 18, tập IV [49], các tác giả cho rằng:

trong suốt những năm chống chiến tranh phá hoại“khắp nơi trên miền Bắc, nhiều phong trào thi đua yêu nước phát triển sôi nổi, rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, mọi thành phần xã hội tham gia…” [49, tr.444-445]; trong

chương 25, Tập VI [51] từ việc trình bày thành quả nhân dân miền Bắc đạt được

từ 1969-1971, các tác giả đánh giá:“trải qua ba năm sau khi bước ra từ đổ nát của chiến tranh (1969-1971), hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang

có những bước tiến đáng kể trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và đối ngoại” [51, tr.210]; trong chương 27, tập VII [52], từ sự khảo sát thực tiễn

quá trình quân và dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh trong năm 1971,

các tác giả khẳng định:“Miền Bắc - hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách do đế quốc

Mỹ gây ra, khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân Là hậu phương trực tiếp của cách mạng Việt Nam ở miền Nam…” [52, tr.15-16]; hoặc ở chương 41, tập IX, các tác giả đề cập quá trình Tổng Công đoàn Việt Nam phát động Phong trào thi đua phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa trong tất cả các bộ, ngành toàn miền Bắc Từ đó khẳng định miền Bắc XHCN giữ vai trò quan trọng quyết định đối

với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền

Trang 20

Nam, thống nhất Tổ quốc.

+ Bên cạnh nhiều công trình tổng kết lịch sử khác phải kể đến lượng lớncác công trình có đóng góp quan trọng trong việc hệ thống những văn kiện củaĐảng, các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số chuyên luận liênquan đến TĐYN của nhiều tác giả từ nhiều ngành, giới, nhiều cương vị công tác

khác nhau Tiêu biểu có thể kể đến: Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước, tuyển chọn và chuyên luận, của Lê Văn Yên-Nguyễn Duy Cát, xuất bản năm 2000 [165]; Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước, của Lê Quang Thiện - Vũ Trọng Bình xuất bản năm 2008 [152]; Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng, của Ban Thi đua-Khen thưởng Trung ương, xuất bản năm 2008 [34]; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng, của Trương Quốc Bảo xuất bản năm 2010 [4]; Đẩy mạnh, nhân rộng, phát huy hiệu quả phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, của tác giả Nguyễn Thái Anh, xuất bản năm 2010 [2]; Những mốc son vàng trong phong trào thi đua yêu nước của Phạm Hùng, xuất bản năm

2011 [86]; 70 năm thi đua yêu nước (1948-2018), Thông tấn xã Việt Nam xuất bản năm 2018 [35]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước của Viện Khoa

học xã hội-Nhân văn xuất bản năm 2008 [163]…

Đây là những công trình nghiên cứu công phu, có giá trị lý luận to lớn.Không chỉ làm rõ những nội dung tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềTĐYN cũng như thành tựu đánh dấu bước tiến quan trọng của PTTĐYN quatừng thời kỳ cách mạng, các tác phẩm và tác giả cũng đồng thời làm rõ việcnghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đẩy mạnh, nhânrộng, phát huy hiệu quả PTTĐYN trong giai đoạn cách mạng mới

+ Thực tế PTTĐYN thời đó có phạm vi và sức lan tỏa rộng rãi ở các địaphương, các ngành, các giới khác nhau Lịch sử các địa phương, nhất là một sốđịa phương là nơi ra đời và phát triển các PTTĐYN tiêu biểu thời kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước như Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Thái Bình…thông quaphản ánh quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương dưới sự lãnh đạothống nhất của Đảng, các công trình đã cung cấp nhiều số liệu cụ thể, chính xác,

có giá trị và ý nghĩa là những mảng thực tiễn sinh động góp phần tạo dựng mộtbức tranh hậu phương miền Bắc rộng lớn với sự phát triển sôi nổi, rộng khắp củanhiều PTTĐYN Các công trình viết về lịch sử các ngành, các giới cũng là nguồn

sử liệu hết sức có giá trị cho việc tiếp cận, nghiên cứu và phục dựng bức tranh sôi

Trang 21

nổi của PTTĐYN thời chống Mỹ, cứu nước.

Gián tiếp đề cập đến một số PTTĐ trong quân đội là các công trình nghiên

cứu như Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND xuất bản năm 1992; Phụ nữ quân đội trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lâm xuất bản năm 2001 [96] đã trình bày và

đánh giá nguyên nhân mang lại khí thế thi đua sôi nổi trong quân đội, đặc biệt là

tính chất và giá trị của PTTĐ “Ba nhất”.

Cũng có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng lịch sử phong

trào Đoàn Thanh niên như: “40 năm thanh niên xung phong (1950-1990)” của Văn Tùng (chủ biên), xuất bản năm 1990; “Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh Thành phố Hà Nội” xuất bản năm 1997; “Thanh niên xung phong Thanh Hóa những chặng đường lịch sử” xuất bản năm 1998; “Lịch sử truyền thống của thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước của tác giả Đinh Văn Đệ, xuất bản năm 2002 [77]… đã tái hiện chân thực về phong trào Đoàn thanh niên

nói chung, phong trào thanh niên ở các địa phương cụ thể nói riêng Đặc biệt

cuốn “Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam” của Văn Tùng (chủ biên) xuất bản năm 2001 [137] và cuốn “72 năm Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”

xuất bản năm 2002 đã khái quát công tác chỉ đạo của Đảng và Đoàn Thanh niên

Lao động Việt Nam cũng như diễn biến của phong trào thanh niên Ba sẵn sàng toàn miền Bắc Theo đánh giá của các tác giả, cùng với phong trào “Năm xung phong” của thanh niên miền Nam, phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền

Bắc là biểu hiện của ý chí kiên cường và lòng quyết tâm của thanh niên cả nước

vì thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Nhiều nghiên cứu phong trào phụ nữ đến từ các địa phương như: “Gái Quảng Bình” của Hội Văn nghệ và Tỉnh hội phụ nữ Quảng Bình xuất bản năm 1966; “Gái đảm Tuyên Quang” (tập 1) của Tỉnh hội phụ nữ-Ty Văn hóa Tuyên Quang xuất bản năm 1970; “Ra sức giáo dục động viên các tầng lớp phụ nữ đẩy mạnh phong trào “Ba đảm đang” chống Mỹ, cứu nước và xây dựng thủ đô xã hội chủ nghĩa” của Thành hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội xuất bản năm 1971; “Bài ca dũng cảm đảm đang” của Ty Văn hóa tỉnh Thái Bình, năm 1973; “Trung dũng đảm đang” của Thành Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Phòng, năm 1974; “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Tỉnh hội Phụ nữ Hải Hưng, năm 1974; “Công tác vận động phụ nữ các dân tộc miền núi” của Chu Văn Tấn, xuất bản năm 1974; Lịch

sử phong trào phụ nữ Hà Tĩnh 1930-2000, Nxb Hà Tĩnh, năm 2000…là những

Trang 22

tái hiện sinh động và hết sức chân thực về PTTĐ của phụ nữ ở các địa phươngtrên phạm vi miền Bắc.

