1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1900 – 1930

16 17 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Học Giai Đoạn 1900 – 1930
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 328,28 KB
File đính kèm VH 1900_1930.rar (52 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn 1900 1930 là một giai đoạn có tính chất giao thời. Nếu từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIX văn học Việt Nam phát triển theo một hướng, xét về quan niệm văn học, tư tưởng mỹ học, hệ thống thể loại là cùng loại với văn học một số nước thuộc vùng Đông Á, chịu ảnh hưởng truyền thống văn học Trung Quốc, thì từ năm 1930 về sau văn học Việt Nam đã lại phát triển theo một hướng khác, cùng loại với văn học thế giới cận hiện đại, về nguồn gốc thuộc truyền thống văn học châu Âu. Trong quãng từ 1900 đến 1930 văn học Việt Nam chuyển từ loại hình này sang loại hình khác. Với sự tiếp xúc Âu Á, với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều thành phố tư bản chủ nghĩa xuất hiện làm đổi thay cơ sở kinh tế và kết cấu xã hội của chế độ phong kiến phương Đông, tạo nên một cuộc sống khác trước, làm hình thành một công chúng văn học có thị hiếu khác trước. Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc cũng chuyển sang có nội dung mới, có hình thức tổ chức khác trước. Trước tình hình đó, văn học đã thay đổi khá cơ bản, không những phản ánh phong trào đấu tranh cứu nước của dân tộc mà cả xu hướng duy tâm hiện đại hóa đất nước của thời đại. Văn học đầu thế kỷ XX đã ra đời cách khác, truyền bá theo cách khác; tác giả, tác phẩm, công chúng văn học đều đã thuộc loại hình khác.

Trang 1

VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1900 – 1930

1 Lực lượng sáng tác

Hiện diện song song hai loại tác giả cũ và mới?

- Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến chuyên chế tập quyền cao độ Chế độ phong kiến dùng nho giáo để ràng buộc con người vào

tư tưởng mệnh trời, luân thường đạo lí, lấy bổn phận tu thân , tề gia, trị quốc, bình thiên hạ làm kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử.

- Ðến khi có sự hiện diện của thực dân Pháp, chúng vẫn muốn duy trì tư tưởng phong kiến lạc hậu nhằm kìm hãm sự phát triển của ta, nhằm tạo thuận lợi cho việc cai trị của chúng

- Vào đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản đã ra đời, tư tưởng tư sản cũng xuất hiện Nó được đưa từ nước ngoài vào, thông qua các sĩ phu tiến bộ

 Vì vậy nền văn học giai đoạn 1900-1930 tồn tại song song hai loại tác giả: Nhà nho và Trí thức tân học

- Tuy nhiên, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, chịu sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, của văn học phương Tây, lực lượng nhà nho không tránh khỏi sự phân hóa:

+ Ðến đầu thế kỉ XX , giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúi đầu làm tay sai cho giặc Ý thức phong kiến cũng ngày càng thể hiện tính chất lạc hậu,

cổ hủ Với cách nhìn của các nhà nho tiến bộ thời này họ đã chủ trương chốïng

lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm sự phát triển của trí tuệ Nhà nho tiến bộ này vì yêu nước thương dân, không cam tâm làm nô lệ

đã tiếp tục đứng lên chống Pháp (Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng ) họ được tiếp nhận và phát triển

luồng tư tưởng cách mạng từ châu Âu đưa đến Họ vừa họat động chính trị vừa sáng tác văn chương Ý thức hệ phong kiến không còn chi phối tư tưởng của họ một cách nặng nề như trước nữa Họ không còn muốn nói đến đạo lý thánh hiền và cũng chẳng hề gò câu đẽo chữ để tạo sự bóng bẩy cho bài thơ, bài văn Họ chỉ hướng đến một mục đích duy nhất : giải phóng đất nước, xây dựng quốc gia hùng cường

Tuy nhiên, ở những buổi đầu khi phong trào cách mạng lên cao, thì các nhà nho có nhu cầu đưa những vấn đề mới của xã hội vào văn học nên họ sáng tác say sưa Ðến giai đoạn thoái trào của phong trào cách mạng, sau nhiều lần thất bại, công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước không thành công, nhà nho cảm thấy buồn

