(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973(Luận án tiến sĩ) Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI XUÂN TOÀN
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở QUẢNG BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
NHỮNG NĂM 1965 - 1973
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
HUẾ, NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI XUÂN TOÀN
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở QUẢNG BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Mai Xuân Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Cung, người đã định hướng đề tài, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận án
Trân trọng cảm ơn quý thầy, cô Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, Ban Đào tạo – Đại học Huế, UBND tỉnh Quảng Bình, Lãnh đạo Sở Nội vụ và cán bộ, công chức Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin cảm ơn Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Phòng Tư liệu Quân khu 4, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Chi cục Văn thư lưu trữ tỉnh Quảng Bình, Văn Phòng Tỉnh ủy Quảng Bình, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình, các nhân chứng lịch sử,
… đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tiếp cận, khai thác các nguồn tư liệu phục
vụ học tập và nghiên cứu
Cảm ơn gia đình, bạn bè luôn đồng hành, động viên, chia sẻ và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Huế, tháng 6 năm 2017 Tác giả Luận án
Mai Xuân Toàn
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận án 7
6 Bố cục của luận án 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam 9
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quảng Bình 16
1.2 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 24
Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở QUẢNG BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ NHỮNG NĂM 1965-1973 25
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân Quảng Bình 25
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
2.1.3 Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Quảng Bình 32
2.2 Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quảng Bình 34
2.2.1 Phá hoại bằng gián điệp và biệt kích 34
Trang 62.2.2 Phá hoại bằng không quân và hải quân 38
2.3 Chủ trương của Đảng về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 48
2.3.1 Chủ trương của Trung ương Đảng và Quân khu 4 48
2.3.2 Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Bình 51
2.4 Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, xây dựng quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 55
2.5 Chuyển hướng nền kinh tế sang thời chiến, đảm bảo hậu cần tại chỗ cho chiến tranh nhân dân 59
2.5.1 Trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp 59
2.5.2 Trong sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 66
2.5.3 Trong lưu thông phân phối 69
Chương 3 QUÂN DÂN QUẢNG BÌNH TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ NHỮNG NĂM 1965-1973 75
3.1 Công tác phòng không nhân dân 75
3.1.1 Công tác phòng tránh tại chỗ 75
3.1.2 Công tác sơ tán, giãn dân 82
3.2 Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại 85
3.2.1 Củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang hình thành thế trận chiến tranh nhân dân 85
3.2.2 Đấu tranh chống gián điệp, biệt kích 93
3.2.3 Đánh máy bay và tàu chiến 99
3.3 Đảm bảo giao thông và vận tải chi viện chiến trường 118
3.3.1 Đảm bảo giao thông 118
3.2.2 Vận tải chi viện chiến trường 128
Chương 4 ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở QUẢNG BÌNH NHỮNG NĂM 1965-1973 141
4.1 Đặc điểm 141
4.1.1 Đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại kéo dài, liên tục và rất khốc liệt 141
Trang 74.1.2 Được triển khai trên địa bàn toàn tỉnh, với sự kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng 147 4.1.3 Diễn ra trên khắp các lĩnh vực, trong đó giao thông vận tải là nóng bỏng nhất 152 4.1.4 Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965-1973 phát triển vượt bậc theo thời gian 158 4.2 Ý nghĩa lịch sử 161 4.2.1 Góp phần quan trọng cùng với miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 161 4.2.2 Góp phần to lớn để Quảng Bình hoàn thành vai trò hậu phương của cách mạng miền Nam, trực tiếp là chiến trường Trị - Thiên 164 4.2.3 Làm dày thêm những giá trị sống của cộng đồng dân cư địa phương
để Quảng Bình (cùng với Vĩnh Linh) thành tuyến đầu của miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ 167 4.3 Bài học kinh nghiệm 171 4.3.1 Chủ động vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương 171 4.3.2 Nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động phòng, tránh, đánh trả trong tình huống có chiến tranh bao vây, cô lập và ngăn chặn 174 4.3.3 Gắn xây dựng thế trận với củng cố hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội để đảm bảo hậu cần tại chỗ cho chiến tranh nhân dân 176
KẾT LUẬN 180 TÀI LIỆU THAM KHẢO 184 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Quảng Bình (cùng với Vĩnh Linh) là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương cận kề của cách mạng miền Nam, trực tiếp là chiến trường Trị - Thiên, là điểm khởi đầu và lan tỏa của tuyến đường Hồ Chí Minh chi viện chiến trường miền Nam và phong trào kháng chiến chống Mỹ ở địa bàn Nam Lào và Campuchia
Do Quảng Bình có vị thế chiến lược quan trọng như vậy nên đế quốc Mỹ xem
nơi đây là “yết hầu”, “nút chặn” quyết liệt nhất trong chiến tranh phá hoại miền
Bắc Mỹ tập trung lực lượng lớn không quân, hải quân kết hợp chiến tranh gián điệp biệt kích đánh phá Quảng Bình từ ngày 5-8-1964, mở rộng từ ngày 7-2-1965 và kéo dài cho đến ngày 15-1-1973 Quảng Bình là nơi bị đánh phá dài nhất, quy mô lớn nhất và mức độ tàn phá nghiêm trọng nhất Đối với ta, Quảng Bình là nơi thử thách
ác liệt nhất trong chiến tranh phá hoại để mở đường, bảo vệ đường và đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường, bảo vệ tuyến đầu của miền Bắc, đặc biệt là những thời điểm Mỹ đánh phá ngăn chặn, phong tỏa ác liệt nhất (từ tháng 4 đến tháng 10-1968 và năm 1972) Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng các cấp, trực tiếp
là Tỉnh ủy Quảng Bình, quân dân địa phương đã thiết lập thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, kiên cường bám địa bàn để sản xuất và chiến đấu, lập nên những chiến công xuất sắc, dẫn đầu miền Bắc về thành tích tiêu diệt máy bay và tàu chiến
Mỹ Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của cấp ủy Đảng và chính quyền Quảng Bình
trong kháng chiến chống Mỹ là lấy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh thắng chiến tranh phá hoại tổng lực của đế quốc Mỹ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đã khẳng định: “Nếu tổng kết
cuộc chiến tranh phá hoại toàn diện thì cần nghiên cứu ở Quảng Bình, đánh phá giao thông vận tải phải nghiên cứu ở tuyến đường Hồ Chí Minh và đánh phá đô thị thì phải tổng kết ở Hà Nội, Hải Phòng” [164, tr 363] Do đó, nghiên cứu cuộc
Trang 9chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973 làviệc làm có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, thông qua việc tái hiện diễn biến chính của cuộc chiến
tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973, luận án phản ánh bức tranh toàn cảnh về cơ sở hình thành và phát triển, diễn biến chính của chiến tranh nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, được vận dụng một cách sáng tạo trên địa bàn Quảng Bình Kết quả nghiên cứu của luận án minh chứng Quảng Bình là một mẫu hình địa phương về việc kế thừa tri thức và truyền thống chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc, phát huy thành đỉnh cao trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Qua đó, luận án góp phần khẳng định Quảng Bình xứng đáng với vị trí tuyến đầu của miền Bắc trong cuộc đối đầu với đế quốc Mỹ xâm lược
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu lịch sử kháng
chiến chống Mỹ của dân tộc nói chung và của Quảng Bình nói riêng Luận án rút ra những bài học kinh nghiệm giúp các nhà chính trị, quân sự nghiên cứu vận dụng để hoạch định chính sách, đề ra những chủ trương sát đúng phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay; luận án còn là tài liệu để giáo dục tinh thần yêu nước và cách mạng cho các thế hệ nhân dân Quảng Bình, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhằm khơi dậy lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của cha ông, để nỗ lực vươn lên xây dựng quê hương giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề “Chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973” làm đề tài Luận
án Tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tái hiện một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965-1973; làm rõ một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học
