Chương 2 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC
2.2. Bối cảnh lịch sử và sự phát triển của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1965
2.2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước Thắng lợi của cao trào Đồng khởi giáng một đòn mạnh mẽ và bất ngờ vào hệ thống chính quyền Mỹ-Diệm, mở ra vùng giải phóng, đem lại quyền làm chủ của nhân dân ta và tạo thế đứng chân cho cách mạng ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Sau thắng lợi của cao trào Đồng Khởi, cục diện cách mạng miền Nam chuyển biến nhảy vọt, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (tháng 12/1960) là sự kiện mang tính bước ngoặc của cách mạng miền Nam: từ thế giữ gìn lực lượng, lấy đấu tranh chính trị làm hình thức đấu tranh chủ yếu chuyển sang thế tiến công rộng khắp, liên tục; kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt hai hình thức đấu tranh cơ bản là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Sự phát triển của hậu phương tại chỗ thực tế chưa thể đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam. Mặt khác, những bước tiến mới của cách mạng miền Nam đặt chính quyền Mỹ-Diệm trước những khó khăn, nội bộ ngày càng phân hóa, lục đục.
Từ năm 1961, tổng thống Ken-nơ-đi chỉ thị cho Bộ trưởng Quốc phòng, Cục trưởng Cục tình báo Trung ương (CIA) xây dựng các chương trình ngắn hạn và dài hạn bí mật chống miền Bắc. Tháng 10/1961, Ken-nơ-đi ra lệnh tiến hành các hoạt động biệt kích, kể cả việc dùng cố vấn Mỹ để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam. Cũng từ đây, các hoạt động chống phá miền Bắc tiếp tục gia tăng cả về mức độ, cường độ trong suốt các năm 1962-1963 [44, tr.145].
Nhận rõ diễn biến mới cũng như âm mưu, thủ đoạn của Mỹ-ngụy, tháng 1/1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị; giao cho Quân ủy Trung ương và Ban Thống Nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự ở miền Nam, quyết định tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam, quyết định tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam và mở rộng giao thông liên lạc Bắc-Nam. Ở miền Bắc, Đảng nhận thức rõ, quá trình nhân dân miền Bắc triển khai nhiệm vụ xây dựng CNXH, mở đầu bằng việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) là bước đi rất quan trọng trên con đường đi lên CNXH, có vai trò quyết định đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đảng xác định, điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là “phải ra sức tăng cường lãnh đạo của Đảng, kết hợp với phát động một phong trào thi đua yêu nước rộng lớn trong công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân khác”, “phải phát động lực lượng vật chất và tinh thần của đông đảo quần chúng công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác, gây thành một phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, rộng lớn, liên tục, mạnh mẽ” [66, tr.594].
Bên cạnh đó, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) còn nêu quan điểm: cần tổng kết kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo TĐYN trong những năm trước mắt, “tiến tới tổ chức một cách phổ biến những đội, những tổ lao động XHCN”, “cần dần dần hướng việc thi đua chủ yếu đi vào mặt cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức lao động …, thúc đẩy phong trào thi đua tiến lên một bước mới” [66, tr.595]. Đảng chủ trương “Phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào thi đua yêu nước sôi nổi và liên tục trong tất cả các ngành hoạt động, đưa phong trào lên thành cao trào, nhằm hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước;
đẩy mạnh PTTĐ“Bốn tốt” trong nông nghiệp, PTTĐ “Hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật” trong công nghiệp. Mỗi một đảng viên, mỗi một đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tầu trong PTTĐ ở cơ sở” [67, tr.47].
Từ năm 1961-1965, nội dung, hình thức, tính chất, đặc điểm của PTTĐYN ở miền Bắc chịu sự chi phối, thậm chí mang tính quyết định bởi nhiệm vụ chính trị của cách mạng cả nước. Công tác lãnh đạo, tổ chức của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị đối với PTTĐYN giai đoạn này hướng đến hiện thực hóa nhiệm vụ chính trị của từng địa phương đồng thời hướng đến hoàn thành nhiệm vụ chính trị của miền Bắc.
