Theo từ điển thuật ngữ văn học: Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn … đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch.Theo SGK Ngữ văn 12, tập 2: Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn ngữ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, nhân vật, dõi theo diễn biến của câu chuyện, làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút. Như vậy, tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật theo tâm trí mình.Cần phân biệt tiếp nhận và đọc. Tiếp nhận rộng hơn đọc, vì trước khi có chữ viết và công nghệ in ấn, tác phẩm văn học đã được truyền miệng. Ngày nay, khi tác phẩm văn học chủ yếu được in ra, nhiều người vấn tiếp nhận văn học không phải do đọc bằng mắt mà nghe bằng tai, như nghe chính tác giả đọc thơ, nghe ―đọc truyện đêm khuya trên đài phát thanh …
Trang 1MỤC LỤC
I VỀ TRƯỜNG PHÁI MỸ HỌC TIÊP NHẬN KONSTANZ
1 Hans Robert Jauss
2 Wolfgan Iser
3 Đánh giá
4 Quan niệm chung của trường phái Kontanst
*Giống:
*Khác:
II MỐI QUAN HỆ GIỮA SÁNG TÁC VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC.
1 Văn học với tư cách là hàng háo thì có gì khác so với hàng hóa thông thường
2 Mối quan hê giữa sáng tác và tiếp nhận
III NGƯỜI ĐỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐỌC TRONG GIAO
TIẾP VĂN HỌC.
1 Từ bạn đọc ẩn tàng đến bạn đọc thực tế
2 Tầm đón nhận
3 Động cơ tiếp nhận
4 Tâm thế tiếp nhận
5 Vai trò của người đọc
*Khác nhau giữa giao tiếp thông thường với giao tiếp văn học:
IV IV VAI TRÒ CỦA HỌC ĐỘNG PHÊ BÌNH TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HỌC.
1 Phê bình và tiếp nhận
2 Vai trò của phê bình đối với nhà văn
3 Vai trò của phê bình đối với tác phẩm
4 Vai trò của phê bình đối với độc giả
5 Các khuynh hướng phê bình
5.1 Phê bình lý luận
5.2 Phê bình Ngoại quan – nội quan
Trang 2VỀ TRƯỜNG PHÁI MỸ HỌC TIÊP NHẬN KONSTANZ
5 Hans Robert Jauss
- Tác phẩm được nhà văn viết ra mới chỉ là văn bản, chỉ khi nào được tiếp nhận mới là tác phẩm thực sự Sự tiếp nhận đó có sự sáng tạo riêng của người đọc
- Trong hệ thống lý thuyết của ông khái niêm “tầm đón nhận” giữ vị trí
hạt nhân Tầm đón nhận được hình thành bởi: kinh nghiệm sống, trình độ văn hóa, tính cách, thị hiếu thẩm mĩ Nó định hướng cảm nhận người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm Chính nó đã quyết định mức độ, tính chất và hình thức tiếp nhận tác phẩm ở người đọc
- Tầm đón nhận của người đọc được tác giả nhận thức, rồi đem phối hợp
với ý đồ chủ quan của mình, hình thành nên được một “tầm đón nhận”
ẩn tàng trong tác phẩm với hi vọng rằng người đọc sẽ cảm nhận và cảm
thụ đúng như thế
6 Wolfgan Iser
- Hai công trình tiêu biểu của ông là Hoạt động đọc và kết cấu vẫy gọi
- Văn bản tiềm ẩn: là văn bản của tác phẩm trước khi được tiếp nhận, trong
đó hàm ẩn một người đọc - người đọc ẩn tàng Ông cho rằng trong văn
bản tiềm ẩn chứa đựng một kết cấu vẫy gọi Trong một tác phẩm phải có những điểm chưa xác định, điểm bỏ trống để vẫy gọi người đọc phát huy tính sáng tạo và tưởng tượng của mình để bô sung và lấp các chỗ trống ấy
- Về sự sản sinh ý nghĩa của văn bản ông cho rằng không đơn thuần là do một bên văn bản hay người đọc, mà là kết quả của sự tương tác song phương
- Về quá trình đọc: khi đọc tác phẩm phải tránh điểm nhìn cố định, để dẫn đến chỗ xuyên tạc
7 Đánh giá
- Không thể lấy người đọc làm trung tâm của hoạt động văn học: người đọc quả là có vai trò quan trọng bởi vì qua đó văn học mới thực hiện được tác dụng của mình, nhu cầu ngày càng tăng của nó sẽ góp phần thúc đẩy sáng tác văn học phát triên và nâng cao
- Nhưng tất cả vai trò và tác dụng quan trọng đó chỉ diễn ra khi có tác phẩm Không có tác phẩm thỉ “người” vẫn còn đây và dĩ nhiên cũng không có cái gọi là “người đọc” Bên cạnh đó muốn có tác phẩm thì phải