Trang 2

chán, bi quan Họ lại trở về với bản chất của nhà nho trước kia: sống hướng nội, thích bộc bạch tâm sự, hoài cổ, hay làm thơ thuật hoài Nhưng họ cũng khó có thể

quên đời được, lại ray rức, trằn trọc, lương tâm bị dằn xé như trường hợp của Nguyễn Khuyến:

"Cờ đương giở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng "

Nói chung, lực lượng nhà nho tiến bộ này tuy đã được tắm gội trong các phong

trào cách mạng tư sản, được hít thở không khí hiện đại từ các sách tân thư, tân văn nhưng cái cốt cách nhà nho của họ không thể nào biến dạng được

+ Bên cạnh những nhà nho cấp tiến ấy, còn một số nhà nho bất đắc chí tìm đến

cuộc sống ẩn dật " vẫn làm thơ phú, vẫn tự hào về chữ nghĩa đạo lý thánh hiền"

+ Nhà nho bị thành thị hóa: môt số nhà nho rời nông thôn ra thành phố sinh sống bằng nghề viết văn, dần dần bị thành thị hóa Họ dùng những thể thức văn học cũ

để gởi gắm những cảm xúc cá nhân, những cảnh vật và không khí thành thị

Ðầu thế kỉ XX, nhà nho không còn là lực lượng sáng tác chính Bên cạnh họ đã có xuất hiện một lực lượng sáng tác mới Ðó là lực lượng trí thức tân học Ðây là những người vừa mới được đào tạo từ các trường Pháp - Việt Phần lớn trong số

họ bắt đầu từ công việc làm báo, có những nhà cựu học viết bằng chữ Hán Dần dần, theo con đường dịch thuật, phỏng tác họ chuyển từ viết báo sang viết truyện ngắn, kịch, nhanh chóng đáp ứng được đòi hỏi của công chúng thành thị Họ khác với các nhà nho cấp tiến là mạnh dạn đến với cái mới hơn Tuy nhiên ở họ không tránh khỏi những dằn dặt, trăn trở khi chọn cho mình một hướng đi để phù hợp với

sự phát triển của thời đại

2. Quan niệm sáng tác

Văn học trung đại: chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo về "Văn dĩ tải đạo", "Thi ngôn chí", đến giai đoạn này người sáng tác không theo duy nhất một quan niệm như trước nữa Quan niệm đó vẫn tồn tại trong giai đoạn 1900 – 1930:

Phan Bội Châu, một người có nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn vướng víu với

quan niệm cổ hủ này, khi cho rằng sáng tác văn chương là để "lập công" "lập chí",

"lập ngôn" Tản Ðà, người đã mạnh dạn cách tân phương pháp sáng tác cũ, tiến

hành một cuộc cách mạng trong nghệ thuật thơ ca nhưng vẫn có tư tưởng phân biệt

loại văn "vị đời" và "văn chơi".

- Vào giai đoạn này đã xuất hiệnquan niệm sáng tác mới:

+ Quan niệm về văn học - phục vụ chính trị : nhằm lấy văn chương tuyên truyền

vận động cứu nước  nhà văn phải quan tâm đến đối tượng là toàn thể nhân dân (quần chúng lao động)  sáng tác rộng rãi bằng nhiều hình thức

Trang 3

+ Quan niệm về thể loại cũng khác trước, Nho sĩ ngày trước chuộng thơ, gởi gắm

tâm hồn của mình, bộc bạch tâm sự chí khí bằng thơ Lớp nghệ sĩ mới hôm nay lại say mê văn xuôi, hướng về văn xuôi nhiều hơn Họ nhận thấy văn xuôi có nhiều khả năng phản ánh chân thật, cụ thể hiện thực Mặc dù vấn đề phản ánh hiện thực khách quan trong văn học ở giai đoạn này còn bị chi phối bởi quan niệm đạo đức nhưng vẫn thể hiện được sự nâng cao vai trò nhận thức của văn học đối với cuộc sống ở họ so với trước

