1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng hợp tài liệu ôn thi văn học giai đoạn 1900 1945

37 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp tài liệu ôn thi văn học Giai đoạn 1900 1945 Văn chương yêu nước do nhà Nho chí sĩ sáng tác trong ba thập niên đầu thế kỷ XX Khái quát – nhận diện giá trị văn học sử 1 1 Nhận diện văn chương y.

Trang 1

Tổng hợp tài liệu ôn thi văn học Giai đoạn 1900 - 1945

Văn chương yêu nước do nhà Nho chí sĩ sáng tác trong ba thập niên đầu thế kỷ XX.

Khái quát – nhận diện - giá trị văn học sử

1.1 Nhận diện văn chương yêu ngước do nhà cho chí sĩ sáng tác

Có thể nhận diện bản chất những sáng tác thuộc bộ phận văn học này thông qua biểu đồnhư sau

Một số phương diện cần lưu ý qua biểu đồ nói trên :

- Những yếu tố quyết định đối với sự thay đổi của văn hoá và văn học Việt Nam trongnhững năm đầu thế kỷ XX là sự thay đổi của tình hình chính trị ở Việt Nam, quá trình

mở cửa với thế giới đem đến cho trí thức những hình mẫu mới của sự nghiệp cứu nước( Trung Quốc và Nhật Bản ) và đặc biệt sự bế tắc của những phương thức ứng xử truyềnthống ( mà Nguyễn Thượng Hiền và Phan Bội Châu là những hình mẫu điển hình ).Chính những sự thay đổi đó đã góp tác động đến những trí thức Nho học trẻ, khiến họnhận thức một cách rõ rệt việc phải tìm một con đường cứu nước khác ( Duy Tân )

Duy tân

Văn chương

Trang 2

- Chủ thể của bộ phận văn học đang được tìm hiểu là những Nhà Nho – những chí sĩ yêunước Nguồn gốc xuất thân, đặc biệt trên bình diện học vấn có tác động rất lớn đến sựnghiệp sáng tác của họ.

- Qua sơ đồ trên, có thể thấy rõ đối với những nhà Nho yêu nước này, văn chương khôngphải là một mục đích tự thân mà chỉ là một công cụ phục vụ cho sự nghiệp chính trị.Chính vì vậy, biên độ đổi mới văn chương bị quy định bởi sự nghiệp hoạt động chính trịcủa các tác giả

1.2 Diện mạo văn học qua các giai đoạn phát triển

- Là một nỗ lực cách tân của văn học truyền thống để thích ứng với hoàn cảnh lịch sửmới, đáp ứng những yêu cầu mới của văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc trong thế

kỷ XX Đó là những nỗ lực thất bại nhưng đặt tiền đề cho sự phát triển của văn học ViệtNam trong những giai đoạn kế tiếp

- Không có bất cứ tác giả nào thuộc dòng văn học này coi sáng tạo văn học là mục đích

tự thân của cả cuộc đời Những đổi mới của dòng văn học này sở dĩ có được là do nhữngyêu cầu mới của phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Từ đó dẫn đến tìnhtrạng : chừng nào văn học còn gắn với những hoạt động chính trị, yêu nước, chững đó,những nỗ lực cách tân văn học còn diễn ra một cách mãnh liệt những chừng nào vănchương bị cách ly khỏi phong trào yêu nước đo thì chừng đó sáng tác của các nhà nho chí

sĩ lại vận động trở vè với những khuôn mẫu sáng tạo truyền thống

- Ba giai đoạn phát triển chính :

Từ đầu thế kỷ đến 1905

Từ 1905 đến 1908

Từ 1908 đến 1925

1.2.1 Giai đoạn khởi đầu từ đầu thế kỷ đến 1905

- Cần phải nhấn mạnh là những mầm mống của văn chương nhà nho kiểu mới đã đượcnhen nhóm trong nền văn hoá Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, trong những điều trần củaNguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, những trí thức nho học nhưng bước đầu đã bắtđầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây

Trang 3

- Trước năm 1905, xuất hiện trong đời sống văn học những sự kiện báo hiệu trực tiếp chomột trào lưu văn học mới : Phú Lương Ngọc danh sơn, thơ Chí thành thông thánh, Lưucầu huyết lệ tâm thư, Bài Lưu biệt khi xuất dương, hành vi đốt thi văn tập của NguyễnThượng Hiền.

- Những tác phẩm nói trên đã báo hiệu những chủ đề sau này sẽ trở thành nội dung chínhcủa văn chương yêu nước và các phong trào duy tân : đoạn tuyệt với văn hoá truyềnthống, kêu gọi tự phủ định, tự phê phán, những khẩu hiệu duy tân

1.2.2 Giai đoạn văn chương yêu nước do nhà Nho chí sĩ sáng tác phát triển đến đỉnhđiểm 1905 – 1908

- Đây là thời kỳ các phong trào yêu nước Duy tân do nhà Nho chí sĩ lãnh đạo phát triểnmột cách sôi nổi ở trong nước, các phong trào này được thể hiện dưới hình thức trườnghọc kiểu mới ( điển hình là trường Đông Kinh nghĩa thục ), ở nước ngoài là phongtrào Đông Du của Phan Bội Châu

1.2.2.1 Diện mạo thể loại :

- Đây là giai đoạn mà tính chất Trung đại vẫn còn biểu hiện rất rõ trong văn chương, đặcbiệt là từ cái nhìn thể loại và ngôn ngữ Văn học được sáng tác cả bằng chữ Hán và chữQuốc ngữ, bằng những thể loại đã trở thành điển phạm trong văn chương truyền thống

- Những thể loại chính được sử dụng bao gồm : văn chính luận, thơ chữ Hán, diễn ca lụcbát, ngâm khúc, hát nói, vè, liệt truyện Để thích ứng với một thời đại mới và chuyên chởnhững nội dung tư tưởng và thẩm mỹ mới, tất cả những thể loại này đều có sự biến dạng.1.2.2.2 Nội dung tư tưởng :

- Một cái nhìn mang tính phê phán nghiêm khắc đối với thực trạng đất nước Cảm quanhiện thực và tinh phần phê phán không phải là yếu tố mới trong văn chương, đặc biệt làvăn chương nhà Nho Chỉ có điều đến giai đoạn này cơ sở lý luận của sự phê phán đãthay đổi : tinh thần thực dụng và tinh thần tự do – dân chủ