- Nhóm công trình nghiên cứu được công bố trong các kỷ yếu hội thảo, tạp chí khoa học chuyên ngành;luận văn, luận án

PTTĐYN nói chung, PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹnói riêng là vấn đề được phản ánh trong các kỷ yếu hội thảo khoa học thườngđược tổ chức nhân kỷ niệm các sự kiện lịch sử trọng đại với nhiều chủ đề cụ thể.Tuy nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với nhiều bài viết có giá trịnhưng trong khuôn khổ của một tham luận, các bài viết không thể giải quyết sâusắc, thấu đáo tất cả các vấn đề đặt ra Liên quan đến PTTĐYN có thể kể đến một

số kỷ yếu như:

+ Kỷ yếu “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị, quân sự lỗi lạc” do

NXB QĐND xuất bản năm 1997 Trong Kỷ yếu này, liên quan đến PTTĐYN có

một số bài viết như “Vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch

Hồ Chí Minh” của Trần Bích Thủy; “Nhà tổ chức thi đua tài năng” của Nguyễn Hữu Đức; “Đồng chí Nguyễn Chí Thanh với phong trào thi đua“Ba nhất”” của

Trịnh Xuân Tốn… đã không chỉ cho người đọc nhận thức rõ tài năng, nhữngcống hiến mang ý nghĩa quan trọng của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đối với sự

phát triển của một số PTTĐYN thời chống Mỹ, đặc biệt là phong trào Gió Đại Phong, mà qua đó còn khẳng định vai trò của cá nhân lãnh đạo đối với sự phát

triển của PTTĐYN

+ Kỷ yếu “60 năm Thi đua-Khen thưởng thành phố Hải Phòng 1948-2008”,

NXB Hải Phòng xuất bản năm 2008[157] Bên cạnh việc giới thiệu các kỳ Đạihội thi đua yêu nước thành phố Hải Phòng, danh sách Anh hùng lực lượng vũtrang nhân dân, Anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua toàn quốc ở thành phố HảiPhòng, Kỷ yếu giới thiệu nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh, lãnh đạocác cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là của những người trực tiếp làm công tác thiđua, khen thưởng Đóng góp của các bài viết chính là sự luận giải vì sao HảiPhòng lại trở thành một trong những địa phương dẫn đầu trong PTTĐYN thờichống Mỹ, cứu nước với nhiều phong trào tiêu biểu; phục dựng hiện thực sinhđộng của quyết tâm và hiện thực các phong trào, các đơn vị, cá nhân điển hìnhtrong các PTTĐYN đến từ nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị và địa phương củaThành phố

+ Kỷ yếu Hội thảo “Đại thắng mùa Xuân 1975, sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình” được Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật xuất

Trang 23

bản năm 2015 nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất

đất nước Liên quan đến PTTĐYN trong Kỷ yếu này có một số bài viết như: “Vai trò của các phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Lê Đức Hoàng; Phong trào“Ba sẵn sàng” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nguyễn Văn Thắng; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong”, hai phong trào lớn thể hiện khát vọng của tuổi trẻ hai miền Nam-Bắc vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước của Võ Văn Thưởng; “Ba đảm đang”, phong trào thi đua độc đáo của phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Phùng

Thị Hoan Các bài viết này là sự khẳng định tinh thần trách nhiệm, khát khaocống hiến và khí thế thi đua của thanh niên, phụ nữ Việt Nam cũng như ý nghĩalịch sử to lớn của hai PTTĐ tiêu biểu là “Ba đảm đang” và “Ba sẵn sàng”

+ Kỷ yếu “Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh-giá trị lý luận và thực tiễn đối với phong trào thi đua yêu nước hiện nay”, xuất bản năm

2018 [32] là tập hợp các tham luận của nhiều tác giả tham gia Hội thảo khoa học

nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, do Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban thi đua-khen thưởng Trungương và Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Nội dung kỷ yếu gồm 2 phần, làm

rõ những vấn đề lý luận cơ bản về TĐYN theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở

đó khẳng định giá trị bền vững và sức lan tỏa của Lời kêu gọi thi đua ái quốc.

Nội dung từng tham luận giúp người đọc nhận thức sâu sắc nội dung thi đua yêunước theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là nhận thức giá trị lịch sử to lớn của

Lời kêu gọi thi đua ái quốc qua từng thời kỳ, cũng như giá trị lâu bền của tư

tưởng TĐYN Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế

PTTĐYN là vấn đề được nhiều tác giả lựa chọn là đối tượng nghiên cứucho luận văn, luận án của mình Có thể kể đến như:

+ Luận văn thạc sỹ lịch sử của Nguyễn Công Loan (1995): Sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam trong sự nghiệp chống

Mỹ, cứu nước (1954-1975) [97]; Luận án tiến sĩ lịch sử của Trần Thương Hoàng (2003): Nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954)[79]; Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Phạm Bá Khoa (2007): Thanh niên Thủ đô Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975) [92]; Luận án tiến sĩ lịch sử của Phùng Thị Hiển (2009): Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở miền Bắc (1960-1975) [81]…Các

công trình nghiên cứu này đã có những đóng góp nhất định trong việc phục dựng

Trang 24

thực tiễn các PTTĐYN ở miển Bắc trong kháng chiến chống Mỹ Song, gần nhưcũng chỉ dừng lại ở những nghiên cứu mang tính riêng lẻ từng mảng nhỏ củathực tiễn TĐYN ở từng địa phương, tầng lớp, ngành.

+ Về các bài báo khoa học có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Văn Trân

về “Nhiệm vụ của thanh niên Thủ đô trong sản xuất và chiến đấu”, Tạp chí Thanh niên số 9/1972; Trần Khang, “Hai mũi tiến công thắng Mỹ” là một phong trào đúng hướng và thiết thực”, Tạp chí Thanh niên, số 3/1969; Nguyễn Trọng Phúc, “Phong trào thi đua yêu nước qua các thời kỳ cách mạng”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11/2000; Nguyễn Thị Tình, “Bác Hồ và phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11/2000…

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

- Nhóm công trình nghiên cứu là sách, đề tài khoa học

Từ năm 1961-1975, PTTĐYN của quân và dân miền Bắc đạt những bướctiến quan trọng, được đánh dấu bằng sự ra đời và phát triển của hàng loạt cácPTTĐYN Đồng thời với thực tiễn sôi động của các phong trào là hàng loạtnhững công trình nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa khác nhau, hoặc là tổng kết,đánh giá để rút kinh nghiệm, hoặc là trình bày diễn biến và đánh giá ý nghĩa,hoặc đơn thuần chỉ dừng lại ở mức độ ghi lại…Viết về từng PTTĐYN, từng cuộcvận động cụ thể là một mảng nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo nhànghiên cứu, lãnh đạo ở các cấp, ngành, đại phương

+ Viết về PTTĐ trong nông nghiệp, đặc biệt là phong trào “Gió Đại Phong”

có thể kể đến cuốn “Tìm hiểu Đại Phong, thi đua Đại Phong”, Nxb Nông thôn xuất bản năm 1961; “Gió Đại Phong” của Dự Hương Nxb Phổ thông, năm

1961 [87]; “Đại Phong một làng quê”, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Bình xuất

bản năm 1995… Các công trình này đã phản ánh tinh thần lao động cần cù vàđầy sức sáng tạo của bà con xã viên, sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của chi

bộ, ban quản trị hợp tác xã Đại Phong trong quá trình trở thành ngọn cờ đầu thiđua của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, qua đó giúp người đọc hiểu rõ hơn

về hợp tác xã Đại Phong và phong trào Gió Đại Phong

+ Viết về PTTĐ trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tiêu biểu là

nghiên cứu của các tác giả Anh Việt, Vũ Thạch, Lê Minh Châu trong “Sóng Duyên Hải-chuyện thao diễn ở Nhà máy cơ khí Duyên Hải”, xuất bản 1961

[161] Các tác giả phản ánh chân thực tinh thần, khí thế thi đua ở Nhà máy cơ khíDuyên Hải với nhiều công nhân mang tinh thần dám nghĩ, dám làm, tự lực cánh

Trang 25

sinh, khắc phục khó khăn, phấn đấu phục vụ cho sản xuất trên cơ sở đó khẳngđịnh sự nỗ lực của từng cá nhân đã góp phần làm nên sự phát triển của phongtrào, có ý nghĩa cổ vũ và thúc đẩy mọi người thi đua sôi nổi trong mọi ngành hoạtđộng, đưa phong trào quần chúng tiến lên một bước mới, góp phần hoàn thành

toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước Trong cuốn “Công đoàn Duyên Hải với phong trào thao diễn kỹ thuật”, của Bình Sơn và Minh Đạo, xuất bản năm