Trang 3có nhà văn, nhưng nhà văn cũng không thể giữ vai trò trung tâm, bởi không có tác phẩm thì “nhà” vẫn còn đây nhưng không phải là “nhà văn”
như vậy Mĩ học tiếp nhận tuyệt đối hóa vai trò người đọc là sai lần
- Cho nhà văn viết ra VB chứ chưa phải là tác phẩm: Điều này là kết quả của việc cho người đọc lên ngôi, cho nên cũng rất sai trái
+ Chẳng phải Mĩ học tiếp nhận đã cho rằng bất kì văn bản nào nhà văn viết ra cũng chứa đựng một người đọc ẩn tàng hay sao Như vậy quá trình sáng tác là quá trình đối thoại giữa nhà văn với người đọc ẩn tàng
+ Nếu cho rằng người đọc ẩn tàng chỉ là người đọc trong tưởng tượng thì
có thể trả lời rằng bất kì văn bản nào nhà văn viết ra cũng có một người đọc thực tế và rất có thể đã đọc đi đọc lại ất nhiều lần – đó chính là tác giả Sự chuyển dịch từ người viết sang người đọc là điều tất yếu phải xảy
ra Và nên nhớ, với tư cách là người đầu tiên đọc tác phẩm của mình, nhà văn không phải người đọc tầm thường Họ từng “độc thư phá vạn quyển” cho nên tầm đón không thể xoàng xĩnh
+ Nếu cho nhà văn viết xong không thèm đọc hoặc không kịp đọc đã đưa
đi in thì sao? Không phải đợi đến khi hoàn thành bản thảo, nhà văn đã xuất hiện với tư cách là người đọc trong quá trình sáng tác
8 Quan niệm chung của trường phái Kontanst
*Giống:
+ Phủ nhận thuyết Văn bản là trung tâm (phủ nhận vai trò của tác giả,
phủ nhận tất cả mối quan hệ của VB với hoàn cảnh bên ngoài) của chủ nghĩa cấu trúc và phê bình mới
+ Đưa người đọc làm trung tâm lê hàng đầu
*Khác:
+ Jauss: LSVH phải là lịch sử tiếp nhận (lấy người đọc làm trung tâm) Tầm đón nhận là yếu tố sẵng có của người tiếp nhận, bao hàm yếu tố chủ quan của họ: thị hiếu, vốn sống, trình độ VH
+ Iser: hoạt động đọc và kết cấu vẫy gọi
Từ thời đại này đến thời đại khác,
nâng cao chất lượng tác phẩm, mở
rộng, hoàn thiện ý nghĩa của tác phẩm
Không đươc lấy người đọc làm trung tâm (rất cực đoan), không phủ nhận vai trò của tác giả
MỐI QUAN HỆ GIỮA SÁNG TÁC
Trang 4VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC.
3 Văn học với tư cách là hàng háo thì có gì khác so với hàng hóa thông
thường
- Văn chương cũng nằm trong vòng sản xuất như Mác đã nói: nó cũng là hàng hóa nhưng nó có điểm khác so với hàng hóa thông thường:
+ Nó là hàng hóa phi vụ lợi, không phải hạch toán, tính toán lời lãi
+ Nó là một loại hàng hóa tinh thần không định lượng được
+ Người tiếp nhận cũng không vụ lợi
+ Nó là hàng hóa nhưng nó đặt giá trị thẩm mĩ lên hàng đầu chứ không như hàng háo thông thường đặt công dụng lên hàng đầu “Đọc một bài văn hay cũng không bằng ăn một món ăn ngon thích lắm” đem đến khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc
+ Là sáng tác độc đáo duy nhất không lặp lại
4 Mối quan hê giữa sáng tác và tiếp nhận
- Vai trò của sáng tác:
+ Nó tạo ra đối tượng của tiếp nhận đồng thời nó tạo ra phương thức tiếp nhận
Vd: bài thơ, không chỉ đi tìm sự kiện tìm mạch cảm xúc Nếu là truyện phả đi tìm mạch cốt truyện
+ Nó tạo ra chủ thể tiếp nhận mới
Vd : Thơ mới xuất hiện, người ta thấy xa lạ, khó chịu, ghẻ lạnh Nhưng dần dần họ bắt đầu đón nhận nó bằng một tầm đón nhận mới
- Vai trò của tiếp nhận:
+ Giải mã kí hiệu thẩm mĩ, tìm ra ý nghĩa (người đo)
+ Phản hồi lại quá trình sáng tác, bằng số lượng người đọc, số lượng phát hành Ngoài ra còn có con đường phản hồi bằng tranh luận VH, thư từ + Sàng lọc, bảo tồn tác phẩm, tác phẩm hay thì lưu giữmãi mãi theo thời gian, tác phẩm dở thì bị cuốn theo chiều gió, đào thải
Cả hai vai trò đều khắn khít làm tiển đề cho nhau Không cái nào giữ vai rò riêng và độc lập cả Không có sáng tác thì không có tiếp nhận Không có tiếp nhận không có sáng tác thì không thúc đẩy sáng tác mới phát triển
NGƯỜI ĐỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐỌC
Trang 5TRONG GIAO TIẾP VĂN HỌC.