Trang 10kinh nghiệm trong việc vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân vào điều kiện cụ thể của Quảng Bình Thông qua đó, khẳng định vị trí chiến lược, vai trò của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án thực hiện:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá những vấn đề đã được nghiên cứu, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở hình thành và phát triển của cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973
- Những diễn biến chính của cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973 trên các mặt như quá trình hình thành thế trận chiến tranh nhân dân, sản xuất, phòng tránh, đánh trả, đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường, …
- Rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1965-1973, với những cơ sở hình thành và phát triển, những diễn biến chính trên các lĩnh vực của chiến tranh
Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, từ ngày 7-2-1965 đến ngày 15-1-1973, tức là thời điểm Mỹ mở
rộng và kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc và là khung thời gian triển khai thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên địa bàn Quảng Bình
Về không gian, toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Bình, gồm thị xã Đồng Hới và 6
huyện (Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, Tuyên Hóa và Minh Hóa) nhưng tập trung ở những địa bàn, trọng điểm then chốt nhất Tuy nhiên, trong một
số trường hợp nhất định, để làm rõ hơn nội dung, không gian có thể được mở rộng
Trang 11ra một số địa phương khác thuộc Quân khu 4 và thời gian có thể đẩy lùi về trước ngày 7-2-1965 liên quan đến những hành động đánh phá hạn chế của đế quốc Mỹ cũng như quá trình chuẩn bị cho cuộc chiến đấu của quân dân Quảng Bình
Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển
thế trận chiến tranh nhân dân, chuyển hướng sản xuất sang thời chiến để đảm bảo hậu cần cho chiến tranh nhân dân, công tác phòng tránh, đánh trả và đảm bảo giao thông vận tải chi viện chiến trường
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tài liệu điều tra điền dã, hồi kí, những nhân chứng lịch sử,
Về phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic để trình bày các vấn đề theo diễn tiến trình tự thời gian trong mối quan hệ móc xích với nhau Các phương pháp như văn bản học, phân tích, so sánh, tổng hợp, … kết hợp phỏng vấn khai thác tư liệu từ các nhân chứng, phương pháp chuyên gia, cũng được lựa chọn, sử dụng để xử lí tư liệu nhằm tái hiện một cách trung thực nhất diễn biến của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Quảng Bình cũng như rút ra những nhận định khách quan, phù hợp với thực tế lịch sử
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Một là, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và tương đối đầy
đủ về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình những năm 1965-1973
Trang 12Hai là, luận án làm rõ những cơ sở hình thành và phát triển, những diễn biến
chính của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của quân và dân Quảng Bình trong những năm 1965-1973, thông qua sự sáng tạo của quân dân Quảng Bình trong việc vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực
tế của địa phương; từ đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm đóng góp vào kho tàng tri thức và kinh nghiệm lịch sử trong chiến tranh vệ quốc và chiến tranh giải phóng của dân tộc
Ba là, luận án cung cấp nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu, biên soạn và giảng
dạy lịch sử kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là lịch sử chống chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình; giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào và trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, cũng như góp phần vào kho tàng tri thức lịch sử chiến tranh cách mạng của dân tộc đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược và xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu (5 trang), kết luận (4 trang), tài liệu tham khảo (21 trang), nội dung luận án dài 171 trang, chia làm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu (16 trang)
Chương 2 Cơ sở hình thành và phát triển của chiến tranh nhân dân ở Quảng
Bình trong kháng chiến chống Mỹ những năm 1965-1973 (50 trang)
Chương 3 Quân và dân Quảng Bình tiến hành chiến tranh nhân dân chống
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965-1973 (66 trang)
Chương 4 Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của chiến tranh
nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965-1973 (39 trang)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố, chủ yếu như sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam
đội Nhân dân, Hà Nội, Với vai trò là Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các công trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiện rõ nét những quan điểm về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam, như về quá trình hình thành và phát triển đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam của Đảng, về tư tưởng chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh,
về mục đích, lực lượng, phương thức tiến hành, nghệ thuật quân sự của chiến tranh
nhân dân, nổi bật là tư tưởng toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, lấy lực lượng
vũ trang nhân dân làm nòng cốt Tác giả khẳng định 1930-1945 là thời kì hình
thành đường lối khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân của Đảng, đi đến hoàn chỉnh ở thời kì 1945-1954 và được nâng cao trong thời kì 1954-1975 Riêng về
công trình Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ, gồm 5 bài viết, sau khi tổng kết những thắng lợi hết sức to lớn
mà quân và dân ta đã giành được trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, tác giả phân tích tính chất, mục đích thủ đoạn đánh phá cùng những thất bại của đế
Trang 14quốc Mỹ; nêu bật tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân ta, đường lối chiến tranh, đặc biệt là đường lối chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, từ đó rút ra những bài học qua 4 năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), trong đó nhấn mạnh vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực lượng vũ trang địa phương, cũng như phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển Riêng đối với cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, tác giả làm rõ
đó là một cuộc chiến đất đối không, đất đối biển, không đối không, không đối biển
và thậm chí là cả đất đối đất, với những nội dung cụ thể là “toàn dân đánh máy bay
và tàu chiến địch, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân đảm bảo giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và sản xuất, thực hiện chuyển hướng kinh
tế để phục vụ quốc phòng, bảo đảm đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, tiếp tục làm tròn nhiệm vụ chi viện miền Nam và chi viện quốc tế”
[100, tr 62]
Văn Tiến Dũng (1979), Chiến tranh nhân dân quốc phòng toàn dân, tập 2,
Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, luận giải nhiều vấn đề mang tính tổng kết về truyền thống chiến tranh nhân dân trong lịch sử và chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc như về nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, về một số kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, như đánh giá đúng âm mưu chiến lược và khả năng hoạt động của địch, có quyết tâm cao đối phó kịp thời và giành thắng lợi, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời
ra sức tranh thủ sự viện trợ quốc tế, …
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1982, 1983), Chiến tranh nhân dân đánh
thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội,
trình bày đặc điểm tình hình và diễn biến của chiến tranh, rút ra 9 bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh nhân dân đánh thắng không quân và hải quân Mỹ, xây dựng lực lượng vũ trang trong chiến tranh, đảm bảo giao thông vận tải, chuyển
Trang 15hướng kinh tế, tổ chức phòng không nhân dân, … bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện cho tiền tuyến
Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, trình bày các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, rút
ra những bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có “nghệ thuật tiến hành chiến tranh
nhân dân sáng tạo, tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc”
Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995),
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, trong chương X và XI đề cập những diễn biến chính của cuộc chiến đấu của quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân
Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, ngoài đề cập quá trình
xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện, làm chỗ dựa cho cách mạng miền Nam, công trình dành phần quan trọng trình bày về xây dựng và phát huy tuyến vận tải chiến lược chi viện cách mạng miền Nam, chủ yếu là qua tuyến đường Trường Sơn Công trình cũng rút ra những bài học kinh nghiệm lớn về phát huy vai trò hậu phương trong chiến tranh nhân dân
Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến
tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tổng kết nguyên nhân và diễn biến của cuộc chiến tranh cách mạng
30 năm (1945-1975), rút ra những bài học, trong đó có bài học về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, về hậu phương - căn cứ địa, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, …
Bộ Tổng Tham mưu (2001), Tổng kết chiến tranh nhân dân: Chuyên đề chỉ
đạo xây dựng và hoạt động chiến đấu của lực lượng phòng không địa phương chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (1954-1975), Nxb Quân
đội Nhân dân, Hà Nội, làm rõ một số đặc điểm có liên quan đến quá trình chỉ đạo
Trang 16xây dựng và hoạt động của lực lượng phòng không địa phương, từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm, đó là thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động xây dựng, phát triển lực lượng phòng không địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân đối không; Vừa chỉ đạo đánh trả có hiệu quả máy bay địch, vừa chỉ đạo thực hiện tốt việc sơ tán phòng tránh, khắc phục hậu quả ở địa phương; Quán triệt sâu sắc tư tưởng, nguyên tắc tác chiến phòng không, vận dụng sáng tạo vào chỉ đạo tác chiến phòng không địa phương, thực hiện cách đánh thích hợp có hiệu quả, kết hợp phòng không địa phương với phòng không chủ lực; Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lí điều hành của chính quyền, tham gia của các ngành, đoàn thể, vai trò tham mưu và chỉ huy của cơ quan tham mưu phòng không các cấp
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước (1954-1975), xuất bản lần thứ 2, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà
Nội, trong đó về cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của quân dân miền Bắc được phản ánh trong các tập IV, V, VI, VII
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Tổng kết chiến đấu chống đế quốc
Mỹ phong tỏa sông, biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường những năm 1965-1973, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tái hiện những nét đặc sắc, tiêu biểu
nhất về quá trình lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức chiến đấu của quân dân ta, từng bước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn đánh phá, phong tỏa bằng vũ khí công nghệ cao hết sức hiểm độc của đế quốc Mỹ ở trên chiến trường sông biển thuộc quân khu 3 và 4 (gồm các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh vào đến Vĩnh Linh), trong đó tập trung chủ yếu ở một số vùng có ý nghĩa chiến lược như cảng Hải Phòng, cảng Gianh và Nhật
Lệ Công trình làm rõ những loại vũ khí và thủ đoạn đánh phá, phong tỏa của Mỹ cùng quá trình quân dân ta đối phó, làm vô hiệu hóa cuộc chiến phong tỏa Trên cơ
sở đó, công trình rút ra kết quả, ý nghĩa và 7 bài học kinh nghiệm, trong đó có
“quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, … Không ngừng xây dựng và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân chống địch đánh phá phong tỏa”
[214, tr 286, 356]
Trang 17Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam -
Tập IV: Từ năm 1945 đến năm 1975, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội,
nghiên cứu tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam qua quá trình lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong đó có tư tưởng tiến hành chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân toàn diện, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế; tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến tranh; vừa kháng chiến vừa kiến quốc; tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân và nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam -
Tập V: Tổng luận, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, rút ra những vấn đề
chung nhất, có tính quy luật, xuyên suốt tiến trình lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, trong đó có tư tưởng chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam;
tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương; tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang;
tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Cùng với những công trình nghiên cứu đã viện dẫn trên đây, trong những thập
kỉ cuối của thế kỉ XX, rất nhiều công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân đã được công bố dưới hình thức chuyên khảo của các nhà xuất bản: Chính trị quốc gia, Quân đội nhân dân, Khoa học xã hội, … và các chuyên luận liên quan đến vấn đề
chiến tranh nhân dân đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu
Lịch sử, Lịch sử Quân sự và nhiều tạp chí, nội san của các cơ quan Trung ương và
địa phương
Nhìn chung, qua các công trình trên đây, vấn đề chiến tranh nhân dân Việt Nam - lí luận và thực tiễn đã được nghiên cứu kĩ dưới nhiều góc độ khác nhau
Về lí luận, các công trình công bố đã tổng kết những thuộc tính, đặc điểm
và bài học kinh nghiệm từ truyền thống chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc, được vận dụng và nâng cao thành lí luận về chiến tranh nhân dân trong thời đại
Hồ Chí Minh
Về thực tiễn, các công trình đã tái hiện bức tranh toàn cảnh về chiến tranh nhân dân trong bối cảnh cách mạng Việt Nam, nổi bật là cuộc vận động Cách mạng
Trang 18tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Đó là những nguồn tư liệu quý để chúng tôi kế thừa và làm cơ sở để nghiên cứu về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình những năm 1965-1973
1.1.1.2 Ở ngoài nước
Mc T Kahin and John Lewis (1967), The US in Vietnam (Mỹ ở Việt Nam),
Codell Publish, New York, tái hiện quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam cùng tiến trình đi đến ném bom phá hoại miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam Từ thực tế của cuộc chiến đấu của nhân dân
miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, các tác giả nhận thấy “những cuộc ném bom
của Mỹ không làm nao núng và khủng bố tinh thần dân chúng mà đã kích thích và hun đúc họ Ngay từ lúc quả bom Mỹ đầu tiên rơi xuống Bắc Việt Nam, đất nước này đã kết lại thành một khối không gì lay chuyển được” [222, tr 231-232] Thậm
chí còn đi xa hơn, các tác giả khẳng định nếu Mỹ mở cuộc xâm lược miền Bắc sẽ vấp phải cuộc phản công liên tục của một quân đội chính quy và một quốc gia toàn
du kích, buộc Mỹ cuối cùng phải rút lui
T Hoopes (1969), The limits of intervention (Những giới hạn của sự can
thiệp), David Mc Kay Company, New York, sớm nhận ra việc Mỹ tăng cường ném bom lại giúp miền Bắc mở rộng hệ thống giao thông vận tải cũng như mở ra những biện pháp sáng tạo trong công tác phòng tránh, vận chuyển hàng hóa và chi viện chiến trường miền Nam Từ đó, tác giả cho rằng sức mạnh can thiệp của Mỹ là có giới hạn và Nhà Trắng khó có thể đạt được mục đích trong cuộc chiến này khi phải đối đầu với một dân tộc ngoan cường, đầy sáng tạo
Jon Vandyke (1972), North‟s Vietnam Strategy for survival (Chiến lược để tồn
tại của Bắc Việt Nam), Pacific Books, California, đi sâu nghiên cứu công tác tổ chức hệ thống giao thông của Việt Nam Dân chủ cộng hòa Tác giả nhận ra, để đảm bảo cho công tác giao thông vận tải, chi viện chiến trường miền Nam, một lực lượng lớn nhân công được huy động gồm công binh, công nhân giao thông, dân
Trang 19quân tự vệ, thanh niên xung phong với đủ lứa tuổi, không chỉ là những thanh niên tuổi từ 15 đến 30 mà còn có cả người già, bà mẹ và thiếu niên Những lực lượng này vừa tự sản xuất đảm bảo lương thực vừa làm những công việc như vận chuyển đất
đá sửa đường, xây dựng công sự và hầm trú ẩn, bốc dỡ hàng hóa, di chuyển vũ khí phòng không và tham gia tháo gỡ bom nổ chậm, … Nhờ đó, hệ thống giao thông dày đặc gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy trên toàn miền Bắc luôn được duy trì hoạt động với sự nỗ lực tối đa, bất chấp mọi hiểm nguy của những người điều khiển phương tiện cũng như người làm công tác đảm bảo bằng nhiều biện pháp ngụy
trang khéo léo và những nỗ lực vận chuyển phi thường
US Government Printing Office (1973), Causes, Origins and lessons of the
Vietnam War, May, 9, 10 and 11, 1972 (Nguyên nhân, nguồn gốc và bài học trong
chiến tranh Việt Nam), Washington, tập hợp những luận điểm chính của các học giả
và nghị sĩ Mỹ làm rõ nguồn gốc và nguyên nhân của việc Hoa Kỳ can dự vào cuộc chiến đang diễn ra ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học cần thiết Một trong những bài học mà các nhà lập pháp Mỹ phát hiện ra là đánh giá đúng sức mạnh của
dân tộc Việt Nam: “Đối phương đã tìm ra “một chiến lược khôn khéo đến mức
nguy hiểm để đánh bại Mỹ Chiến lược đó là tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dựa trên nguyện vọng của nông dân Việt Nam muốn độc lập và công bằng xã hội Nước ngoài không bao giờ có thể địch nổi chiến lược đó” [224, tr 91]
Gabriel Kolko (1985), Anatomy of a War: Vietnam, the United States and the
Modern Historical Experience, New York, The New Press 1994 (Giải phẫu một cuộc chiến tranh - Nước Mỹ và kinh nghiệm chiến tranh hiện đại), Người dịch:
Nguyễn Tấn Cưu, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, (2003), phân tích chi tiết, sâu sắc các đối tượng trong cuộc chiến mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam/Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đồng thời cảnh báo mọi sự can thiệp của Mỹ trong tương lai chắc chắn sẽ phải chịu kết quả tai hại như ở Việt Nam, bởi vấp phải một dân tộc luôn lấy dân làm gốc, huy
Trang 20động được quần chúng nhân dân và lấy chiến tranh nhân dân làm nền tảng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập
Những công trình đã công bố ở ngoài nước phần lớn đề cập đến chính sách,
âm mưu, thủ đoạn tiến hành chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc qua đó thấy được mức độ khốc liệt của chiến tranh phá hoại Đồng thời, thông qua việc phản ánh phản ứng và đối phó của nhân dân miền Bắc đối với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các công trình này cũng thể hiện sự thừa nhận khách quan về sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đáp trả chiến tranh phá hoại tổng lực của Mỹ Đây là những luận cứ quan trọng để luận án đưa ra những nhận định khách quan, khoa học
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quảng Bình
1.1.2.1 Ở trong nước
- Những công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại trên địa bàn Quân khu 4, trong đó có Quảng Bình
Bộ Tổng Tham mưu (2001), Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương:
Chuyên đề Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và cơ quan quân sự địa phương trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946-1975), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sau khi
khái quát diễn biến về cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm ở Quân khu 4, công trình
đã rút ra 5 bài học về việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, về xây dựng tổ chức, nêu cao trách nhiệm và chỉ đạo các lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân trên địa bàn Quân khu 4 qua hai cuộc kháng chiến
Quân khu 4 (2001), Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu 4
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tập
hợp những tham luận từ hội thảo cùng tên, đề cập đến nhiều khía cạnh của cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và cuộc chiến đấu của quân dân Quân khu 4 nói chung, của các tỉnh ở Quân khu 4 nói riêng, trong đó có Quảng Bình, trên mặt trận giao thông vận tải
Trang 21Quân khu 4 (2005), Tổng kết chiến thuật trong kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945-1975), Nxb Quân
đội Nhân dân, Hà Nội, sau khi trình bày những hình thức chiến thuật mà lực lượng
vũ trang Quân khu 4 đã thực hiện trong hai cuộc kháng chiến, công trình rút ra 5 bài học kinh nghiệm có liên quan đến chiến tranh nhân dân là tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chỉ huy; chủ động đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi
vũ khí, mọi hình thức ở trong mọi điều kiện địa hình và thời tiết; thực hiện ba bám: bám địch, bám dân, bám đồng bằng trong thế trận chiến tranh nhân dân; kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích của các lực lượng vũ trang địa phương với chiến tranh chính quy của bộ đội chủ lực; chú trọng, xây dựng củng cố mối quan hệ với cách mạng Lào
Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Cục Hậu cần (2007), Lịch sử hậu cần lực lượng vũ
trang Quân khu 4 (1945-2005), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, đề cập công tác
chuẩn bị về hậu cần cho lực lượng vũ trang trên địa bàn Quân khu 4 trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Liên quan đến thời kì kháng chiến chống Mỹ, công trình có đề cập công tác chi viện chiến trường Trị - Thiên và cũng như việc mở đường vận chuyển, đảm bảo hậu cần, giải quyết hậu quả các chiến dịch lớn, … của lực lượng hậu cần Quân khu 4
Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2012), Lịch sử dân quân tự vệ Quân khu 4
(1945-2010), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, dành chương II đề cập đến lực lượng dân
quân tự vệ ở Quân khu 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), rút ra những bài học về vai trò của lực lượng dân quân tự vệ trong chiến tranh, về công tác lãnh đạo chính trị, tư tưởng, tổ chức đối với dân quân tự vệ, về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, lấy dân quân tự vệ làm nòng cốt ở cơ sở
Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2015), Lịch sử Quân khu 4 (1945-2015), tập 2: Thời
kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tái bản bổ sung lần 1, Nxb Quân
đội Nhân dân, Hà Nội, dành ra 4 chương (III, IV, V và VI) phản ánh cuộc kháng
chiến chống Mỹ của quân dân Quân khu 4, như về bối cảnh lịch sử, một số chủ
Trang 22trương của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, trong đó đối với Quảng Bình, những chiến công tiêu biểu nhất trên lĩnh vực sản xuất và chiến đấu, đảm bảo giao thông được ghi nhận Trong chương kết, một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn Quân khu 4 là đã động viên được toàn dân phát huy vai trò chiến tranh nhân dân, góp phần đánh bại các loại hình chiến tranh xâm lược
- Những công trình nghiên cứu về công tác mở đường, chiến đấu bảo vệ đường và đảm bảo vận chuyển trên đường Trường Sơn qua địa bàn Quảng Bình Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm do Cục Chính trị - Tổng cục xây dựng kinh tế
biên soạn năm 1979 trên cơ sở tập hợp những tư liệu của nước ngoài về sự hình thành
và phát triển của hệ thống đường Trường Sơn cùng cuộc chiến tranh ngăn chặn của
đế quốc Mỹ Đoàn Thị Lợi (2004), Đường Hồ Chí Minh con đường huyền thoại,
Nxb Quân đội Nhân dân; Phan Hữu Đại - Nguyễn Quốc Dũng (đồng chủ biên),
(1999), Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, Nguyễn Thế Kỷ - Nguyễn Sĩ Cứ (chủ biên), (2009), Trường Sơn
đường khát vọng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, … Qua những công trình này,
quá trình xây dựng và chiến đấu, bảo đảm vận chuyển trên đường Trường Sơn trong tình hình chiến tranh ngăn chặn, phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt, được thể hiện tương đối toàn diện và có hệ thống Tuy nhiên, Quảng Bình với vị trí là trung tâm, điểm khởi đầu của hệ thống đường chiến lược này lại chưa được nhấn mạnh nên các công trình chưa cho thấy điểm khác biệt giữa chiến tranh ngăn chặn, phá hoại của
Mỹ ở Quảng Bình so với những nơi khác trên đường Trường Sơn
- Những công trình nghiên cứu về Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ
Ban Chấp hành Đảng bộ Quảng Bình (2000), Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình,
tập II, 1954-1975, Đồng Hới; Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Bình (2010), Lịch sử Đảng bộ Quân sự tỉnh Quảng Bình (1945-2010), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội,
đề cập tình hình, chủ trương của Tỉnh ủy và Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo cùng những diễn biến nổi bật của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước ở địa phương
Trang 23Thường vụ Tỉnh ủy - Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình (1994),
Lịch sử Quảng Bình chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, là công trình đề cập khá toàn
diện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Quảng Bình (1954-1975) Ưu điểm nổi bật của công trình này là có nguồn tư liệu gốc và nhân chứng phong phú, tái hiện sinh động công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng quá trình quân dân Quảng Bình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, đảm bảo chi viện chiến trường, làm nghĩa vụ của hậu phương Luận án kế thừa nhiều tư liệu từ công trình này
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình (2012), Lịch sử hệ thống hành
chính nhà nước cấp tỉnh ở Quảng Bình (1945-2000), dành chương V đề cập công
tác tổ chức các lực lượng, điều hành các hoạt động quản lí xã hội, vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, trong đó nhấn mạnh công tác chỉ đạo chuyển hướng mọi hoạt động sang thời chiến, thiết lập thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại và những thành tích tiêu biểu trong sản xuất và chiến đấu
Nguyễn Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng Bình, Nxb Chính trị - Hành
chính, Hà Nội, dành chương 14 đề cập cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Quảng Bình, trong đó có những diễn biến chính của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại
Về lịch sử các ngành có: Lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng Phụ nữ tỉnh Quảng Bình 1930-1975, sơ thảo, (1995); Lịch sử Y tế Quảng Bình 1945-1995, Đồng
Hới, (1996); Lịch sử phong trào Công nhân và Công đoàn tỉnh Quảng Bình, tập 1
(1885-1975) (1998); Lịch sử Bộ đội biên phòng Quảng Bình, tập 1 (1959-1995),
(1998); Lịch sử Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình 1885-1999, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, (1999); Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Quảng Ninh - 55 năm