1961 [131] Các tác giả đã phác họa chân dung của các cán bộ, công đoàn viênCông đoàn Duyên Hải, thông qua đó làm rõ và khẳng định vai trò của cá nhân, tổchức công đoàn đối với phong trào thao diễn kỹ thuật, góp phần làm nên “lànsóng Duyên Hải” trong cuộc vận động hợp lý hóa sản xuất, lan nhanh đến khắpcác xí nghiệp, công nông trường, cơ quan, trường học, bệnh viện…toàn miềnBắc Không chỉ luận giải cơ sở mang lại một “làn sóng Duyên Hải” có sức lantỏa mạnh mẽ, cuốn sách còn cung cấp cho cán bộ công đoàn những bài học có ýnghĩa trong công tác vận động, tuyên truyền, triển khai tổ chức các cuộc vậnđộng, các PTTĐ

+ Viết về PTTĐ trong quân đội, lực lượng vũ trang, đặc biệt là PTTĐ “Ba

nhất” tiêu biểu là một số nghiên cứu như: cuốn“Ba nhất”-phong trào thi đua trong quân đội hiện nay, Nxb QĐND xuất bản năm 1960 [3]; cuốn “Phất cao cờ“Ba nhất”, Tỉnh đội Nam Định xuất bản năm 1960 [141] đã phân tích về lịch

sử hình thành, phát triển của PTTĐ “Ba nhất” cũng như quá trình dân quân tự vệ Nam Định đã vận dụng tinh thần thi đua “Ba nhất” như thế nào, những biện pháp cần thiết để thực hiện tốt PTTĐ “Ba nhất”; cuốn “Một ngọn cờ “Ba nhất”- Đại đội 2 công binh Tả Ngạn” của Hồng Lân xuất bản năm 1961 [95] Nội dung

cuốn sách là trang sử hào hùng với những thành tích xuất sắc của Đại đội 2 công

binh Quân khu Tả Ngạn; cuốn “Ba lá cờ đầu trong phong trào thi đua “Ba nhất”của lực lượng hậu bị và dân quân tự vệ quân khu Tả ngạn” của Lê Hồng

Khê xuất bản năm 1961 [91] Qua giới thiệu kinh nghiệm các gương tiên tiếnxuất hiện từ PTTĐ của dân quân, tự vệ và hậu bị trong Quân khu Tả ngạn, cuốn

sách không chỉ có ý nghĩa góp phần đẩy mạnh hơn nữa PTTĐ “Ba nhất” mà còn

là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu PTTĐ tiêu biểu trong quân đội thời

Trang 26

Chiến sĩ “Ba nhất”, Nxb QĐND, năm 1962; “Những lá cờ “Ba nhất” của Dân quân tự vệ Bắc Ninh năm 1961” của Ngọc Hùng, Tỉnh đội Bắc Ninh, năm 1962 [85]; “Chiến sĩ Ba nhất, Gương thi đua Ba nhất” Nxb QĐND, năm 1962; “Tiêu chuẩn thi đua “tiêu biểu” của dân quân tự vệ và quân dự bị Bắc Ninh: Trung đội

Ba Nhất”, Ban Chính trị Tỉnh đội Bắc Ninh, năm 1962 [22]…đã giới thiệu

những tấm gương cán bộ, chiến sĩ “Ba nhất” đến từ các đơn vị tiêu biểu trongPTTĐ “Ba nhất” như Đại đội 2 Đoàn Vinh Quang, Đại đội 2 công binh Quân khu

Tả Ngạn; Đại đội 2 thông tin…các công trình này là nguồn tư liệu có giá trị phục

vụ cho việc nghiên cứu PTTĐ “Ba nhất” trong luận án

+ Viết về PTTĐ trong giáo dục, đặc biệt là phong trào “Trống Bắc Lý” có

thể kể đến nghiên cứu tiêu biểu: “Những bài học của Bắc Lý và phong trào thi đua Hai tốt trong ngành giáo dục phổ thông” của Võ Thuần Nho, xuất bản

năm1963 [119] Trên cơ sở trình bày một cách khái quát và toàn diện công táccủa trường cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) trong PTTĐ “Hai tốt”(dạy tốt, học tốt), tác giả chỉ ra những ưu, nhược điểm của phong trào, qua đó rút

ra kinh nghiệm và ý nghĩa của những kinh nghiệm quý báu đó đối với PTTĐ

“Hai tốt”; đồng thời đề ra phương hướng mới để đẩy mạnh PTTĐ hiệu quả trong

ngành giáo dục, nhằm làm cho sự nghiệp giáo dục ngày càng phát huy vai tròquan trọng của nó đối với sự nghiệp cách mạng XHCN ở miền Bắc

+ Viết về PTTĐ của phụ nữ, cụ thể là phong trào “Ba đảm đang” có thể kể đến: “Phong trào“Ba đảm đang” trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”, xuất

bản năm 1966 Cuốn sách đã phản ánh lịch sử hình thành, phát triển của phongtrào “Ba đảm đang”, làm sáng tỏ những đóng góp quan trọng của phụ nữ miềnBắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; Cuốn

“Phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, của Lê Chân Phương, năm 2006 [123] Cuốn sách đã phân tích tình thế

cấp bách và chủ trương của Đảng, những hoạt động phong phú, sôi nổi của

phong trào phụ nữ “Ba đảm đang”, từ đó đi đến kết luận: phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã cùng toàn dân

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ, xây dựng miền Bắc thắng lợi, gópphần vào chiến thắng lịch sử 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổquốc Tác giả đã tập hợp những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo côngtác thanh niên, công tác phụ nữ, khẳng định vị trí, vai trò, những đóng góp tolớn của phụ nữ miền Bắc, cũng như ý nghĩa của phong trào phụ nữ “Ba đảmđang”, khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, đặc biệt

Trang 27

là của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đối với phong trào “Ba đảm đang”.Đóng góp quan trọng nữa của tác giả trong công trình nghiên cứu này là đã hệ

thống các văn bản quan trọng về phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” đồng thời

giới thiệu một số gương điển hình tiên tiến của phong trào Những kết quảnghiên cứu này là gợi ý quan trọng cho nghiên cứu chuyên sâu về phongtrào“Ba đảm đang” ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác như: Phong trào “Ba đảm nhiệm” trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Phụ nữ, 1965; Ba đảm đang, tập 1, tập 2, Nxb Phụ nữ, 1966, 1967; Ba đảm đang của Đỗ Quảng-Nguyễn Trí Tình, Nxb Phụ nữ, 1967; Dũng cảm đảm đang (2 tập), Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1969…

không chỉ mang ý nghĩa cổ vũ cho sự phát triển mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa

của phong trào “Ba đảm đang”, những nghiên cứu này là nguồn tư liệu có giá trị,

minh chứng cho sự phát triển và những đóng góp không thể thay thế của phụ nữViệt Nam

+ Viết về PTTĐ của thanh niên, cụ thể là phong trào “Ba sẵn sàng” tiêu biểu là một số nghiên cứu: “Phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng tích cực thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Ban Thi đua Thành phố Hà Nội,

1966 Phát biểu của nhiều lãnh đạo được giới thiệu trong công trình này đã phântích khá sâu sắc bối cảnh và yêu cầu lịch sử đặt ra cho PTTĐYN trong giai đoạnmới, khi đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, yêu cầu khách quancủa việc tăng cường sự lãnh đạo đối với PTTĐYN trước tình hình và nhiệm vụ

mới; “Thanh niên “Ba sẵn sàng” của Hồ Trúc, xuất bản năm 1966 [156] là góc

nhìn của tác giả về ý nghĩa lớn lao của phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng”,

thông qua giới thiệu một số điển hình tiên tiến; cuốn “Phát huy khí thế “Ba sẵn sàng”, thanh niên cả nước thừa thắng xông lên cùng toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Vũ Quang [126] là những phân tích sâu sắc về mối

tương quan thế và lực giữa ta và địch ở thời điểm năm 1968, tác giả chỉ rõ 3nhiệm vụ lớn trước mắt, những nhiệm vụ, công tác cụ thể của thanh niên và Đoànthanh niên trong thời gian tới nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của toànĐảng, toàn quân và toàn dân ta là chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH

