Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, TĐYN hiện đứng trước nhiều tồn tại, yếu kém cần thiết phải được khắc phục.Việc nghiên cứu các PTTĐYN ở miền Bắc trong những năm 1961-1975 tr
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, được kết tinh, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, tinh thần yêu nước trở thành giá trị cơ bản và bền vững nhất trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tình cảm, tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn “năng lực nội sinh” không bao giờ cạn và là vũ khí
tinh thần mà vận nước thịnh hay suy, mất hay còn, phần rất quan trọng tùy thuộc
vào việc chúng ta phát huy hay quên lãng thứ vũ khí tinh thần ấy.
Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động PTTĐYN trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Từ đây, PTTĐ
ái quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân phát huy tài năng, trí tuệ của mình lập góp phần lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Hơn 70 năm qua, trong mỗi chặng đường phát triển của cách mạng, PTTĐYN như những làn sóng trào dâng mang theo khí thế hào hùng của dân tộc, tạo động lực đoàn kết toàn dân đấu tranh
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), đặc biệt là từ khi Ban
Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 07-NQ/TW (26/01/1961) Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, PTTĐYN ở miền Bắc
có nhiều bước tiến mạnh mẽ Với sự đa dạng về nội dung, sự phong phú về hình thức, gắn với nhiều hành động thiết thực, PTTĐYN đã đi vào lịch sử như một minh chứng thuyết phục cho sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí
tự lực tự cường, trí thông minh, niềm đam mê sáng tạo và cống hiến của quân dân miền Bắc, góp phần xứng đáng vào quá trình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược.
Từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay, quán triệt tinh thần “Thi đua
là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua” Đảng và Nhà nước tiếp tục duy trì, phát
huy sức mạnh của lòng yêu nước, chú trọng vào việc phát động, tổ chức các
Trang 2PTTĐYN toàn diện, thiết thực, hiệu quả Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới-cuộc thi đua vĩ đại chống lại “những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi” của dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Qua các PTTĐYN đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua, các điển hình tiên tiến trong cả nước TĐYN thực sự đã mang lại những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế Tuy nhiên, tình hình trong nước, quốc tế và khu vực hiện có nhiều chuyển biến mau lẹ chứa đựng nhiều cơ hội và thách thức có tác động trực tiếp đến quá trình phát động, tổ chức các PTTĐYN Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, TĐYN hiện đứng trước nhiều tồn tại, yếu kém cần thiết phải được khắc phục.
Việc nghiên cứu các PTTĐYN ở miền Bắc trong những năm 1961-1975 trên các phương diện: nhân tố tác động, quá trình hình thành, phát triển, kết quả…từ đó đánh giá đặc điểm, ý nghĩa của nó trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Kết quả nghiên cứu không chỉ là cơ sở cho việc tái hiện chân thực các PTTĐYN với những điển hình tiêu biểu mà còn là cơ sở khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vận dụng linh hoạt của các cấp ủy, đoàn thể ở địa phương; giúp làm sáng
tỏ vị trí, vai trò của miền Bắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa thiết thực trong việc tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, thực hành thi đua tích cực và hiệu quả.
Xuất phát sự quan tâm đặc biệt về các PTTĐYN cùng với sự nhận thức đầy
đủ về ý nghĩa ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, nghiên cứu sinh quyết định
chọn đề tài: “Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử
Trang 3quốc hiện nay.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá các kết quả nghiên cứu, xác định
hướng tiếp cận và nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, nhân tố tác động đến quá trình phát động và
tổ chức các PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975.
- Tái hiện thực tiễn PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ những năm 1961-1975 thông qua phân tích quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển và kết quả nổi bật một số PTTĐYN tiêu biểu
- Luận giải một số đặc điểm, đánh giá ý nghĩa của PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, những năm 1961-1975; đúc rút một số kinh nghiệm
có thể kế thừa, vận dụng vào quá trình phát động, tổ chức các phong trào TĐYN trong giai đoạn hiện nay.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: từ năm 1961-1975 (từ ngày Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết 07-NQ/TW “Về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt kế hoạch Nhà nước năm 1961 và 5 năm lần thứ nhất”(26/1/1961) đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng
lợi).