xây dựng - chiến đấu - trưởng thành (1945-2000), (2000); Lịch sử Công an nhân dân thành phố Đồng Hới 1945-2005, (2005); Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Bình, tập 1 (1945-1975), (2005); Lịch sử Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Quảng Bình, tập 1 (1946-2005),
(2010); Nghiên cứu mối quan hệ hữu nghị và hợp tác đặc biệt giữa Quảng Bình,
Khăm Muộn và Savannakhet giai đoạn 1954-2000, Sở Ngoại vụ Quảng Bình,
(2011); Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Bình 80 năm xây dựng và trưởng thành
Trang 24(1930-2010), Đồng Hới, (2012); Lịch sử Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Bình, tập 1 (1930-2000), (2012); Lịch sử ngành Tuyên giáo Quảng Bình giai đoạn 1930-2010), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Quảng Bình, (2013); Lịch sử ngành Kiểm tra Đảng tỉnh Quảng Bình từ năm 1948
đến năm 2013, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Bình, (2014); Nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã tỉnh Quảng Bình từ năm 1946 đến nay, Liên minh Hợp
tác xã tỉnh Quảng Bình, (2014); Lịch sử giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình
(1945-2015), Nxb Giao thông Vận tải, Hà Nội, ((1945-2015), … Tiếp cận truyền thống của các
ngành, ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) nói chung và tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ những năm 1965-1973 nói riêng ở Quảng Bình được phản ánh trong sự đa dạng về lực lượng toàn dân đánh giặc, với sự phong phú về hình thức chiến đấu, …
Về lịch sử Đảng bộ các địa phương có: Lịch sử Đảng bộ huyện Lệ Thủy, tập 2 (1954-1975), (2000); Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Ninh, tập 2 (1954-1975), Sơ
- Những luận án, luận văn đề cập chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ
Nguyễn Khắc Thái (1977), Đảng bộ Quảng Bình lãnh đạo công tác xây dựng
lực lượng dân quân tự vệ trong những năm chống Mỹ (1965-1968), Luận án tốt
nghiệp ngành lịch sử Đảng, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, làm rõ quá trình
Trang 25Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân ở cơ sở như về tư tưởng chính trị, về phát triển lực lượng, về trang bị, về huấn luyện chiến đấu, về xây dựng làng xã chiến đấu, về những chiến công mà dân quân tự vệ Quảng Bình lập được trong giai đoạn 1965-
1968, … Trên cơ sở đó, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm như quán triệt đường lối quốc phòng toàn dân, vũ trang toàn dân và chiến tranh nhân dân của Đảng, về hình thức tổ chức lực lượng dân quân tự vệ, về mối quan hệ giữa công tác chính trị với trang bị kĩ thuật, chiến đấu, … Phần phụ lục công phu, cung cấp nhiều
số liệu quan trọng về quá trình phát triển, tổ chức, chiến đấu của dân quân tự vệ Quảng Bình giai đoạn 1965-1968
Lê Văn Lợi (1977), Đảng bộ Quảng Bình lãnh đạo quân và dân toàn tỉnh
đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên mặt trận đảm bảo giao thông vận tải (1965-1968), Luận văn tốt nghiệp ngành lịch sử Đảng, Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội, làm rõ quá trình Đảng bộ Quảng Bình tổ chức, lãnh đạo công tác đảm bảo giao thông vận tải giai đoạn 1965-1968 như về việc chuyển hướng đảm bảo giao thông vận tải những năm 1965-1966, tập trung các lực lượng để đảm bảo giao thông vận tải, đánh bại chiến tranh phá hoại của Mỹ những năm 1966-1968 Trên cơ sở đó, tác giả rút ra một số suy nghĩ về thành công cơ bản của Đảng bộ Quảng Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo đảm bảo giao thông vận tải như nghiêm chỉnh chấp hành đường lối chống Mỹ cứu nước của Trung ương Đảng và vận dụng sáng tạo đường lối đó vào thực tiễn, quá triệt đường lối chiến tranh nhân dân và nêu cao tinh thần tự lực, dựa vào sức mạnh quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa củng cố quan
hệ sản xuất và tổ chức phân công lao động hợp lí để dành một phần lao động thích đáng đảm bảo giao thông vận tải Phần phụ lục cung cấp nhiều số liệu quan trọng về cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Quảng Bình và những thành tích mà quân dân Quảng Bình đạt được trên mặt trận giao thông vận tải giai đoạn 1965-1968
Đinh Phan Thủy Yến (2006), Quảng Bình kháng chiến chống Mỹ cứu nước
trên mặt trận giao thông vận tải (1965-1968), Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại
học Sư phạm Huế; Thái Thị Lợi (2007), Lực lượng thanh niên xung phong tỉnh
Trang 26Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975), Luận văn Thạc sĩ
Sử học, Trường Đại học Sư phạm Huế; Phan Thị Trà Giang (2010), Phong trào
“hai giỏi” ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm
1965-1973, Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Sư phạm Huế, … ở những mức độ
khác nhau lần lượt đề cập đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân Quảng Bình trên lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng hậu phương, chi viện chiến trường, chủ yếu tập trung trong giai đoạn 1965-1968
Trần Như Hiền (2016), Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975, Luận án Tiến sĩ Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, làm rõ những cơ sở để Đảng bộ Quảng Bình đề ra những chủ trương cùng quá trình lãnh đạo quân dân địa phương thực hiện nhiệm vụ hậu phương trên các lĩnh vực: Xây dựng tiềm lực hậu phương về kinh tế - chính trị - văn hóa, xây dựng lực lượng quốc phòng, chiến đấu bảo vệ địa bàn và đảm bảo giao thông vận tải, chi viện cách mạng miền Nam và cách mạng Lào trong thời kì 1964-1975, một số bài học về phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hậu phương Tuy đề cập đến nhiều vấn đề của chiến tranh nhân dân
ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ nhưng dưới góc độ của chuyên ngành lịch sử Đảng nên nội dung luận án tập trung vào những chủ trương và vai trò lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Tỉnh ủy Quảng Bình
Nhìn chung, các công trình chuyên khảo liên quan đến Quảng Bình trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dưới những góc nhìn khác nhau đã ít nhiều đề cập đến vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, hoạt động của lực lượng vũ trang, các lực lượng phục vụ chiến đấu và trực tiếp sản xuất, chiến đấu trong thời kì kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn Quảng Bình Mặc dù chưa
có công trình nào phản ánh toàn diện các thành tố và thuộc tính của chiến tranh nhân dân nhưng dưới nhiều góc độ khác nhau, các công trình này đã cung cấp nguồn tư liệu lí luận và thực tiễn quan trọng để làm cơ sở xây dựng các luận đề khoa học trong luận án này
Trang 271.1.2.2 Ở ngoài nước
Peter Weiss (1968), Réponse à Johnson sur les bombs ments limités (Trả lời
Johnson về những cuộc ném bom hạn chế), Seuil, Paris; trình bày diễn biến và
những thủ đoạn mà Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình kể từ ngày 5-8-1964, chỉ ra những thiệt hại to lớn về người và vật chất mà các cuộc ném bom gây ra, như phá hủy hoàn toàn Đồng Hới, Ba Đồn và các huyện lị trong tỉnh Công trình cũng cho thấy trong chiến tranh khốc liệt, công tác phòng tránh và cứu thương được quân dân Quảng Bình thực hiện rất tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất vẫn được duy trì ở tất cả các ngành như nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và ngư nghiệp, làm ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cuộc sống cho nhân dân địa phương cũng như chi viện cho chiến trường
Alain Wasmes (1976), Vietnam, la feau du pachyderme (Việt Nam, tấm da của
loài thú da dày), Edition Socialies, Paris, khái quát quá trình hình thành và phát
triển của tuyến đường Trường Sơn, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, trong đó đối với Quảng Bình, hậu quả của các trận ném bom tạo nên khung cảnh như đang ở trên Mặt Trăng với những chết chóc và đổ nát hiện diện khắp mọi nơi, nhất là ở Đồng Hới Đồng thời, tác giả chứng kiến nghị lực phi thường của nhân dân địa phương tham gia công tác sửa chữa đường sá phục vụ chi viện cách mạng miền Nam
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã viện dẫn trên và hầu hết các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án đã đề cập đến cơ sở hình thành
và những vấn đề lí luận về chiến tranh nhân dân Dưới nhiều góc độ khác nhau, những công trình nghiên cứu đã công bố đã đề cập ít nhiều đến diễn tiến cuộc kháng chiến chống Mỹ, trực tiếp là cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ, trong đó chứa đựng cả nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu, đảm bảo giao thông vận tải và chi viện chiến trường
Có thể nói rằng, với sự phong phú của các hình thái, thế trận chiến tranh với
sự kết hợp khéo léo, hài hòa và sáng tạo giữa các thành tố làm nên chiến tranh nhân dân như sản xuất và chiến đấu, phòng tránh với đánh trả, xây dựng hậu phương với
Trang 28chi viện tiền tuyến, những diễn tiến của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được đề cập dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau, trên những đối tượng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu tương đối đầy đủ