Theo tác giả:“Ba sẵn sàng” là cao trào thi đua yêu nước của cả thanh niên ta nhằm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của Đảng Vì vậy, các cấp bộ Đoàn cần đẩy mạnh cao trào“Ba sẵn sàng” tiến lên hàng đầu trong mọi công tác”[126, tr.38]; cuốn “Thanh niên “Ba sẵn sàng”-khát vọng tuổi hai mươi” của tác giả

Trang 28

Phạm Bá Khoa [93] Với nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, tác giả đã thành côngtrong việc phục dựng một bức tranh toàn diện, chân thật nhưng vô cùng sinhđộng về quá trình lao động sáng tạo, hăng say học tập, kiên cường chiến đấu ở cảhậu phương và tiền tuyến của thanh niên Cuốn sách đồng thời cho người đọcnhận thức nhiều vấn đề thuộc về nghệ thuật phát động, duy trì và phát triển mộtphong trào quần chúng từ thấp đến cao, đặc biệt là nghệ thuật phát động tính tựgiác, tự nguyện trong quần chúng của các cấp ủy Đảng và tổ chức Đoàn

- Nhóm công trình nghiên cứu là các bài viết đăng trong các kỷ yếu hội thảo khoa học; luận văn, luận án; bài báo khoa học công bố trên các tạp chí chuyên ngành Tiêu biểu như:

+ Kỷ yếu“Ba sẵn sàng” kế thừa và phát triển, Ban Chấp hành Đoàn Thanh

niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội, Nxb Hà Nội, 1994; Kỷ yếu Hội

thảo “Phong trào Ba sẵn sàng - lịch sử và ý nghĩa thời đại” nhân Kỷ niệm 50

năm khởi xướng phong trào “Ba sẵn sàng” (1964-2014), Nxb Đại học sư phạm,

2014 Thông qua nhiều bài viết và những hình ảnh tư liệu lịch sử được phản ánhtrong kỷ yếu, người đọc có thể hình dung những năm tháng oanh liệt của tuổi trẻmiền Bắc nói chung, tuổi trẻ Thủ đô nói riêng trong chiến đấu và xây dựng Từ

đó khẳng định tác dụng và hiệu quả chính trị - xã hội to lớn của phong trào “Basẵn sàng”; đồng thời chỉ ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu trong công tácgiáo dục, vận động thanh niên

+ Về luận văn, luận án có thể kể một số nghiên cứu tiêu biểu như: Luận văn

thạc sỹ của Nguyễn Thị Như Hoa: Phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên Thủ đô trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1964-1975; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Liệu (2010) với đề tài “Cuộc vận động thanh niên miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam (1965-1975)”; Luận án tiến sĩ của Trương Mai Hương (2011) với đề tài “Thanh niên xung phong miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1975”; Luận án tiến sĩ lịch sử của Hoàng Thị Phương (2018): Cuộc vận động phụ nữ miền Bắc của Đảng Lao động Việt Nam (1965-1976) [124]…Các tác giả tập trung phân tích, đánh giá về vị trí,

vai trò của thanh niên Thủ đô cũng như vị trí, vai trò của phụ nữ miền Bắc thôngqua phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang” Đóng góp đáng kể của các tác giả

là đã tái hiện hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời và nội dung của phong trào thanh niên

“Ba sẵn sàng”, phong trào phụ nữ “Ba đảm đang”, thông qua đó rút ra một số

nhận xét, đánh giá về đặc điểm, tính chất và bài học kinh nghiệm của các phong

trào này

Trang 29

+ Về bài báo khoa học tiêu biểu có: Hoàng Mạnh Phú, “Tổng kết phong trào Ba sẵn sàng”, Tạp chí Thanh niên, số 9/1973; Nguyễn Văn Tường, “Về phong trào“Ba sẵn sàng” của thanh niên Hà Nội” Tạp chí Thanh niên, số 4/1973;

Dương Đình Lập, “Về phong trào thi đua “Ba nhất” trong quân đội những năm

1960-1963”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3/2002; Phùng Thị Hiển, “Phong

trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm 1961-1965”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1/2008 [80]…

Mỗi bài viết lựa chọn một nội dung, một khía cạnh nghiên cứu khác nhaugóp phần dựng lại sự kiện, cũng như nhận thức lịch sử về TĐYN nói chung,các PTTĐYN tiêu biểu ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu n ướcnói riêng thêm phần sâu sắc

1.2 Nhận xét và hướng nghiên cứu của luận án

1.2.1 Nhận xét

PTTĐYN nói chung, PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ,cứu nước những năm 1961-1975 nói riêng là vấn đề lịch sử được lựa chọn nghiêncứu trên nhiều phương diện với mức độ tương đối cao

Từ những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này cho đến nay có thểnhận thấy PTTĐYN ở miền Bắc những năm 1961-1975 là một trong những nộidung trọng tâm được lãnh đạo các cấp và các nhà nghiên cứu quan tâm khinghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là trong nghiên cứuhậu phương miền Bắc Cùng với thời gian, PTTĐYN ở miền Bắc ngày càngđược tiếp cận một cách toàn diện, khách quan và được làm sáng rõ trên nhiềukhía cạnh (vị trí, vai trò, ý nghĩa, sự chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện, kết quả,thành tựu và hạn chế) Nguồn tài liệu được khai thác và phục vụ cho việc nghiêncứu vấn đề này ngày càng đa dạng, phong phú, có giá trị khoa học cao Nguồn sửliệu là các các hồi ký, chuyện kể đến từ các nhân chứng lịch sử ngày càng dàydặn hơn, mức độ sát thực cao hơn khi được đối chiếu, soi rọi bởi nhiều hơnnhững nhân chứng sống

Số lượng các công trình nghiên cứu đến từ các tác giả nước ngoài rất khiêmtốn Bên cạnh làm rõ tính tất yếu, khách quan của thi đua trong chế độ XHCN thìgần như chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về thi đua và thi đua XHCN

như bản chất, mục đích, phương pháp thi đua Đóng góp quan trọng của các tác

giả là đã làm rõ sự khác nhau về bản chất giữa thi đua trong chế độ XHCN vớicạnh tranh trong xã hội TBCN…Ở một số nghiên cứu khác ít nhiều trình bày

Trang 30

diễn biến, kết quả và đóng góp của PTTĐ ở một số nước XHCN như Liên Xô,Trung Quốc, Triều Tiên

Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề này được công

bố ngày càng nhiều, chủ yếu được công bố tập trung trong bốn thể loại, gồm sáchchuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án và các bài báo được đăng tải trêncác tạp chí khoa học Những công trình thuộc thể loại sách chuyên khảo và kỷyếu hội thảo được in ấn và phát hành bởi các nhà xuất bản có uy tín Các côngtrình được công bố trên các Tạp chí tập trung chủ yếu vào một số ấn phẩm có uytín, chuyên sâu như các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng, Lịch sử Quânsự… Nghiên cứu của các tác giả trong nước có giá trị trên cả ba phương diện: về

tư liệu, về nội dung, về phương pháp nghiên cứu

Thành tựu quan trọng từ các kết quả nghiên cứu trong nước là:

- Góp phần làm rõ đánh giá của Đảng về vị trí, vai trò của miền Bắc ViệtNam, cũng như âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lượcViệt Nam nói chung, âm mưu, hành động phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam,đối với từng địa phương trên phạm vi miền Bắc nói riêng Trên cơ sở đó đã gópphần phục dựng bối cảnh lịch sử dân tộc nói chung, miền Bắc nói riêng trongthời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt giai đoạn từ năm 1961 - 1975

- Đưa ra những phân tích, đánh giá của Đảng, Nhà nước ta về vị trí, vai tròcủa miền Bắc, miền Bắc nói chung, của từng địa phương, ngành và giới nói riêngtrong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

- Tái hiện tương đối chân thực, sinh động về bối cảnh lịch sử, về quá trìnhĐảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị phát động, tổ chức các PTTTĐYN

- Trình bày diễn biến của một số PTTĐYN đến từ các địa phương, cácngành, các giới khác nhau, trong đó cung cấp nhiều số liệu, nhiều nhân chứngsống cụ thể của PTTĐYN thời kỳ này