- Phạm vi về không gian: trên phạm vi miền Bắc (vùng lãnh thổ do chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý hành chính, kể từ phía bắc vĩ tuyến 17, nay tương ứng với phần địa giới hành chính phía bắc tỉnh Quảng Trị), đặc biệt là các địa phương có PTTĐYN tiêu biểu (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Bình ).
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành và
thực tiễn PTTĐYN ở miền Bắc ở một số ngành, giới, tầng lớp trong xã hội, cụ thể
là tập trung vào các phong trào: “Gió Đại Phong”, “Sóng Duyên Hải”, “Trống Bắc Lý”, “Cờ Ba nhất”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”…
Trang 44 Nguồn tài liệu
- Hệ thống văn kiện của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội; các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội về thi đua yêu nước.
- Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và lịch sử các bộ, ban, ngành, tỉnh, địa phương, lịch sử các giới, tầng lớp xã hội…ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Các công trình nghiên cứu về PTTĐYN qua các thời kỳ, nhất là nghiên cứu
về PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án, bài báo khoa học… có liên quan đến PTTĐYN.
- Các hồi ký, nhật ký, chuyện kể về những tấm gương điển hình trong PTTĐYN ở miền Bắc những năm 1961-1975.
Luận án đặc biệt chú trọng khai thác, sử dụng nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua và thi đua yêu nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, luận án kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Trong đó:
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của các PTTĐYN tiêu biểu ở miền Bắc theo một trình tự liên tục với những nhân chứng và số liệu lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể nhằm phục dựng chân thực diễn tiến của PTTĐYN qua các giai đoạn với tính chất và khuynh hướng phát triển của nó.
Phương pháp logic được sử dụng khi nghiên cứu những chuyển biến của PTTĐYN ở các giai đoạn phát triển, phân tích, đánh giá các nhận định, rút ra những nhận xét về đặc điểm, ý nghĩa của PTTĐYN, trên cơ sở những căn cứ logic
và luận chứng khoa học để rút ra những kinh nghiệm vận dụng.
Trang 5Phương pháp so sánh (so sánh đồng đại và so sánh lịch đại) được sử dụng trong việc nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt nhằm làm rõ đặc điểm, tính chất nổi bật của PTTĐYN trong từng giai đoạn cũng như sự khác nhau, bước phát triển của PTTĐYN giữa các giai đoạn.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng linh hoạt các phương pháp.
6 Đóng góp mới của luận án
- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử về PTTĐYN, đặc biệt là PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975.
- Góp phần làm rõ cơ sở hình thành các PTTĐYN, đặc biệt làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc phát động và tổ chức thực hiện PTTĐYN.
- Phục dựng một cách khách quan, khoa học một số PTTĐYN điển hình ở miền Bắc qua hai giai đoạn 1961-1965 và 1965-1975; làm rõ giá trị to lớn của các PTTĐYN đó đối với sự phát triển của miền Bắc và đối với thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam (1961-1975).
- Rút ra đặc điểm, ý nghĩa của PTTĐYN ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ những năm 1961-1975, cung cấp luận cứ khoa học và một số kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử, nhất là chuyên đề về thi đua yêu nước.
7 Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1965
Chương 3: Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1975
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình và kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
PTTĐYN nói chung, PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975 nói riêng là vấn đề lịch sử được lựa chọn nghiên cứu trên nhiều phương diện với mức độ tương đối cao.