và có hệ thống từ lí luận đến thực tiễn cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quảng Bình những năm 1965-1973, rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trước mắt và lâu dài
1.2 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa có lựa chọn những công trình nghiên cứu đã có và đặc biệt
là những tài liệu khai thác được, căn cứ diễn biến thực tế của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình những năm 1965-1973, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu sau đây:
- Cơ sở hình thành và phát triển của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965-1973
- Sự hình thành thế trận chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965-1973
- Công tác chuyển hướng kinh tế và đảm bảo duy trì sản xuất nhằm đảm bảo hậu cần tại chỗ cho chiến tranh nhân dân và chi viện chiến trường ở Quảng Bình những năm 1965-1973
- Công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn Quảng Bình bao gồm các hoạt động mở đường, chiến đấu bảo vệ đường và vận tải chiến lược chi viện chiến trường miền Nam
- Công tác phòng không nhân dân ở Quảng Bình những năm 1965-1973, bao gồm nội dung phòng tránh và đánh trả
- Công tác đấu tranh chống gián điệp, biệt kích của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Quảng Bình những năm 1965-1973
- Những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Quảng Bình những năm 1965-1973
Trang 29Chương 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở QUẢNG BÌNH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ NHỮNG NĂM 1965 - 1973
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân Quảng Bình
Vùng rừng núi ở phía Tây rộng 5.236,16 km2
(chiếm 65% diện tích tự nhiên), địa hình hiểm trở, nhiều sông suối, bị chia cắt mạnh nên dễ bị đối phương lợi dụng
sơ hở xâm nhập, hoạt động biệt kích ta khó phát hiện, truy lùng Ngoài ra, Quảng Bình còn có các dãy núi chạy ra sát biển, như Đèo Ngang và mũi Roòn Những dãy núi này có thể xây dựng trận địa phòng thủ, khống chế vùng đồng bằng, tổ chức các trạm quan sát, trinh sát, cảnh giới trên không, trên biển
Vùng gò đồi rộng 1.677,95km2 (chiếm 19,7% diện tích tự nhiên), có độ cao từ 50-250m, là vùng đệm tiếp giáp giữa rừng núi và đồng bằng Vùng này thuận lợi cho
ta triển khai lực lượng, sơ tán giãn dân, làm công trình và các đường vòng tránh Vùng đồng bằng rộng 866,9km2
(chiếm 10,95% diện tích tự nhiên), nằm ở hạ lưu các con sông Vùng này có nhiều đồng lầy, nhiều cầu phà, tập trung đường sá và các đầu mối giao thông quan trọng, dân cư đông đúc, thuận lợi cho việc huy động sức người sức của tương đối lớn để đảm bảo giao thông vận tải, chiến đấu và phục
Trang 30vụ chiến đấu Trong chiến tranh phá hoại, khi địch tập trung đánh mạnh, nhất là bằng máy bay và tàu chiến, ta khó bảo vệ mục tiêu, khó cơ động và triển khai lực lượng, khó bố trí mạng hỏa lực và phòng vệ có chiều sâu, hỗ trợ nhau đắc lực, khó cấu trúc công sự vững chắc
Vùng ven biển ngoài nguồn lợi lớn về thủy hải sản còn có một số cảng như Roòn, Gianh, Nhật Lệ, thuận tiện cho việc phát triển giao thông đường biển, kết hợp vận chuyển đường biển và đường sông Tuy nhiên, trong điều kiện hải quân, không quân và các lực lượng bảo vệ bờ biển chưa lớn mạnh, công tác bố phòng, bảo
vệ và chống địch xâm nhập, đánh phá còn nhiều khó khăn Mặt khác, các cửa biển nhỏ, cạn chỉ có thể sử dụng tàu thuyền nhỏ và bị ảnh hưởng bởi mùa mưa bão Dọc
bờ biển có nhiều cồn cát lớn, địa hình trống trải, khiến địch có thể dùng tàu chiến vào gần bờ, bắn phá sâu vào đất liền Ngược lại, do các cồn cát che khuất tầm nhìn nên chúng phải dùng khí tài quan sát và hiệu chỉnh bắn Vì vậy, ta có thể bố trí các trận địa hỏa lực để đánh trả trong điều kiện phải đảm bảo công sự vững chắc và ngụy trang tốt trận địa
Vùng biển Quảng Bình mực nước tương đối cạn, ít có điều kiện cho tàu đổ bộ nhưng các tàu khu trục và tuần dương Mỹ có thể vào cách bờ 5km và tàu biệt kích
là 1-3km Một số đảo ven bờ như Hòn La, đảo Yến, Hòn Gió, Hòn Nấm, Hòn Cọ hay các mũi đèo Ngang và Roòn, ta có thể bố trí hỏa lực để khống chế vùng biển và đặt các trạm quan sát cảnh giới
Quảng Bình có các con lớn sông là Roòn, Gianh (gồm 4 nguồn: Rào Nậy, Rào Trổ, Rào Nam và Rào Son), Lý Hòa, Dinh và Nhật Lệ (gồm 2 nguồn: Kiến Giang
và Long Đại), chủ yếu chảy theo hướng Tây - Đông (trừ sông Nhật Lệ chảy hướng Tây Nam - Đông Bắc) Các sông đều ngắn, dốc nên vào mùa mưa sẽ hứng một lượng nước khổng lồ từ dãy Trường Sơn đổ xuống, gây nên lũ lụt và tạo thành chướng ngại thiên nhiên lớn, chia cắt địa hình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và giao thông vận tải Với đặc điểm đó, trong thời bình việc khắc phục lũ lụt, lầy úng đã khó thì trong chiến tranh, địch tập trung đánh phá các điểm vượt sông và các khu vực lầy lội sẽ càng thêm gây khó khăn cho ta Riêng sông Nhật Lệ, do
Trang 31hướng chảy của mình lại tạo điều kiện thuận lợi hình thành tuyến vận tải từ cảng Nhật Lệ đi về phía Nam hoặc đi sâu vào chân dãy Trường Sơn, nơi có các kho hàng tập kết của Đoàn 559 Tuyến vận tải này đặc biệt phát huy vai trò nhất là vào những thời điểm Quốc lộ 1 và Đường 15 bị ách tắc
Thời tiết ở Quảng Bình chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng
12, mùa khô kéo dài từ đầu năm đến tháng 7 Từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, Quảng Bình chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc, có nhiều mưa phùn và lạnh Vào tháng 1 và 2 hàng năm, vùng trung du và miền núi có sương mù
từ chiều hôm trước đến giữa sáng hôm sau, khiến tầm nhìn bị hạn chế xuống dưới 1.000m Điều kiện này vừa có thuận lợi cho ta (như mây mù, mưa phùn hạn chế hoạt động của máy bay địch) nhưng mặt khác, khi bị đánh phá thì tác hại lại kéo dài, khó khắc phục Ở Quảng Bình, mùa mưa bão hàng năm kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, gây lũ lụt nghiêm trọng Trong điều kiện này, máy bay và tàu chiến địch cũng không hoạt động được Do đó, việc nghiên cứu kĩ yếu tố thời tiết để tìm giải pháp khắc phục khó khăn và phát huy thuận lợi nhằm hạn chế đến mức tối đa hoạt động đánh phá của đối phương là vấn đề mang tính thường trực của quân dân Quảng Bình
Như vậy, đặc điểm tự nhiên của Quảng Bình vừa có thuận lợi cho việc triển khai thế trận chiến tranh nhân dân như địa hình nhiều rừng núi, hang động có thể xây dựng các căn cứ, kho tàng, che dấu lực lượng cũng như nhanh chóng sử dụng lực lượng tại chỗ cơ động đánh địch xâm nhập, … Trong trường hợp bị chia cắt, mỗi vùng là một khu phòng thủ hoàn chỉnh Ở vùng nông thôn đồng bằng, dân cư sống tập trung ven các trục đường nên dễ huy động được nguồn nhân lực lớn để bảo đảm giao thông khi cần thiết Tuy vậy, nhìn chung điều kiện tự nhiên của Quảng Bình trong chiến tranh khó khăn là cơ bản, trong đó lớn nhất là địa hình bị chia cắt mạnh nên khó cho việc mở đường mới cũng như sửa chữa khi gặp mưa lũ hoặc bị địch đánh phá Do đó, công tác chi viện cách mạng miền Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn Địa thế hẹp bề ngang với nhiều cửa sông và mỏm núi ăn ra biển khó cho việc phòng thủ trước những âm mưu xâm nhập bằng biệt kích hoặc tập kích, đổ bộ của
Trang 32địch hòng biến thành “nút chặn” con đường chi viện cách mạng miền Nam, chia
cắt, uy hiếp các mục tiêu nội địa
Với đặc điểm và điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí có ý nghĩa chiến lược quan trọng như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam, trước hết là đối với Trị - Thiên Với tầm nhìn chiến lược, nhận rõ vị trí địa – chính trị, địa - quân sự của Quảng Bình,
ngay từ lần vào thăm (16-6-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Quảng Bình
cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp miền Nam Mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến cách mạng miền Nam, đều có ý nghĩa đối với việc bảo vệ miền Bắc Nếu kẻ địch có hành động gì, thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải đánh thắng chúng trước hết” [40, tr 278]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Về kinh tế
Cho đến trước cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ (1965), nền kinh tế Quảng Bình chủ yếu dựa vào nông nghiệp Qua cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo xã hội chủ nghĩa, đến năm 1960, có 95% số hộ tham gia hợp tác
xã nông nghiệp, 74% số hộ vào hợp tác xã tín dụng, 66,6% hộ tham gia hợp tác xã mua bán, 90,6% thợ thủ công tham gia hợp tác xã thủ công nghiệp, 32 hộ tư sản ở Đồng Hới và Ba Đồn tham gia công tư hợp doanh, thành lập mới 7 xí nghiệp sản xuất kinh doanh [33, tr 90] Nổi bật trong sản xuất nông nghiệp là Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy), ngọn cờ đầu của phong trào hợp tác xã nông nghiệp toàn miền
Bắc Trong ngư nghiệp, Quang Phú (Đồng Hới) là ngọn cờ đầu của hợp tác xã nghề cá toàn miền Bắc Trong những năm 1960-1962, phong trào thi đua “học
tập, tiến kịp và vượt Hợp tác xã Đại Phong” được phát động và dấy lên trong toàn
tỉnh Kết quả, đến cuối năm 1962 có 200/780 hợp tác xã đạt danh hiệu “Hợp tác