- Làm sáng tỏ ý nghĩa lịch sử, tác động to lớn của hàng loạt các PTTĐYNnhững năm 1961-1975 trong quá trình miền Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật cho CNXH và nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược đốivới cả nước

- Nêu và phân tích một số kinh nghiệm rút ra từ việc phát động và thực hiệncác PTTĐYN thời kỳ này

Qua khảo sát tình hình nghiên cứu vấn đề có thể nhận thấy, tần suất công bốcác công trình không đồng đều, tập trung chủ yếu vào thời gian của những đợt kỷ

niệm, nhất là kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc,

Trang 31

hoặc kỷ niệm ngày đánh dấu sự khởi đầu của một số PTTĐYN tiêu biểu Thời

gian trước năm 1975, chiếm số lượng lớn các nghiên cứu về vấn đề này là đến từcác đồng chí lãnh đạo các cấp, các cơ quan Ban, Ngành, cũng chính là nhữngđồng chí đã từng giữ trọng trách và có nhiều đóng góp cho sự phát triển củaPTTĐYN trên phạm vi ngành, lĩnh vực cụ thể Nhiều đồng chí như Phạm VănĐồng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Tạo, Vũ Quang…chính làcác tác giả có số công trình nghiên cứu về vấn đề này với tần suất xuất hiện khácao Với tư cách là người có vai trò trực tiếp trong quá trình phát động và tổ chứccác PTTĐYN, nghiên cứu của các tác giả này có ý nghĩa làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận chung về TĐYN, có mục đích phục vụ cho công tác tuyên truyền, cổđộng nhằm động viên sự tham gia đông đảo và có hiệu quả hơn của các tầng lớpnhân dân

Thực tế cũng cho thấy, đội ngũ các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đềnày ngày càng được mở rộng Bên cạnh các tập thể đơn vị, các nhà nghiên cứudày dặn kinh nghiệm với nhiều công trình đã được công bố, được tái bản nhiềulần là các tác giả, đặc biệt là các tác giả trẻ đến từ nhiều trung tâm nghiên cứu,hay các cơ quan, đoàn thể, ban ngành, kể cả đội ngũ các nhà nghiên cứu là giảngviên của nhiều trường đại học trên phạm vi của cả nước Nghiên cứu của nhómcác tác giả này về cơ bản dừng lại ở mức độ là các đề tài luận văn, luận án, cácbài báo, tham luận được trình bày tại trên các tạp chí, các kỷ yếu khoa học Chủyếu tập trung nghiên cứu từng PTTĐYN cụ thể, hoặc phân tích đánh giá mộtquan điểm cụ thể của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình phát độngcác PTTĐYN cho nên tính hệ thống của các công trình nghiên cứu đến từ nhómtác giả này có thể không cao, chưa mang tính toàn diện, nhưng đóng góp quantrọng chính là ở việc liên hệ với thực tiễn PTTĐYN trong giai đoạn hiện nay Qua khảo cứu lịch sử nghiên cứu vấn đề, nghiên cứu sinh nhận thấy lịch sửnghiên cứu vấn đề xuất hiện và kéo dài từ khi xuất hiện PTTĐYN cho đến nay,đặc biệt là trong giai đoạn từ sau năm 1961 Số lượng công trình nghiên cứuPTTĐYN ở miền Bắc trong chống Mỹ (1954-1975), đặc biệt trong giai đoạn1961-1975 là rất phong phú, đa dạng Bên cạnh các công trình nghiên cứu khá đồ

sộ, tỉ mỉ và rất công phu có tính hệ thống là nhiều nghiên cứu chuyên sâu, cácnhà nghiên cứu với những luận bàn của mình đã góp phần to lớn vào việc làmsáng tỏ nhiều nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của PTTĐYN ở miền Bắctrong kháng chiến chống Mỹ Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọnggiúp các nhà khoa học tiếp tục kế thừa và phát triển Kết quả của các tác giả đi

Trang 32

trước cung cấp cho nghiên cứu sinh phương pháp tiếp cận và nguồn tài liệu cógiá trị gợi mở cao Tuy nhiên cũng từ khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề, nghiêncứu sinh cũng nhận thấy còn nhiều vấn đề liên quan đến PTTĐYN ở miền Bắctrong kháng chiến chống Mỹ là khoảng trống cần tiếp tục được làm sáng tỏ Cóthể do đối tượng nghiên cứu rộng, nhiều nội dung, nên các công trình gần như chỉdừng ở mức đề cập mang tính khái quát chung, chưa phân tích sâu sắc nhữngdiễn biến mang tính quyết định của hoàn cảnh để thấy được yêu cầu khách quan

về sự phát triển của các PTTĐYN trong từng giai đoạn cụ thể Hoặc do các cơquan, tập thể và cá nhân biên soạn theo những mục đích, yêu cầu riêng đặt ra,nên mỗi công trình chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu và phản ánh từng khía cạnh riêng

lẻ của PTTĐYN Chính vì xem xét các phong trào đến từ các các ngành, các giớikhác nhau được đặt cái nhìn bao quát nhất nên các công trình phần nhiều chỉdừng lại ở việc phục dựng, phân tích, đánh giá từng phong trào thi đua cụ thể.Việc rút ra những kinh nghiệm mang tính chất phổ quát liên quan đến quá trình

tổ chức các PTTĐYN trên phạm vi toàn miền Bắc là chưa có Ý thức được nhữngthuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài của mình, nghiên cứu sinh sẽ cố gắngkhai thác tối đa nguồn tài liệu hiện có, tiếp tục sưu tầm, bổ sung nguồn tài liệuchưa có cơ hội tiếp cận để giải quyết nhiệm vụ đặt ra cho luận án

1.2.2 Hướng nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố, căn cứvào mục đích, nhiệm vụ đã xác định, luận án tập trung giải quyết những nội dung

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy và

chính quyền các cấp, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địaphương trong việc phát động và chỉ đạo tổ chức thực hiện các PTTĐYN, qua đókhẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, nghệ thuật phát động PTTĐYN của các cơquan lãnh đạo trong việc động viên và phát huy sức mạnh tổng lực của hậuphương chiến lược miền Bắc, nhằm đảm bảo cho thắng lợi cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước

Thứ hai, trình bày quá trình hình thành, phát triển của một số PTTĐYN tiêu

biểu đến từ các ngành, giới và địa phương miền Bắc trong những năm

1961-1975 Trên cơ sở đó, khái quát những điểm nổi bật, nêu rõ những kết quả quantrọng mà các PTTĐYN đã đạt được để làm sáng tỏ những cơ sở quan trọng có tácdụng thúc đẩy miền Bắc trong thực hiện nhiệm vụ của hậu phương chiến lược,

Trang 33

cũng như cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ ba, phân tích đặc điểm, ý nghĩa của các PTTĐYN ở miền Bắc trong

giai đoạn từ năm 1961-1975; đồng thời rút ra một số kinh nghiệm có thể thamkhảo, vận dụng vào việc phát động và tổ chức thực hiện các PTTĐYN trong côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Trang 34

Chương 2 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC

TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

2.1 Cơ sở hình thành phong trào thi đua yêu nước

2.1.1 Cơ sở lý luận về thi đua yêu nước

Theo từ điển tiếng Việt, thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ralàm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất,công tác hoặc học tập [120, tr.936]

Theo Khoản 1, điều 3 Luật Thi đua-Khen thưởng năm 2003: thi đua là hoạtđộng có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấuđạt được những thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [128, tr.1].Thi đua xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ XHCN và là PTTĐ củanhững người lao động tự làm chủ vận mệnh của mình, không có đối kháng về lợiích giữa cá nhân, tập thể và xã hội Trong chế độ XHCN, thi đua là động lựcmạnh mẽ đối với sự tiến bộ xã hội, là phương tiện quan trọng để củng cố kỷ luậtlao động và phát huy tính tích cực, sáng tạo của người lao động Được quy địnhbởi bản chất của chế độ xã hội, thi đua trong chế độ XHCN là gắn với yêu nước,

“là một cách yêu nước thiết thực và tích cực”