+ Quan niệm cuộc sống và con người trong Văn học: văn học trung đại: sùng cổ

nhân, trọng quá khứ, luôn đề cập đến nhân vật lý tưởng: trang tài tử giai nhân hoặc anh hùng cái thế Văn học mới: con người rất bình thường, đa dạng, đủ mọi thành phần trong xã hội  vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của văn học phong kiến Chính thái độ tư tưởng thẩm mĩ mới của các nhà văn đối với cuộc sống và con người trong giai đoạn này đã dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong giai đoạn sau

+ Quan niệm sáng tác văn chương là một nghề kiếm sống: Bấy giờ vì muốn đáp

ứng nhu cầu thị hiếu và thẩm mỹ của công chúng thành thị nhà văn sáng tạo tác phẩm như một kế sinh nhai Ðộc giả trước đây đi tìm tác phẩm, bây giờ tác phẩm phải chạy theo người tiêu thụ Nhà văn thành một nghề, văn học trở thành hàng

hoá Người sáng tác đã xa dần quan niệm "trước thư lập ngôn" sáng tác để thể hiện "tâm, chí, đạo" dùng tác phẩm văn chương để di dưỡng tinh thần và giáo dục

con cháu

 Nhìn chung quan niệm sáng tác giai đoạn 1900-1930 đã có biểu hiện của sự biến đổi, vừa như muốn thoát ra khỏi những quy ước cũ nhưng hãy còn vương vấn với nguyên tắc đã quen thuộc, vừa mong mỏi tìm kiếm một định hướng mới nhưng định hướng ấy cứ chập chờn trước mắt, chưa thể xác định rõ ràng

Có thể gọi đây là sự vô thức trong bảo thủ, sự ý thức trong đổi mới của người

sáng tác

3. Phương pháp sáng tác

- Văn chương thời trung đại: mang đặc trưng chung, bởi nó được tạo nên bằng một

phương pháp sáng tác chung, thể hiện qua một số yếu tố: ngôn ngữ, thể loại, kết cấu, nhân vật

- Ðầu thế kỉ XX, hoàn cảnh khách quan và nhân tố chủ quan đã đẩy người sáng tác đến sự lựa chọn khá gay go và phức tạp: Bám lấy phương pháp sáng tác cũ hay

đi tìm phương pháp sáng tác mới. Tình hình đó đã tạo ra tình trạng phân hóa không thể tránh khỏi trong phương pháp sáng tác:

Trang 4

+ Một số nhà nho – lớp người này tập trung thể hiện những nội dung mới cùng

với cách tân nghệ thuật sáng tác cũ của nhà nho - vẫn theo phương pháp sáng tác cũ nhưng có những đổi mới đáng kể Nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động chính trị, vận động đấu tranh

Nội dung mới – hình thúc cũ???

Phan Bội Châu là một tác gia tiêu biểu cho dòng văn học này Đổi mới nội

dung, cách tân nghệ thuật văn chương cũ, thế nhưng những đổi mới đó chưa đáp ứng được yêu cầu mới của thời đại

Nội dung mới mẻ: Tư tưởng yêu nước mới, chủ nghĩa anh hùng tiến

bộ Quan niệm yêu nước không còn siêu hình như xưa nữa, tinh thần yêu nước trong thơ văn PBC rất cụ thể, gần gũi - Tình cảm của con người trước cái đẹp của quê hương đất nước, lòng căm thù giặc vạch trần tội ác của kẻ thù, sẵn sàng chống giặc cứu nước

"Ðúc gan sắt để dời non lấp bể Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ"

(Bài ca chúc tết thanh niên) tình yêu nước của Phan Bội Châu còn được thể hiện qua nỗi xót xa, sự thông cảm đối với người dân nghèo khổ Theo ông, Yêu nước không còn gắn với trung quân nữa, mà yêu nước phải gắn liền với hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển theo con đường cách mạng dân chủ tư sản, bởi vì đất nước này không phải là của vua, đất nước là của dân