6 Từ bạn đọc ẩn tàng đến bạn đọc thực tế
- Văn bản tác phẩm được nhà văn viết ra vốn chứa đựng một người đọc ẩn tàng, người đọc giả định Bởi vì khi sáng tác nhất định nhà văn phải nghĩ đến việc “viết cho ai”, Nhà văn ít nhiều không thể không hình dung ra bạn đọc của mình và sáng tác dó đó từ ý đồ đến VB đều hướng đến bạn đọc giả định đó
Vd: trong Sở kiến hành sau khi vẻ ra cảnh đối lập giữa một bên là mấy mẹ
con người ăn mày lang thang trong cảnh mất mùa đói kém với bên kia là cảnh mâm cỗ đầy, yến tiệc linh đình, Nguyễn Du đã viết:
Ai vẽ bức tranh này
Để dâng lên vua?
Một cách gián tiếp, có thể thấy Tố Như trước hết muốn đấng bề trên đọc đến bài thơ này
- Từ bạn đọc ẩn tàng, giả định có thể biến thành người đọc thực tế trong trường hợp trùng khớp này có khả năng xuất hiện giao cảm tối đa giữa nhà văn và bạn đọc Tuy nhiên rất hiếm, từ bạn đọc ẩn tàng đến bạn đọc thực tế khó thấy sự trùng khớp hoàn toàn, tầm đón nhận của họ đôi khi trái ngược với mong muốn của tác giả nhiều khi vượt khỏi những mong muốn của tác giả mà tác giả không hề hay biết
7 Tầm đón nhận
- Chủ quan, thực tiễn sống, thế giới quan, nhân sinh quan, nghề nghiệp tuổi tác, giới tính, cá tính
Vd: Nữ giới thích những câu chuyện kì ảo, thanh niên say mê những câu
chuyện yêu đương, già thì muốn xem những câu chuyện nhân tình thế thái
8 Động cơ tiếp nhận
- Muốn được hưởng thụ, bồi đắp tình cảm thẩm mĩ: mở rộng tâm hồn, hướng về cái cao đẹp hoàn thiện, biết rung động trước chân lý, số phận con người, vận mệnh đất nước
- Muốn được mở mang trí tuệ: biết thêm quy luật LS, bản chât XH, chế độ, phong tục tập quán, đặc sắc văn hóa
- Muốn được bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lí tưởng: xây dựng những lẽ sống, thái độ nhân sinh
Trang 6- Muốn học hỏi kinh nghiệm sáng tác, rút kinh nghiệm trước những thất bại của đàn anh
- Đọc để phân tích nhận xét, đánh giá: cảm thụ, mổ xẻ, phân tích nội dung – hình thức để rút ra những giá trị của nó
9 Tâm thế tiếp nhận
- Phụ thuộc vào trạng thái, tâm trạng
10 Vai trò của người đọc
- Giao tiếp: giao lưu, trao đổi, đối thoại giữa ít nhất là hai cá nhân và phải
sử dụng cùng hệ thống ngôn ngữ Nó gồm những yếu tố: đối tượng giao tiếp, nội dung, ngôn ngữ, hoàn cảnh, mục đích giao tiếp
*Khác nhau giữa giao tiếp thông thường với giao tiếp văn học:
+ Không giao tiếp trực tiếp mà qua văn bản văn học
+ Dùng những kí hiệu ngôn từ thẩm mĩ để giao tiếp, người đọc phải giải
mã để cảm nhận
+ Giao tiếp văn học không chỉ là giữa tác giả - người đọc, mà còn giữa người đọc - người đọc, thế hệ này – khác
- Vai trò của người đọc:
+ Là người nhận thông điệp qua nội dung giao tiếp và giải mã nó tức là
cụ thể hóa nội dung thông điệp mà tác giả đã gửi gắm thông qua các kí hiệu
+ Giúp văn học phát huy tính xã hội thẩm mĩ
+ Thực hiện quá trình động sáng tạo để tìm ra ý nghĩa của tác phẩm Có khi ý nghĩa này trùng với ý nghĩa ban đầu tác giả đặt ra, cũng có khi vượt khỏi ý nghĩa ban đầu tác giả đặt ra mà tác giả không biết, không nghĩ tới + Phản hồi lại bằng bài phê bình, dư luận xã hội
+ Người đọc phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức kịp thời để đón nhận những cái mới hiệu quả,
VAI TRÒ CỦA HỌC ĐỘNG PHÊ BÌNH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC.