Trong tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội, sáng tạo của con người nảysinh trong quá trình lao động và thể hiện trước hết ở sự ganh đua với nhau Từ rấtsớm, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng định thi đua là một hiện tượng xã hội, nảy

sinh cùng với quá trình tổ chức và phân công lao động xã hội: “Ngay sự tiếp xúc

xã hội cũng đã đẻ ra thi đua” [105, tr.474] “Bất kỳ người nào trong công việc của mình, trong hoạt động sáng tạo đều cố gắng muốn vượt bậc Trong khi cố gắng thể hiện tài năng của mình, con người luôn noi theo thành tích của người khác Con người dường như ướm mình với người khác để thấy rõ khả năng tiềm tàng của bản thân mình Ngay trong sự so sánh đó đã có thể bộc lộ bước đầu của thi đua” [88, tr.7] C.Mác đã sử dụng khái niệm “tinh thần thi đua” [103, tr.35] để

nói về tâm lý thi đua giữa những người lao động với nhau trong quá trình hợp tác.Theo C.Mác và Ph Ăngghen, chính trong lao động tập thể, con người chịuảnh hưởng của tâm lý và lợi ích xã hội, cố gắng thi đua với nhau, thêm nghị lựcsáng tạo vào công việc mà mình thực hiện, cố gắng không chịu thua kém người

khác và thể hiện khía cạnh tốt nhất của mình: “Dưới hình thức này hay hình thức khác, thi đua là yếu tố vốn có của bất kỳ một hoạt động chung nào của con

Trang 35

người” [59, tr.323] Tuy nhiên, hai ông cũng chỉ rõ, không phải mọi lao động tập

thể đều đảm bảo phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, làm cho người lao động

cố gắng ganh đua với nhau và mong muốn thắng người bên cạnh Hai ông cho

rằng, “dưới chủ nghĩa tư bản, thi đua biểu hiện thành cạnh tranh trong cuộc chạy đua tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn” [59, tr.323] Từ rất sớm C.Mác-Ph.Ăngghen

đã coi thi đua như đặc trưng riêng có trong xã hội XHCN, và cho rằng, trong xãhội tương lai, cạnh tranh sẽ không còn, thay vào đó là sự thi đua lẫn nhau giữanhững người lao động trong quá trình sản xuất

Thống nhất với quan điểm của C.Mác và P.Ăng-ghen, V.I.Lênin khẳng định

tổ chức thi đua XHCN là việc làm có ý nghĩa đặc biệt Sau thắng lợi của Cách

mạng Tháng Mười Nga, mô hình Nhà nước Xô Viết được thiết lập, trong hàng loạtnhững vấn đề mà chính quyền Xô Viết phải đối diện, V.I.Lênin cho rằng mấu chốt

và cần kíp nhất “khi chính phủ XHCN đang cầm quyền là phải tổ chức thi đua”,

“Tất cả mọi nỗ lực phải được dành cho việc tổ chức thi đua”, “Tổ chức thi đua phải chiếm một vị trí quan trọng trong nhiệm vụ kinh tế của chính quyền Xô-viết”.

Trong nhiều tác phẩm của mình, V.I.Lênin nhấn mạnh thi đua là một tất yếu

và là nguồn tiềm năng to lớn của CNXH: “Thiết lập chế độ công hữu đối với tư

liệu sản xuất, lần đầu tiên trong đời sống loài người, Chính quyền Xô Viết đã tạo

ra những điều kiện thuận lợi để mở rộng thi đua với quy mô to lớn” [88, tr.13],“Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại, lần đầu tiên đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách thực sự rộng rãi, với một quy

mô thực sự to lớn…” [104, tr.234-235] Thi đua được V.I.Lênin coi là một

“phương pháp cộng sản chủ nghĩa để kiến thiết CNXH” trên cơ sở tính tích cực lớn nhất của hàng triệu quần chúng lao động, là cái đòn bẩy mà giai cấp công

nhân nhờ vào đó để lay chuyển cả toàn bộ đời sống kinh tế và văn hóa trongnước trên cơ sở CNXH

V.I.Lênin nhận thức sự khác nhau về thi đua trong CNTB và CNXH là dobản chất của chế độ kinh tế quyết định Theo V.I.Lênin, điểm ưu việt nhất của thiđua XHCN so với cạnh tranh là ở tính chất rộng rãi; cạnh tranh chỉ dành chonhững người kinh doanh, còn thi đua XHCN dành cho đông đảo quần chúng

nhân dân lao động Hơn nữa, cạnh tranh trong chế độ chủ nghĩa tư bản “đè bẹp một cách tàn bạo chưa từng thấy đối với tính tháo vát, nghị lực, sáng kiến mạnh dạn của quần chúng nhân dân”, cũng có nghĩa là nó “thay thế thi đua bằng trò gian lận tiền tài, bằng độc đoán, bằng thái độ nô lệ phục tùng tầng lớp trên cùng trong nấc thang xã hội”[88, tr.9] Cạnh canh chia rẽ mọi người, thành công của

Trang 36

người này có thể làm người khác phá sản Ông khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới lần đầu tiên mở đường-nhờ đã xóa bỏ được các giai cấp, và do đó, xóa

bỏ được sự nô dịch quần chúng-cho một cuộc thi đua thực sự có tính chất quần chúng Và chính tổ chức Xô Viết, trong khi chuyển từ nền dân chủ hình thức của chính thể cộng hòa tư sản sang việc quần chúng lao động thực sự tham gia công tác quản lý, lần đầu tiên đã tổ chức phong trào thi đua một cách rộng rãi” [104, tr.232] Ông chỉ rõ, chỉ có CNXH “mới có điều kiện cho tính tháo vát, tinh thần thi đua, óc sáng kiến mạnh dạn phát huy rộng rãi trên quy mô thật sự to lớn… Sau hàng thế kỷ lao động cho người khác, phải lao dịch nô lệ cho bọn bóc lột, lần đầu tiên người ta đã có thể lao động cho mình và lao động dựa trên tất cả những thành quả của kỹ thuật hiện đại và của văn hóa hiện đại” [103, tr.236], thi

đua XHCN đập tan mọi sự trói buộc của chủ nghĩa quan liêu, mở ra một trườnghoạt động rộng rãi để phát huy sức sống và tính chủ động sáng tạo của quầnchúng, khai thác những lực lượng hậu bị to lớn đang tiềm tàng Thi đua XHCNkhông có các quy luật khắc nghiệt của cạnh tranh, thành công của người nàykhông làm hại tới người khác Mặc dù cũng như bất kỳ cuộc thi đua nào, trongcuộc thi đua XHCN, đều có người thắng, kẻ thua Nhưng trong thi đua XHCN

người thua cuộc không bị hất ra ngoài, họ có mọi khả năng để sử dụng kinh

nghiệm của người thắng cuộc, và chính người thắng cuộc sẽ tự giúp đỡ ngườichậm tiến đuổi kịp mình

V.I.Lênin nhận thức sâu sắc nhiệm vụ thiết yếu của một Đảng cầm quyền là

tổ chức thi đua, những Ngày thứ bảy cộng sản từ sau Cách mạng tháng Mười cho

thấy ông nhận thức thi đua phải là hoạt động có mục đích, có tổ chức, đó không

phải là hành động tự phát, tùy tiện của mỗi người “Tổ chức thi đua theo những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa phải là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất

và cao đẹp nhất của sự cải tổ xã hội” [88, tr.13].

Sự phát triển rộng lớn của PTTĐ XHCN bằng nhiều hình thức phong phú từsau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười cho đến sau này chứng thực cho sựtoàn thắng của tư tưởng V.I.Lênin về thi đua Những tư tưởng này trở thành tàisản của toàn dân, thấm sâu vào toàn bộ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,

chiếm được khối óc và con tim của hàng triệu người “Thi đua xã hội chủ nghĩa trở thành trường học vĩ đại giáo dục thái độ cộng sản chủ nghĩa đối với lao động” [88, tr.46].