Anh hùng là người bình thường nhưng làm được việc phi thường Với ông trong quan niệm về người anh hùng không có sự phân biệt nam nữ, đẳng cấp, tôn giáo, giàu nghèo Và có anh hùng hữu danh thì cũng có anh hùng

vô danh Có anh hùng thành công thì cũng có anh hùng thất bại

Nghệ thuật: Bởi vì ông xuất thân từ một nhà nho, thông thạo lối văn cử

tử, là người có vốn kiến thức về văn học dân gian Điều đó cho thấy ảnh hưởng của văn học cũ đối với ông rất sâu đậm cho nên nghệ thuật sáng tác của ông chỉ dừng lại ở sự cách tân nghệ thuật sáng tác cũ mặc dù ông luôn

cố gắng tìm mọi cách để tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với quần chúng bằng nhiều cách như: Thể loại: Ông đã vận dụng hầu hết các thể loại văn học

của thời kỳ trung đại và hiện đại như: văn chương cử tử - phú, đường luật, câu đối; hình thức cổ điển như ký, minh, cổ phong, từ, luận; các hình thức dân tộc như lục bát, song thất; các hình thức dân gian như vè, hát dặm, ca dao, chèo; các hình thức mới như nghị luận, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, báo chí, hồi ký.v.v nhưng vì chưa hiểu đầy đủ về nó nên ông không thể tiến xa hơn nữa Ngôn ngữ : tuy còn chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ

trong văn học trung đại Nhưng tác giả đã cố gắng tạo cho nó có tính chất giản dị, dễ hiểu Tất cả không ngoài mục đích nhằm đạt hiệu quả tuyên truyền Văn chữ Hán cũng khác với văn chữ Hán thời trung đại Nó không

tránh khỏi một số nề nếp của văn cử tử nhưng nó đã nhẹ nhàng hơn, rành

Trang 5

mạch hơn, thông tục hoá hơn, chú trọng nội dung hơn hình thức Kết cấu

tác phẩm tuy đã cố gắng cách tân nhưng lối sáng tác cũ còn ảnh hưởng không nhỏ

Phan Bội Châu là sự từ giã cái cũ, tìm đường đến cái mới Nhưng chưa

vượt qua được truyền thống nghệ thuật của phương Đông Lí tưởng thẩm

mĩ và ngôn ngữ văn học rất dân tộc, rất hợp với công chúng đương thời nhưng cũng sớm trở thành lạc hậu trước sự ra đời và phát triển của nền

văn học mới  Thơ văn ông còn ở tình trạng“bình cũ rượu mới”.

Tản Đà - “Hoa sen nở trước nhất đầm”

Thể thơ quen thuộc: thất ngôn bát cú Đường luật

Chất liệu cũ: hình ảnh (hoa sen)

Ngôn ngữ, lối vào đề (Trong đầm gì lại đẹp hơn sen): lấy từ văn học dân

gian, thơ trung đại và bằng cảm hứng của một nhà Nho sống trong xã hội

trên con đường tư sản hóa Hoa sen nở trước nhất đầm không còn là hình

ảnh tượng trưng cho người quân tử cao khiết, đạo mạo, mẫu mực nữa Mà thật táo bạo, khi nó được tác giả nhìn như một cô gái mạnh mẽ, dạn dĩ,

đầy tự tin và kiêu hãnh trước cuộc đời phức tạp, nhiều cạm bẫy Thân gái

lạ đứng giữa mặt nước chân trời mà vẫn không chút bối rối, chẳng hề lo

sợ, khác hẳn những người con gái trong văn chương truyền thống Hơn thế, người con gái ở đây còn như muốn thách thức, tỏ ra ý thức rõ về mình Mình là đối tượng của sự ghen ghét đố kị Một kiểu khẳng định cá

nhân đầy chất ngông

Lại còn e nỗi chị em ghen

Đã trót hở hang khôn khép lại

 Thổi vào thơ Việt Nam những tình cảm, tư tưởng và suy nghĩ mới

+ Một số trí thức tân học thì chọn con đường học theo phương Tây để sáng tác.