- Sự phủ định quyết liệt đối với văn chương – học vấn truyền thống và đại diện của nó –người hủ nho

Trang 4

- Con đường cứu nước kiểu mới – yêu nước gắn liền với duy tân Con đường cứu nước

đó được xây dựng trên một tinh thần yêu nước, một cách hình dung mới về đất nước vànhân dân – người quốc dân

1.2.2.3 Những hình tượng nhân vật trung tâm :

- Hình tượng người anh hùng cứu quốc kiểu mới – người quốc dân

- Hình tượng người hủ nho

1.2.3 Văn chương yêu nước do nhà Nho chí sĩ sáng tác trong giai đoạn 1908 – 1925( thời điểm Phan Chu Trinh qua đời và Phan Bội Châu bị bắt )

- Đây là thời điểm các phong trào yêu nước do nhà Nho chí sĩ lãnh đạo đi vào thoái trào

ở trong nước Nhiều yếu nhân của phong trào bị tù đầy, hành quyết Một số nhà yêu nướchoạt động ở nước ngoài tiếp tục tìm kiếm những con đường cứu nước ( điển hình là PhanBội Châu ) nhưng đều thất bại

- Văn chương yêu nước do nhà Nho sáng tác trong giai đoạn này phân hoá thành hai bộphận : văn chương của các nhà chí sĩ trong tù và văn chương ở hải ngoại ( sẽ được trìnhbày kỹ trong chương Phan Bội Châu )

- Nội dung chủ yếu của văn chương yêu nước trong giai đoạn này là những tâm sự củanhà cách mạng trong tù ngục và những ký ức về những người đồng chí anh hùng

- Hình tượng nhân vật trung tâm là người anh hùng yêu nước, đặc biệt, người anh hùngmạt lộ

1.3 ý nghĩa văn học sử

Văn chương yêu nước do nhà Nho chí sĩ sáng tác thể hiện một bước chuyển tiếp của vănhọc dân tộc trong giai đoạn giao thời Tính chất chuyển tiếp đó thể hiện trên tất cả mọiphương diện : quan niệm về văn học, hệ thống thể loại, chủ đề, đề tài, hình tượng nhânvật trung tâm

- Về quan niệm văn học, đây là thời đại mà những tín điều văn chương được xác lập quatrong suốt thời Trung đại bị tấn công một cách quyết liệt nhất Tuy nhiên, điểm dừng củatất cả các tác giả này là không xác lập được một cách hình dung mới về văn học Chính vìvậy, tuyệt đại bộ phận các tác giả đều quay trở về với những tín điều văn chương truyềnthống

Trang 5

- Đây là thời đại diễn ra cuộc tổng duyệt những thể loại văn học truyền thống Con đườngsáng tạo của các nhà chí sĩ là lựa chọn, sử dụng lại và cải tiến những thể loại văn chươngtruyền thống Họ bất lực trong việc tiếp cận với những thể loại đặc trưng của văn chươnghình tượng hiện đại ( tự sự nghệ thuật, kịch bản sân khấu )

- Bộ phận văn chương yêu nước do các nhà Nho chí sĩ sáng tác đầu thế kỷ đã góp phầnvào sự ra đời của một số hình tượng nhân vật sẽ trở thành “nhân vật của thời đại” trongnhững giai đoạn văn học kế tiếp : người dân nô lệ, người anh hùng cứu quốc, người quốcdân Dẫu vậy do sự hạn chế trong quan niệm văn học, tư duy văn học và trong khả nănglàm chủ những thể loại văn học hiện đại nên những hình tượng nghệ thuật đó chưa thực

sự trở thành những hình tượng nghệ thuật hiện đại, đặc biệt là về phương thức thể hiện

Phan Bội Châu

( 1867 – 1940 )

I Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Phan Bội Châu

Cuộc đời Phan Bội Châu phản ánh rõ nét con đường đi của những nhà trí thức Nho họctrước ngưỡng cửa của thời hiện đại : lịch sử đặt lên vai họ gánh nặng của sự nghiệp “bảoquốc tồn chủng”, buộc họ phải trở thành những ngưòi đảm đương công cuộc đổi mới dântộc; trước yêu cầu lịch sử đó, họ đã nỗ lực tự phủ định mình, tự đổi mới nhưng nhữnggiới hạn của thời đại cũng như của chính bản thân họ đã khiến công cuộc đổi mới ấy thấtbại và cuối cùng là quay trở về với cái cũ Có thể chia cuộc đời và sự nghiệp thơ văn củaPhan Bội Châu thành 3 giai đoạn chính : từ thiếu thời đến năm 38 tuổi ( 1867 đến 1905 );những năm tháng hoạt động chính trị ở nước ngoài ( 1905 đến 1925 ) và những nămcuối đời sống cuộc đời của người tù bị giam lỏng ở Huế ( 1925 đến 1940 )

1 Từ thiếu thời cho đến năm 38 tuổi :

Quãng đời này của Phan Bội Châu chủ yếu diễn ra ở quê nhà Có một số yếu tố đáng chú

ý như sau :

- Sớm bộc lộ thiên hướng là người thủ lĩnh, người chủ trì đại sự ( lập thí sinh quân, viếthịch Bình Tây thu Bắc từ năm 18 tuổi )

Trang 6

- Đây là giai đoạn Phan Bội Châu theo đuổi những phương thức hành xử truyền thống :

ẩn nhẫn chờ thời, đọc binh thư, tìm minh chủ mưu đại sự, gây dựng uy tín bằng khoa cử

- Đây cũng là giai đoạn Phan Bội Châu bộc lộ tài năng xuất sắc trong những thể loại vănchương truyền thống

- Bộ phận sáng tác đáng chú ý của ông trong giai đoạn này là phú

2 Những năm tháng hoạt động ở nước ngoài ( 1905 – 1925 )

- Đây là giai đoạn Phan Bội Châu thực hành những lý tưởng của mình Ông liên tục làchủ xướng của nhiều tổ chức cách mạng với những chủ trương khác nhau : Duy Tân hội (

1904 – 1910 ), Việt Nam quang phục hội ( 1915 đến khoảng 1920 ) sau năm 20, thậmchí, ông bắt đầu bắt liên lạc với những người cộng sản và dự định tổ chức lại phong tràoyêu nước Việt Nam ( dự định chưa kịp thành hiện thực thì ông bị bắt ) Trong giai đoạnnày, con người Nho giáo lý tưởng trong ông từng bước tan vỡ, ông làm quen với đời sốngchính trị hiện đại

