1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng âu hóa ở việt nam từ góc nhìn văn hóa (phản ánh qua văn học giai đoạn 1930 1945)

104 183 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm hiểu văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa phương Tây giai đoạn 1930-1945 và nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi chọn đề tài Hiện tượng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN VĂN HIỆU



Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

6 Ý nghĩa khoa học 10

7 Bố cục của luận văn 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Văn hóa và tiếp biến văn hóa 12

1.1.2 Khái niệm “Âu hóa” 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Bối cảnh văn hóa - lịch sử 18

1.2.2 Thực tiễn văn học 1930-1945 24

CHƯƠNG 2: HIỆN TƯỢNG “ÂU HÓA” TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA VẬT CHẤT 29

2.1 Quan điểm của các nhà văn về hiện tượng “Âu hoá” trên bình diện văn hoá vật chất 30

2.1.1 Trang phục 30

2.1.2 Tiện nghi vật chất 38

2.2 Nguyên nhân của những xu hướng phản ánh hiện tượng “Âu hóa” trên bình diện văn hoá vật chất 49

2.2.1 Xu hướng ủng hộ 49

2.2.21 Xu hướng phê phán 52

CHƯƠNG 3: HIỆN TƯỢNG “ÂU HÓA” TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA TINH THẦN 54

3.1 Quan điểm của các nhà văn về hiện tượng “Âu hoá” trên bình diện văn hoá tinh thần 54

3.1.1 Ngôn ngữ 55

3.1.2 Các hình thức giải trí và nghệ thuật …59

3.1.2.1 Các hình thức giải trí 59

3.1.2.2 Nghệ thuật 65

3.1.3 Các mối quan hệ trong gia đình và xã hội 67

3.1.3.1 Quan hệ gia đình 67

3.1.3.2 Quan hệ xã hội 77

3.2 Nguyên nhân của những xu hướng phản ánh hiện tượng “Âu hóa” trên bình diện văn hoá vật chất 82

3.2.1 Xu hướng ủng hộ 82

3.2.2 Xu hướng phê phán 84

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếp xúc và tiếp biến văn hoá phương Tây ở Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX

là một vấn đề lớn trong lịch sử văn hoá Việt Nam, đặc biệt là vào những năm từ 1930-1945, khi quá trình tiếp xúc văn hoá Việt Nam – phương Tây đã trải qua một thời gian tương đối dài và đi vào thời kỳ tiếp biến “mạnh”, toàn diện nhất

Hiện thực xã hội của giai đoạn 1930-1945 được phản ánh sinh động và phong phú qua văn học Việt Nam thời kỳ này Trong bức tranh hiện thực khá đa dạng đó nổi lên hiện tượng “Âu hóa”, chủ yếu gắn với cái nhìn phê phán của nhiều tác giả nổi tiếng như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố…, trong đó nổi bật nhất là Vũ Trọng Phụng

Nhưng tại sao lại có hiện tượng “Âu hóa”? Điều này phản ánh đặc điểm gì của văn hóa Việt Nam giai đoạn 1930–1945 trong quá trình tiếp xúc với văn hóa, văn minh phương Tây và tại sao hiện tượng này chủ yếu gắn với cái nhìn phê phán của nhiều nhà văn, nhiều trí thức đương thời?

Nhằm tìm hiểu văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa phương Tây giai đoạn 1930-1945 và nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên,

chúng tôi chọn đề tài Hiện tượng “Âu hóa” ở Việt Nam từ góc nhìn văn hóa (Phản ánh qua văn học giai đoạn 1930–1945) để làm luận văn tốt nghiệp cao học

văn hóa học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua hiện tượng “Âu hóa” được phản ánh trong tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, luận văn góp phần tìm hiểu tiếp xúc văn hóa Việt Nam - phương Tây gắn với bối cảnh văn hóa, lịch sử - xã hội của Việt Nam giai đoạn này

- Góp phần lý giải những đặc điểm có tính quy luật của giao lưu và tiếp biến văn hóa gắn với trường hợp văn hóa Việt Nam

- Góp phần tìm hiểu vai trò của văn học với tư cách là một bộ phận của văn hóa trong việc phản ánh hiện thực và định hướng giá trị, cụ thể là trong bối cảnh

văn hóa, văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945

Trang 5

Đối với những chuyên ngành như tôn giáo, kiến trúc, hội họa, âm nhạc, sân khấu, kinh tế… đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của phương Tây đối với Việt Nam đầu thế kỉ XX Có thể kể một số công trình nghiên cứu sau đây:

Về tôn giáo:

- Đỗ Quang Hưng 1991: Một số vấn đề về lịch sử Thiên chúa giáo ở Việt

Nam, ĐHTH Hà Nội, 1991 Trong công trình này, tác giả đã tổng kết lại lịch sử của

Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, quá trình du nhập và phát triển khó khăn của Thiên chúa giáo trước rào cản vững chắc của tôn giáo bản địa đã hình thành từ hàng ngàn năm Trong quá trình đó, những vấn đề mà Thiên chúa giáo gặp phải trên đường đi cũng chính là những vấn đề văn hóa: hòa hợp với cuộc sống của cư dân bản địa, thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của họ, hài hòa với các tôn giáo khác…

- Nguyễn Văn Kiệm, “Vai trò của Giáo hội Thiên chúa giáo trong cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử

số 3, 1998 Tác giả đã nhìn nhận vai trò của Thiên chúa giáo trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như một công cụ dẫn đường hữu hiệu Thiên chúa giáo là bước chân đầu tiên người phương Tây đặt lên lãnh thổ Việt Nam dưới danh nghĩa hòa bình Về khía cạnh văn hóa, nó cũng là phần khởi đầu cho một kế hoạch đồng hóa văn hóa lâu dài phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa Tư bản phương Tây

Trang 6

- Khổng Đức Thiêm, “Vài nét về tình hình công giáo ở Liên khu IV trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số

3, 2002 Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã thống kê cụ thể số giáo dân ở liên khu

IV trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Sự gia tăng của giáo dân, tuy chậm nhưng ổn định là minh chứng cho sự phát triển của Thiên chúa giáo ở Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng đánh giá khách quan: sự phát triển của Thiên chúa giáo không hoàn toàn phục vụ cho kế hoạch đồng hóa văn hóa của người phương Tây mà nó hòa nhập với cuộc sống của người Việt như một yếu tố văn hóa mới, người Việt bắt đầu tiếp nhận nó trên nền tảng của văn hóa bản địa, tiếp nhận nó mà không đánh mất văn hóa của mình

- Nguyễn Nguyên Hồng, “Thử bàn về vấn đề đổi đạo hay nguyên nhân du

nhập và tiếp nhận đạo công giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5,

2006…

Trong những nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu tiếp xúc với văn hóa Pháp đều xem sự ra đời và phát triển của Thiên chúa giáo là một trong những chuyển biến quan trọng trong lịch sử Dưới góc nhìn văn hóa, sự phát triển của Thiên chúa giáo bản thân nó vừa là biểu hiện của tiếp xúc văn hóa Việt Nam – phương Tây giai đoạn đầu, vừa là tiền đề cho cuộc tiếp biến lớn hơn ở giai đoạn 1930-1945

Về kiến trúc

- Lê Quang Minh, Sài Gòn - ba thế kỉ phát triển và xây dựng, NXB Tổng hợp

TP HCM, 2004 Công trình này tổng hợp những bài nghiên cứu về phong cách kiến trúc và xây dựng của Sài Gòn xưa và nay, đặc biệt vào những năm đầu thế kỉ XX

- Bertrand de Hartigh, Anna Craven và nhiếp ảnh gia Luca Invernizzi

Tettoni, VietNam style, NXB Periplus, 2008 Đây là công trình đầu tiên viết về kiến

trúc cổ và đương đại của Việt Nam Theo các tác giả, kiến trúc Việt Nam có sự ảnh hưởng rất lớn của Trung Hoa và phương Tây, nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của

- UBND Tp HCM & Tổng lãnh sự Pháp, Sài gòn 1698- 1998 Kiến trúc – quy

hoạch, NXB TP HCM, 1998 Công trình này tổng hợp kiến trúc và quy họach của

Sài Gòn trong một giai đoạn rất dài Một phần quan trọng trong khoảng thời gian đó

Trang 7

là từ 1858 đến 1954 Những bản quy hoạch đô thị (kiến trúc, đường sá, cầu cống, kênh rạch…) của Pháp đã hoặc chưa kịp áp dụng đều được công bố đầy đủ và chi tiết Những dự án xây dựng Sài Gòn của người Pháp đã để lại dấu ấn khó phai nhạt trong diện mạo của Sài Gòn, riêng về khía cạnh kiến trúc và quy hoạch đô thị Ngoài ra còn nhiều công trình sưu tầm hình ảnh lịch sử, văn hoá, xã hội Việt Nam thời kì giao lưu với văn hoá Pháp Tiêu biểu phải kể đến:

- Tạp chí Xưa và nay tổng hợp và giới thiệu, Hà Nội - Huế - Sài Gòn đầu thế

kỷ XX, NXB Văn hoá Sài Gòn 2007 Hà nội - Huế - Sài Gòn là ba thành phố đặc

trưng tiêu biểu của Việt nam trong những năm đầu thế kỷ XX, mỗi thành phố đều

có bề dày lịch sử riêng nhưng luôn gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân

tộc Hà nội - Huế - Sài gòn đầu thế kỷ XX tập hợp một số ảnh về ba thành phố này,

qua đó dựng lại một bức tranh gợi lên nhưng nét đổi thay trên ba thành phố tiêu biểu cho ba miền đất nước Sự bảo tồn những nét truyền thống gắn với lịch sử của Hà Nội trong bước đầu chuyển mình; những nét cổ kính của Huế gắn liền với một triều đại đã qua; những cái mới của Sài gòn trên con đường xây dựng một thành phố hiện đại Qua những bức ảnh này, thực tế của xã hội Việt Nam trong buổi giao thời đầu thế kỷ XX được hình dung rõ ràng và chân thật

Những nghiên cứu này dựa trên quan điểm của từng chuyên ngành, chứ không chủ đích thông qua đó để nghiên cứu văn hóa Nhưng những tư liệu này giúp ích rất nhiều cho chuyên ngành văn hóa học