Nhận thức về tính tất yếu, vị trí, vai trò của thi đua trong chế độ XHCN,trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 37

luôn gắn thi đua với yêu nước, yêu nước với thi đua, tuyên truyền, vận động toàndân hăng hái, tích cực thi đua Nhờ đó làm xuất hiện nhiều PTTĐYN, dần lan tỏarộng khắp trên các lĩnh vực, các ngành, các giới, thực sự trở thành một biện phápquan trọng thúc đẩy phong trào cách mạng

Thống nhất quan điểm của các nhà Mácxit, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:

“Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước, vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ để rồi lại bị chúng áp bức bóc lột thêm Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua” [112, tr.198] Trước thử thách mang tính

sống còn của đất nước từ những ngày đầu độc lập, Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh đặt niềm tin vào nhân dân, đồng thời nhận thức rõ thi đua chính là một biệnpháp góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội mới.Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự 4 Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc;

20 Đại hội thi đua của các lực lượng, các địa phương, các ngành, các giới; cóhơn 30 bài nói chuyện đề cập nội dung thi đua yêu nước tại các địa phương,các hội nghị Trung ương, các ngành; 100 thư, điện khen các địa phương, đơn

vị tập thể, cá nhân có thành tích thi đua; hơn 20 bài báo khen các địa phương,

cá nhân tích cực thi đua và thi đua đạt nhiều thành tích; tặng hơn 4000 huyhiệu cho các cá nhân điển hình trong học tập, sản xuất và chiến đấu…[86,tr.223-224] Trong suốt quá trình từ lúc bày tỏ chính kiến, đặt vấn đề, khởixướng, luận bàn, phân tích, giải thích và cuối cùng đi đến những khái quát lýluận về thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quanđiểm có giá trị, xứng đáng là nhà lý luận uyên bác, đồng thời là tấm gương mẫumực về thực hành thi đua yêu nước

Thi đua yêu nước do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động bắt nguồn

từ sự ra đời của chế độ mới “Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua” [12, tr.495] Hồ Chí Minh đã gắn “thi đua” với “yêu nước”: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua” [109, tr.407] đồng thời chỉ rõ thi đua

là hướng tinh thần yêu nước thực hành vào công việc yêu nước Theo đó, thi đuakhông phải là hoạt động tùy tiện, mang tính hình thức của tập thể, tổ chức, cơquan, đơn vị, các tầng lớp xã hội, không chỉ là hoạt động sáng tạo, tích cực tronglao động, trong công việc hàng ngày mà là biểu hiện của lòng yêu nước, là biểuhiện của tinh thần đấu tranh cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là

Trang 38

Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy thi đua làm động lực phát huy lòng yêu nước, quaPTTĐ bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước thể hiện bằnghành động thực tế trong lao động sản xuất và chiến đấu, đồng thời ngược lại, lấylòng yêu nước thúc đẩy thi đua, nâng cao hiệu quả thi đua

Khi khẳng định tính khách quan, sự cần thiết của thi đua trong hoạt độngsống của con người, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời chỉ rõ thi đua làbản tính của con người và mang tính nhân văn sâu sắc Công việc hàng ngày

chính là nền tảng của thi đua, đặc điểm của thi đua là luôn vận động và phát triển Thi đua có phạm vi rất rộng, bao trùm trên mọi lĩnh vực Trong khi thể hiện

năng lực của bản thân nhằm đạt được kết quả cao hơn người bên cạnh, thi đuathúc đẩy mỗi cá nhân vượt lên thành tích của chính mình Thi đua CNXN mangtính đồng chí, tính đồng đội, hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Không chỉ nhằmphát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả công tác, thi đua còn nhằm “nâng đỡnhững người kém cỏi” Qua thi đua, con người hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn cũngnhư có điều kiện làm cho người khác cạnh mình tiến bộ hơn, đáng tin cậy hơn.Lấy tinh thần yêu nước làm gốc để phát động, tổ chức, xây dựng PTTĐ nhằmmục tiêu giải phóng con người là một sáng tạo vĩ đại của Đảng và Chủ tịch HồChí Minh

Có thể nói, gắn thi đua với yêu nước và yêu nước với thi đua, biến tiềmnăng sáng tạo và tinh thần yêu nước của nhân dân thành động lực cách mạngthông qua TĐYN đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong phương pháp vận độngcách mạng được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện xuyên suốt trong haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Đặt tên PTTĐ của nhân dân ta làPTTĐYN, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có cơ sở phát động TĐYN, biếnTĐYN thành sức mạnh của hàng triệu triệu con người, có khả năng tạo nên nhiều

kỳ tích, góp phần phát huy và khẳng định sức mạnh Việt Nam

2.1.2 Thực tiễn phong trào thi đua yêu nước trước năm 1961

Ở Việt Nam, tinh thần yêu nước và tính tích cực TĐYN thực sự trở thànhphong trào hành động cách mạng của toàn dân, được tổ chức, chỉ đạo thống nhất

từ Trung ương đến cơ sở, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phải tính từ

năm 1948, gắn với Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948) của Chủ tịch Hồ Chí

Minh Tuy nhiên, việc khơi dậy tinh thần yêu nước, thực hành nó vào công việcyêu nước đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành ngay từ những ngàyđầu xây dựng chính quyền cách mạng

Để giải quyết tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, củng cố chính quyền cách

Trang 39

mạng và phát huy khí thế, sức mạnh của một dân tộc vừa mới giành độc lập, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân “Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” Bằng niềm vui lớn lao của những con người sau gần thế kỷ làm nô lệ bước

lên địa vị được làm chủ, với lòng yêu nước và khí thế lao động đầy hứng khởimong muốn thi đua bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng lại đất nước,nhiều PTTĐ dưới nhiều hình thức phong phú đã diễn ra sôi nổi Chiến sĩ ở mặttrận “thi đua giết giặc lập công” Đồng bào ở hậu phương “thi đua tăng gia sảnxuất”, thực hành khẩu hiệu “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhànông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương” Kết quả của các phongtrào:“Hũ gạo cứu đói”,“Ngày đồng tâm”, “Tuần lễ vàng”,“Tăng gia sản xuấtngay, Tăng gia sản xuất nữa”,“Không một tấc đất bỏ hoang”,“Tấc đất, tấcvàng”, “Bình dân học vụ”… góp phần đẩy lùi “giặc đói”, “giặc dốt” góp phầntăng cường thực lực của chính quyền cách mạng, tạo tiền đề cho công cuộckháng chiến, đẩy lùi “giặc ngoại xâm” sau này

Khi buộc phải kêu gọi toàn dân một lần nữa cầm vũ khí để bảo vệ nền độclập mới giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư tưởng về mộtcuộc vận động thi đua ái quốc giải quyết nhiệm vụ kháng chiến, cũng như dànhnhiều công sức cho công tác chuẩn bị trước khi chính thức phát động phong trào

Từ các phong trào có tính chất thi đua (1945-1946) đến PTTĐ (1947) rồitiến lên PTTĐYN (1948) là bước phát triển trong tư duy lý luận, là quá trìnhTrung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng đúng đắn và pháttriển sáng tạo lý luận Mác-Lênin về thi đua XHCN Từ năm 1948, PTTĐYN cóbước phát triển vượt bậc cả về nội dung, phương pháp, hình thức và quy mô tổchức Tính đến năm 1960, PTTĐYN phát triển qua ba giai đoạn sau đây:

Giai đoạn thứ nhất, từ tháng 6/1948 đến tháng 5/1952

Ngày 1/5/1948, trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” gửi đồng bào toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người

ta, thì chúng ta phải đi mau Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì phải ra sức tham gia thi đua yêu nước [107, tr.513] Ngày 1/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc

lệnh thành lập Ban vận động Thi đua ái quốc các cấp Ngày 11/6/1948, Chủ tịch

Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu, chính thức phát động cuộc vận động thi đua ái

quốc với niềm tin: “Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến

Trang 40

thắng lợi cuối cùng” [107, tr.557].