Họ bắt đầu từ viết báo hay dịch thuật, qua phỏng tác và cuối cùng là sáng tác

Nội dung cũ – hình thức mới: đến với thể loại văn học hiện đại mới:

tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch Họ đã từ bỏ văn chương chữ Hán, tránh dùng những điển cố, điển tích, đưa lời ăn tiếng nói của nhân dân vào trong sáng tác văn học, cố gắng vượt khỏi những ước lệ khắt khe khi xây dựng thế giới nhân vật Có thể nói rằng, về mặt nghệ thuật đã có những đổi mới đáng

kể Điều muốn nói ở đây là trong lớp vỏ có phần mới mẻ ấy, vẫn là nội dung cũ kĩ, thậm chí bị xem là lạc hậu lỗi thời, vẫn tiếp tục đề cập đến vấn

đề đạo lí, ca ngợi trung hiếu, tiết nghĩa hay viết về những con người sống theo chuẩn mực đạo đức phong kiến

Trang 6

Nội dung và hình thức đều có cả cũ và mới.

Nội dung: “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách là một tác phẩm tiêu biểu

mang nhiều yếu tố pha tạp hai giá trị truyền thống và hiện đại Hoàng Ngọc

Phách đã để cho hai nhân vật Tố Tâm và Đạm Thuỷ giằng co giữa hai con

đường: chạy theo tình yêu tự do hay chấp nhận lễ giáo phong kiến Đạm Thuỷ khuyên Tố Tâm đi lấy chồng để nàng được vẹn chữ hiếu và chàng được giữ chữ tín nhưng lòng thì không muốn rời xa Tố Tâm Còn Tố Tâm

thường khẳng định về tình yêu của mình: “Em đã yêu anh thì không thể yêu

ai được nữa, mà cũng không muốn yêu ai Đã không yêu thì không lấy”

Nhưng rồi nàng cũng phải đem tình yêu mà đặt trước chữ hiếu để cân nhắc,

lựa chọn Họ từng nghĩ đến chuyện đem nhau đi trốn ở một nơi “thâm sơn cùng cốc, hay góc bể chân trời nào không ai biết để cùng nhau hưởng cuộc

ái ân trăm năm” Thế mà cuối cùng cũng chính họ để cho “tình gia quyến”

buộc chặt Tác phẩm “Tố Tâm” khép lại trong kết thúc bi thảm Tố Tâm chết, Đạm Thuỷ sống trong đau khổ, bị dằn vặt vì nỗi nhớ thương ngườixưa Với “Tố Tâm”, người tuân thủ đạo đức truyền thống đã không

có hạnh phúc trong chế độ đại gia đình phong kiến, mà người muốn sống hết mình cho tình yêu tự do cũng không thể đón nhận hạnh phúc trong tình yêu Cả đôi đường đều không thể trọn vẹn, con người bị lâm vào thế bế tắc Nguyên nhân bắt nguồn từ trạng thái lưỡng phân, giao thời của xã hội

Nghệ thuật phương pháp lắp ghép nghệ thuật viết văn của nhà nho (văn

biền ngẫu, văn xuôi xen kẽ với văn vần, ngôn ngữ bóng bẩy ) với nghệ thuật sáng tác của người nghệ sĩ hiện đại (văn tiểu thuyết, kết cấu mới, kết thúc không có hậu, khai thác yếu tố đời tư của nhân vật) Chính sự lắp ghép

và pha tạp các yếu tố cũ, mới đã làm cho “Tố Tâm” vừa thể hiện chất hiện

đại nhưng vẫn mang dáng dấp truyền thống

4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

- Đa dạng, phong phú, gồm nhiều hạng người trong xã hội Tuy vẫn chú ý miêu tả ngoại hình, hành động và ngôn ngữ của nhân vật, sử dụng các yếu tố thiên nhiên

để khắc họa chân dung nhân vật chính diện như các nhà Nho trước kia Nhưng nhân vật trong văn học mới đã vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của văn học phong kiến các nhân vật không còn mang tính chất ước lệ, mà đã có những nét riêng, thể hiện cho từng loại người khác nhau, chẳng hạn:

Vd: nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh mỗi vai là tiêu biểu cho một hạng

người: tốt hoặc xấu, thiện hoặc ác Người tốt thì tốt từ đầu đến cuối, người xấu cũng thế Hay ít ra thì đến hồi kết mới biết ăn năn Ðiều này khiến cho nhân vật không có vẻ thực