Về văn hóa

Khi văn hoá học đã trở thành một ngành khoa học được chú trọng ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu văn hoá, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề giao lưu văn hoá Việt Nam - phương Tây, nhất là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với quá trình hiện đại hóa của văn hóa Việt Nam trong nửa đầu thế

kỷ XX, tiêu biểu như các công trình:

- Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa thông tin, 1994; Bản sắc văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, 1998; Một cách tiếp cận văn

hoá, NXB Văn hóa thông tin, 1999 Tác giả Phan Ngọc đưa ra một số khái niệm

mới như: văn hóa, tiếp xúc văn hóa, khúc xạ, giao lưu, bản sắc, tâm thức… Phan

Trang 8

đó là xuất phát từ các quan hệ, xác định kiểu lựa chọn của một dân tộc hay cộng đồng người để tìm ra được cái bất biến trong tâm thức của họ, từ đó xác định cái riêng, cái độc đáo của mình Từ quan điểm này, ông đã vận dụng vào văn hóa Việt Nam, xác định cái khác, cái riêng của văn hóa Việt Nam quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa

- Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP HCM, 2006 Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một khuynh hướng mới trong nghiên cứu văn hóa Tác giả đã vận dụng lý thuyết này để nêu lên được đặc trưng của văn hóa Việt Nam, không chỉ vậy còn có thể xác định được bản sắc văn hóa của các nền văn hóa khác hay xác định được sự khác nhau giữa các nền văn hóa Hệ thống loại hình của Trần Ngọc Thêm là một phương pháp nghiên cứu văn hóa mới, là một công cụ để nghiên cứu văn hóa Tác giả đã xác định có hai loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục, chỉ ra những đặc trưng chung của hai loại hình; khi nghiên cứu bất

kỳ nền văn hóa nào chúng ta chỉ cần xác định được gốc của nền văn hóa thì sẽ suy

ra được đặc trưng và quy luật phát triển của nó

Ngoài ra, có thể kể đến những công trình nghiên cứu văn hóa khác như:

- Trường Lưu (Chủ biên), Văn hoá và phát triển, NXB Văn hoá - Thông tin,

1995

- Trần Quốc Vượng (Chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục,

1999

- Nguyễn Đình Chú, “Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên

phương diện văn hoá tinh thần truyền thống”, Tạp chí nghiên cứu Đông nam Á số 3

- Đỗ Quang Hưng, “Con người Việt Nam trong môi trường văn hoá phương

Tây cưỡng chế (1897-1945): những giải pháp tiếp nhận”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật số 2/1995 v.v

Dù xuất phát từ quan điểm nào, các nhà nghiên cứu văn hoá đều gặp nhau ở một điểm chung: đều cho rằng giai đoạn giao lưu tiếp biến văn hoá Việt Nam - phương Tây là một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam, góp phần hình thành nên bản sắc của văn hoá Việt Nam hiện đại ngày nay Có thể xem nó tương đương như giai đoạn giao lưu với văn hoá Trung Hoa trước đó, dù

Trang 9

thời gian ngắn hơn rất nhiều, nhưng ảnh hưởng của văn hoá phương Tây với văn hoá Việt Nam là không thể phủ nhận, rất sâu rộng

3.2 Nghiên cứu về hiện tượng “Âu hoá” phản ánh trong tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945

Vì hiện tượng “Âu hóa” xuất hiện trong các tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945, nên khi nghiên cứu giai đoạn văn học này, các nhà nghiên cứu ít nhiều đều nhắc đến hiện tượng “Âu hóa” như một trong những nội dung cơ bản

Tương tự như trên, các nghiên cứu xung quanh hiện tượng “Âu hóa” cũng dựa trên phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Văn học

Hiện tượng “Âu hóa” được phản ánh trong giai đoạn văn học Việt Nam 1930–1945 được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm:

- Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, NXB Đại học và Trung

học chuyên nghiệp, HN 1974 Phan Cự Đệ đã phân tích và nhận định những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam qua các thời kỳ trước 1930, 1930 - 1945,

1945 -1975, và sơ bộ đánh giá tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Trong mỗi thời kỳ, tác giả vừa phân tích các đề tài chính vừa giới thiệu một số phong cách tiêu biểu Trong

đó, tác giả nhắc đến hiện tượng “Âu hóa” với vai trò là một trong những nội dung quan trọng của văn học hiện thực phê phán Thông qua nội dung này, tác giả, theo đúng chuyên ngành văn học, đã làm rõ những vấn đề về bút pháp, tư tưởng và

phong cách của nhà văn

- Nguyễn Đăng Mạnh, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (1930-1945),

NXB Đại học Quốc gia, 2000 Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh tổng hợp quá trình phát triển của văn học Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945 và xem “Âu hóa” không những là nội dung của văn học hiện thực phê phán mà còn là nội dung của thơ ca giai đoạn này Riêng về khía cạnh văn học, tác giả cho rằng “Âu hóa” đã ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học nói riêng, cho ra đời những thể loại văn học mới, những cách thể hiện mới và làm đổi thay tư tưởng của giới văn nghệ sĩ đương thời

Và các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí văn học :

- Phong Lê, “Thời kì 1932-1945 và diện mạo hiện đại của văn học dân tộc”, Tạp chí văn học số 9-2002

Trang 10

- Lê Dục Tú, “Phóng sự Việt Nam 1932-1945 – những đóng góp đặc sắc về mặt nghệ thuật”, Tạp chí văn học số 2 – 2003

- Phạm Quang Long, “Về sự hình thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn

học Việt Nam”,Tạp chí văn học số 1-2005…

Đặc biệt là những công trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, một trong những tác gia phản ánh sâu sắc hiện tượng “Âu hóa” trong đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn 1930–1945:

- Trần Hữu Tá tuyển chọn và giới thiệu, Vũ Trọng Phụng Về tác gia và tác

phẩm, NXB Văn học, 2000

- Phong Lê, Vũ Trọng Phụng Những tác phẩm tiêu biểu, NXB Giáo dục, Tái

bản lần thứ nhất 2001

- Hoàng Ngọc Hiến, Tìm hiểu lịch sử cái gọi là “vấn đề Vũ Trọng Phụng”,

Tạp chí văn học số 12-2002, Dị ứng với cái rởm – một phương diện của trào phúng

Vũ Trọng Phụng, Tạp chí văn học số 10-2002…

Đặc biệt ở nhà văn Vũ Trọng Phụng, hiện tượng “Âu hóa” gần như gắn liền với sự nghiệp sáng tác của ông Nghiên cứu Vũ Trọng Phụng và hiện tượng “Âu hóa”, các nhà phê bình văn học đều nhìn nhận dựa trên những đánh giá về bút pháp trào phúng, nghệ thuật tiểu thuyết và phóng sự của ông

Những công trình nghiên cứu kể trên đã nhìn nhận, đánh giá văn học Việt Nam từ cái nhìn của chuyên ngành văn học Dưới cái nhìn đó, các tác phẩm văn học Việt Nam đầu thế kỷ được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh: nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật cấu trúc tác phẩm… Hiện tượng “Âu hóa” được xem là một trong những nội dung quan trọng của văn học thời kỳ này Các tác giả: Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh… là những nhà phê bình văn học tiên phong phân tích những biểu hiện của phong trào “Âu hóa” dưới góc độ văn học Các tác giả

đã đi từ cuộc đời và hoàn cảnh sống của nhà văn để lý giải những quan điểm của các nhà văn trong cách phản ánh xã hội của họ Cũng như Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh,… hầu hết các nhà nghiên cứu khi đánh giá về xã hội Việt Nam thời kì 1930-

1945 đều cho rằng đây là thời kì rất quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam Xã hội Việt Nam được phản ánh sinh động qua tác phẩm văn học với đầy đủ

Trang 11

mọi khía cạnh của nó, đặc biệt là trong tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…

Tuy vậy, hiện tượng “Âu hóa” được phản ánh trong văn hóa giai đoạn 1930–

1945 vẫn chủ yếu được nghiên cứu từ góc độ nghiên cứu văn học Trong luận văn này, trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi cố gắng tập trung tìm hiểu hiện tượng này từ góc nhìn văn hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hiện tượng “Âu hóa” được phản ánh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của văn hóa Việt Nam nhưng tập trung vào khía cạnh tiêu cực (là nội dung phản ánh chủ yếu của văn học thời kỳ này)

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hiện tượng “Âu hóa” được phản ánh trong tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945 trên các bình diện: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

- Về phạm vi tư liệu: Tập trung ở một số tác phẩm tiêu biểu: tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng, các tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, tác phẩm của Nam Cao… Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát ở những thể loại khác của văn học như thơ, kịch nói,… và báo chí đương thời: Nam phong tạp chí, Phong hóa…

5 Phương pháp nghiên cứu & nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu: chú ý đến đặc trưng của văn học trong phản ánh hiện

thực Hiện thực trong tác phẩm văn học là hiện thực đã được sàng lọc qua quan điểm chủ quan của tác giả Vì thế, không thể trực tiếp tìm hiểu văn hoá thông qua văn học,

mà phải qua một bước trung gian nữa, đó là hiểu được nhãn quan của tác giả, từ đó tìm

hiểu văn hoá

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: nhìn nhận văn học trong hệ thống cấu trúc của văn hóa để tìm ra cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa

- Phương pháp so sánh văn hoá: so sánh giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá

Trang 12

- Phương pháp duy vật lịch sử: đánh giá những sự kiện lịch sử ở những tác động của nó đến quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt Nam – phương Tây

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: tìm hiểu những mối quan hệ giữa văn học và văn hóa để có cơ sở đánh giá khách quan những vấn đề văn hóa trong giai đoạn 1930-1945

5.2 Nguồn tư liệu

- Các tác phẩm văn học trong giai đoạn 1930-1945, có tham khảo thêm những tác phẩm văn học ra đời từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858)