- Giai đoạn hoạt động ở nước ngoài là giai đoạn cách tân mạnh mẽ nhất của văn chươngPhan Bội Châu Hoàn cảnh bắt ông phải trải sức qua nhiều thể văn chương khác nhau đểphục vụ nhiều mục đích khác nhau ( viết các cương lĩnh, tuyên ngôn chính trị, viết sử,viết văn tuyên truyền, cổ động, thậm chí viết văn để mưu sinh ), tư tưởng chính trị củaông có nhiều đổi mới, chính vì vậy đây là giai đoạn cách tân mạnh mẽ nhất của vănchương Phan Bội Châu

3 Những năm cuối đời :

- Đây là giai đoạn mặc dù Phan Bội Châu vẫn là một uy tín chính trị được nhiều ngườingưỡng vọng nhưng, không thể phủ nhận, ông bị cách ly khỏi thời cuộc Từ khi bị cách

ly khỏi các phong trào chính trị, ông quay trở lại với con người cũ của mình, với nhữngthể văn chương từng làm nên uy tín của ông trong học giới ( phú, thơ chữ Hán ) hoặcnhững thể văn mà khi còn là con người chính trị, ông chưa có điều kiện theo đuổi ( khảocứu học thuật) Bao trùm lên cuộc đời và thơ văn của ông trong giai đoạn này là một tâmtrạng chán nản, cô độc, thất vọng và niềm nuối tiếc quá khứ

Trang 7

II Những thăng trầm trong cuộc đời sáng tác của Phan Bội Châu:

1 Từ thiếu thời đến năm 38 tuổi Người hào kiệt tự nhiệm và cái hùng tráng kịch liệt trong văn chương Phan Bội Châu.

- Giai đoạn đầu trong cuộc đời của Phan Bội Châu là quãng thời gian ông vận động trongquỹ đạo của những kiểu nhân cách truyền thống Từ những sự kiện trong tiểu sử, có thểkhẳng định PBC là sự kéo dài của người anh hùng thời loạn, người hào kiệt tự nhiệm,một kiểu nhân cách đi ra ngoài những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo, xuất hiện ở ViệtNam trong giai đoạn khủng hoảng của chế độ phong kiến ( thế kỷ XVI – XVII )

- Trước năm 1905, thể văn chương thể hiện rõ nhất tài năng và cá tính sáng tạo của PhanBội Châu là phú Phú là một thể văn có tính trung gian giữa thơ và văn xuôi, nòng cốt củaphú thường là một cuộc đối thoại, qua đó, nhân vật mô tả, trình bày, ca ngợi một sự vật,một hiện tượng, một thái độ sống Sắc thái chủ đạo của phú là mô tả và ca ngợi ( phú giảphô dã ) Phóng đại là đặc trưng của phú Phú là một trong những thể loại đặc trưng củanền văn học ký ngụ

Trước năm 1905, phú Phan Bội Châu có hai chủ đề chính : viết về những nhân vật lịch sửphi thường ( Phạm Lãi, Trương Lương, Tư Mã Quang, với những bài xuất sắc nhất củanghệ thuật phú như Nang trung truỳ, Hồ thượng khoá lư, Cộng biển chu du ngũ hồ ) và

ca tụng đạo đức Nho giáo Những nhân vật này sẽ là sự báo trước của kiểu nhân vật anhhùng cứu quốc trong những giai đoạn tiếp theo

- Sắc thái thẩm mỹ nổi bật trong sáng tác của Phan Bội Châu trước năm 1905 là mầu sắcanh hùng ca, cái quyết liệt thậm chí đến mức bạo liệt, cái kỳ vĩ của những hình tượngnghệ thuật

2 Văn thơ Phan Bội Châu trong giai đoạn hoạt động cách mạng ở nước ngoài :

2.1 Nội dung chính của thơ văn Phan Bội Châu trong giai đoạn này là tinh thần đoàn kết,

là tiếng nói hiệu triệu toàn dân tộc chống Pháp

Trang 8

- Mang một trong những dấu hiệu đặc trưng của phong cách nghệ thuật là hướng đến cáikịch liệt, cái tận độ của cảm xúc PBC đã ứng dụng điều này để miêu tả những khổ nhụccủa người dân mất nước dưới chế độ thực dân

- Song song với sự tố cáo đầy đau đớn là lời kêu gọi đầy thống thiết hướng đến quốc dânđồng bào nhằm khơi dậy, thức tỉnh trách nghiệm đối với dân tộc của tất cả mọi hạngngười trong xã hội

- Điều đáng lưu ý là Phan Bội Châu dành một vị trí đặc biệt quan trọng cho người tríthức – nhà Nho

2.2 Những cách tân nghệ thuật của Phan Bội Châu – người viết tự sự nghệ thuật

Trong giai đoạn này Phan Bội Châu đã thử sức qua một loạt các thể loại : thơ ca, vănchính luận, sân khấu, các thể tự sự nghệ thuật Mỗi thể loại ông đều có những cách tânriêng, tuy nhiên, bài giảng chú ý tập trung vào những cách tân trong tự sự nghệ thuật củaPhan Bội Châu với hai bộ phận chính là các liệt truyện và tiểu thuyết Trùng quang tâmsử

- Liệt truyện là một thể loại được sử dụng trong văn chép sử dùng để ghi chép tiểu sửnhững nhân vật lịch sử ở thể loại này, thông thường người ta nói những nét chính trongcuộc đời nhân vật, loại bỏ những chi tiết và mọi sự miêu tả ở đó, tác giả tuyệt đối giữmột thái độ khách quan, chỉ đan xen trong cấu trúc những nhận xét có tính công thức

- PBC đã gia công liệt truyện bằng cách : 1 Gia tăng những trữ tình ngoại đề, những xúccảm cá nhân, những đoạn luận thuyết 2 Gia công những kỹ thuật trần thuật đặc thù của

tự sự nghệ thuật để tăng tính gợi cảm Sự xuất hiện những yếu tố nghệ thuật nói trênchứng tỏ đối với Phan Bội Châu, liệt truyện đã vận động từ một thể văn thuần túy mangtính khảo cứu, học thuật (với yêu cầu về tính khách quan của người viết) thành một thểloại có tính nghệ thuật in dấu ấn cái chủ quan của người nghệ sĩ (tất nhiên, với Phan BộiChâu, ngay trong những liệt truyện chuẩn mực nhất, yếu tỗ chủ quan vẫn được biểu hiệnkhá rõ nét)

- Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu lại đánh dấu một con đường sángtạo khác : ông mượn chuyện lịch sử để chuyển tải những tư tưởng về cách mạng, về

Trang 9

kháng chiến giải phóng dân tộc, về những hình mẫu lý tưởng trong sự nghiệp cứu nước.