Từ những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này cho đến nay có thể nhận thấy PTTĐYN ở miền Bắc những năm 1961-1975 là một trong những nội dung trọng tâm được lãnh đạo các cấp và các nhà nghiên cứu quan tâm khi nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là trong nghiên cứu hậu phương miền Bắc Cùng với thời gian, PTTĐYN ở miền Bắc ngày càng được tiếp cận một cách toàn diện, khách quan và được làm sáng rõ trên nhiều khía cạnh (vị trí, vai trò, ý nghĩa, sự chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện, kết quả, thành tựu và hạn chế)
Số lượng các công trình nghiên cứu đến từ các tác giả nước ngoài rất khiêm tốn Bên cạnh làm rõ tính tất yếu, khách quan của thi đua trong chế độ XHCN thì gần như chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về thi đua và thi đua XHCN
như bản chất, mục đích, phương pháp thi đua Đóng góp quan trọng của các tác giả
là đã làm rõ sự khác nhau về bản chất giữa thi đua trong chế độ XHCN với cạnh tranh trong xã hội TBCN…Ở một số nghiên cứu khác ít nhiều trình bày diễn biến, kết quả và đóng góp của PTTĐ ở một số nước XHCN như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên
Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề này chủ yếu được công bố tập trung trong các thể loại, gồm sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án và các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học Nghiên cứu của các tác giả trong nước có giá trị trên cả ba phương diện: về tư liệu, về nội dung, về phương pháp nghiên cứu cụ thể là:
- Góp phần làm rõ đánh giá của Đảng về vị trí, vai trò của miền Bắc Việt Nam, cũng như âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam nói chung, âm mưu, hành động phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, đối với
Trang 7từng địa phương trên phạm vi miền Bắc nói riêng Trên cơ sở đó đã góp phần phục dựng bối cảnh lịch sử dân tộc nói chung, miền Bắc nói riêng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt giai đoạn từ năm 1961-1975.
- Đưa ra những phân tích, đánh giá của Đảng, Nhà nước ta về vị trí, vai trò của miền Bắc, miền Bắc nói chung, của từng địa phương, ngành và giới nói riêng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
- Tái hiện tương đối chân thực, sinh động về bối cảnh lịch sử, về quá trình Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị phát động, tổ chức các PTTTĐYN
- Trình bày diễn biến của một số PTTĐYN đến từ các địa phương, các ngành, các giới khác nhau, trong đó cung cấp nhiều số liệu, nhiều nhân chứng sống cụ thể của PTTĐYN thời kỳ này.
- Làm sáng tỏ ý nghĩa lịch sử, tác động to lớn của hàng loạt các PTTĐYN những năm 1961-1975 trong quá trình miền Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH và nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược đối với cả nước
- Nêu và phân tích một số kinh nghiệm rút ra từ việc phát động và thực hiện các PTTĐYN thời kỳ này.
Kết quả của những nghiên cứu này có ý nghĩa làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận chung về TĐYN, có mục đích phục vụ cho công tác tuyên truyền, cổ động nhằm động viên sự tham gia đông đảo và có hiệu quả hơn của các tầng lớp nhân dân Tuy nhiên, do chỉ tập trung nghiên cứu từng PTTĐYN cụ thể, hoặc phân tích đánh giá một quan điểm cụ thể của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình phát động các PTTĐYN nên tính hệ thống của các công trình nghiên cứu không cao, chưa mang tính toàn diện Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng giúp cho nghiên cứu sinh phương pháp tiếp cận và nguồn tài liệu có giá trị gợi mở cao
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề, nghiên cứu sinh cũng nhận thấy còn nhiều khía cạnh liên quan đến PTTĐYN ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ là khoảng trống cần tiếp tục được làm sáng tỏ Có thể do đối tượng nghiên cứu rộng, nhiều nội dung, nên các công trình gần như chỉ dừng ở mức đề cập mang tính khái quát chung, chưa phân tích sâu sắc những diễn biến mang tính quyết định của hoàn cảnh để thấy được yêu cầu khách quan về sự