- Báo chí Việt Nam giai đoạn 1930–1945

- Các công trình lý luận văn hóa và nghiên cứu văn hóa Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt Nam – phương Tây là phần quan trọng trong quá trình phát triển của văn hóa Việt Nam Trên cơ sở tìm hiểu hiện tượng “Âu hóa” trong văn học dưới góc nhìn văn hóa, luận văn góp phần làm phong phú và toàn diện thêm những nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với văn hóa Việt Nam, từ đó có những nhìn nhận khách quan về văn hóa Việt Nam đương đại trong quá trình hội nhập với văn hóa thế giới Xã hội Việt Nam hiện nay cũng đang trải qua giai đoạn giao lưu tiếp biến với văn hóa ngoại lai Mặc dù đối tượng tiếp biến rộng hơn và phong phú hơn rất nhiều, nhưng chủ yếu vẫn là văn hóa phương Tây Việc tìm hiểu về giai đoạn tiếp biến với văn hóa phương Tây trước đó sẽ góp phần tìm ra những đặc điểm riêng của từng giai đoạn cũng như quy luật phát triển chung của nó, để có tác động kịp thời, giúp văn hóa dân tộc tránh được nguy cơ đồng hóa, vừa học hỏi được những tiến bộ từ bên ngoài, vừa giữ được nền tảng ở bên trong

Trang 13

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Luận văn trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hiện tượng “Âu hóa”, đồng thời cũng đề cập đến quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt Nam – phương Tây

Chương 2: Luận văn phân tích những xu hướng đánh giá khác nhau của các

nhà văn giai đoạn 1930-1945 đối với hiện tượng “Âu hóa” trên bình diện văn hóa vật chất và tìm hiểu nguyên nhân của những xu hướng đó

Chương 3: Tương tự như chương 2, luận văn phân tích những xu hướng

đánh giá của các nhà văn đương thời trên một bình diện khác của văn hóa: văn hóa tinh thần và xem đây là biểu hiện quan trọng nhất của hiện tượng “Âu hóa” Từ đó, chúng tôi sẽ phân tích nguyên nhân những quan điểm khác nhau của các nhà văn để thấy được những biểu hiện của “Âu hóa” không chỉ trong văn học và trong toàn bộ cuộc tiếp biến văn hóa lớn: Việt Nam – phương Tây giai đoạn 1930-1945

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Văn hóa và tiếp biến văn hóa

Về khái niệm văn hóa, có rất nhiều định nghĩa khác nhau Riêng ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa

Từ đầu thế kỷ XX, Đào Duy Anh đã quan niệm về nghiên cứu văn hoá :“Các điều kiện địa lý có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, song người

là giống hoạt động cho nên trở lại cũng có thể dung sức mình mà xử trí và biến những điều kiện ấy cho thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng biến chuyển theo Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, là nguyên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy!” [Đào Duy Anh 1992: tr.3] Đào Duy Anh đã nhận thấy văn hoá là cách sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá trình lao động trong hoàn cảnh địa lý nhất định Ông còn nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa văn hoá của từng dân tộc

Một nhà nghiên cứu văn hóa khác, tác giả Phan Ngọc, trong Bản sắc văn hóa

Việt Nam đã nêu ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới

biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều

đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác.” [Phan Ngọc 2004: 18] Tác giả Phan Ngọc chú trọng đến “kiểu lựa chọn” của mỗi nền văn hóa Phan Ngọc xác định đối tượng nghiên cứu của văn hóa là quan hệ giữa cái mô hình trong

óc con người với cái mô hình mà họ tạo ra trong hiện thực Nghĩa là, nghiên cứu văn hóa là nghiên cứu ở cấp độ quan hệ chứ không phải ở cấp độ hiện tượng

Trong “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác

Trang 15

giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: tr.25]

Từ định nghĩa của Trần Ngọc Thêm, có thể thấy bốn đặc trưng cơ bản của văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Ở đây, chúng tôi căn cứ và tính giá trị của văn hoá “Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần)” [Trần Ngọc Thêm 2004: 26] Văn hoá có tính hệ thống, và

là đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội Nếu đánh giá theo giá trị, thì có thể chia giá trị văn hoá làm hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, bất cứ một yếu tố nào trong cùng một hệ thống đều không thể phân định rạch ròi, bất biến và độc lập tồn tại Giữa các yếu tố trong hệ thống luôn có sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau

Chúng tôi dựa trên hai định nghĩa về văn hóa của tác giả Phan Ngọc và tác giả Trần Ngọc Thêm để định hướng cho việc tìm hiểu hiện tượng “Âu hóa” phản ánh trong văn học giai đoạn 1930-1945

Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi sẽ tiếp cận hiện tượng “Âu hoá” trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 trên hai bình diện: văn hoá vật chất (chương 2) và văn hoá tinh thần (chương 3) Trên cơ sở phân định như vậy, hiện tượng “Âu hoá” sẽ được đánh giá một cách toàn diện và rõ ràng hơn Tuy nhiên, vì văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ là cách phân định các yếu tố trong cùng một hệ thống giá trị, nên chúng tôi cũng đánh giá cả hai bình diện này trong một mối quan hệ chặt chẽ, và đặt chúng trong mối tương quan với lịch sử, xã hội, văn học Việt Nam 1930-

1945

Tiếp biến văn hóa

Tiếp biến văn hóa là một hiện tượng tất yếu khi có sự giao lưu gặp gỡ giữa các nền văn hóa “Âu hóa” là một trong những biểu hiện của sự tiếp biến văn hóa trong quá trình gặp gỡ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Tây Ở đây, chúng tôi nhìn nhận việc tiếp biến văn hóa phương Tây ở Việt Nam dựa trên lý luận

về tiếp biến văn hóa của tác giả Phan Ngọc

Phan Ngọc cho rằng, không có một nền văn hóa nào tồn tại biệt lập, tự thân,

Trang 16

hóa, dù ít dù nhiều, nó cũng có quan hệ với các nền văn hóa khác “Văn hóa phát triển theo quy luật riêng của nó Phát triển văn hóa trước hết dựa vào giao lưu… Chính giao lưu khiến mỗi nền văn hóa phải điều chỉnh mình để mở rộng ảnh hưởng

cả về nội dung lẫn hình thức, phải tự đổi mới để có sức lôi cuốn mạnh mẽ” [Phan Ngọc 2004: 136]

Đối với những cuộc gặp gỡ văn hóa do di cư, giao thương… thì sự tiếp biến văn hóa diễn ra tự nguyện và thường diễn ra theo cả hai chiều, cả văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai Trường hợp giao lưu văn hóa qua “con đường tơ lụa ” hay “con đường gia vị ” là ví dụ… Các nhà buôn mang văn hóa theo trên con đường buôn bán, rồi mang về nước mình nét văn hóa của những nơi họ đi qua Đối với những cuộc gặp gỡ văn hóa do chiến tranh xâm lược, sự tiếp xúc văn hóa là do cưỡng bức

và thường là một chiều Xuất phát từ nhu cầu cai trị thuộc địa lâu dài, các quốc gia xâm lược đều sử dụng các biện pháp đồng hóa văn hóa Nếu nước bị xâm chiếm có nền văn hóa mà sức mạnh nội tại yếu, thường sẽ bị đồng hóa văn hóa dễ dàng, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Còn ngược lại, thì nước bị xâm chiếm sẽ sàng lọc những cái có lợi cho xã hội của họ, thậm chí còn ảnh hưởng ngược trở lại văn hóa của nước đi xâm lược Tiếp biến văn hóa không phải là hiện tượng có thể xảy ra một sớm một chiều, nó cần cả một quá trình dài để sàng lọc và hấp thụ Tác giả

Phan Ngọc gọi quá trình này là “vượt gộp ”, dịch từ khái niệm aufheben của Đức hay dépassement của Pháp “ ‘Vượt gộp’ có nghĩa là tiếp thu được cái mới nhưng

đổi mới được nó trên cơ sở một cái cũ đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới Nó có nghĩa là bảo vệ được cả cái cũ lẫn cái mới sao cho thích hợp với sự đổi

mới cần phải tiến hành Như vậy, ‘vượt gộp’ không phải là nhắm mắt chạy theo cái

mới, vứt bỏ cái cũ, cũng không phải là khư khư giữ lấy cái cũ, từ bỏ cái mới ” [Phan Ngọc 2004: 29] Ở luận văn này, trong quá trình phân tích và đánh giá những hiện tượng liên qua đến khái niệm “Âu hoá ”, chúng tôi dựa trên lý thuyết về tiếp biến văn hoá của tác giả Phan Ngọc

Con đường tiếp biến văn hóa thường chia làm nhiều giai đoạn, trừ trường hợp tiếp biến bằng con đường hòa bình (ở đây chỉ xét đến trường hợp tiếp biến van hóa qua con đường chiến tranh xâm lược – là trường hợp giao lưu văn hóa Việt Nam – phương Tây đầu thế kỷ XX), chủ yếu phải qua những giai đoạn sau :

Trang 17

Giai đoạn chống đối: Nước xâm lược sẽ mang văn hóa của họ vào nước bị

xâm lược, dùng văn hóa như một công cụ phục vụ cai trị Thông thường, những biện pháp đồng hóa văn hóa là : pha trộn dòng máu, truyền bá tôn giáo, tư tưởng triết học, chính trị… Ban đầu, dân bản địa sẽ chống đối quyết liệt, đối xử với văn hóa của đế quốc bằng thái độ bài trừ

Giai đoạn bắt chước máy móc: Giai đoạn này là giai đoạn kế tiếp trong quá

trình tiếp biến văn hóa (đối với trường hợp tiếp biến trên cơ sở hòa bình, thì giai đoạn này diễn ra đầu tiên) Dân bản địa chạy theo những yếu tố văn hóa ngoại lai

mà không cần suy nghĩ hay sàng lọc gì Có thể thấy biểu hiện này ở tất cả những cuộc tiếp xúc và tiếp biến văn hóa điển hình trên thế giới : Văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng đến Việt Nam thời Bắc thuộc, văn hóa phương Tây ảnh hưởng tới các nước châu Á và châu Phi trong quá trình xâm chiếm thuộc địa…

Giai đoạn sàng lọc: Trải qua thời kì bắt chước máy móc, quá trình sàng lọc

này cũng không tránh khỏi những vấp váp Văn hóa bản địa cần trải qua giai đoạn này để nhận ra cái gì cần, cái gì không, chấp nhận cái gì, loại bỏ cái gì Đây là giai đoạn "kết hợp một yếu tố nước ngoài với một yếu tố bản địa, nhưng kết quả của sự kết hợp làm người ta cảm thấy có gì lai căng" [Phan Ngọc 2004: 30]