Tháng 1/1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Chỉnh huấn chính trị mùa xuân nhằm “xây dựng những con người CNXH, có tư tưởng, tác phong XHCN”. Cuộc chỉnh huấn đã giáo dục cho cán bộ, nhân dân tình yêu thương sâu sắc đối với đồng bào, đồng chí, có ý chí vươn lên trong lao động sản xuất, luôn luôn thấm nhuần chủ nghĩa anh hùng cách mạng chẳng những trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mà cả trong công cuộc lao động sáng tạo, xây dựng xã hội mới [60, tr.91].
Ngày 26/01/1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết Số 07- NQ/TW “Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”. Trên cơ sở đánh giá ưu, nhược điểm của PTTĐ những năm trước, Ban Bí thư chủ trương bắt đầu từ năm 1961, phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân, đẩy mạnh PTTĐYN, phát triển sâu rộng mọi ngành sản xuất và công tác, mọi tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy mọi khả năng và thuận lợi, khắc phục khó khăn, không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, quyết tâm thực hiện vượt mức và toàn diện kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất theo phương châm:
“nhiều, nhanh, tốt, rẻ”.
Về lãnh đạo PTTĐ, Nghị quyết đề ra yêu cầu phải chú ý đầy đủ các mặt, nhưng đặc biệt coi trọng sản xuất, hướng mọi hoạt động của PTTĐYN vào mục đích đẩy mạnh sản xuất phát triển theo phương hướng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và đảm bảo an toàn lao động.
Để thực hiện chủ trương phát động phong trào sâu rộng trong mọi ngành hoạt động, trong mọi tầng lớp nhân dân tiến tới cao trào TĐYN, Ban Bí thư xác định nội dung thi đua cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Đối với các ngành công nghiệp (sản xuất, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải), PTTĐ phải hướng vào các mục tiêu chính là đảm bảo không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Đẩy mạnh phong trào “tiên tiến” thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lấy phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật làm trọng tâm. Đối với ngành nông nghiệp, cần phát huy thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, phát động rộng rãi phong trào “bốn tốt” (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý tốt, chấp hành chính sách tốt) trong khắp các HTX sản xuất nông nghiệp nhằm tăng thu nhập cho xã viên, tăng tích lũy cho HTX và cho Nhà nước. Đối với ngành giáo dục, thi đua cải tiến phương pháp giảng dạy, kết hợp lý thuyết với thực hành, kết hợp học tập với lao động và các
hoạt động xã hội, xây dựng nhà trường XHCN. Đối với quân đội, đẩy mạnh phong trào rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, dưới hình thức PTTĐ “Ba nhất”.
Về tổ chức lãnh đạo, Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu kiện toàn các tổ chức lãnh đạo thi đua từ Trung ương đến địa phương, theo nguyên tắc: Đảng thống nhất lãnh đạo, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể tổ chức thực hiện, phân công và phối hợp chỉ đạo phong trào. Các ban giúp việc Trung ương Đảng chịu trách nhiệm giúp Trung ương nghiên cứu chính sách, phương châm thi đua cho từng khối, từng ngành mình phụ trách. Các đoàn thể quần chúng phải phối hợp chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của thống nhất của các cấp ủy Đảng, tích cực động viên, giáo dục, hướng dẫn, tổ chức quần chúng thi đua, sơ kết, tổng kết thi đua, lựa chọn những người và những đơn vị có thành tích để biểu dương và đề nghị cơ quan Nhà nước khen thưởng. Các cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm nghiên cứu đề ra nội dung, kế hoạch thi đua, ban hành các thể lệ, chế độ phục vụ cho người tham gia phong trào thi đua, xét duyệt sáng kiến của quần chúng, chuẩn bị những điều kiện vật chất để phục vụ phong trào thi đua [67, tr.170-179]
Nghị quyết “Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” có ý nghĩa khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với PTTĐYN trong thời kỳ mới.