Trang 8phát triển của các PTTĐYN trong từng giai đoạn cụ thể Một số công trình chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu và phản ánh từng khía cạnh riêng lẻ của PTTĐYN hoặc chỉ dừng lại ở việc phục dựng, phân tích, đánh giá từng phong trào thi đua cụ thể Việc rút ra những kinh nghiệm mang tính chất phổ quát liên quan đến quá trình tổ chức các PTTĐYN trên phạm vi toàn miền Bắc là chưa rõ nét Đây cũng chính là những vấn đề đặt ra đồng thời cũng là cách tiếp cận để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
1.2 Hướng nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố, căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đã xác định, luận án cần tập trung giải quyết những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy và
chính quyền các cấp, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương trong việc phát động và chỉ đạo tổ chức thực hiện các PTTĐYN, qua đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, nghệ thuật phát động PTTĐYN của các cơ quan lãnh đạo trong việc động viên và phát huy sức mạnh tổng lực của hậu phương chiến lược miền Bắc, nhằm đảm bảo cho thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thứ hai, trình bày quá trình hình thành, phát triển của một số PTTĐYN
tiêu biểu đến từ các ngành, giới và địa phương miền Bắc trong những năm 1961-1975 Trên cơ sở đó, khái quát những điểm nổi bật, nêu rõ những kết quả quan trọng mà các PTTĐYN đã đạt được để làm sáng tỏ những cơ sở quan trọng
có tác dụng thúc đẩy miền Bắc trong thực hiện nhiệm vụ của hậu phương chiến lược, cũng như cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thứ ba, phân tích đặc điểm, ý nghĩa của các PTTĐYN ở miền Bắc trong
những năm 1961-1975; đồng thời rút ra một số kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào việc phát động và tổ chức thực hiện các PTTĐYN trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Trang 9Chương 2 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC
TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965
2.1 Cơ sở hình thành phong trào thi đua yêu nước
2.1.1 Cơ sở lý luận về thi đua yêu nước
Thi đua xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ XHCN và là PTTĐ của nhữngngười lao động tự làm chủ vận mệnh của mình, không có đối kháng về lợi ích giữa cánhân, tập thể và xã hội Trong chế độ XHCN, thi đua là động lực mạnh mẽ đối với sựtiến bộ xã hội, là phương tiện quan trọng để củng cố kỷ luật lao động và phát huy tínhtích cực, sáng tạo của người lao động Thi đua được quy định bởi bản chất của chế độ
xã hội, thi đua trong chế độ XHCN là gắn với yêu nước, “là một cách yêu nước thiếtthực và tích cực”
Thống nhất với quan điểm của C.Mác và P.Ăng-ghen, V.I.Lênin khẳng định tổ
chức thi đua XHCN là việc làm có ý nghĩa đặc biệt V.I.Lênin cho rằng mấu chốt và cần kíp nhất “khi chính phủ XHCN đang cầm quyền là phải tổ chức thi đua”, “Tất cả mọi nỗ lực phải được dành cho việc tổ chức thi đua”, “Tổ chức thi đua phải chiếm một vị trí quan trọng trong nhiệm vụ kinh tế của chính quyền Xô-viết”.
Nhận thức về tính tất yếu, vị trí, vai trò của thi đua trong chế độ XHCN, trongquá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn thiđua với yêu nước, yêu nước với thi đua, tuyên truyền, vận động toàn dân hăng hái, tíchcực thi đua Nhờ đó làm xuất hiện nhiều PTTĐYN, dần lan tỏa rộng khắp trên các lĩnhvực, các ngành, các giới, thực sự trở thành một biện pháp quan trọng thúc đẩy phongtrào cách mạng
Thống nhất quan điểm của các nhà Mácxit, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước, vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ để rồi lại bị chúng áp bức bóc lột thêm Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và
xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”
Thi đua yêu nước do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động bắt nguồn từ sự