Tiếp biến văn hóa cũng không diễn ra đồng thời và tương tự nhau về mức độ giữa nông thôn và thành thị Thành thị, nơi tập trung kinh tế, chính trị, văn hóa sẽ là nơi đầu tiên xảy ra tiếp biến văn hóa Đặc biệt đối với những thành thị nhiều chức năng ở các nước tư bản, quá trình này diễn ra càng nhanh và sâu rộng Dân cư đông đúc, lượng trí thức tập trung đông, mức sống cao, đầu mối giao thông buôn bán… là

những điều kiện thúc đẩy nhanh chóng tiếp biến văn hóa Ngay cả khi cuộc “vượt

gộp ” đã đi đến giai đoạn cuối cùng, tức là đạt được thành tựu, dấu ấn văn hóa ngoại

lai còn lưu lại nhiều nhất cũng là ở thành thị Vấn đề này đúng với tất cả các cuộc giao lưu tiếp biến văn hóa trên thế giới

Theo những phân tích trên đây, giai đoạn 1930-1945 có thể xem là giai đoạn bắt chuớc máy móc và bước đầu sàng lọc những giá trị văn hoá ngoại lai Tất nhiên, quá trình bắt chước hay sàng lọc cũng diễn ra đầu tiên ở thành thị Thành thị Việt Nam chính là bối cảnh của phong trào “Âu hoá ” Qua được giai đoạn này, văn hóa

Trang 18

mới sẽ ra đời thay thế cho những yếu tố văn hóa cũ đã không còn phù hợp, vừa mới

mẻ, lại vừa giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc

1.1.2 Khái niệm “Âu hóa”

Từ “Âu hóa” xuất hiện trong ngôn ngữ của rất nhiều nước Trong tiếng Anh,

“Âu hóa” là Europeanize (động từ) được định nghĩa: denationalize and subject (a

territory) to the supervision of an agency of a European community of nations (làm

mất tính dân tộc và phụ thuộc vào sự tác động của hệ thống các nước châu Âu) hoặc

make (continental) European in customs, character, or ideas (làm cho giống châu

Âu ở khía cạnh văn hóa, đặc tính hoặc tư tưởng) [Oxford advanced leaner’s

Dictionary] Cùng một nghĩa đó, tiếng Pháp có từ Européaniser Trong tiếng Việt,

“Âu hóa” nghĩa là: làm cho trở thành có tính chất châu Âu [Từ điển tiếng Việt 1995] Trong ngôn ngữ của các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Trung Quốc…, từ này cũng được dùng với nghĩa tương tự như trên Khái niệm “châu Âu” trong nghĩa của từ “Âu hóa” chỉ các quốc gia thuộc lãnh thổ châu Âu Khái niệm này cũng trùng với từ “phương Tây” theo cách hiểu của các nước thuộc khu vực châu Á như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc nên một số trường hợp người Việt vẫn dùng “Tây hóa” với nghĩa tương tự như Âu hóa (cả trường hợp bị ảnh hưởng bởi văn hóa Mỹ - dù nước Mỹ không nằm trong lãnh thổ châu Âu nhưng

cư dân châu Mỹ có nguồn gốc từ châu Âu, văn hóa bản địa của người da đỏ không còn thống thị nữa) Chủ nghĩa tư bản hình thành đầu tiên ở châu Âu và làm phát sinh nhu cầu mở rộng thuộc địa Các nước châu Âu hầu hết đều có thuộc địa tại châu Á, Phi và Mỹ Latinh Trong quá trình xâm chiếm và khai thác thuộc địa, văn hóa châu Âu ảnh hưởng và làm thay đổi diện mạo văn hóa của các nước thuộc địa

Đó là thời kỳ ảnh hưởng rất mạnh mẽ của văn hóa phương Tây trên thế giới, mạnh hơn bất cứ con đường ảnh hưởng nào: giao thương buôn bán, di dân… Đến thời kỳ toàn cầu hóa ngày nay, vấn đề thuộc địa đã được giải quyết nhưng sức ảnh hưởng của phương Tây vẫn rất mạnh Đó là nguồn gốc ra đời của từ “Âu hóa” hiểu theo nghĩa phổ biến nhất trong ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia trên thế giới

Xét về mặt ảnh hưởng đối với văn hóa bản địa, ở bất kỳ quốc gia nào, “Âu hóa” cũng có hai mặt: tích cực và tiêu cực Như đã nói ở chương 1, tiếp biến văn hóa là hiện tượng tất yếu xảy ra khi có sự gặp gỡ giữa các nền văn hóa Việc tiếp

Trang 19

biến văn hóa ngoại lai cũng là động lực và cơ hội để đổi mới văn hóa bản địa, khiến văn hóa bản địa tiến bộ hơn, phù hợp hơn với thay đổi của lịch sử Nhưng mặc khác, nếu văn hóa bản địa không có nội lực chống lại sự “hòa tan”, thì bản sắc văn hóa dân tộc sẽ biến mất và bị văn hóa ngoại lai “nuốt chửng” (nằm trong đồ đồng hóa văn hóa của đế quốc) Hiện tượng “Âu hóa” xảy ra ở các nước thuộc địa, xét trong trường hợp Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong quá trình tiếp biến văn hóa Việt Nam – phương Tây, hiện tượng “Âu hóa” gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đồng thời đem lại những ảnh hưởng tích cực cho văn hóa Việt Nam Những ảnh hưởng tích cực là động lực của sự phát triển đất nước, “Âu hóa” mở rộng và làm phong phú nền kinh tế, cải tổ giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng, sản sinh nhiều ngành nghệ thuật… Nhưng bên cạnh đó, việc chạy theo văn hóa phương Tây một cách mù quáng lại khiến cho nền văn hóa bị mai một

Ở đây, chúng tôi dùng khái niệm “Âu hóa” ở đây theo nghĩa lịch sử - cụ thể của nó Đó là cách dùng của nhiều người đương thời (giai đoạn 1930 – 1945), đặc biệt là các nhà văn Đây không phải là khái niệm chỉ những biểu hiện của cả quá trình giao lưu văn hóa Việt Nam – Phương Tây càng không phải xét về mặt ngữ nghĩa để phân tích và đánh giá Chúng tôi xem xét nó với tư cách là một khái niệm xuất hiện trong văn học “Âu hóa” xuất hiện trong văn học Việt Nam 1930-1945 như một trong những nội dung quan trọng nhất Vì văn học, cũng như các môn nghệ thuật khác, đều không phải là gương soi nguyên bản của cuộc sống Quan điểm và

cá tính sáng tạo của nhà văn ảnh hưởng rất nhiều đến cách nhìn nhận vấn đề của họ

Vì thế, đối với hiện tượng “Âu hóa”, mỗi nhà văn có một cách nhìn khác nhau, và cách dùng khái niệm “Âu hóa” trong tác phẩm cũng khác nhau Các nhà văn hiện thực chủ yếu xem “Âu hóa” là phong trào “vui vẻ trẻ trung”, chạy theo lối sống phương Tây mù quáng, xã hội “Âu hóa” trong mắt họ đầy rẫy những trò lố bịch và suy đồi Ngược lại, các nhà văn lãng mạn lại xem “Âu hóa” là phương tiện để họ bộc lộ “cái tôi” và khát vọng giải phóng con người… Chính những xu hướng khác nhau đó là biểu hiện của sự xáo trộn tất yếu trong nội bộ một nền văn hóa đang tiếp biến với văn hóa ngoại lai

Ảnh hưởng của phương Tây đối với văn hóa Việt Nam có thể kể ra rất nhiều

Trang 20

hiện tiêu cực lẫn tích cực Như đã nói ở trên, đến thời kì 1930-1945, do những chính sách văn hóa “mị dân” của thực dân Pháp, một bộ phận dân thành thị Việt Nam rơi vào cuộc sống suy đồi cả về đạo đức lẫn văn hóa Thành phần chủ yếu tạo ra phong trào này là tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thành thị, đặc biệt là giới trẻ Khái niệm

“Âu hóa” trong văn học 1930-1945 là khái niệm bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất trong phong trào “Âu hóa” biểu hiện ở những thay đổi, cách tân về trang phục, tiện nghi sinh hoạt, các phương tiện vui chơi giải trí Văn hóa tinh thần biểu hiện ở những chuyển đổi trong tư tưởng và quan niệm sống Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam ý thức đề cao cái “tôi”, từ đó, nảy sinh khát vọng được tự do thể hiện bản thân, tự do yêu đương, quyết định cuộc sống của giới trẻ Xét theo quan điểm tiến bộ, thì những khát vọng đó là chính đáng, góp phần xóa

bỏ dần dần những hủ tục của văn hóa phong kiến, đưa xã hội tiến đến văn minh Nhưng trong giai đoạn 1930-1945, người ta còn thấy bên cạnh khát vọng chính đáng đó vẫn còn những tư tưởng suy đồi, xuống cấp: hám danh, trọng đồng tiền, đi ngược lại đạo lý truyền thống của dân tộc, quan hệ gia đình, dòng tộc, cộng đồng hỗn loạn… Hai mặt này đều nằm trong khía cạnh văn hóa tinh thần của phong trào

“Âu hóa”

Tất nhiên không thể tách bạch giữa tinh thần và vật chất, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng Nhưng phân biệt chúng thành hai khía cạnh riêng biệt trong phong trào “Âu hóa” là cần thiết, vì mỗi khía cạnh sẽ được phản ánh cụ thể trong từng khuynh hướng văn học khác nhau

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Bối cảnh văn hóa – lịch sử

Vào giai đoạn 1930-1945, Việt Nam đã trải qua một thời gian dài tiếp xúc với văn hóa phương Tây Giai đoạn này, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cũng như văn hoá, là chặng cuối của quá trình tiếp biến văn hóa do cưỡng bức Dấu ấn của quá trình giao lưu với văn hoá phương Tây thể hiện khá rõ nét

Về kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam trước 1958 là lấy nông nghiệp làm chủ đạo Phương thức sản xuất lạc hậu và trì trệ Nhằm đẩy nhanh quá trình khai thác thuộc địa,

Trang 21

phương Tây đã mang vào Việt Nam những thành tựu khoa học tiên tiến phục vụ cho đời sống và sản xuất: các phương tiện giao thông, cơ sở hạ tầng, thiết bị sản xuất, vật dụng sinh hoạt… Những tiện nghi văn minh này tập trung ở các thành thị, nơi thực dân phương Tây tập trung quân sự, khai thác thuộc địa Cùng với cuộc khai thác thuộc địa, sự ra đời của các thành thị “nhiều chức năng” ở Việt Nam đầu thế kỉ