Trang 7

- Bên cạnh đó Phân tích tâm lý nhân vật được chú trọng nất là miêu tả nội tâm nhân

vật, quan tâm nhiều hơn đến vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật (Tố Tâm- Hoàng Ngọc

Phách), xây dựng nhân vật gần gũi với cuộc sống thực bằng các chi tiết cụ thể, đời

thường, vốn có của con người: ”Kim Sa tác chừng 15-16 tuổi, áo xăn ngang, quần

vo tới đầu gối, mặt tròn da trắng chơn mày vòng nguyệt, mình mẩy ướt loi ngoi, sau lưng vắt nọc cấy, đầu đội nón lá buôn, tay túm một khăn gạo, xơn xơn

đi vào…”(Mạng nhà nghèo - Nguyễn Bửu Mọc), nhân vật chính diện thường có

tâm hồn cao thượng, đều thể hiện tính cách của con người theo quan niệm truyền

thống nhưng lại có hành động của con người hiện đại: làm báo, mở trường tư thục,

mở bệnh xá, kinh doanh, hành nghề kĩ thuật Có nhân vật từng đi Tây, lấy bằng kĩ

sư Pháp nhưng lại chuộng lối sống của ông đồ Nho, thích ngắm trăng, yêu vẻ đẹp

thanh tịnh của thiên nhiên, vui thú điền viên (Thuần –Đoạn tình, Hải Đường – Đóa hoa tàn).

5. Ngôn ngữ

- Bên cạnh văn học chữ Hán, Nôm văn học giai đoạn này còn xuất hiện thêm chữ quốc ngữ

- Hạn chế dùng từ Hán Việt Từ ngoại lai được sử dụng phổ biến Tiêu biểu nhất là văn xuôi Nam bộ,

- Lối viết gò câu, chọn chữ, cân nhắc từng lời, tạo nên sự đăng đối nhịp nhàng, dù đã bị

phê phán nhưng tồn tại trong: thơ Tản Đà, trong văn Hoàng Ngọc Phách, Đặng Trần

Phất, Phạm Duy Tốn hay Nguyễn Tử Siêu… làm cho văn học giai đoạn này còn mang vẻ

trang trọng, đài các không khác gì văn chương thời trung đại

- Đi đôi với hình thức trên lại có cách diễn đạt tình ý bằng ngôn từ giản dị, gần gũi đến quê

mùa, đôi khi có phần thông tục hóa Đó là cách viết có thể tìm thấy trong sáng tác của

nhiều nhà văn Nam bộ như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Thiên Trung, Sơn

Vương, khiến cho tác phẩm đến với độc giả bình dân dễ dàng, phá vỡ tính mực thước, cầu

kì kiểu văn chương nhà Nho nhưng chưa vươn tới đỉnh cao của tính thẩm mĩ về ngôn từ

- Các nhà văn thời này thường pha trộn hai lối viết

Vd: "Bài hát khuyên nhà nho" - (Khuyết danh) là một minh chứng cụ thể cho

trường hợp bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến trong giai đoạn này

"Chữ duy tân gác để ngoài tai

Những tấp tễnh đua tài nô lệ

Ðãn ngôn vũ trụ giai ngô sự

Khẳng hứa sơn hà thuộc bỉ cường

Khuyên ai mà có chí cải lương

Trang 8

Nên phải biết tự cường mới được"

6. Công chúng :

- Nếu lưc lượng sáng tác giai đoạn này tồn tại song song hai loại tác giả cũ và mới thì công chúng tiếp nhận cũng tồn tại song song lớp công chúng cũ và lớp công chúng mới

- Văn học trung đại, lực lượng sáng tác nhà nho cũng chính là lực lượng công chúng của nền văn học đó Trong nền văn học giai đoạn mới Lớp công chúng cũ này vẫn còn tồn tại và vẫn trung thành với nền văn chương cũ