ra đời của chế độ mới Hồ Chí Minh đã gắn “thi đua” với “yêu nước”: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua” đồng thời chỉ rõ thi đua là hướng tinh thần yêu nước
Trang 10thực hành vào công việc yêu nước Theo đó, thi đua không phải là hoạt động tùy tiện,mang tính hình thức của tập thể, tổ chức, cơ quan, đơn vị, các tầng lớp xã hội, khôngchỉ là hoạt động sáng tạo, tích cực trong lao động, trong công việc hàng ngày mà làbiểu hiện của lòng yêu nước, là biểu hiện của tinh thần đấu tranh cách mạng
2.1.2 Thực tiễn phong trào thi đua yêu nước trước năm 1961
Tinh thần yêu nước và tính tích cực TĐYN thực sự trở thành phong trào hànhđộng cách mạng của toàn dân, được tổ chức, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ
sở, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phải tính từ năm 1948, gắn với Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948) của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ các phong trào có tính chất
thi đua (1945-1946) đến PTTĐ (1947) rồi trở thành PTTĐYN (1948) là bước phát triểntrong tư duy lý luận, là quá trình Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minhvận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin về thi đua XHCN Từ năm
1948, PTTĐYN có bước phát triển vượt bậc cả về nội dung, phương pháp, hình thức
và quy mô tổ chức Tính đến năm 1960, PTTĐYN phát triển qua ba giai đoạn: từ6/1948-5/1952; từ 5/1952-7/1958; từ 7/1958-cuối năm 1960
Nhìn chung, từ 1948-1960, PTTĐ có những bước tiến rõ rệt và ngày càng cónhiều đóng góp quan trọng vào quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Thànhtựu đạt được cùng những những bất cập, hạn chế bộc lộ trong ba giai đoạn phát triểncủa PTTTĐYN nói trên là cơ sở thực tiễn cho việc phát động và tổ chức các PTTĐYNtrong giai đoạn lịch sử tiếp theo
2.2 Bối cảnh lịch sử và sự phát triển của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1965
2.2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước
Nhận rõ diễn biến mới cũng như âm mưu, thủ đoạn của Mỹ-ngụy, tháng 1/1961,
Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đưađấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị; giao cho Quân ủy Trung ương
và Ban Thống Nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự ở miền Nam, quyết định tăngcường cán bộ, đẩy mạnh việc tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam, quyếtđịnh tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam
và mở rộng giao thông liên lạc Bắc Nam Ở miền Bắc, Đảng nhận thức rõ, quá trìnhnhân dân miền Bắc triển khai nhiệm vụ xây dựng CNXH, mở đầu bằng việc thực hiện
kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) là bước đi rất quan trọng trên con đường đilên CNXH, có vai trò quyết định đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
Ngày 26/01/1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 07-CT/TW “Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt
Trang 11mức kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” Trên cơ sở đánh
giá ưu, nhược điểm của PTTĐ những năm trước, Ban Bí thư chủ trương bắt đầu từ năm
1961, phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân, đẩy mạnh
PTTĐYN Ngày 19/02/1962, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 46-NQ/TW “Về việc thống nhất lãnh đạo và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước”; ngày 17/3/1962 Ban Bí thư ra Chỉ thị số 39-CT/TW “Về việc tuyên truyền và giáo dục nhân dịp Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ III”; ngày 14/4/1964, Ban Bí thư ra Chỉ thị số
77 Về việc phát động cao trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam”.
Nội dung được phản ánh trong các văn kiện trên, từ mục đích, yêu cầu, nội dung,phương pháp đến tổ chức lãnh đạo TĐYN là nhất quán, mang tính kế thừa, phát triển.Chủ trương của Đảng xuất phát từ đặc điểm, tình hình, từ yêu cầu, nhiệm vụ trong từnggiai đoạn cụ thể