Có thể coi đây là một thái độ phi truyền thống đối với lịch sử

- Nhân vật trung tâm trong những tác phẩm đó là những người anh hùng cứu quốc – một

sự tiếp nối của cái hùng tráng kịch liệt trước cách mạng Yếu tố đáng lưu ý trong hìnhtượng người anh hùng của PBC là yếu tố người anh hùng nhân dân, những người anhhùng bình dị bắt đầu xuất hiện Đó là yếu tố báo hiệu văn chương yêu nước hiện đại

3 Văn thơ Phan Bội Châu trong thời gian bị giam lỏng ở Huế.

Trong giai đoạn ở Huế, một mặt Phan Bội Châu tiếp tục (đương nhiên) dưới một hìnhthức khéo léo (vịnh cảnh, vịnh vật, ký ngụ, phúng dụ) những chủ đề đã trở thành truyềnthống trong văn thơ và cuộc đời hoạt động cách mạng của ông (nỗi khổ nhục của ngườidân mất nước, kêu gọi đoàn kết, có trách nghiệm với đất nước ) Tuy nhiên, mặt khác,trong ông, xuất hiện một cảm giác chưa từng có trước đây, cảm giác cô độc, thất bại củangười hào kiệt tự nhiệm

- Cảm giác cô độc thất bại được biểu hiện dưới mấy phương diện :

+ Cảm giác cô độc trước sự hờ hững của quốc dân

+ Nỗi buồn chứng kiến bạn bè lần lượt qua đời Trong thơ văn liên quan đề tài này, ngoàinhững lời ngợi ca những người đồng chí anh hùng, còn tràn ngập một cảm giác chua xót,chua xót vì bất lực, vì nhìn thấy tiền đồ dân tộc đen tối, có cả một cuộc tự vấn về ý nghĩacuối cùng của cuộc đời mình

+ Trốn tránh cuộc đời trong thú thơ rượu, điều chưa từng có trong văn thơ Phan Bội Châutrước đây

- Những xúc cảm trên chính là sự báo hiệu sự “lại giống” của người hào kiệt tự nhiệmmột thời, sự lại giống biểu thị rõ nét trong câu đối tuyệt mệnh của ông

“Trời sao vậy? Chúa sao vậy? Chết âu cũng là không, chạnh tiếc trong lòng vùi KhổngMạnh

Nước như thế ! Dân như thế! Đời còn gì đáng tiếc ? Thôi ra ngoài cuộc học Hy Hoàng”Trước khi mất, Phan Bội Châu để lại thư tuyệt mệnh : “Bội Châu từ xưa đến nay, đối vớiđồng bào đã không chút gì là công, mà lại tội ác quá nặng Bây giờ tôi chết, thiệt là mộttên dân trốn nợ và vỗ nợ, đồng bào có thứ lwongj cho tôi thì xác tôi tuy chết mà tinh thần

Trang 10

tôi vẫn cảm ơn đồng bào luôn luôn “Người khi đến gần chết, lời nói hẳn lành” Nay tôi

đã đến lúc “gần chết” đó, xin có mấy lời gan phổi tỏ lời hy vọng cuối cùng với đồng bào :Đồng bào Việt Nam ta có trên hai mươi triệu, bấy nhiêu đầu óc, bấy nhiêu tai mắt, bấynhiêu chân tay, nếu không biết thân yêu nhau, đồng lòng hợp sức làm cái bổn phận quốcdân đối với tổ quốc Không thế, trên mặt địa cầu sau nầy sẽ không có hình bóng dân tộcViệt Nam nữa, thì Bội Châu này dầu có trốn nợ, vỗ nợ cũng may mà được chết trước anh

em, tôi lấy làm một điều hạnh phúc”

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

( 1887 – 1939 )

I Những ba đào của một số phận tài hoa

- Tản Đà sinh năm 1887 tại Khê Thượng, Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (Sơn Đà, huyện Ba Vì,

Hà Tây), bố là Cử nhân Nguyễn Danh Kế, án sát Ninh Bình, mẹ là Nhữ Thị Nghiêm, vợ

ba ông Kế, xuất thân là đào hát ở phố Hàng Thao

- Năm TĐ lên 3 tuổi, thân sinh qua đời, Tản Đà bắt đầu sống với anh là Nguyễn Tái Tích(đỗ Phó Bảng) Tản Đà theo chân anh sống ở những nơi mà NTT được bổ nhiệm làmquan : Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản – Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Hà Nội, VĩnhTường Lên 5 tuổi TĐ bắt đầu đi học và nổi tiếng thần đồng nhưng đường công danh lậnđận : học trường Quy thức (trường theo lối mới đầu tiên do người Pháp tổ chức), năm

1909 và 1912 có đi thi nhưng đều thất bại, thi Hậu bổ theo lối mới cũng không thànhcông Trong những năm này, nhiều sự kiện đã để lại những chấn thương tâm lý sâu sắctrong TĐ : năm lên 4, mẹ về sống lại ở xóm Bình Khang, năm lên 13 tuổi, chị cũng theo

mẹ về xóm Bình Khang; mấy lần yêu đương nhưng đều không thành Năm 1913, sau khithi trượt và thất tình, TĐ bắt đầu một cơn “tâm tật” trầm trọng Cũng trong năm này sốngmột thời gian dài ở nhà tư sản Bạch Thái Bưởi

- Năm 1915 và 1916 bắt đầu một bước ngoặt trong cuộc đời TĐ : năm 1915, TĐ lấp giađình với con gái một viên tri huyện và năm 1916, Nguyễn Tái Tích bắt đầu qua đời, TĐbắt đầu đời sống tự lập Năm 1915 cũng là năm TĐ bắt đầu chọn con đường lập nghiệpbằng văn chương (cộng tác với Đông Dương tạp chí) Từ 1915 đến 1932 là giai đoạn