- Tuy nhiên, đứng trước những đổi thay của thời cuộc, lớp công chúng mới bắt đầu

xuất hiện Bao gồm nhiều loại người khác nhau, đang sống trong các đô thị thời

đó, có các nhà nho từ nông thôn ra thành thị, những người có học vấn Tây học và

cả những người không học vấn Lớp công chúng mới, chịu ảnh hưởng của văn hóa

phương Tây, của cuộc sống mới, có nhu cầu thị hiếu mới, đòi hỏi văn học phải có

sự đổi mới; Từ đó đặt ra cho người sáng tác nhiệm vụ phải thay đổi quan niệm sáng tác, phương pháp sáng tác nhằm tạo cho công chúng những món ăn tinh thần thú vị hơn, phù hợp với thời đại mới

- Tuy nhiên có một thực trạng như thế này, người tiếp nhận tuy mong chờ cái mới nhưng vẫn đánh giá cao các giá trị cũ từng có trong sáng tác của nhà Nho Trong

phong trào phê bình Truyện Kiều, cả hai phái cựu học và tân học đều lấy tiêu chí

đạo đức làm cơ sở đánh giá kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Quan điểm nhà Nho vẫn còn chi phối việc tiếp nhận văn học thời này khá mạnh Một thực tế khác nữa, khi cái mới xuất hiện, dù đó là niềm khát khao, sự mong đợi bấy lâu nhưng

con người lại rất dè dặt, đôi khi còn phũ phàng với nó Khi Tố Tâm của Hoàng

Ngọc Phách ra đời, công khai bộc lộ cái tôi muốn sống cho bản ngã, người đọc tuy

có sự đồng cảm, đồng điệu với tác phẩm nhưng lại không dám tỏ thái độ đồng tình

với nó Giấc mộng con của Tản Đà khi được công bố trên văn đàn đã lập tức nhận

ngay lời dè bĩu, phê phán nặng nề của Phạm Quỳnh Vì sao? Vì Tản Đà đã ngang nhiên sống với cái tôi, công khai bày tỏ nỗi lòng, đem những điều thầm kín giãi bày cùng tất cả

- ý thức tiếp nhận của công chúng về giá trị nghệ thuật của tác phẩm đã được quan tâm

VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1900 – 1930

Trang 9

7 Lực lượng sáng tác

Hiện diện song song hai loại tác giả cũ và mới?

- Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến chuyên chế tập quyền cao độ Chế độ phong kiến dùng nho giáo để ràng buộc con người vào

tư tưởng mệnh trời, luân thường đạo lí, lấy bổn phận tu thân , tề gia, trị quốc, bình thiên hạ làm kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử.

- Ðến khi có sự hiện diện của thực dân Pháp, chúng vẫn muốn duy trì tư tưởng phong kiến lạc hậu nhằm kìm hãm sự phát triển của ta, nhằm tạo thuận lợi cho việc cai trị của chúng

- Vào đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản đã ra đời, tư tưởng tư sản cũng xuất hiện Nó được đưa từ nước ngoài vào, thông qua các sĩ phu tiến bộ

 Vì vậy nền văn học giai đoạn 1900-1930 tồn tại song song hai loại tác giả: Nhà nho và Trí thức tân học

- Tuy nhiên, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, chịu sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, của văn học phương Tây, lực lượng nhà nho không tránh khỏi sự phân hóa:

+ Ðến đầu thế kỉ XX , giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúi đầu làm tay sai cho giặc Ý thức phong kiến cũng ngày càng thể hiện tính chất lạc hậu,

cổ hủ Với cách nhìn của các nhà nho tiến bộ thời này họ đã chủ trương chốïng

lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm sự phát triển của trí tuệ Nhà nho tiến bộ này vì yêu nước thương dân, không cam tâm làm nô lệ

đã tiếp tục đứng lên chống Pháp (Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng ) họ được tiếp nhận và phát triển

luồng tư tưởng cách mạng từ châu Âu đưa đến Họ vừa họat động chính trị vừa sáng tác văn chương Ý thức hệ phong kiến không còn chi phối tư tưởng của họ một cách nặng nề như trước nữa Họ không còn muốn nói đến đạo lý thánh hiền và cũng chẳng hề gò câu đẽo chữ để tạo sự bóng bẩy cho bài thơ, bài văn Họ chỉ hướng đến một mục đích duy nhất : giải phóng đất nước, xây dựng quốc gia hùng cường