2.2.2 Một số phong trào thi đua tiêu biểu
2.2.2.1 Phong trào “Học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải” trong công nghiệp.
Đầu năm 1961, Thành ủy Hải Phòng chủ trương phải tạo ra và dấy lên cho bằngđược khí thế của PTTĐ XHCN Hưởng ứng Cuộc vận động thi đua hợp lý hóa sảnxuất, cải tiến kỹ thuật, Nhà máy cơ khí Duyên Hải có sáng kiến phát động công nhân
mở “Hội thao diễn kỹ thuật mùa Xuân” nhằm phát huy tinh thần làm chủ, chủ độngsáng tạo trong lao động, rút ngắn các công đoạn thao tác, hợp lý hóa sản xuất, tăngnăng suất và chất lượng sản phẩm Từ một tập thể sản xuất với 28 công nhân ở ngàyđầu thành lập (5/10/1955), đến năm 1960 phát triển lên 450 công nhân, qua các đợtthao diễn kỹ thuật, công nhân và cán bộ nhà máy đã đạt nhiều kết quả toàn diện Tuy diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng phong trào Duyên Hải phát triển mạnh
mẽ và đạt được thành tựu to lớn, phản ánh tinh thần lao động, sức sáng tạo cũng nhưkhả năng tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến của công nhân Phongtrào làm chuyển biến mạnh mẽ tư tưởng công nhân, cho họ nhận rõ khả năng sẵn có vàtiềm tàng của con người cũng như máy móc; động viên, cổ vũ đội ngũ công nhân lao
động, cống hiến cho quê hương, đất nước Sức lan tỏa mạnh mẽ của “Sóng Duyên Hải” đã góp phần thúc đẩy tinh thần thi đua trong hầu khắp các nhà máy, xí nghiệp mở
ra một giai đoạn mới, một khí thế trong TĐYN
2.2.2.2 Phong trào “Học tập, tiến kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong” trong nông nghiệp
Hưởng ứng cuộc vận động“Xây dựng hợp tác xã tốt” do Trung ương Đảng và
Trang 12Chính phủ phát động vào cuối năm 1961, hầu hết các tỉnh, thành trên toàn miền Bắcvới hàng nghìn HTX đã tích cực tham gia Các HTX Thái Bạ (Sơn Tây), Yên Trường(Thanh Hóa), Thống Nhất (Hà Đông), Đức Cảnh (Thái Bình), Tống Vân Trân (HảiPhòng)…đã trở thành điển hình của cuộc vận động xây dựng HTX tốt ở các tỉnh miềnBắc Trong đó, HTX Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) trởthành ngọn cờ đầu trong phong trào xây dựng HTX tốt toàn miền Bắc những năm1961-1965.
Để thực hiện các mục tiêu được xác định tại Đại hội xã viên 1960-1961, chi bộthôn Đại Phong đã phát động đợt thi đua 10 ngày lập thành tích biểu dương tinh thần tựnguyện vào HTX và xây dựng HTX Đợt vận động đã thu hút đông đảo nam, nữ thanhniên trong và ngoài HTX tham gia Sự phát triển và kết quả thu được từ Đợt vận độngnày có ý nghĩa trong việc hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của gia đình xãviên trong HTX
Giữa tháng 2/1961, Ban Nông nghiệp Trung ương và Bộ Nông nghiệp tổ chứcHội nghị toàn miền Bắc tại HTX Đại Phong, với mục đích đánh giá kết quả phong tràohợp tác hóa của HTX này và đưa PTTĐ lên thành cao trào Cũng trong tháng 2/1961,
Ban Nông nghiệp Trung ương và Bộ Nông nghiệp mở cuộc vận động“Học tập, tiến kịp và vượt HTX Đại Phong” trong nông nghiệp miền Bắc PTTĐ này hướng đến 5
mục tiêu: cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất; tăng vụ và vỡ hoang; phát triển nhiềungành, nhiều nghề; cải tiến công tác quản lý HTX; tăng cường công tác chính trị và tưtưởng trong HTX Phong trào đã thổi những luồng gió mới vào nông thôn nước ta,động viên đông đảo nông dân nâng cao nhiệt tình cách mạng, hăng hái thi đua cải tiếnquản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất, củng cố và phát triển HTX Từ đây,PTTĐ với Đại Phong dần đi vào chiều sâu, gây tiếng vang lớn ở nông thôn trên toànmiền Bắc
Quá trình hình thành và phát triển của HTX Đại Phong là thực tiễn sinh động vềphong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứunước “Gió Đại Phong” là biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trênmặt trận lao động sản xuất nông nghiệp của tập thể nhân dân lao động miền Bắc, gópphần khơi nguồn cảm hứng cho các PTTĐYN khác trong giai đoạn này “Gió ĐạiPhong” góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy hợp tác hóa trong nông nghiệp, tạo nêndiện mạo mới, bộ mặt mới cho nông nghiệp, nông thôn miền Bắc XHCN
2.2.2.3 Phong trào “Tích cực thi dạy tốt, học tốt”,“Học tập và làm theo Bắc Lý” trong giáo dục
Từ năm 1961, nhất là từ khi Hồ Chủ tịch đề ra mục tiêu “Hai tốt” và từ khi
Trang 13Trường phổ thông cấp II Bắc Lý (nay là Trường trung học cơ sở Bắc Lý, huyện LýNhân, tỉnh Hà Nam) được tuyên dương là lá cờ đầu của PTTĐ trong ngành giáo dục,PTTĐ trong ngành giáo dục trở nên đặc biệt sôi nổi,.