Trang 11

sáng tạo văn chương chính của TĐ Toàn bộ di sản văn học của ông đều được xuất bảntrong giai đoạn này TĐ cộng tác với Đông Dương tạp chí, soạn tuồng cho các rạp ở HảiPhòng, viết văn và soạn sách tự do, lập nhà xuất bản tư (Tản Đà thư điếm-1922, Tản Đà

tu thư cục-1923), làm chủ bút báo Hữu Thanh (1923), lập An Nam tạp chí (1926), ANTCchết đi sống lại nhiều lần, trong thời gian đó TĐ còn vào Nam cộng tác với Đông Phápthời báo Trong giai đoạn này, TĐ không chỉ là “cơn gió lạ thổi khắp trong Nam ngoàiBắc” mà còn được công chúng hâm mộ, đặc biệt là giới tư sản Trong cuộc đời Tản Đà, ítnhất đã in dấu ba nhà tư sản có nhiều ảnh hưởng đến ông : Bạch Thái Bưởi, Bùi Huy Tín,Diệp Văn Kỳ

- Từ 1932, TĐ bắt đầu rơi vào giai đoạn khủng hoảng sáng tạo trầm trọng ANTC đìnhbản, TĐ làm trợ bút cho nhiều báo : Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy, Sống, ích hữu,Sài gòn , dịch thơ Đường cho báo Ngày Nay (của TLVĐ) Nghề kiếm sống cùng quẫn,nhiều giai đoạn phải chữa văn thuê, xem tướng số Không sáng tác thêm được tác phẩmmới, chủ yếu đầu tư vào dịch thuật và khảo cứu, trong giai đoạn này, TĐ là linh hồn củaphái bảo vệ Thơ cũ xung đột với những nhà thơ trẻ thuộc thế hệ Thơ mới

- Tác phẩm chính của TĐ : 1 Thơ : Khối tình con I, II, III; Còn chơi; Thơ Tản Đà; 2 Vănxuôi : Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ; Đàn bà Tàu, Đài gương; Thần tiền; Tản

Đà tùng văn; Truyện thế gian I, II; Trần ai tri kỷ; Giấc mộng lớn; Thề non nước; 3 : Kịch:Tây Thi; Dương Quý Phi; Thiên Thai; Người cá; 4 Khảo cứu : Quốc sử huấn mông;Vương Thuý Kiều chú giải tân truyện; 5 Dịch thuật : Đại học, Liêu trai chí dị, Đườngthi

II Sáng tác của Tản Đà.

1 Vấn đề quan niệm văn học và hệ thống thể loại của Tản Đà

- Bức tranh toàn cảnh về diện mạo các thể loại trong văn chương Tản Đà : Tản Đà làtácgia đã đưa toàn bộ kinh nghiệm văn chương truyền thống vào đời sống văn học hiệnđại Về thơ, ông sử dụng lại toàn bộ các thể thơ truyền thống, dân gian cũng như bác học( thơ quốc âm luật Đường, thơ trường thiên thất ngôn, lục bát, song thất, phong dao, hátnói, tứ lục, phong dao, ) các thể sân khấu dân tộc (chèo, tuồng), các thể văn xuôi truyềnthống (truyện truyền kỳ, luận thuyết, phê bình )

Trang 12

- Quan niệm về văn chương của Tản Đà : đối với Tản Đà, văn chương trước hết là một

“nghiệp”, một niềm đam mê, một sứ mạng, một món nợ mà ông phải đeo đuổi cả cuộcđời Đólà phương diện Tản Đà kế thừa những bậc phong lưu danh sĩ tiền bối (NguyễnDu) Tuy vậy, đối với ông, văn chương còn là một phương cách để lập thân, kiếm sốngtrong xã hội hiện đại, là một nghề Có thể nói, ông là một trong những bậc tiền bối khaisinh ra kiểu nhà văn chuyên nghiệp trong xã hội hiện đại, đồng thời, ông là người đã nếmtrải đầy đủ những vinh quang cũng như cay cực của số kiếp nhà văn chuyên nghiệp

- lý tưởng về văn chương của Tản Đà : văn chơi và văn vị đời Nếu như trong cuộc đời,

TĐ bị giằng xé giữa người nghệ sĩ và nhà tư tưởng-đạo đức muốn bảo vệ các giá trịtruyền thống Nho giáo thì trong văn chương, ông tự phân ra thành văn chơi và văn vị đời(ứng với hai chủ đề của sự nghiệp sáng tác văn chương của Tản Đà : con người cá nhânkhát khao tận hưởng hạnh phúc và con người nghĩa vụ Nho giáo) trong đó cái được đềcao là văn vị đời Có thể nói trong quan niệm văn chương của Tản Đà, dấu vết của quanniệm văn học Nho giáo là hết sức đậm nét

2 Cái tôi – con người cá nhân, nhân vật trung tâm của văn chương Tản Đà

Tản Đà là không phải là người đầu tiên đưa cái tôi cá nhân vào trong văn học nhưng cóthể nói, cái tôi cá nhân trong sáng tác văn chương của Tản Đà đã mang những nội hàmmới mẻ Đó là một cái tôi đầy tinh thần tự tín, thậm chí đến mức tự kỷ, cái tôi trở thànhlăng kính để nhìn cuộc đời (giới hạn của nội dung nhân đạo trong thơ ca Tản Đà - chủ đềtài tử-giai nhân, người tài tử đa cùng, người hồng nhan bạc mệnh) Một mặt, đó là cái tôihăm hở nhập thế, ý thức tài năng và muốn đem tài năng đánh cuộc với cuộc đời sòng bạc

và mong truy lĩnh từ cuộc đời nhưng một mặt đó là cái tôi của những khát vọng thanh cao

xa lạ với xã hội tư sản Bao trùm lên tất cả, đó là mâu thuẫn giữa người phong lưu danh sĩkhát khao hưởng lạc và nhà tư tưởng đạo đức bảo thủ

3 Thơ ca Tản Đà

- Liên quan đến di sản thơ ca của Tản Đà có thể thấy, trước hết, Tản Đà là người kế thừatoàn bộ kinh nghiệm thi ca truyền thống từ quan niệm nghệ thuật (không chấp nhận sựcách tân thái quá, từ bỏ mọi niêm luật thơ ca) đến kỹ thuật viết Tuy vậy, cái truyền

Trang 13

thống mà TĐ kế thừa cũng là một truyền thống hướng đến cái tự do (ông không quá lệthuộc vào thơ Đường luật và làm chủ cả những thể thơ có nguồn gốc dân gian).