Lời kêu gọi thi đua ái quốc nêu rõ mục đích của thi đua là: “diệt giặc đói,diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm; làm cho toàn dân đủ ăn, đủ mặc, biết đọc, biếtviết; để cho bộ đội có đủ lương thực, khí giới đánh giặc ngoại xâm; để cho đấtnước được thống nhất độc lập hoàn toàn [107, tr.556] Cách thức tiến hành là dựavào lực lượng và tinh thần của nhân dân Trong đó “bất kỳ sĩ, nông, công,thương, binh bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua nhau làm cho mau, làm cho

tốt, làm cho nhiều” [107, tr.556] Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai,

gái; bất kỳ giàu nghèo lớn, nhỏ đều cần phải trở thành một chiến sĩ trên mặt trận:quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa

Hưởng ứng Lời kêu gọi thi đua ái quốc, ngay trong năm 1948, các tầng lớpnhân dân, các địa phương, ban ngành đã thể hiện lòng yêu nước bằng hành độngthi đua thiết thực, gặt hái nhiều thành tích quan trọng Trong quân đội và dân

quân du kích có phong trào “Luyện quân lập công”, “Rèn luyện cán bộ, cải tiến kỹ thuật” Trong nông nghiệp có phong trào “Tăng gia sản xuất, thi đua cấy chiêm, sửa

đê, dọn sông máng, trồng nhiều bông” Trên lĩnh vực văn hóa có phong trào “thanh toán nạn mù chữ”,” bình dân học vụ” Trên lĩnh vực xã hội có phong trào “bài trừ

hủ tục lạc hậu, làm nhà vệ sinh, làm chuồng súc vật xa nhà, đào giếng lấy nước sinh hoạt” Sự phát triển sôi nổi và rộng khắp của các PTTĐ ái quốc trên phạm vi cả

nước với những kết quả đạt được trở thành động lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩycuộc kháng chiến

Đầu năm 1949, chấn chỉnh những hạn chế trong công tác chỉ đạo và tổchức thi đua nhằm tiếp tục đưa phong trào phát triển, Trung ương Đảng ra Chỉ thị

Đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc Tháng 2/1949, Ban Thường vụ Trung

ương Đảng xác định rõ những công tác chính của cuộc vận động thi đua ái quốcnăm 1949 cụ thể về quân sự, chính trị, kinh tế Nhờ có biện pháp chấn chỉnh phùhợp và kịp thời, PTTĐYN năm 1949 đã đạt được kết quả cao hơn năm 1948.Theo đánh giá của Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại Hội nghị toàn quốclần thứ 3 (tháng 1/1950) “phong trào thi đua ái quốc đã động viên lực lượngtoàn dân, làm cho nhân dân ta cố gắng về mọi mặt để chuẩn bị sang tổng phảncông”[64, tr.27]

Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới (tháng 10/1950) làm cho tinh thần củacán bộ, chiến sĩ và nhân dân thêm phấn chấn, khí thế thi đua vì thế càng thêm sôi

nổi Công nhân mở rộng thi đua “cải tiến kỹ thuật, trau dồi nghề nghiệp, phát minh sáng chế, sửa đổi lề lối làm việc” Nhiều xí nghiệp không chỉ đạt mức tăng

Ngày đăng: 22/06/2023, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Đông Anh (1967), Đội ngũ Ba sẵn sàng, tập 1, Gương thanh niên trong công nghiệp, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ Ba sẵn sàng, "tập 1", Gương thanh niên trongcông nghiệp
Tác giả: Lê Đông Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1967
[2]. Nguyễn Thái Anh (2010), Đẩy mạnh, nhân rộng, phát huy hiệu quả phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh, nhân rộng, phát huy hiệu quả phongtrào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạngmới
Tác giả: Nguyễn Thái Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2010
[3]. “Ba nhất”-phong trào thi đua trong quân đội hiện nay (1960), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ba nhất”-phong trào thi đua trong quân đội hiện nay
Tác giả: “Ba nhất”-phong trào thi đua trong quân đội hiện nay
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1960
[4]. Trương Quốc Bảo (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêunước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng
Tác giả: Trương Quốc Bảo
Nhà XB: NxbCTQG
Năm: 2010
[5]. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh (2001), Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh (1954-1975), tập II, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh (1954-1975)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
[6]. Ban Chấp hành Đảng Bộ Quảng Bình (2000), Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình 1954-1975, tập 2, Xí nghiệp in Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình1954-1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng Bộ Quảng Bình
Năm: 2000
[8]. Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Trị (2007), Lịch sử phong trào phụ nữ Quảng Trị (1930-2005), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phongtrào phụ nữ Quảng Trị (1930-2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Trị
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2007
[9]. Ban Chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh (1996), Lịch sử phong trào Đoàn và Thanh niên Hà Tĩnh (1930 -1996), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào Đoàn và Thanh niên Hà Tĩnh (1930 -1996)
Tác giả: Ban Chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh
Nhà XB: NxbCTQG
Năm: 1996
[11]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (23/3/1962), Chỉ thị số 40-CT/TW Về cuộc vận động “bảo mật phòng gian trong các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị vũ trang”, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 40-CT/TW Về cuộcvận động “bảo mật phòng gian trong các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị vũtrang”
[12]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (19/2/1963), Nghị quyết số 70-NQ/TW Về cuộc vận động cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 70-NQ/TW Vềcuộc vận động cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàndiện, mạnh mẽ và vững chắc
[13]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (30/12/1963), Chỉ thị số 72-CT/TW Về việc đẩy mạnh phong trào cải tiến công cụ và bước đầu cơ khí hóa nông nghiệp, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 72-CT/TW Vềviệc đẩy mạnh phong trào cải tiến công cụ và bước đầu cơ khí hóa nôngnghiệp
[14]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (7/4/1966), Chỉ thị số 122- CT/TW Về việc tăng cường lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước trước tình hình và nhiệm vụ mới, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 122- CT/TW Về việctăng cường lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước trước tình hình và nhiệmvụ mới
[15]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (7/1/1967), Chỉ thị số 139-CT/TW Về đợt vận động quần chúng quyết tâm thực hiện kế hoạch nhà nước năm 1967, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 139-CT/TW Về đợtvận động quần chúng quyết tâm thực hiện kế hoạch nhà nước năm 1967
[17]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (13/1/1969), Chỉ thị số 168-CT/TW Về việc bồi dưỡng và nêu gương người tốt, việc tốt, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 168-CT/TW Vềviệc bồi dưỡng và nêu gương người tốt, việc tốt
[18]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6/3/1969), Thông tri số 229-TT/TW Về công tác vận động phụ nữ năm 1969 và tổng kết công tác vận động phụ nữ trong bốn năm chống Mỹ, cứu nước, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tri số 229-TT/TW Vềcông tác vận động phụ nữ năm 1969 và tổng kết công tác vận động phụ nữtrong bốn năm chống Mỹ, cứu nước
[19]. Ban Chấp hành Trung Đảng (10/5/1969), Chỉ thị số 170-CT/TW Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tiến tới Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ V, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 170-CT/TW Về việc đẩymạnh phong trào thi đua yêu nước, tiến tới Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đualần thứ V
[20]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6/10/1973), Chỉ thị Về việc động viên các tầng lớp phụ nữ đẩy mạnh thi đua yêu nước, Lưu tại thư viện Viện Lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị Về việc động viên cáctầng lớp phụ nữ đẩy mạnh thi đua yêu nước
[22]. Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội (1994), “Ba sẵn sàng” kế thừa và phát triển, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ba sẵn sàng” kế thừa và phát triển
Tác giả: Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1994
[23]. Ban Chính trị Tỉnh đội Bắc Ninh (1962), Tiêu chuẩn thi đua “tiêu biểu” của dân quân tự vệ và quân dự bị Bắc Ninh: Trung đội Ba Nhất, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn thi đua “tiêu biểu” củadân quân tự vệ và quân dự bị Bắc Ninh: Trung đội Ba Nhất
Tác giả: Ban Chính trị Tỉnh đội Bắc Ninh
Năm: 1962
[24]. Ban Chính trị tỉnh đội Hà Đông (1962), Vững bước dưới cờ Ba nhất, Hà Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vững bước dưới cờ Ba nhất
Tác giả: Ban Chính trị tỉnh đội Hà Đông
Năm: 1962

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w