xã Đại Phong” Cùng với việc đẩy mạnh áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất
nông nghiệp, một loạt công trình thủy lợi được xây dựng như đê Hạc Hải, Rào
Trang 33Sen, Cẩm Ly (Lệ Thủy), Ba Nương (Tuyên Hóa), Sông Thai, Cự Nẫm (Bố Trạch),
… đã góp phần đưa năng suất lương thực tăng lên Năm 1962, toàn tỉnh đạt sản lượng 119.290 tấn, bình quân đầu người là 329kg (so với năm 1960 cao hơn 29.490 tấn và 29kg) [196, tr 136] Nhờ vậy, nhiều hợp tác xã trước đây thiếu ăn nay đã tự túc được lương thực và nhiều hợp tác xã từ tự túc lương thực có dư thừa bán nghĩa vụ cho nhà nước
Trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, năm 1960, Quảng Bình có 18 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, 4 xí nghiệp công tư hợp doanh và 2 xí nghiệp hợp tác Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính tỉnh có những chính sách và biện pháp chỉ đạo để phát triển mạnh công nghiệp địa phương một cách vững chắc, xây dựng tiểu thủ công nghiệp tiến dần lên cơ giới, đảm bảo cung cấp một phần tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng và vật liệu xây dựng Kết quả, đến năm 1965, toàn tỉnh có 31 xí nghiệp quốc doanh, 116 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, trong đó quan trọng và có quy mô khá như xí nghiệp cơ khí 3-2, xí nghiệp cưa mộc Ba Đồn, xí nghiệp cưa mộc Trị Thiên, xưởng cưa xẻ Ba Rền, xưởng gạch ngói Phúc Duệ, xí nghiệp đá Bến Tiêm, xí nghiệp tàu Đồng Hới, xí nghiệp chế biến hải sản Bảo Ninh, xí nghiệp rượu dâu Đồng Hới, …
Như vậy, phần lớn các xí nghiệp thủ công nghiệp ở Quảng Bình nặng về chế biến thô từ nguồn tài nguyên tại chỗ của địa phương (gỗ, đá, thủy sản, …) nên trong điều kiện có chiến tranh, những cơ sở này dễ phân tán và vẫn duy trì được sản xuất bình thường, đảm bảo cung cấp vật liệu đá và gỗ phục vụ sửa chữa đường sá, xây dựng hầm hào phòng tránh, … Mặt khác, do sản xuất thuần túy nông nghiệp nên các mục tiêu kinh tế ở Quảng Bình rất phân tán, hạn chế được thiệt hại bởi các cuộc đánh phá của đối phương, ngoại trừ những công trình thủy lợi
Điều quan trọng là việc xây dựng được phong trào hợp tác xã mạnh về nhiều mặt là điều kiện đảm bảo cho chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình phát huy được ưu thế của mình như chủ động được việc bố trí, sắp xếp, huy động nhân lực sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu cũng như làm công tác chi viện cách mạng miền Nam như tham gia xây dựng, sửa chữa đường sá, vận chuyển hàng hóa và hỗ trợ về
Trang 34mọi mặt cho chiến trường Trị - Thiên, chiến trường Lào, ngay cả khi có một bộ phận lớn lực lượng thanh niên đã lên đường nhập ngũ
2.1.2.2 Về xã hội
Cho đến năm 1965, dân số Quảng Bình có khoảng 41 vạn người, đa số là người Kinh, nhưng phân bố không đều Vùng miền núi rộng lớn chỉ có khoảng 4.000 người thuộc các dân tộc như Vân Kiều, Chứt sống rải rác trong các bản cách nhau hàng ngày đường Vùng ven biển có khoảng 24.000 người nhưng tập trung chủ yếu ở các cửa sông Do vậy, có những quãng biên giới, bờ biển dài 20-30km không có người ở, dễ bị địch lợi dụng sơ hở để hoạt động gián điệp, biệt kích, xâm nhập nội địa để chống phá Trong khi đó, vùng đồng bằng nhỏ hẹp lại tập trung hơn 90% dân số bám theo các trục đường và ven sông [168, tr 3] Tuy có thuận lợi là dễ huy động nguồn nhân lực lớn khi có yêu cầu nhưng với mật độ quá đông trên một diện hẹp rất khó cho việc tổ chức phòng tránh, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại
về người và tài sản khi bị đánh phá cũng như cơ động lực lượng để đánh trả
Việc dân số phân bố không đều gây ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo an ninh, quốc phòng Vùng miền núi rộng lớn tuy có nhiều tiềm năng để phát triển nhưng còn quá thưa dân, trình độ nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế là khó khăn rất lớn trong việc khai thác tài nguyên cũng như góp phần đấu tranh chống các hoạt động xâm nhập, phá hoại của địch Trong những năm trước chiến tranh, việc khai thác khu vực cận sơn đã được chú ý bằng việc xây dựng một số nông trường dọc theo Đường 15 như Nông trường 1-5, Nông trường Việt - Trung, Nông trường Lệ - Ninh, … Đây thực chất là mô hình quân đội làm kinh tế trong thời bình, góp phần quan trọng thực hiện kinh tế kết hợp với quốc phòng, hình thành tuyến hậu phương chiến lược trong chiến tranh 1
Tuy nhiên, những vùng kinh tế mới như trên vẫn còn ít, một mảng lớn núi rừng vẫn còn bỏ trống Đây là địa bàn mà đối phương thường xuyên lợi dụng để hoạt động biệt kích Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ diễn ra, phần lớn các tuyến đường chi viện cách mạng
1 Như Nông trường Việt - Trung có thể sửa chữa lớn 1.000 ô tô/năm, có sức chứa 2 sư đoàn
bộ binh
Trang 35miền Nam đều đi qua địa bàn miền núi Quảng Bình nhưng việc huy động nguồn nhân lực và vật lực tại chỗ để xây dựng, sửa chữa gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu phải đưa thanh niên xung phong từ đồng bằng hoặc các tỉnh phía Bắc vào thực hiện
Nhân dân Quảng Bình đa phần theo tín ngưỡng cổ truyền, số ít theo Phật giáo
và Thiên Chúa giáo Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Quảng Bình không còn tổ chức giáo hội Phật giáo nên không có những hoạt động phật sự Thiên Chúa giáo có khoảng 5 vạn người, tập trung ở Quảng Trạch và một số xã thuộc Tuyên Hóa, Bố Trạch Nhìn chung, đồng bào có truyền thống kính Chúa yêu nước, có những đóng góp nhất định đối với công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc Sau Hiệp định Genève (21-7-1954), bằng các biện pháp tuyên truyền, cưỡng ép và dụ
dỗ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa hơn 1 vạn người vào Nam [115, tr 29], trong đó phần lớn là đồng bào Thiên Chúa giáo Thực dân Pháp còn cài lại nhiều phần tử tay sai nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chế độ mới Mặt khác, khi tiến hành phá hoại miền Bắc, địch lợi dụng những vùng ven biển và nơi tập trung đồng bào Thiên Chúa giáo để tung người xâm nhập, tuyên truyền, kích động chống phá chính quyền và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó, song song với ổn định mọi mặt đời sống xã hội sau chiến tranh, việc đấu tranh nhằm phát hiện, đấu tranh với những phần tử phản động, làm sạch địa bàn, đảm bảo an toàn cho tuyến đầu miền Bắc luôn là nhiệm vụ thường trực của quân dân Quảng Bình
Nhìn chung, cộng đồng cư dân ở Quảng Bình tương đối thuần nhất Nội bộ nhân dân đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau Nhân dân các dân tộc, tôn giáo đều một lòng tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, cùng chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tích cực đóng góp sức người, sức của cho
sự nghiệp cách mạng nói chung, cho công cuộc bảo vệ quê hương, đất nước nói riêng Đây là một thuận lợi cơ bản để cấp ủy Đảng và chính quyền huy động mọi lực lượng tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược
Trang 362.1.3 Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Quảng Bình
Quảng Bình là vùng đất thụ ứng, tiếp biến và lan tỏa văn hóa cùng với quá trình mở nước để xác lập chủ quyền trên dải đất Việt Nam hình chữ S và vùng biển đảo rộng lớn ngày nay Đây là địa bàn giao thoa của văn minh Ấn Độ - Trung Hoa, của nền văn hóa Đông Sơn - Sa Huỳnh, của các nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, một thời biên viễn giữa Đại Việt với Champa, cũng là vùng đất nhiều lần là biên giới chia cắt quốc gia/ vùng miền Để sinh tồn, nhân dân Quảng Bình đã tạo lập cho
mình một “sức sống linh hoạt, nội lực thâm hậu, khả năng chịu đựng, hóa giải, gan
góc, nghị lực, bền bỉ và có biệt tài phát huy năng lực ấy, vượt khỏi không gian sinh tồn nhỏ hẹp vốn có, để trở thành một thành phần quan trọng của sức mạnh quốc gia” [158, tr 87]
Từ sau năm 1069, vùng đất Quảng Bình (gồm hai châu Bố Chính và Địa Lý) trở thành một phần của quốc gia Đại Việt Cùng với quá trình di cư lập làng, nhân dân Quảng Bình tham gia tích cực công cuộc khai phá vùng đất mới, cùng với triều đình giữ yên bờ cõi Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Mông - Nguyên xâm lược năm 1285, nhân dân Quảng Bình đã phối hợp tích cực với quân triều đình chặn đánh quyết liệt, làm chậm bước tiến của đạo quân Toa Đô trên đường từ Chiêm Thành ra Bắc Nửa đầu thế kỉ XV, nhân dân Quảng Bình đã nhất loạt nổi dậy phối hợp với nghĩa quân Lam Sơn do Trần Nguyên Hãn từ Nghệ An kéo vào giải phóng Tân Bình
Trong phong trào Tây Sơn cuối thế kỉ XVIII, nhân dân Quảng Bình hăng hái tham gia đại quân của Quang Trung - Nguyễn Huệ, góp phần làm nên đại thắng Xuân Kỉ Dậu 1789, quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược ra khỏi đất nước
Cuối thế kỉ XIX, trong phong trào Cần Vương, triều đình kháng chiến Hàm
Nghi chọn Quảng Bình làm nơi đứng chân Tại đây, “kẻ có thế, người có tiền, mộ
phu binh lính, đổi nhà làm trường diễn võ, mang cơ nghiệp ra giúp quân lương, bỏ cày cuốc cầm gươm súng” [119, tr 21] Những thủ lĩnh ở địa phương như Nguyễn