- Có thể nhận thấy trong thơ ca Tản Đà một nỗ lực tìm kiếm sự tự do biểu đạt trongkhuôn khổ không thay đổi của những thể thơ truyền thống Ông tìm đến những thể loạicho phép nới rộng biên độ của cảm xúc, gần gũi với thơ tự do (từ khúc, hát nói, trườngthiên ), những thể loại có khả năng diễn đạt cái tươi mới của xúc cảm (thơ lục bát,phong dao – tiếp nhận những lối nói bình dị của văn học dân gian) Mặt khác, thơ Đườngluật của TĐ cũng đã có những cách tân phá vỡ khuôn khổ của câu thơ Đường luật truyềnthống (thêm hư từ, bỏ đối -Ghẹo người vu vơ) hoặc một thứ thơ Đường giầu nhữnghình ảnh ẩn dụ kiểu thơ Hồ Xuân Hương (Chơi chùa Hương) Như vậy cóthể nói về mặthình thức thể loại, dù TĐ là đại diện của Thơ cũ chống lại Thơ mới nhưng ngôn ngữ thơ

ca của ông lại là một thứ “phòng chờ” của Thơ mới

- Cái tôi trong thơ ca của Tản Đà, những xúc cảm thơ ca báo hiệu thơ mới : những xúccảm trong thơ ca của TĐ báo hiệu một con người khác với con người phận vị nghĩa vụtruyền thống Đó là con người với một cái nhìn phong tình, tươi mới về hiện thực, khácvới con người đạo đức Nho giáo ở ông bắt đầu xuất hiện những thứ xúc cảm vẩn vơ,những bâng khuâng vô cớ, một kiểu nghệ sĩ duy cảm khác với con người duy lý Nhogiáo Phải đối diện với xã hội hiện đại nên TĐ cũng có những trạng thái tâm lý dễ tạođược sự đồng cảm với những người đến sau : ý thức về sự hữu hạn của hiện thực và cuộcđời con người, khát khao tận hưởng cuộc sống hiện thực, cảm giác cô đơn, lạc loài, cáinhìn bi quan đối với hiện thực

4 Tản Đà-người viết văn xuôi

- Trong tổng thể sáng tác văn chương của Tản Đà, văn xuôi là nơi giao tranh của nhữngxung động trái chiều trong con người – nhà nghệ sĩ Tản Đà : giao tranh giữa những kinhnghiệm sáng tác văn xuôi truyền thống và những yêu cầu của thời đại và công chúngmới, giao tranh giữa nhà nghệ sĩ và nhà tư tưởng đạo đức Bởi vậy, có thể nói văn xuôi là

bộ phận thể hiện một cách rõ nét tính giao thời trong sáng tác của TĐ

- Tổng thể văn xuôi của TĐ bao gồm các thể loại như sau : 1 Văn luận thuyết : Khối tình(bản chính và bản phụ), Tản Đà tùng văn, Tản Đà nhàn tưởng (đây là một trong hai bộ

Trang 14

phận chiếm một tỷ lệ lớn nhất trong toàn bộ di sản văn xuôi TĐ); 2 Các tự sự : Giấcmộng con I, II, Thần tiền, Thề non nước, Trần ai tri kỷ, Kiếp phong trần, Giấc mộnglớn 3 Các du ký, tản văn trữ tình, phê bình văn học, tranh luận văn học, các cuộc bútchiến

- Tạm gạt sang một bên bộ phận văn xuôi luận thuyết, có thể thấy các tự sự là bộ phậnphản ánh rõ nét nhất tính chất giao thời trong sáng tác của Tản Đà :

+ Về đề tài, bắt đầu thấy có sự thay đổi phạm vi phản ánh so với văn chương truyềnthống : tập trung khai thác những đề tài đương đại, cuộc sống đô thị, Về hình tượngnhân vật có thể thấy có sự pha trộn giữa những kiểu người hiện đại (thương nhân, phụ nữtân học) với hình ảnh người tài tử giai nhân truyền thống Về loại hình tự sự, có sự xuấthiện của một số hình thức cốt truyện mới (cốt truyện phiêu lưu, cốt truyện bợm nghịch)bên cạnh những kiểu truyện truyền thống (truyện đối thoại, truyện truyền kỳ )

+Tổng thể tự sự nghệ thuật của Tản Đà có thể thấy ông bị dằng xé giữa hai khuynhhướng chính : thỏa mãn những ẩn ức của con người cá nhân và hướng tới miêu tả nhữngcảnh đời, kiếp người mà trong đó khuynh hướng thứ nhất là khuynh hướng chủ đạo.+Hạn chế lớn nhất trong tự sự nghệ thuật của Tản Đà là con người cá nhân, nhà luậnthuyết đã ngăn cản ông nắm lấy những công cụ hiện đại (miêu tả, phân tích tâm lý ) đểtái hiện hiện thực Nhân vật trong tự sự của ông được biến thành những hình chiếu mờ ảocủa tác giả, thành những con

Trang 15

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT KHÁI HƯNG

Khái Hưng viết Tiêu sơn tráng sĩ để kiện toàn một đời người, một đời văn, một cuộc đấu tranh giành độc lập, thất bại Nếu không có Tiêu sơn tráng sĩ, chúng ta sẽ chỉ biết có Khái Hưng nhà văn Nhờ Tiêu sơn tráng sĩ mà chúng ta biết được con người toàn diện của

Khái Hưng và hiểu đuợc sự thất bại của Tự Lực văn đoàn trong những hoạt động chínhtrị của đảng Hưng Việt, Đại Việt dân chính, Việt Nam quốc dân đảng

Tiêu sơn tráng sĩ là cuốn tiểu thuyết lịch sử duy nhất, lạc loài trong tủ sách Khái Hưng gồm những chuyên đề xã hội, nghệ thuật, tình yêu Tiêu sơn tráng sĩnhư một mảnh

vườn riêng mà nhà văn giấu giấc mộng phiêu lưu của mình trong tình thế nhiễu nhươngcủa đất nước

Tiêu sơn tráng sĩ in năm 1940, có thể viết khoảng 39-40 1939 là mốc quan trọng: Tự

Lực văn đoàn bước vào chính trị Nguyễn Tường Tam lập đảng Hưng Việt, sau đổi thànhĐại Việt Dân Chính 1940, Khái Hưng và Hoàng Đạo sang Tàu tìm hậu thuẫn của cácđảng phái cách mệnh khác

Tình hình Việt nam thập niên 1930-1940, thời Nguyễn mạt có những nét tương tự nhưthập niên cuối thế kỷ XVIII, thời Lê tàn, Tây Sơn mạt, Nguyễn hưng, trong sự tranh chấp

bá quyền giữa các đảng phái: mỗi đảng hùng cứ một phương với những chính nghiã khácnhau Đảng Tiêu Sơn chủ trương phù Lê, diệt Tây Sơn, đền ơn vua, nợ nước, một thứchính nghiã trong số những chính nghiã có giá trị hàng đầu của thế kỷ XVIII Đại ViệtDân Chính, chủ trương chống Pháp, giành độc lập dân chủ cho đất nước, một trong

những chính nghiã hàng đầu của thế kỷ XX Đảng Tiêu sơn phải chăng là tiền thân của

Việt Nam Quốc Dân Đảng?