6 Phê bình và tiếp nhận
Người nói (phát) -Nội dung giao tiếp -Người nghe (nhận)
Trang 7- Đời sống văn học là hoạt động tinh thần trong xã hội thuộc lĩnh vực nghệ thuật Nó là đời sống tinh thần vì ăn học thuộc phạm trù tinh thần bao gồm nhiều yếu tố:
-7 Vai trò của phê bình đối với nhà văn
- Vạch ra con đườn giúp nhà văn đến với độc giả Truyền bá tư tưởng của tác giả đến với người đọc (tư tưởng của tác giả được nhà phê bình tìm ra
và truyền đến độc giả, công chúng Họ biết đến nhà văn là qua nhà phê bình)
- Nhà phê bình kích thích không khí sáng tác Tạo nguồn động lực cho nhà văn tiếp tục sáng tác, người phê bình giữ vai trò như người giám sát, nhưng đôi lúc cũng gây ra sự bất lực giữa hai bên, tạo nên những cuộc đối thoại bình đẳng, đây cũng là một trong những yếu tố kích thích quá trình sáng tác của nhà văn Nhà phê bình tuy kh6ong sáng tác nhưng dóng vai trò nâng cao chất lượng văn chương, thúc đẩy nhà văn sáng tác
8 Vai trò của phê bình đối với tác phẩm
Nhà văn (tạo ra tp) -trung tâm- Tác phẩm -Người đọc (tiếp nhận tp)
Hiện thực mà tác giả nhìn
thấy được, được đưa vào tác
phẩm Nhà văn thể hiện cái
bóng dáng cuộc đời vào tác
phẩm
Liên hệ điều gì đó với hiện thực
Nền văn học có được thúc đẩy phát triển
hay không phụ thuộc vào chất lượng tác
phẩm
Chất lượng tác phẩm được kiểm nghiệm bởi người đọc – nhà phê bình
Lý luận văn học
Trang 8- Nhà phê bình là người đọc đáng tin cậy, bởi vì nhà phê bình phải là người có trình độ, có tầm đón nhận mới tiếp nhận tác phẩm hiệu quả, để hữu hình hóa những ý nghĩa tiềm ẩn đằng sau VB
- Nhà phê bình còn quyết định số phận của tác phẩm Một tác phẩm sẽ được tiếp tục tồn tại hay bị đào thải
Vd: kép tư bền của Nguyễn Công Hoan
9 Vai trò của phê bình đối với độc giả
- Nhà phê bình là một độc giả đặc biệt, đối với người đọc nhà phê bình có vai trò hướng dẫn công chúng, dư luận trong việc tiếp nhận tác phẩm, bởi nhà phê bình là người có trình độ, đã trang bị tất cả tầm đón nhận Việc định hướng này còn thể hiện ở việc chỉ ra cái hay, cái chưa hay của tác phẩm, giúp người đọc giải mã những điều chưa rõ
- Chỉ ra hiện thực được phản ánh trong tác phẩm và chỉ ra giá trị của nó cho người đọc hiểu
Vd: chúng ta không sống ở giai đoạn 30 – 45 nhưng nhờ các nhà phê bình mà ta hiểu rõ bối cảnh của thời đại đó
*Lưu ý:
- Nhà phê bình chỉ ra những giá trị cuộc đời trong tác phẩm
Vd: Nam Cao rất ưa triết lý “Một bữa no”, “Chi phèo”
- Nhà phê bình góp phần thúc đẩy nên văn học Nhà phê bình như tấm gương soi cho nền VH Những nhà phê bình đóng góp cho nền văn học những tác phẩm phê bình có giá trị - một thể loại giá trị
- Đối với lí luận VH, Nhà phê bình chỉ những thuộc tính nào đó của văn học, tổng kết bản chất văn học của từng thời kì
Vd: các Nhà phê bình đã chỉ ra tính chất hậu hiện đại của tác phẩm
“Tướng về hưu” – Nguyễn Huy Thiệp, “Nổi buồn chiến tranh” – Bảo Ninh
- Nhà phê bình nêu lên, chỉ ra giúp người đọc thấy được chức năng của văn học: giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, nhận thức
Vd: Hoài Thanh là người rất đề cao chức năng thẩm mĩ của văn chương