XX cũng là mốc lịch sử rất quan trọng Trước đây, “về mặt chức năng, đô thị Việt Nam có hai chức năng là chức năng hành chính và chức năng kinh tế, trong đó chức

năng hành chính là chủ yếu Đô thị là do nhà nước đặt ra với mục đích để làm một

trung tâm quản lý hành chính Chức năng kinh tế chỉ là thứ yếu” [Trần Ngọc Thêm 2004: 220] Đến thời điểm này, thành thị có thêm nhiều chức năng kinh tế, dịch vụ khác nữa Các thành thị đã trở thành trung tâm kinh tế, thương mại, công nghiệp…: Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng,… Kinh tế Việt Nam trở nên đa dạng cùng với sự phát triển của thương nghiệp, dịch vụ, công nghiệp v.v…

Sài Gòn là thành phố tiêu biểu cho sự phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác của thực dân Pháp Ngay sau khi đặt chân đến Sài Gòn, mặc dù tình hình chưa ổn định, thực dân Pháp đã quyết định thành lập cảng Sài Gòn (22-2-1860) Tài nguyên Nam Kỳ đã được liệt kê ngay và một chương trình khai thác cụ thể trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, và thương nghiệp được Phó Đô đốc Bonard vạch ra đã gửi về Pháp và được chấp thuận (Số liệu dẫn

theo trang web của TP HCM: www.hochiminhcity.gov.vn)

Thương nghiệp:

Năm 1860, cảng Sài Gòn chính thức mở cửa Ngày 25-8-182, quy chế của thương cảng được ban hành "Tất cả tàu biển, trừ tàu Pháp và Y Pha Nho, đều phải nộp thuế bỏ neo, tính 50 xu trên 1 tonneau hàng" Sài Gòn được mở cửa, tàu bè các nước ra vào buôn bán, thương vụ mỗi ngày một tăng

Năm 1860, Sài Gòn tiếp nhận 246 tàu, trong đó có 111 tàu từ châu Âu mang đến nửa triệu quan thuốc phiện và một triệu quan các loại hàng hóa khác cùng chở

đi 535.939 tấn gạo trị giá hơn 5 triệu quan và 1 triệu quan các loại hàng hóa khác Doanh số mậu dịch năm 1860 của cảng Sài Gòn là 7,7 triệu franc

Nhiều tàu buôn châu Âu thường xuyên thực hiện những chuyến đi về Sài Gòn với

Trang 22

Kong Vào thời gian có gió mùa Đông Bắc trong năm, thuyền bè từ miền Bắc Trung Quốc chở những chuyến hàng đầu tiên đến Sài Gòn để từ đó đưa đi Singapore và khi gió mùa Tây Nam bắt đầu thổi, họ đưa hàng từ Singapore đến Sài Gòn rồi về lại Trung Quốc

Công nghiệp:

Nhằm mục đích hiện đại hóa nông nghiệp, các nhà máy xay lúa được xây dựng phục vụ cho việc xuất cảng gạo mỗi năm một tăng Nhà máy Xóm Chiếu, thành lập năm 1869, do công ty Alphonse Cahusac quản lý Đây là nhà máy xay lúa đầu tiên của Sài Gòn Công ty Speidel của Đức có hai nhà máy xay lớn là Riserie de l'Union và Riserie de l'Orient

Đến năm 1895, Nam Kỳ có 200 xưởng thủ công và nhà máy xay thì phần nhiều tập trung ở Sài Gòn - Chợ Lớn Riêng nhà máy xay chạy bằng hơi nước thì Sài Gòn có 2, Chợ Lớn có 7 Ước tính đến năm 1906, số công nhân ở Sài Gòn đã lên đến 25.000 người

Để đáp ứng nhu cầu thợ lành nghề, Pháp mở trường Bá Công Kỹ Nghệ năm

1897, đào tạo thợ vừa lành nghề vừa có ít nhiều văn hóa phương Tây Đây là trường kỹ thuật dạy nghề đầu tiên ở Nam Kỳ đã đào tạo các công nhân kỹ thuật đầu tiên của nước ta

Giao thông

Giao thông là huyết mạch của kinh tế Năm 1881 Pháp bắt đầu làm đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, bắc hai cầu lớn qua sông Vàm Cỏ

Năm 1902, cầu Bình Lợi được xây dựng Năm sau, đường tàu điện Sài Gòn -

Gò Vấp, Sài Gòn Chợ Lớn, Gò Vấp - Hóc Môn được thiết lập và vào năm 1910 Sài Gòn được nối với Nha Trang bằng đường xe lửa

Chính sự ra đời của các thành thị này đã thúc đẩy quá trình tiếp xúc với những cái mới lạ của văn hóa phương Tây, cũng chính tại đây, cuộc giao lưu văn hóa Việt Nam - phương Tây diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc nhất

Vào những năm 1930-1945, xã hội Việt Nam bước vào thời kì rối ren và đen tối về kinh tế cũng như kiến trúc thượng tầng Kinh tế phát triển nhưng lợi nhuận của nó lại phục vụ cho chính quốc Dân bản địa chỉ cung cấp nguồn nhân công dồi dào và rẻ mạt Mâu thuẫn xã hội gay gắt hơn bao giờ hết: Mâu thuẫn giữa thực dân

Trang 23

với phong kiến, mâu thuẫn giữa phong kiến với tư sản, mâu thuẫn giữa tư sản với thực dân Giai cấp tư sản Việt Nam phát triển khó khăn yếu đuối Giai cấp này một mặt mâu thuẫn với đế quốc và phong Kiến, mặt khác lại phụ thuộc vào chúng Một tâm lí mới lan tràn, tư sản thành thị chịu ảnh hưởng của phương Tây, thích hưởng lạc, chạy theo lối sống mới vui vẻ trẻ trung, sinh hoạt theo lối mới, là thành phần chủ yếu của cuộc “Âu hóa” rầm rộ được phản ánh trong văn học 1930-1945 Thực dân Pháp cổ vũ cho phong trào văn hóa có xu hướng cải lương tư sản (phong trào

Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung ”, hội Ánh sáng, hội Hướng đạo…) và những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên Thống sứ Châtel rất chăm lo tổ chức thi sắc đẹp và gây phong trào chợ phiên Châtel đích thân đi dự Hội Đồ Sơn,

có tổ chức thi basket, khúc côn cầu, thi bơi, thi xe đạp, chọn hoa hậu Đồ Sơn 1938 Thực dân Pháp mong muốn thanh niên rơi vào con đường ăn chơi trụy lạc Trong

phóng sự Thanh niên trụy lạc của Nguyễn Đình Lạp, ta thấy năm 1937, Hà Nội có

6000 gái điếm trong số 18 vạn dân, 100 nhà săm, 300 tiệm hút, 7 sòng bạc lớn… Bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam những năm 1930-1945 là một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng « Âu hóa » trong văn học Việt Nam thời kỳ này

Về văn hóa – xã hội

Bước vào giai đoạn 1930-1945, các cuộc khởi nghĩa yêu nước đã dần bị dập tắt Kể cả phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu… cũng lần lượt thất bại Kháng chiến cứu nước không còn sôi sục, xã hội Việt Nam có một khoảng thời gian “tĩnh lặng” tạm thời Thực dân Pháp sau khi hoảng sợ trước cũng tiến hành ráo riết hơn những biện pháp cai trị mới và triệt để hơn Tháng 10-1930 Pôn Raynô, Bộ trưởng Thuộc địa Pháp sang Đông Dương để điều tra tình hình và định ra chính sách đối phó cho thích hợp Chính quyền thực dân thi hành một số biện pháp cải lương, tổ chức lại trường Cao đẳng Đông Dương, trường Luật, đưa một số địa chủ, tư sản, trí thức cao cấp vào một số chức vụ “quan trọng", cho người “bản xứ" được nhập quốc tịch Pháp một cách rộng rãi hơn Nhân

cơ hội này những lực lượng thân Pháp bắt đầu trỗi dậy Thực dân Pháp tiếp tục chính sách ngu dân, bắt học sinh từ 18 tuổi trở lên phải đóng thuế thân để con em các gia đình nghèo không được đi học Kết quả là hơn 90% dân số mù chữ Tất

Trang 24

vẫn tiếp thu được một nền văn hóa tiến bộ của nước Pháp: triết học của Diderot, Voltare,… tác phẩm của Victor Hugo, Balzac, Stendhan… nhưng một mặt họ cũng

bị đầu độc bởi chủ nghĩa siêu hình, duy tâm, hoài nghi Bên cạnh đó, thực dân Pháp đồng thời thực hiện chế độ kiểm duyệt gắt gao, cấm đoán tất cả sách báo tiến bộ trong và ngoài nước

Nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu Để đạt mục đích hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt bỏ và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói người bản xứ nếu cần

đã có chữ quốc ngữ cùng một họ mẫu tự La Tinh Thư của Paulin Vial, Giám Đốc Nội Vụ, Súy Phủ Nam Kỳ gửi Quan Bố Sài Gòn ngày 15 tháng 1 năm 1866 viết :

"Dès les premiers jours, on a reconnu que la langue Chinois était une barrière de plus entre nous et les indigènes; l'instruction donné par le moyen de caractères hiéroglyphiques nous échappait complètement; cette écriture ne permet que difficilement de transmetre à la population les notions diverses qui lui sont nécessaires au niveau de leur nouvelle situation politique et commercial Nous sommes obligés en conséquence de suivre les traditions de notre propre enseignement; c'est le seul qui puisse nous rapprocher des Annamites de la colonie

en leur inculquant les principes de la civilisation européenne et en les isolant des influences hostiles de nos voisins" [Dẫn theo Trần Bích San -

http://cothommagazine.com] (Ngay từ những ngày đầu, chúng tôi đã nhận ra rằng:

tiếng Trung quốc lại là một rào cản giữa chúng tôi và dân bản xứ; giáo dục bằng các kiểu chữ tượng hình hoàn toàn vượt quá tầm tay của chúng tôi Loại chữ viết này chỉ cho phép chuyển một cách khó khăn đến dân chúng những khái niệm cần thiết cho hoàn cảnh mới về chính trị và thương mại của chính họ Kết quả là chúng tôi buộc phải theo cách dạy truyền thống của riêng chúng tôi Chỉ có như thế mới có thể làm cho người An Nam xích lại gần với thuộc địa bằng cách khắc sâu vào trí não họ những qui tắc văn minh Châu Âu và tách họ ra khỏi những ảnh hưởng "chống đối, thù nghịch" của nước láng giềng)