Thành phần nhóm Tiêu Sơn có Trần Quang Ngọc, Nhị Nương, Phạm Thái, Lê Báo cáctráng sĩ cậu ấm, con nhà, xoay trở trong một cuộc nước, vận cờ không lối thoát Họ cónhững nét lãng mạn đáng yêu, họ đã tiên tri, tiên nghiệm cho vận thế của dòng họNguyễn Tường và Tự Lực Văn Đoàn trong những ngày sóng gió: đảng trưởng bôn ba hảingoại, đảng viên, gồm những sinh viên, nhà văn trong Tự Lực, lui quân, lui quân dần mãi

đến biên thùy rồi phải lưu vong sang Trung Quốc Nguyễn Tường Bách trong Việt Nam những ngày lịch sử đã ghi lại những đoản khúc, những nhịp vận hành của các «tráng sĩ

Tiêu Sơn» Việt quốc, với những mưu đồ nghiệp lớn chưa thành đã nếm mùi thất bại

Trong Tiêu sơn tráng sĩ, Khái Hưng đã viết rõ quan niệm chính trị của mình, về chủ trương chống Pháp: “Ta chỉ nên trông cậy vào sức ta, chứ đừng tưởng mong chờ ai hết” (Lời Trịnh Đán, con thứ Trịnh Bồng, trong buổi đại hội đảng Tiêu Sơn, trang 147);

về quan niệm đảng: “Nếu không có lòng yêu nước thương dân, chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình mình, của một đảng mình, thì dẫu có lên làm vua chúa nữa cũng chẳng ra gì,

Trang 16

huống chi nhiều khi còn phạm thêm cái tội rước voi về dầy mồ” (vẫn lời Trịnh Đán, trang

146) Khái Hưng gián tiếp cảnh cáo những ai chủ trương cầu cứu nước ngoài, cả quốc gialẫn cộng sản

Phạm Thái biết trước “mệnh yểu” của đảng mình, nhưng vẫn quả quyết:“Người anh hùng cứu quốc khi nào lại chịu phục tòng số mệnh? Chỉ biết một việc là hành động, hành động cho đến giờ cuối cùng.” (Lời Phạm Thái, trang 174).

Trần Quang Ngọc phải là Nhất Linh Khái Hưng phải là Phạm Thái Khái Hưng chính làPhạm Thái Nói những lời hào hùng thì dễ, nhưng khi bắt tay vào việc, mới nhận ra “việclớn” không dễ dầu gì Ngay “việc nhỏ” là đánh tháo cho bà hoàng phi Lê Thị Kim, vợvua Chiêu Thống, bị quan quân Cảnh Thịnh bắt, đã khó Nói chi đến việc lật đổ triềuđình Quang Toản, mặc dù nội bộ Tây Sơn đã mục rữa Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, VõVăn Dũng diệt cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở Trần Quang Diệu đem quânchống lại Võ Văn Dũng

Thừa dịp Tây Sơn nội loạn, Phạm Thái bàn với Trương Đăng Thụ, hiệp trấn Lạng Sơn,cựu thần nhà Lê, mượn cớ dẹp loạn, đem quân qua Kinh Bắc hợp cùng đảng Tiêu Sơnkéo về triều Mưu cơ bại lộ Trương Đăng Thụ bị đầu độc chết Đảng Tiêu Sơn thanh thếmỗi ngày một yếu, sau tan rã

Đường lối của đảng Tiêu Sơn, chủ chốt ở Trần Quang Ngọc, đảng trưởng, nhưng hànhđộng của đảng do Nhị Nương đảm trách Nhị Nương chính là Hoàng Đạo Cô gái KinhBắc, người yêu của đảng trưởng, đã gác gánh tình sang một bên để đóng vai tráng sĩ, trảthù cha, đền ơn vua Tất cả những khó khăn của đảng Tiêu Sơn trên bước đường cùngđều do Nhị Nương giải quyết Khái Hưng một lần nữa, vẫn tin vào khả năng xoay chuyểnthời thế của người phụ nữ, và dường như chưa bao giờ nhà văn đoạn tuyệt với niềm tin

nữ quyền trong tác phẩm của ông

Còn Phạm Thái? Chàng là nhà thơ, là một gã si tình, Phạm Thái là tráng sĩ của thi ca vàtình yêu như Khái Hưng Khái Hưng làm chính trị vì tình bạn với Nhất Linh, hầu như tất

cả bạn bè thân thuộc khi viết về Khái Hưng đều biết chuyện đó Tình bạn giữa KháiHưng và Nhất Linh không giải thích được, như có sự hoà tan giữa hai tâm hồn: khi họviết chung một quyển sách thì không biết đoạn nào của Khái Hưng đoạn nào của NhấtLinh Khái Hưng không có con, Nhất Linh «cho» bạn một đứa con trai Họ lại có

«chung» với nhau một đứa con, như thể cùng tiếp chung một dòng máu Tất cả công việccủa đảng mà Nhất Linh giao phó, Khái Hưng đã làm, làm đến phút chót, như lời PhạmThái, khi mọi người đi hết, vẫn ở lại, làm một mình

Cuối cùng cuộc “cách mạng” còn lại gì? Còn lại mối tình Phạm Thái - Trương QuỳnhNhư với những tuyệt tác thi ca của Phạm Thái Và sự gặp gỡ giữa hai thiên tài Nhất Linh

- Khái Hưng để tạo ra Tự Lực văn đoàn và thời kỳ vàng son của văn chương Việt namtrong thế kỷ XX

Trang 17

Tiêu sơn tráng sĩ xác định giá trị vĩnh cửu của văn chương trước giá trị nhất thời của

chính trị: giả sử Phạm Thái có thành công với Trần Quang Ngọc và Nhị Nương trongcuộc khởi nghiã Tiêu Sơn thì tên tuổi cùng lắm chỉ được vài dòng trong lịch sử

Và Nhất Linh cũng xác định như thế trong Dòng sông Thanh Thủy.