Hòa trong không khí toàn miền Bắc đẩy mạnh PTTĐ xây dựng CNXH, với mụcđích nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, trường Bắc Lý nắm vững mục tiêu đàotạo con người toàn diện, thực hiện phương châm kết hợp học tập với lao động sản xuất,học đi đôi với hành, gắn nhà trường với xã hội, thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả vì chủnghĩa xã hội, tất cả vì học sinh thân yêu” Trường Bắc Lý đã giáo dục và định hướng
cho học sinh đi theo ba con đường: Một là, học tập tốt để vươn tới chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học, xây dựng đất nước giàu mạnh Hai là, sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc Ba là,
học xong ở lại cùng bà con xây dựng quê hương giàu mạnh
Với những kết quả đạt được qua PTTĐ “Dạy tốt, học tốt Học tập Bắc Lý, tiến kịp và vượt Bắc Lý”, ngành giáo dục miền Bắc không chỉ đảm bảo việc hoàn thành
nhiệm vụ từng bước nâng cao trình độ dân trí, giáo dục đạo đức, lối sống, giác ngộ lýtưởng cách mạng cho các tầng lớp nhân dân mà còn đào tạo được đội ngũ trí thức cóđức, có tài, góp phần cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng CNXH ởmiền Bắc và cung cấp cho lực lượng vũ trang những chiến sĩ có trình độ
2.2.2.4 Phong trào thi đua “Ba Nhất” trong quân đội
Sau ngày hòa bình lập lại, nhất là sau cuộc chỉnh huấn chính trị và Cuộc vậnđộng kiện toàn chi bộ vào mùa hè năm 1958, trong quân đội đã xuất hiện nhiều
PTTĐYN PTTĐ “Ba nhất” (Nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; Nhất về gương mẫu, kỷ luật; Nhất về lao động và sản xuất) xuất hiện đầu tiên ở Đại đội 2, Tiểu
đoàn 10, đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), thuộc quân khu Hữu ngạn Với quyết tâmphấn đấu tiến lên thành một đơn vị huấn luyện đạt tiêu chuẩn tiên tiến, cán bộ và chiến
sĩ Đại đội 2 đã liên tục phấn đấu trong PTTĐ rèn luyện, cải tiến kỹ thuật, nhằm nângcao sức mạnh chiến đấu của đơn vị
Từ điển hình Đại đội 2, tháng 8/1960, “Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và
Bộ Quốc phòng phát động thành PTTĐ trong toàn lực lượng vũ trang nhân dân nhằm
phát huy cao độ tinh thần chiến đấu, tài năng sáng tạo của tất cả các chiến sĩ “Ba nhất” trở thành PTTĐ lớn có sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn quân và có ý nghĩa quan
trọng trong xây dựng quân đội ngày càng lớn mạnh
Đi đôi với PTTĐ “Ba nhất” trong quân đội thường trực, “Ba nhất” trong dânquân tự vệ, lực lượng hậu bị gắn bó với PTTĐ sản xuất kiến thiết XHCN đạt nhiềuthành tích tốt Nhiều tổ, đội lao động XHCN cũng chính là những đơn vị dân quân tự
vệ tiên tiến Nhiều xí nghiệp, công trường đã có những đơn vị dân quân tự vệ “Ba