Ngày 19/02/1962, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TW “Về việc thống nhất lãnh đạo và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước”; ngày 17/3/1962 Ban Bí thư ra Chỉ thị số 39-CT/TW “Về việc tuyên truyền và giáo dục nhân dịp Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ III”. Thực chất các văn kiện này nhằm tiếp tục duy trì và phát huy hơn nữa tinh thần chỉ đạo PTTĐYN được phản ánh trong Nghị quyết của Ban Bí thư (ngày 26/1/1961), đồng thời mong muốn mang lại cho PTTĐYN một diện mạo mới có thể đáp ứng thỏa đáng những yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ đặt ra cho năm 1962 là phải tiếp tục thực hiện một bước công nghiệp hóa XHCN, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH, nhằm phát triển nhanh chóng kinh tế và văn hóa, cải thiện thêm đời sống nhân dân. Nhiệm vụ của PTTĐYN là phải không ngừng nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất phát triển, bảo đảm hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, nhằm mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh, đời sống của nhân dân ngày thêm ấm no, hạnh phúc. Phương châm phát triển sản xuất và cũng là phương châm của PTTĐYN vẫn là “nhiều, nhanh,
tốt, rẻ”. Tính chất thi đua tập thể tiếp tục được chú trọng. Phương hướng và nội dung thi đua trong lĩnh vực công nghiệp, thủ công nghiệp vẫn là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật” nhằm không ngừng đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ. Trong công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Duyên Hải. Trong thủ công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với hợp tác xã Thành Công. Trong HTX nông nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Đại Phong. Trong nông trường quốc doanh, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Đông Hiếu.
Nội dung chủ yếu của PTTĐ trong nông nghiệp vẫn là “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất”. Trong ngành công nghiệp, thông qua cuộc vận động hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật và trên cơ sở phát triển tổ, đội lao động tiên tiến mà đẩy mạnh phong trào phấn đấu trở thành tổ đội lao động XHCN. Trong đó, hình thức tổ, đội lao động XHCN là sự phát triển của hình thức tổ, đội lao động tiên tiến, với những tiêu chuẩn cao hơn và toàn diện hơn. Trong ngành thủ công nghiệp, đẩy mạnh PTTĐ thành tổ, đội lao động tiên tiến, hợp tác xã tiên tiến, tiến tới xây dựng tổ, đội lao động XHCN. Trong ngành nông nghiệp, thông qua cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất mà xây dựng đội sản xuất tiên tiến, HTX tiên tiến, tiến tới xây dựng các đội lao động XHCN. Nội dung thi đua của ngành giáo dục vẫn là “giảng dạy tốt, học tập tốt”
nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, thực hiện phương châm kết hợp học tập với lao động sản xuất, kết hợp học tập với thực hành. Nội dung của PTTĐ trong quân đội là:“rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, chấp hành điều lệ, điều lệnh, chế độ, tiêu chuẩn và rèn luyện tác phong; lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm, phòng gian giữ bí mật” nhằm thực hiện cuộc vận động xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy và hiện đại.
Về lãnh đạo thi đua, Nghị quyết chỉ rõ: công tác vận động, tổ chức thi đua phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp ủy Đảng, các đồng chí phụ trách các ngành, cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, HTX cần có sự chuyển biến tư tưởng mạnh mẽ, phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa to lớn của thi đua đối với việc phát triển kinh tế và văn hóa, hết sức chú ý tăng cường công tác lãnh đạo thi đua. Tăng cường công tác xét duyệt, đúc kết những sáng kiến để thực hiện và tổ chức phổ biến một cách rộng rãi bằng nhiều hình thức. Đẩy mạnh công tác tổ chức học tập văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân, viên chức, xã viên HTX. Chú trọng hơn nữa việc cải
thiện đời sống công nhân, xã viên, viên chức, cán bộ [68, tr.123-135].