Phê bình văn học là bộ phận không thể thiếu của nền VH
10.Các khuynh hướng phê bình
10.1 Phê bình lý luận
Trang 9- Là phê bình đạo đức, lấy quan điểm đạo đức nào đó của mình để soi rọi vào tác phẩm Khuynh hướng này đa dạng, vì có nhiều quan niệm đạo đức khác nhau trong cuộc sống
Vd: Truyện kiều
Người rất khen – Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”
Người rất chê – Ngô Đức Kế: ông đã kịch liệt chống lại chủ trương
đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh Vì theo ông, tác phẩm ấy đã
làm cho các thanh niên"say đắm trong trời tình biển ái mà mềm nhũng cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa"
10.2 Phê bình Ngoại quan – nội quan
Ngoại quan
- Là lấy yếu tố bên ngoài tác phẩm để làm tiền đề phê phán những yếu tố bên trong tác phẩm
Vd: Đặt tác phẩm vào 1 hoàn cảnh LS –XH để so sánh tác phẩm đó có
phản ánh được hoàn cảnh hay không
- Nếu quá lạm dụng trở nên dung tục, đề cao chủ nghĩa hiện thực
- Có nhiều người lấy tác giả làm tiền đề (khuynh hướng phê bình tiểu sử học)
Vd:
Có nhà phê bình đã phê bình tác phẩm của HMT dựa trên hững yếu tố: tôn giáo, bệnh tật, các mối tình làm có cảm giác quá gượng ép, giải thích vấn đề không hợp lý, không tương xứng
Có người nghi ngờ giới tình của XD qua nghi án bài thơ “Tình Trai”
Ta biết ngày mai em có vợ
Đi làm hai bữa, tối về thăm Cơm xong, chén nước chờ bên cạnh;
Em bế thằng con được mấy năm.(Tặng bạn bây giờ)
- Lý giải dựa trên tâm lý phân tâm học Nhưng khuynh hướng này cũng
bất cập, khiên cưỡng
Vd: VTP có nhiều ẩn ức không thể giải quyết được trong thực tế nên tác
phẩm của ông có nhiều cái dâm
Trang 10 Nội quan
- Lấy bản thân thế giới nghệ thuật để phê bình Chẳng hạn như lấy thi
pháp học Không nên lấy cái bên ngoài để áp đặt lên nó
- Phê bình thẩm mĩ cũng là một hình thức nội quan, lấy cái đẹp trong
chính bản thân tác phẩm đó (khuynh hướng này có Hoài Thanh) chứ không lấy những yếu tố bên ngoài để phê bình, nhận xét
Vd: “Thi nhân VN” là đi tìm cái đẹp của những bài thơ vần thơ “Khi xem
thơ tôi chỉ biết có thơ” Quan niệm phê bình văn học của ông: yêu cái đẹp,
Hoài Thanh chỉ chọn cái đẹp, cái hay trong văn chương để bình, chứ không phê, và bình bằng cả tâm hồn mình, bằng cả con người văn hóa của mình
Vế thứ 2 vì sao lấy vd là "Kép tư bền" vì chủ soái của phái nghệ thuật vị nhân sinh là Hải Triều trước khi kép tư bền ra đời thì ông chỉ có những lí thuyết để tranh luận cùng những người đại diện của phải vị nghệ thuật nên khi kép tư bền ra đời là minh chứng đanh thép nhất để ông phản biện Thế là 1 cuộc tranh luận về kép tư bền diễn ra 1 bên ca ngợi nội dung của kép tư bền ns nghệ thuật k là yếu tố quan trọng để làm nên thành công của tác phẩm, một bên cho rằng nội dung của kép tư bền cũng bình thường nghệ thuật mới là điều đáng nói Thế là dù bên nào tranh luận rasao thì Nguyễn Công Hoan vẫn thấy hãnh diện về kép tư bền Như thế
mà kép tư bền dù chưa tới tay bạn đọc đã có chỗ đứng trên văn đàng Người đọc thì tò mò vì sao tác phẩm này được các nhà phê bình quan tâm tranh luận đến thế nên tìm đọc Và kép tư bền nổi tiếng