Xã hội Việt Nam rơi vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng do chính sách giáo dục và kiểm soát văn hóa của Pháp

Trang 25

Những trí thức tiến bộ trước đó đã bắt đầu ngờ vực rằng: sở dĩ chúng ta mất nước chính là vì dân ta lạc hậu, xã hội ta trì trệ, sự hiểu biết về thế giới xung quanh quá kém, trình độ khoa học quá lạc hậu… chính sự trì trệ đó đã kìm hãm phong trào cứu nước giải phóng dân tộc Dần dần, dù khó chấp nhận đến thế nào, người Việt Nam cũng phải nhận ra rằng, những công nghệ tiên tiến đó rất có lợi cho cuộc sống

và sự phát triển của dân tộc Người Việt bắt đầu chủ động học theo phương Tây, nhờ vào sách báo, tạp chí phương Tây chuyển ngữ… (tân thư), những thành tựu văn hóa,

kĩ thuật phương Tây vào Việt Nam ngày càng nhiều Những tiếp xúc tự nguyện ban đầu này đã đưa nước ta vào giai đoạn mới của tiếp biến văn hóa: giai đoạn bắt chước máy móc và bước đầu tiến hành sàng lọc giá trị văn hóa “Khoảng lặng” trong cuộc chiến tranh giữ nước chính là thời kỳ sôi động nhất của cuộc tiếp biến văn hóa lớn thứ hai trong lịch sử giao lưu văn hóa ở Việt Nam

Về văn hoá nghệ thuật nói riêng

Có thể nói, giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn chuyển biến rõ nét nhất của văn hoá nghệ thuật Việt Nam Ở tất cả các môn nghệ thuật, quá trình hiện đại hoá diễn

ra nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Âm nhạc: Đây là thời kỳ hình thành của tân nhạc Việt Nam, các nhạc sĩ đầu

tiên của nền tân nhạc hấp thụ âm nhạc phương Tây, tạo ra một diện mạo mới cho

âm nhạc Việt Nam cả về kỹ thuật, phương pháp lẫn nội dung sáng tác Những nhạc

sĩ tân nhạc nổi tiếng có thể kể đến: Nguyễn Văn Tuyên (1909-?), Dương Thiệu Tước (1915-1995), Hoàng Quý (1920-1946)… Những loại nhạc cụ mới du nhập vào: guitare, violon, piano,… Những thành tựu đầu tiên đó là nền tảng cho sự phát triển của âm nhạc Việt Nam sau này

Sân khấu: Bên cạnh những loại hình biểu diễn dân gian, có nhiều thể loại

mới ra đời làm phong phú thêm cho nghệ thuật sân khấu: kịch nói, ballet, opera…

Hội họa: Những hoạ sĩ đầu thế kỉ như Tô Ngọc Vân (1906-1954), Bùi Xuân

Phái (1920-1988), Nguyễn Phan Chánh (1892-1984),… là những gương mặt tiêu biểu cho nền hội hoạ Việt Nam đầu thế kỷ XX Thành tựu của họ trong những thể loại tranh mới như: sơn dầu, màu nước, tranh lụa… đã đưa hội họa Việt Nam bước sang con đường hiện đại hoá

Trang 26

Trên đây là một số môn nghệ thuật tiêu biểu mà thành tựu của nó được ghi nhận và làm nền tảng cho sự phát triển của văn hoá nghệ thuật Việt Nam Văn học cũng là một trong số đó nhưng chúng tôi sẽ dành riêng một phần để nói về nó Như đã nói ở trên, tất cả những dấu ấn của văn hoá phương Tây thể hiện hầu hết ở thành thị, cả những mặt tích cực cũng như tiêu cực của nó Thành thị chính là nơi tập trung đông nhất giới trí thức, đặc biệt là trí thức Tây học, lực lượng chủ yếu sáng tạo ra nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng

1.2.2 Thực tiễn văn học

Một trong những thành tựu văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam sớm nhất, là triết học, tiếp đó là các tác phẩm văn học Trí thức Việt Nam biết đến những nhà triết học, nhà văn phương Tây nổi tiếng: Kant, Bergson, Andríe Gide, Balzac, Stendhal, Dickens… Triết học và văn học phương Tây là những yếu tố quyết định hình thành nên diện mạo văn học thời kỳ này

Lực lượng sáng tác

Đến giai đoạn 1930-1945, văn học Việt Nam đã bước vào thời kỳ hiện đại hóa Lực lượng sáng tác của văn học đã đa dạng hóa rất nhiều so với thế kỉ trước Văn học đầu thế kỉ XX mong muốn đáp ứng được thị hiếu và cuộc sống mới mẻ sôi động nhưng phức tạp Thị hiếu độc giả là một yếu tố quan trọng quyết định đến thế giới quan của giới cầm bút Độc giả là đủ mọi tầng lớp, trí thức tiến bộ, trí thức nửa vời, tư sản mới phất lên ở thành thị Văn học trở thành một thứ hàng hóa Bên cạnh

những nhà văn, nhà báo chân chính, cũng xuất hiện những “con buôn văn học Có

người mở báo vì hám lợi, hiếu danh, có người mở báo rồi cho thuê hoặc đem giấy báo bán chợ đen kiếm lời” [Văn học Việt Nam 1900-1945, tái bản lần 5: 340]

Tính phức tạp của giai đoạn văn học này thể hiện trước tiên ở sự phân hóa trong hàng ngũ những nhà văn trí thức tiểu tư sản đứng trước những mâu thuẫn của tình hình chính trị đương thời Tham gia sáng tác văn học có đủ mọi thành phần trí thức khác nhau Lực lượng sáng tác chính là trí thức tiểu tư sản thành thị, chứ không còn nhà những nhà nho bảo vệ cho nền văn hóa cũ Những nhà văn trẻ lúc bấy giờ đứng trong một số lượng đông đảo tiểu tư sản thành thị, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đang trong giai đoạn bắt chước máy móc và sàng lọc giá trị Tâm

lý của tầng lớp này, cùng với những mặt trái của những thói hư tật xấu của cuộc

Trang 27

“Âu hóa” được họ phản ánh đầy đủ trong tác phẩm của mình Họ bộc lộ những mâu thuẫn trong tư tưởng của chính bản thân họ Tình thế xã hội rối ren, đã dẫn đến nhiều chiều hướng khác nhau trong cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong những tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945 Cùng phản ánh xã hội trong bối cảnh 1930-1945, nhưng mỗi tác giả lại viết theo cách riêng Có người phản đối, có người đồng tình, có người lên án, có người cổ vũ Chính thái độ và quan điểm đó của họ, cũng là một biểu hiện quan trọng của văn hóa

Trong văn học, giai đoạn 1930-1945 là cuộc đấu tranh, đồng thời cũng là sự tác động qua lại giữa các nền văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn tiến bộ (không phát triển thành dòng chảy liên tục) và văn học lãng mạn tiêu cực, bảo thủ, trộn lẫn với các khuynh hướng văn học suy đồi khác Sự ra đời của nhiều khuynh hướng sáng tác như vậy đã tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học Việt Nam sau này Tương tự như vấn đề thể loại, khuynh hướng sáng tác chính là cách thức thể hiện của nhà văn Cuộc sống phức tạp đòi hỏi người nghệ sĩ phải thích ứng với nó, thể hiện nó bao quát và sinh động nhất Những phương pháp sáng tác ước lệ thời trung đại không còn phù hợp nữa

Trang 28

Riêng ở đề tài “Âu hóa”, mỗi thể loại và khuynh hướng sáng tác có thuận lợi riêng Ta xét ở hai khuynh hướng sáng tác tiêu biểu thể hiện đề tài này, là khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực Tất nhiên, lãng mạn hay hiện thực không phải là một khái niệm rạch ròi và biệt lập Chúng ta đều biết, chủ nghĩa lãng mạn tiến bộ phải bao hàm trong nó, và lấy gốc rễ từ hiện thực Trong các tác phẩm được xếp vào trường phái lãng mạn lúc bấy giờ: Nửa chừng xuân , Đoạn tuyệt , Gánh hàng hoa , Gió đầu mùa, Con đường sáng đều có những yếu tố hiện thực và những nhân vật được xây dựng bằng bút pháp hiện thực Báo Phong hóa, số 101, 8-6-1934 trích đăng tôn chỉ Tự lực văn đoàn gồm 9 điểm, trong đó có 5 điểm quan trọng sau đây:

“- Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam

- Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả quý phái

- Trọng tự do cá nhân

- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không còn hợp thời nữa

- Đem phương pháp khoa học Thái tây ứng dụng vào văn chương An Nam”

Như vậy, chủ nghĩa lãng mạn tiến bộ đương thời đi từ hiện thực mà nói lên khát vọng và tư tưởng vươn tới tự do, vươn tới hạnh phúc của con người Nó thể

hiện phần tư tưởng (tinh thần) của phong trào “Âu hóa ”

Tương tự như vậy đối với chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực tiến bộ không chỉ là tả thực cuộc sống Chủ nghĩa hiện thực tiến bộ là đi từ hiện thực, phản ánh chân thực cuộc sống, phê phán hoặc đồng tình, và qua đó cũng bộc lộ khát vọng của con người muốn đạt đến cái đẹp, hạnh phúc thật sự Cái khác nhau của hai trường phái này là chọn vấn đề nào là chủ yếu Chủ nghĩa lãng mạn lấy việc thể hiện khát vọng, tư tưởng sống làm chủ yếu Chủ nghĩa hiện thực thì ngược lại, lấy việc phản ánh hiện thực làm chủ yếu

Như đã nói ở trên, phong trào “Âu hóa” sẽ được khảo sát trên hai khía cạnh: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Dù không thể rạch ròi chia cắt hai khía cạnh này khỏi mối quan hệ của chúng, nhưng ta cũng thấy, khát vọng tự do (thuộc khía