Nhận biết trước âm mưu và hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 27/3/1964, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt tại Thủ đô Hà Nội nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước. Trên cơ sở đánh giá thành tựu to lớn trong 10 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, vạch rõ âm mưu của đế quốc Mỹ, tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm: miền Bắc là căn cứ địa - hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn; miền Bắc phải dành nhiều sức người, sức của chi viện cho cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam và gấp rút tăng cường tiềm lực quốc phòng, triển khai thế trận sẵn sàng chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
“mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt [116, tr.278]. Trước mắt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết hơn nữa, nêu cao chí khí phấn đấu, tinh thần cách mạng, không sợ gian khổ khó khǎn, phát huy ý thức làm chủ tập thể, dám nghĩ, dám làm, hǎng hái vươn lên làm tròn nhiệm vụ. Phải làm tốt cuộc vận động “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp”; cuộc vận động “3 xây, 3 chống”
trong công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân. Phải đẩy mạnh phong trào đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá ở miền núi. Phải ra sức TĐYN, phát triển tốt các tổ, đội lao động XHCN và các HTX nông nghiệp tiên tiến.
Hội nghị Chính trị đặc biệt kết thúc, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 77 (14/4/1964) Về việc phát động cao trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam”.
Trong đó chỉ rõ:
Mục đích của đợt phát động: làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nhận thức một cách có hệ thống và nhất trí sâu sắc hơn về đường lối cách mạng của Đảng, từ đó mà nâng cao giác ngộ XHCN và lòng nước, bồi dưỡng chí khí phấn đấu, tinh thần triệt để cách mạng, truyền thống quyết chiến, quyết thắng, không sợ khó khăn gian khổ, phát huy ý thức làm chủ tập thể, tự lực cánh sinh, dám nghĩ, dám làm, dũng cảm vươn lên.
Yêu cầu và nội dung của đợt phát động là phải tăng cường lập trường giai cấp, đả phá tư tưởng hữu khuynh, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do, bồi dưỡng và phát huy tinh thần triệt để cách mạng, bồi dưỡng tinh thần lạc quan
cách mạng, nâng cao phấn khởi và tin tưởng, xây dựng quyết tâm của nhân dân ta trong việc phấn đấu cho thắng lợi của cách mạng ở miền Bắc, ở miền Nam và trên thế giới.
Về hành động, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa ba cuộc vận động lớn và các PTTĐ đã có, căn cứ vào phương hướng của kế hoạch Nhà nước năm 1964 và khả năng tiềm tàng của địa phương, của ngành, của cơ sở, cần tính toán để định ra những mục tiêu, biện pháp chủ yếu và một số chỉ tiêu là những cao điểm cần đạt được nhằm tập trung sức giải quyết những mặt quan trọng của kế hoạch Nhà nước năm 1964.
Về biện pháp tiến hành: tổ chức một đợt tuyên truyền giáo dục tập trung và phát động phong trào trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, từ trên xuống, từ trong Đảng ra ngoài quần chúng, trong thời gian khoảng 3 tháng (từ giữa tháng 4 đến ngày 20/7/1964), chia ra nhiều đợt ngắn, căn cứ vào những ngày kỷ niệm có ý nghĩa động viên chính trị lớn vào sản xuất.
Nội dung được phản ánh trong 4 văn kiện trên, từ mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp đến tổ chức lãnh đạo TĐYN là nhất quán, mang tính kế thừa, phát triển. Chủ trương của Đảng xuất phát từ đặc điểm, tình hình, từ yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể.
2.2.2. Một số phong trào thi đua tiêu biểu
2.2.2.1. Phong trào “Học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải” trong công nghiệp.
Từ năm 1961, miền Bắc triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước vào thời kỳ lấy xây dựng CNXH làm trọng tâm. Nhận thức của Đảng và Nhà nước về vai trò của công nghiệp nói chung, công nghiệp nặng nói riêng đi liền với việc tăng ngân sách đầu tư cho công nghiệp nặng đã tạo nên những thay đổi sâu sắc về quan hệ sản xuất, về cơ cấu và sức sản xuất. Nghị quyết 07 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có ý nghĩa góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của PTTĐYN, yêu CNXH. Nhiều xí nghiệp đã chủ động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, bảo đảm chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Cuộc vận động “Hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm” thu hút sự tham gia đông đảo của công nhân trên toàn miền Bắc. Gắn với đặc thù của từng đơn vị, hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp đã thiết thực phát động các phong trào với nội dung thi đua phong phú, đa dạng. Nhà máy cơ khí Hà Nội với phong trào “Đuổi và vượt năng suất cao” phấn đấu trở thành con chim đầu đàn của ngành công