Họ lại gặp nhau một lần nữa trong tư tưởng

Tiêu sơn tráng sĩ là cuốn tiểu thuyết lịch sử hay nhất của văn học Việt Nam từNam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đến ngày nay Tiểu thuyết lịch sử luôn luôn lôi cuốn, làm cho

chúng ta thích thú, bởi các biến cố dồn dập, các tác động vũ bão, các nhân vật từ trong

chính sử bước ra với những cử chỉ, ngôn ngữ của một thời khác, được sinh động lại dưới mắt ta Sự thành công đầu tiên của một tiểu thuyết lịch sử là gây lại được không khí lịch

sử của thời mà truyện xẩy ra Trong những tác phẩm kinh điển như Đông Chu Liệt Quốc,

Tam Quốc Chí, của Tàu, hoặc Hoàng Lê Nhất Thống Chí của ta, các tác giả xây

dựng không khí ấy bằng ngôn ngữ và hành động của nhân vật Đối thoại và hành động rất

cần thiết nhưng chưa đủ để tạo dựng lại một triều đại, còn phải nhờ vào tình tiết éo le, vànhất là phải biết cách ép thời gian lại, tức là dồn rất nhiều biến cố chặt ních trong mộttrang sách Nói tóm lại tiểu thuyết lịch sử cổ điển dựa trên ba nguyên tắc: tình tiết ly kỳ,đối thoại đốp chát và hành động xuất thần

Trong Tiêu sơn tráng sĩ, Khái Hưng cũng chỉ dùng những nguyên tắc ấy: ông dựng

không khí tiểu thuyết bằng ngôn ngữ Việt cuối thế kỷ XVIII, bằng những nhân vật tiêubiểu của thời đại, nhưng trái với kỹ thuật của người xưa, ông không ép thời gian lại

mà kéo thời gian giãn ra Ông kéo thời gian giãn ra, để cho nhân vật sống những giây

phút lãng mạn, với những cô đơn, những nghiệm suy, với tình yêu, với nghệ thuật Ôngcũng không dùng tình tiết ly kỳ để lôi cuốn, mà mê hoặc độc giả bằng tính trinh thám,bằng không khí âm u của núi rừng, bằng phong cảnh thần tiên của vùng Từ Sơn Kinh

Bắc Trong Tiêu sơn tráng sĩ, văn thơ Phạm Thái gắn liền với đồi núi trữ tình từ trung du đến Lạng Sơn Trong hành tung của các tráng sĩ Tiêu sơn có bí mật Thế Lữ vàng và máu Dưới tấm áo nâu sồng có rùng rợn của các ác tăng, có vương giả của hoàng phi, có

xuất quỷ nhập thần của Nhị Nương tráng sĩ Dưới gia trang bình dị của Kiến Xuyên Hầu,

có tiết liệt của Long Cơ, có đam mê của Quỳnh Như đến chết Tác phẩm hội tụ nhiều

khía cạnh của Khái Hưng trong một, thể hiện tâm hồn cao thượng và tình yêu nghệ thuật

của Khái Hưng, chứng tỏ địa bàn sâu rộng của ngòi bút Khái Hưng về lịch sử, văn hoá,địa lý, đất nước và con người

Khái Hưng luôn luôn đi trước định mệnh, đã nhìn thấy hành trình của đảng Hưng Việt,

từ khi vừa thành lập, đã đoán được những thất bại chua cay, đã nhìn thấy sự bất lực củachữ nghiã trong một đảng ái quốc bạo động Khái Hưng thấy mình trong Phạm Thái

Trang 18

Tác phẩm vượt khỏi tầm tiểu thuyết lịch sử, để đến với văn chương và tư tưởng Dựng lạikhung cảnh và không khí đất Bắc dưới thời Lê mạt với những hạng người đủ mặt từ thảokhấu đến anh hùng, từ văn nhân tài tử đến lớp cùng đinh, từ người hiền ở ẩn đến trí thứchành động, từ tráng sĩ đội lốt nhà sư đến bọn hổ mang nâu sồng hành thích một quầnthể nhân dân đủ mọi hạng người, đều có mặt, đều sống cái đạo riêng của mình, đều phôbày tư cách và tâm hồn dưới ngòi bút Khái Hưng, tài tình và điêu luyện trong nghệ thuật

mô tả lẫn nghệ thuật tâm lý, hai yếu tố chính của tiểu thuyết lúc bấy giờ Bí mật trinhthám liên kết với hành tung xuất quỷ nhập thần, can trường nhưng vô hiệu của đám thanhniên tráng sĩ, thấm nhuần văn hoá dân tộc, qua bàn tay phù thủy chữ nghiã của Khái

Hưng, trở thành một bức họa hoành tráng về sự thất bại của bạo lực cách mạng, về tâm hồn cao thượng của văn chương.

hệ thần kinh nho giáo phong kiến tập tành Tây học Do đó, những tác phẩm trong giaiđoạn này có những đổi mới Tây hóa trên nhiều bình diện, từ hình thức thể loại đến tưtưởng, bút pháp,…Bên cạnh những thành công và nổi bật cách tân của Thơ Mới cùng Tựlực văn đoàn thì ở thể văn trần thuật, quá trình hiện đại hóa văn chương được phán ánhmột cách đậm đặc nhất Những thể văn vốn được coi là “bên lề” đời sống văn học – tiểuthuyết, truyện ngắn, thì đến giai đoạn này vụt sáng trở thành những vận động viên tiềmnăng, những ứng cử viên sáng giá của nền văn học đang trong giai đoạn chuyển giao Thể văn trần thuật nói chung, tiểu thuyết nói riêng trong những năm 1900 - 1945 có sựphát triển hết sức mạnh mẽ trên nhiều mặt, từ đội ngũ tác giả, sự đa dạng về thể tài, sựphong phú về đề tài và chủ đề đến sự hiện đại của thi pháp Những đổi mới này rõ ràngcho thấy sự đổi mới về tư tưởng, nhận thức từ chính chủ thể sáng tạo lẫn chủ thể tiếpnhận Bởi lẽ, đến giai đoạn này, quá trình trao đổi hai chiều giữa tác giả - tác phẩm –

Ngày đăng: 19/08/2022, 21:11

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w