Trang 29

cạnh văn hóa tinh thần) thể hiện chủ yếu trong các tác phẩm thuộc trường phái lãng mạn (chủ yếu là các tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn); một phần của văn hóa tinh thần là sự suy đồi về đạo đức, lối sống, cùng với những biểu hiện của văn hóa vật chất chủ yếu thể hiện trong các tác phẩm hiện thực phê phán Do đó, nghiên cứu phong trào “Âu hóa”, cùng lúc phải khảo sát ở hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực

Thành tựu

Văn xuôi Việt Nam 1930-1945 đã đạt được những thành tựu đáng kể dù ra đời muộn hơn so với các nước phương Tây Chính sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã giúp đẩy nhanh sự hình thành và hoàn thiện của văn xuôi Việt Nam – một trong những biểu hiện của quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc

Như đã nói, thành tựu của văn xuôi cũng phân chia theo hai khuynh hướng sáng tác chính: khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực

Khuynh hướng lãng mạn (thành tựu chủ yếu của khuynh hướng này thuộc về

các nhà văn Tự lực văn đoàn): Các nhà văn lãng mạn đã hiện đại hóa văn xuôi trước hết ở ngôn ngữ và phương pháp sáng tác Bên cạnh đó, họ cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề thời sự của xã hội lúc bấy giờ và họ cũng mong muốn giải quyết các vấn đề nhức nhối của xã hội (tự do luyến ái, tự do hôn nhân, đổi thay trang phục…) nhưng

do xuất phát và đích đến khác xa với văn học hiện thực nên khát vọng giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội của họ là không thể thực hiện được Tuy nhiên, tác phẩm của họ đạt đến tính điển hình và chân thực Có thể kể đến một số nhà văn và tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng văn học này:

- Khái Hưng (1896-1947): Hồn bướm mơ tiên (tiểu thuyết), Trống Mái(tiểu

thuyết), Thanh Đức (tiểu thuyết), …

- Nhất Linh (1905-1963): Đoạn tuyệt (tiểu thuyết), Bướm trắng (tiểu thuyết),

Lạnh lùng (tiểu thuyết), …

- Thạch Lam (1909-1942): Nắng trong vườn (tập truyện), Ngày mới (tiểu

thuyết), Gió đầu mùa (tập truyện)…

- Hoàng Đạo (1907-1948): Con đường sáng (tiểu thuyết), Trước vành móng

ngựa (phóng sự)…

Trang 30

Khuynh hướng hiện thực (Hiện tượng “Âu hoá” chủ yếu được phản ánh trong

các tác phẩm thuộc khuynh hướng này): Giai đoạn 1930-1945 có thể xem là “thời kì hình thành và phát triển mạnh mẽ của văn học hiện thực phê phán Việt Nam” [Phan

Cự Đệ, Hà Văn Đức, Nguyễn Hoành Khung 1988:34] So sánh với khuynh hướng lãng mạn, thành tựu của văn học hiện thực phê phán có phần nổi trội hơn ở chỗ: do nhãn quan tôn trọng hiện thực, các nhà văn hiện thực phê phán đề xuất các vấn đề

xã hội không từ góc nhìn mang tính cải lương, bề mặt mà nhìn tận gốc rễ cơ sở xã hội của vấn đề ấy Họ đòi hỏi giải quyết chúng từ căn nguyên xã hội chứ không chỉ yêu cầu cải cách Có thể kể đến những nhà văn và tác phẩm tiêu biểu:

- Vũ Trọng Phụng (1912-1939): Số Đỏ (tiểu thuyết), Cơm thầy cơm cô

(phóng sự), Kỹ nghệ lấy Tây (phóng sự)…

- Nguyễn Công Hoan (1903-1977): Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết), Kép Tư

Bền (tập truyện ngắn), Bước đường cùng (tiểu thuyết)…

- Ngô Tất Tố (1894-1954): Lều chõng (tiểu thuyết), Tắt đèn (tiểu thuyết), Tạp

văn…

* Văn hoá Việt Nam giai đoạn 1930-1945 có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam Ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, dấu ấn của cuộc giao lưu tiếp biến với văn hoá phương Tây giai đoạn cuối đều thể hiện rất rõ: kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật… Riêng đối với văn học, những năm 1930-1945 là thời kỳ hoàng kim của văn học Việt Nam, thời kỳ mà các nhà phê bình gọi là “một đi không trở lại” Những thành tựu rực rỡ của nó trên tất cả các thể loại đã tạo cơ sở cho văn học Việt Nam tiếp tục hoàn thiện con đường hiện đại hoá ở những năm tiếp theo Dựa vào những cơ sở lý luận về văn hoá và tiếp biến văn hoá, chúng tôi sẽ phân tích nội dung này của văn học từ góc nhìn văn hoá

Trang 31

CHƯƠNG 2 HIỆN TƯỢNG “ÂU HÓA”

TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA VẬT CHẤT

Như đã nói ở chương 1, hiện tượng “Âu hóa” ở Việt Nam giai đoạn 1930

-1945 chủ yếu diễn ra ở thành thị, nơi tập trung kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị Thực tế xã hội Việt Nam thời kì đó cho thấy dân thành thị bị cuốn theo lối sống phương Tây một cách nhanh chóng Ở rất nhiều lĩnh vực đều mang dấu ấn sâu đậm của văn hóa phương Tây Dễ thấy nhất trong những cuộc tiếp xúc văn hóa từ xưa đến nay chính là khía cạnh vật chất Việc phân chia khái niệm văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần mang tính tương đối, vì trong cùng một hệ thống, chúng có liên

hệ mật thiết với nhau Dưới đây, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những khía cạnh thuộc bình diện văn hóa vật chất của phong trào “Âu hóa” trước: trang phục, tiện nghi sinh hoạt hàng ngày…

Thành thị Việt Nam thời kỳ 1930-1945 là một bức tranh lịch sử, văn hóa, xã hội cực kỳ phức tạp Riêng về khía cạnh văn hóa vật chất, thành thị là nơi tiên phong hấp thụ văn hóa phương Tây Việc tiếp nhận cũng có rất nhiều cách thức và cách tiếp nhận phụ thuộc vào trình độ nhận thức của con người

Những người ý thức được tầm quan trọng của việc gìn giữ vốn văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc sẽ tiếp nhận văn hóa theo phương thức tiến bộ, tức

là có chọn lọc Chọn những yếu tố tích cực, phù hợp với lối sống của dân tộc và loại

bỏ những yếu tố tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu Đầu thế kỷ XX, riêng giai đoạn

1930-1945, những thành tựu của văn hóa phương Tây đã du nhập vào Việt Nam khá nhiều Mặc dù vậy, trong giai đoạn này, ý thức tiếp thu văn hóa một cách tích cực vẫn còn rất hạn chế Bắt nguồn từ nhận thức về tiếp thu văn hóa ngoại lai, họ bắt chước lối sống “Âu hóa” một cách lố lăng kệch cỡm và lố bịch Tư sản thành thị hầu hết đều chạy theo lối sống vật chất của phương Tây một cách máy móc, từ ăn mặc cho đến cách sinh hoạt… sao cho giống “Tây” nhất mới là “tiến bộ”, là “Âu hóa” “Âu hóa” trở thành phong trào, thậm chí là mục đích sống của một bộ phận

Trang 32

Hiện thực này của xã hội Việt Nam 1930-1945 được phản ánh sinh động trong văn học đương thời Khi hiện thực đó được nhìn nhận qua nhãn quan của các nhà văn, ta thấy có những thái độ trái ngược nhau, có người phê phán, có người ủng

hộ Ở chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu và đánh giá những thái độ khác nhau đó của các nhà văn riêng ở bình diện văn hóa vật chất của phong trào “Âu hóa”

2.1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ VĂN VỀ HIỆN TƯỢNG “ÂU HÓA ” TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA VẬT CHẤT

Nói về thái độ của các nhà văn Việt Nam 1930-1945 đối với hiện tượng “Âu hóa”, có những xu hướng khác nhau Một bộ phận nhà văn ủng hộ, đồng tình, điển hình là các nhà văn thuộc nhóm Tự lực văn đoàn, đại diện tiêu biểu cho trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 Bộ phận khác là các nhà văn hiện thực phê phán lại cương quyết giữ thái độ phê phán kịch liệt đối với hiện tượng này

2.1.1 Trang phục

Mỗi dân tộc có một kiểu trang phục riêng gắn liền với lịch sử, nếp sống và môi trường của họ Trang phục dân tộc là hình ảnh đại diện cho một nền văn hóa Những mưu đồ đồng hóa văn hóa sau xâm lăng cũng bắt đầu từ trang phục

Khi văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam thì trang phục của người Việt bắt đầu thay đổi Ở thành thị, đối tượng tiếp thu nhanh nhất lối ăn mặc “tân thời” là giới trẻ

Trang phục phương Tây rất được giới trẻ thành thị ưa chuộng Trong những tác phẩm của nhóm Tự lực văn đoàn, sự ủng hộ “Âu hóa” trong trang phục thể hiện rất rõ ràng Nhân vật trong các câu chuyện tình lãng mạn là các cô tiểu thư, các cậu công tử nhà giàu đều được xây dựng thành mẫu nhân vật điển hình của trào lưu ăn

mặc “tân thời” Hiền trong tác phẩm Trống Mái của Khái Hưng (1896-1947): “Hiền

từ trong buồng ngủ vội bước ra, cúi rạp đầu xuống chào theo điệu ca kịch trên sân

khấu bộ áo tắm màu xanh non, rất ngắn để hở cặp đùi hồng hào, cái ngực trắng bóng và cái lưng lằn những bắp thịt…” (trích Trống Mái, chương II) [Mai Hương,

2001: 42] Tất nhiên, chuyện trang phục không phải là nội dung chính yếu, nhưng hình ảnh của những cô tiểu thư này là nền tảng cho những câu chuyện tình lãng mạn, bay bổng Không khí sinh hoạt của giới trẻ thời đó qua trang viết của các nhà văn Tự lực văn đoàn toát ra vẻ phong lưu, kiểu cách: “Chiều hôm ấy trong khi hàng