Phạm Tuân, Lê Trực, Đoàn Chí Tuân, Mai Lượng, Lê Mô Khởi, Đề Én, Đề Chít, Hoàng Phúc, vốn là những người có uy tín nên khi họ đứng ra mộ quân, tập hợp
Trang 37lực lượng, đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng Chính những đội nghĩa quân khắp nơi trong tỉnh đã kết thành một thế trận bao vây quân Pháp, nhiều phen gây cho chúng những tổn thất lớn Qua 3 năm kháng chiến anh dũng và sôi nổi của nhân dân Quảng Bình dưới ngọn cờ Cần Vương (1885-1888), có thể thấy về thực chất đây là cuộc chiến tranh của nhân dân chống Pháp dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu
yêu nước dưới danh nghĩa “Cần Vương” để tập hợp lực lượng Nguồn gốc sức
mạnh của phong trào ấy chính là của nhân dân, chủ yếu là nông dân Quảng Bình trong cuộc chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ xóm làng, quê hương Triều đình Hàm Nghi đã dựa vào phong trào mạnh mẽ, rộng lớn của nhân dân mà tồn tại và phong trào Cần Vương của nhân dân cả nước nói chung, của nhân dân Minh Hóa, Tuyên Hóa và các địa phương ở Quảng Bình nói riêng chính là gạch nối
để ngọn lửa yêu nước không những không bị gián đoạn mà còn có cơ hội bùng phát
trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn sau [152]
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), nhân dân Quảng Bình sớm theo Đảng làm cách mạng Trong Cách mạng tháng Tám 1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Bình, bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân được biểu hiện dưới hình thức biểu tình chính trị là chủ yếu và quyết định thắng lợi Lực lượng tự vệ vũ trang đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tinh thần đấu tranh của nhân dân, thị uy và làm áp lực mạnh mẽ cho Ủy ban khởi nghĩa tiến hành thuyết phục và bắt buộc quan lại Nam triều trao chính quyền cho nhân dân Tại một số phủ, huyện như Quảng Ninh, Lệ Thủy và Tuyên Hóa, Ủy ban khởi nghĩa đã dùng
đò, phà chuyên chở tự vệ và quần chúng nhân dân về phủ, huyện lị tiến hành khởi nghĩa Hàng trăm quần chúng của phủ Quảng Ninh đã tham gia giành chính quyền ở thị xã Đồng Hới [116, tr 511-512]
Từ cuối tháng 3-1947, khi thực dân Pháp tấn công Quảng Bình, quán triệt
đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” của Đảng, thực hiện khẩu hiệu “mỗi
người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài”, công tác xây dựng làng
chiến đấu được đẩy mạnh khắp các địa phương trong tỉnh Nhân dân huy động các loại tre trồng kín quanh làng, làm cổng làng bằng tre gai, tổ chức tuần tra canh gác,
Trang 38phát hiện và kiểm tra những người lạ mặt vào làng Hệ thống hầm hào, công sự được đào đắp từ xóm này sang xóm khác, kết hợp với hầm chông, bãi mìn theo phương án chiến đấu đánh ngoài làng, đánh trong làng Một số khu vực trống trải được cắm chông cao để đề phòng địch đổ bộ đường không, tiêu biểu đầu tiên ở Quảng Bình trong kháng chiến chống Pháp có thể kể đến như Cự Nẫm (Bố Trạch), Cảnh Dương (Quảng Trạch), Hoàn Lão (Bố Trạch), Hiển Lộc (Quảng Ninh), Hưng Đạo (Lệ Thủy), [102, tr 529]
Với tinh thần “Quảng Bình quật khởi”, làng chiến đấu đã tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, một “thiên la địa võng” đánh địch mọi nơi mọi lúc, tạo cơ sở cho lực lượng vũ trang của tỉnh mở những cuộc tấn công lớn “Các
làng chiến đấu ấy không những chỉ bảo vệ hay che chở cho dân quân, mà còn là lợi khí của dân quân để giết địch ngay tại chỗ” [105, tr 54] Đây là một sáng tạo nổi
bật của chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình, để cùng với quân dân Quảng Trị và
Thừa Thiên Huế làm nên một “Bình Trị Thiên khói lửa”, góp phần đi đến thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Và truyền thống đó càng được nhân lên, phát huy mạnh mẽ khi bước vào cuộc đối đầu với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ trong những năm 1965-1973
2.2 Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quảng Bình
Ngay từ khi thay Pháp ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ nhận thấy miền Bắc là căn cứ địa cách mạng của cả nước, là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam Vì thế, Mỹ thực hiện phá hoại, ngăn chặn miền Bắc chi viện cho cách mạng miền Nam Đối với Quảng Bình, do vị trí chiến lược của mình nên trở thành một trọng điểm đánh phá của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trong đó nổi lên hai hình
thức chủ yếu sau
2.2.1 Phá hoại bằng gián điệp và biệt kích
Thực ra, từ năm 1961, triển khai chiến lược“Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng gián điệp và biệt kích hòng gây ra “cuộc chiến trong
lòng Cộng sản” và thu thập thông tin chuẩn bị “Bắc tiến”, trong đó Quảng Bình là
một trọng điểm
Trang 39Bằng những phương thức khác nhau, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tung người
ra Bắc theo cả đường bộ, đường biển và đường không Do đặc điểm tự nhiên của Quảng Bình phần lớn là rừng núi hiểm trở và có bờ biển dài, địa hình phức tạp nên đối phương lợi dụng để tung gián điệp và biệt kích chủ yếu theo hai tuyến này Theo đường bộ, gián điệp xâm nhập qua biên giới Việt - Lào hoặc qua giới tuyến quân sự tạm thời Phương thức vượt tuyến của chúng hoặc bí mật hoặc công khai trà trộn vào trong số người trốn ra Bắc với nhiều lí do, như trốn quân dịch, đầu hàng, bất mãn, để nắm tin tức, móc nối với các tổ chức phản động cũ được cài lại Ngoài ra, lợi dụng đêm tối và địa hình phức tạp, đối phương nhiều lần dùng máy bay thả biệt kích xuống vùng núi Theo đường biển, chúng thường xâm nhập vào khu vực Đèo Ngang và cảng Gianh và các bãi ngang ven biển, nơi dân cư thưa thớt, khó phát hiện
Hoạt động của gián điệp, biệt kích chủ yếu là điều tra về lực lượng quân đội, tiềm lực và khả năng quốc phòng, các kho tàng quân sự và đường giao thông chiến lược quan trọng; về lực lượng an ninh, dân quân tự vệ, thái độ chính trị của nhân dân đối với Đảng và chính phủ; về mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa với các nước xã hội chủ nghĩa; về các cơ sở kinh tế, phong tục tập quán của địa phương, mẫu tiền của miền Bắc và các loại giấy tờ tùy thân của nhân dân Đồng thời, chúng tìm cách móc nối cơ sở, tăng cường phục kích bắt cóc, ám sát cán bộ,
bộ đội, phá hoại cầu cống, kho tàng, các mục tiêu trọng điểm trên địa bàn, … Trong vòng 3 năm (từ tháng 6-1961 đến tháng 7-1964), Mỹ và chính quyền Sài Gòn tung
ra địa bàn Quảng Bình 10 toán biệt kích, với gần 100 tên
Từ năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, hoạt động biệt kích của chúng có sự thay đổi Hàng loạt toán biệt kích, thám báo và biệt hải được tung
ra nhằm điều tra, chỉ điểm cho máy bay đánh phá, ngăn chặn các tuyến đường chiến lược chi viện cách mạng miền Nam Trên tuyến biên giới Việt - Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng máy bay lên thẳng để tận dụng yếu tố cơ động cao đánh nhanh, rút nhanh Chúng còn tăng cường thả dù thám báo xuống khu vực ngoại biên, sử dụng đất Lào làm bàn đạp để xâm nhập, phát hiện các tuyến đường vận
Trang 40chuyển cũng như các kho tàng, binh trạm, … Để tránh bị phát hiện, số này cải trang, mang trang phục bộ đội và trang bị súng AK.47, … Từ đầu năm 1965 đến cuối năm
1968, chúng đánh xuống khu vực miền núi và ngoại biên Quảng Bình 28 vụ gián điệp, biệt kích và thám báo
Trên tuyến biển, một phương thức hoạt động mới là ngoài pháo kích từ các tàu chiến vào đất liền còn sử dụng tàu biệt kích vào sát bờ và các cửa sông để uy hiếp ngư dân, ngăn chặn các hoạt động vận chuyển và quan sát tình hình bố phòng của
ta Thậm chí, liều lĩnh hơn, đối phương còn tập kích một số địa điểm như ngày 1-1965, pháo kích ở Đông Thành (Đồng Hới) theo thủ đoạn: tiếp cận gần, bắn nhanh, rút nhanh, bắn dồn dập làm cho ta không kịp đối phó [9] Đối phương còn vây bắt nhiều thuyền đánh cá, uy hiếp những người bị bắt, buộc họ phải làm việc cho chúng Mục đích của chúng bên cạnh ngăn chặn tuyến vận tải trên biển của ta còn nhằm thu thập tin tức chuẩn bị cho những hoạt động tập kích ở quy mô lớn hơn Năm 1965, địch bắt 5 vụ, gồm 6 thuyền với 34 người Trong số 4 thuyền được thả
23-ra, ta phát hiện có 7 người được đối phương cài cắm lại để điều tra tình hình và gây dựng cơ sở
Bước sang năm 1967-1968, địch tiếp tục tung các toán gián điệp, biệt kích xuống nhiều địa bàn nội, ngoại biên giới phía Tây Về đường biển, ngày 14-4-
1967 và 8-1967, biệt kích xâm nhập Thanh Trạch (Bố Trạch), ngày 6-6-1967 lên Quảng Phúc và 17-7-1967 lên Quảng Đông (Quảng Trạch), 80 lần vây ngư dân, bắt 267 người đưa vào Nam khai thác (trong đó có thả ra 187 người) Về đường không, đối phương tung biệt kích bằng trực thăng hoặc nhảy dù xuống đường 12
và 20 nhằm theo dõi sự vận chuyển, phát hiện kho tàng để chỉ điểm cho máy bay đánh phá và xây dựng cơ sở gián điệp Ngày 30-10-1967, địch thả 10 tên xuống Thanh Lạng [59]
Ngoài ra, việc cài cắm gián điệp vẫn được đối phương ráo riết thực hiện dưới nhiều hình thức như lợi dụng trà trộn vào trong số những người dân ở miền Nam vượt tuyến ra Bắc Một thủ đoạn rất nham hiểm của đối phương nữa là dụ dỗ, ép buộc những người bị tàu biệt kích bắt cung cấp tin tức ở địa phương hoặc làm việc