Tuy nhiên, ở những buổi đầu khi phong trào cách mạng lên cao, thì các nhà nho có nhu cầu đưa những vấn đề mới của xã hội vào văn học nên họ sáng tác say sưa Ðến giai đoạn thoái trào của phong trào cách mạng, sau nhiều lần thất bại, công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước không thành công, nhà nho cảm thấy buồn

chán, bi quan Họ lại trở về với bản chất của nhà nho trước kia: sống hướng nội, thích bộc bạch tâm sự, hoài cổ, hay làm thơ thuật hoài Nhưng họ cũng khó có thể

quên đời được, lại ray rức, trằn trọc, lương tâm bị dằn xé như trường hợp của Nguyễn Khuyến:

Trang 10

"Cờ đương giở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng "

Nói chung, lực lượng nhà nho tiến bộ này tuy đã được tắm gội trong các phong

trào cách mạng tư sản, được hít thở không khí hiện đại từ các sách tân thư, tân văn nhưng cái cốt cách nhà nho của họ không thể nào biến dạng được

+ Bên cạnh những nhà nho cấp tiến ấy, còn một số nhà nho bất đắc chí tìm đến

cuộc sống ẩn dật " vẫn làm thơ phú, vẫn tự hào về chữ nghĩa đạo lý thánh hiền"

+ Nhà nho bị thành thị hóa: môt số nhà nho rời nông thôn ra thành phố sinh sống bằng nghề viết văn, dần dần bị thành thị hóa Họ dùng những thể thức văn học cũ

để gởi gắm những cảm xúc cá nhân, những cảnh vật và không khí thành thị

Ðầu thế kỉ XX, nhà nho không còn là lực lượng sáng tác chính Bên cạnh họ đã có xuất hiện một lực lượng sáng tác mới Ðó là lực lượng trí thức tân học Ðây là những người vừa mới được đào tạo từ các trường Pháp - Việt Phần lớn trong số

họ bắt đầu từ công việc làm báo, có những nhà cựu học viết bằng chữ Hán Dần dần, theo con đường dịch thuật, phỏng tác họ chuyển từ viết báo sang viết truyện ngắn, kịch, nhanh chóng đáp ứng được đòi hỏi của công chúng thành thị Họ khác với các nhà nho cấp tiến là mạnh dạn đến với cái mới hơn Tuy nhiên ở họ không tránh khỏi những dằn dặt, trăn trở khi chọn cho mình một hướng đi để phù hợp với

sự phát triển của thời đại

8. Quan niệm sáng tác

Văn học trung đại: chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo về "Văn dĩ tải đạo", "Thi ngôn chí", đến giai đoạn này người sáng tác không theo duy nhất một quan niệm như trước nữa Quan niệm đó vẫn tồn tại trong giai đoạn 1900 – 1930:

Phan Bội Châu, một người có nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn vướng víu với

quan niệm cổ hủ này, khi cho rằng sáng tác văn chương là để "lập công" "lập chí",

"lập ngôn" Tản Ðà, người đã mạnh dạn cách tân phương pháp sáng tác cũ, tiến

hành một cuộc cách mạng trong nghệ thuật thơ ca nhưng vẫn có tư tưởng phân biệt

loại văn "vị đời" và "văn chơi".

- Vào giai đoạn này đã xuất hiệnquan niệm sáng tác mới:

+ Quan niệm về văn học - phục vụ chính trị : nhằm lấy văn chương tuyên truyền

vận động cứu nước  nhà văn phải quan tâm đến đối tượng là toàn thể nhân dân (quần chúng lao động)  sáng tác rộng rãi bằng nhiều hình thức

+ Quan niệm về thể loại cũng khác trước, Nho sĩ ngày trước chuộng thơ, gởi gắm

tâm hồn của mình, bộc bạch tâm sự chí khí bằng thơ Lớp nghệ sĩ mới hôm nay lại say mê văn xuôi, hướng về văn xuôi nhiều hơn Họ nhận thấy văn xuôi có nhiều khả năng phản ánh chân thật, cụ thể hiện thực Mặc dù vấn đề phản ánh hiện thực

Ngày đăng: 14/06/2023, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w