Trang 33

trăm con người vừa đàn ông đàn bà, già trẻ, vùng vẫy nô đùa với làn sóng nhấp nhô, thì trên bãi cát trước cửa biệt thự "Dương Liễu" một chàng vận Âu phục đầu chải lật bóng loáng, đương thung thăng bách bộ, mắt chăm chăm nhìn lên cửa sổ trên gác

Một tràng cười giòn ở sau lưng khiến chàng quay cổ lại Ba cô thiếu nữ, đầu rẽ

lệch, vận quần trắng áo màu, đứng cách chàng chỉ độ ba bước” (trích Sóng gió Đồ

Sơn) [Phan Cự Đệ, 1994: 67] Thái độ ủng hộ này còn rõ hơn nữa khi Khái Hưng

đặt ra sự đối lập giữa một cô gái quê nghèo mới lên tỉnh và những thanh niên thành

thị tân thời: “Hồng tò mò ngắm một bọn năm thiếu nữ tóc rẽ lệch, hoặc búi lỏng, ngồi cười đùa nói chuyện với ba thiếu niên đầu chải lật, bóng loáng, người nào người nấy lấm tấm dính đầy những hoa giấy tròn nhỏ đủ các màu Nàng bỗng

bước hụt từ trên hè xuống đường và xuýt ngã, làm bọn kia cất tiếng cười rộ” (trích

Thoát ly, chương I) [Tuyển tập Tự Lực văn đoàn, 2004 : 109] Sự tò mò, có phần

thèm muốn của Hồng gián tiếp bộc lộ quan điểm của nhà văn Trong tiểu thuyết

Thoát ly (Khái Hưng), bản thân tựa đề đã nói lên khát vọng của tác giả: thoát ly

khỏi gò bó, ràng buộc, nền nếp quy củ của xã hội cũ Hồng, cô gái quê lên thành phố, mong mỏi được thoát khỏi thân phận mình, ngỡ ngàng trước sự “sang trọng, đẹp đẽ” của những người cùng lứa với cô nhưng lớn lên trong phong trào “Âu hóa”

ồ ạt ở thành thị

Dù ở bất kỳ giai đoạn nào, Tự lực văn đoàn cũng trung thành với một thái độ

cổ vũ, đề cao lối ăn mặc tự do theo phương Tây của giới trẻ thành thị, và xem đó

như một cái vỏ cố định cho nhân vật của mình Những Lộc (Nửa chừng xuân – Khái Hưng), Dũng (Đoạn tuyệt – Nhất Linh), Duy (Con đường sáng – Hoàng Đạo)… và

nhiều nhân vật khác nữa dù chính diện hay phản diện, đều được khoác lên một cái

vỏ bọc tân thời hoàn hảo Có thể nói, quan điểm của các nhà văn lãng mạn là hoàn toàn chấp nhận, thậm chí muốn vươn tới chuẩn mực đó, để từ chuyện trang phục mà tiến tới “giải phóng” con người ở mức cao hơn là tư tưởng và hành động

Nói đến thái độ phê phán trong vấn đề trang phục, trước tiên phải kể đến Vũ Trọng Phụng (1912-1939) Một trong những tác phẩm phản ánh toàn diện quan

điểm phê phán này là tác phẩm Số đỏ Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đặc biệt lưu ý

đến trang phục và xem đó là một thủ pháp đắc lực để xây dựng nhân vật Trong

Trang 34

gần cửa Tuy nó cũng hơi nóng ruột, song được dịp hưởng bằng mắt một bữa tiệc rất hiếm, nghĩa là ngắm nghía những bộ phận kín đáo của phái đẹp mà chỉ có cuộc

Âu hoá là dám phô ra Nào là những cái ngực khiêu khích đeo những cóoc-sê lụa

viền đăng ten, nào là những bắp đùi lồng trong những cái bít tất lụa Nào là áo lót mình, những quần đùi, tóm lại thì là đủ cả những cái có thể gợi xuân tình trong lòng một ông cụ già đã ăn khao bẩy mươi.” (trích Số đỏ, Chương IV) [Trần Hữu

Tá sưu tầm và tuyển chọn 2001: 53] Dưới mắt Vũ Trọng Phụng, chuyện ăn mặc của phong trào “Âu hóa” không khác gì một tấn tuồng kệch cỡm Trang phục của phụ nữ không còn tuân theo tiêu chuẩn kín đáo, e ấp nữa, trái lại, nó chạy theo phương châm càng hở hang càng tốt, “Âu hóa” tức là phải hở hang: “Hai người đứng trước một bộ quần áo táo tợn vì may bằng một thứ sa mỏng dính màu đen Bên trong cái quần và cái áo chỉ có cái coócxê và cái quần đùi đen thôi, nên chi cái người đàn bà gỗ tuyệt đẹp ấy để lộ cả một nửa bộ ngực trên, cả hai cánh tay và cả

hai bên bẹn trở xuống cũng trông rõ mồn một.” (trích Số đỏ, Chương IV) [Trần Hữu

Tá sưu tầm và tuyển chọn 2001: 54] Và đây là quan điểm của nhà mỹ thuật, tác giả của những bộ trang phục tân thời tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ: “Thưa bà, những nguyên

tắc về y phục đã thay đổi Chúng tôi mà có chế ra kiểu này cũng là vì theo cái

quan niệm y phục của các nhà thợ may lớn ở Tây phương Quần áo để tô điểm,

để làm tăng sắc đẹp, chứ không phải để che đậy Bao giờ… bao giờ mà y phục tiến

bộ đến cực điểm, đi đến chỗ tận thiện tận mỹ, thì nghĩa là y phục phải không còn…

che đậy cái gì của người đàn bà nữa!” (trích Số đỏ, Chương IV) [Trần Hữu Tá sưu tầm và tuyển chọn 2001: 55] Những nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ được xây

dựng bằng bút pháp trào phúng “Ăn mặc” không chỉ làm nền như trong tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn nữa, mà nó trở thành một phần nội dung của tác phẩm Chưa có một nhà văn nào nói về trang phục chạy theo kiểu Tây nhiều như Vũ Trọng Phụng, cũng chưa có nhà văn nào đả kích dữ dội như ông “Nhà mĩ thuật” Typn chủ trương

“Âu hóa” hết sức mạnh bạo, nhưng đối với vợ mình thì cấm ngặt không cho mặc những trang phục do chính mình thiết kế: “ Phụ nữ nghĩa là chị em người khác, chứ

không phải vợ con chị em của tôi Gia đình tôi thì cứ phải theo cổ, không được có

hạng đàn bà ăn mặc tân thời nay khiêu vũ mai chợ phiên, rồi về nhà chửi lại mẹ

chồng bằng những lí thuyết bình quyền với giải phóng!” (trích Số đỏ, Chương V)

Trang 35

[Trần Hữu Tá sưu tầm và tuyển chọn, 2001: 63] Mâu thuẫn trong lời nói và hành động của Typn đã lộ rõ bản chất của những kẻ cổ vũ nhiệt liệt phong trào “Âu hóa” Miệng nói “Âu hóa” nhưng trong lòng đều thấy “Âu hóa” lố lăng kệch cỡm, tất cả đều có thể “Âu hóa” trừ gia đình mình ra Những biểu hiện này cho thấy sự đối lập trong suy nghĩ và hành động của người dân ta trong thời kỳ chuyển hóa giữa cái cũ

và cái mới, giữa sự hội nhập văn hóa Đông – Tây Trong tiểu thuyết Số đỏ, chuyện

ăn mặc là một hiện tượng thú vị, qua đó, tất cả những trò cười của tư sản thành thị hiện ra rất sinh động Vào dịp đám tang của cụ tổ: “Hôm nay, Tuyết mặc bộ y phục

Ngây thơ – cái áo dài voan mỏng, trong có coócsê, trông như hở cả nách và nửa

vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh Thấy rằng thiên hạ

đồn mình hư hỏng nhiều quá, Tuyết bèn mặc bộ Ngây thơ để cho thiên hạ phải biết

rằng mình chưa đánh mất chữ trinh.” (trích Số đỏ, Chương XV) [Trần Hữu Tá sưu

tầm và tuyển chọn, 2001: 135] Đám tang nhộn nhịp như một sân khấu Ai nấy đều tranh nhau phô diễn trang phục, đủ các kiểu hở hang lòe loẹt Tuyết là “gái mới” đúng nghĩa, theo cách nhìn của Vũ Trọng Phụng thì không khác gì một loại “điếm” tân thời Dưới đây là đoạn hội thoại giữa cặp tình nhân “tân thời” trẻ trung, sôi nổi: Tuyết và Xuân tóc đỏ:

Tuyết reo: - Âu Hoá vạn tuế! Vú cao su vạn tuế!” (trích Số đỏ, Chương

XVII) [Trần Hữu Tá sưu tầm và tuyển chọn, 2001: 146] Tuyết nói chuyện rất tự

nhiên và dung tục, chẳng có gì phải che giấu và giữ gìn Cặp tình nhân Xuân – Tuyết đúng là một cặp trời sinh hiếm có Vũ Trọng Phụng nhìn vấn đề trang phục không phải theo cái nhìn duy mỹ như Tự lực văn đoàn, nhà văn gắn vấn đề này với vấn đề đạo đức và sự băng hoại về lối sống của dân thành thị Toàn bộ tác phẩm là một sân khấu bi - hài kịch lớn, trong đó, mỗi nhân vật đóng vai một con rối: “Lúc

Trang 36

xe mở, một bà trạc ngoại tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn của các thiếu nữ, mặt

bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà quăn quăn, cả người nặng ít ra

cũng bẩy mươi cân, nhưng cái khăn vành giây đúng mốt hết sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủn có một mẩu, một tay cầm một cái dù thật tý hon và một cái ví da khổng

lồ, tay kia ôm một con chó bé trông kỳ dị như một con kỳ lân, bước xuống đất một

cách nặng nề vất vả Rồi đến một chàng thiếu niên cao ngẳng, gầy đét, lộ hầu, hai

mắt như ốc nhồi, tóc cũng uốn quăn Âu phục lối du lịch, chui ở xe ra đưa tay cho một thiếu nữ mặc quần đùi trắng, tóc búi, giầy cao su, tay cắp hai cái vợt, chui ra

sau cùng” (trích Số đỏ, Chương I) [Trần Hữu Tá sưu tầm và tuyển chọn, 2001: 32] Không chỉ ở tác phẩm Số đỏ, Giông tố cũng là một tiểu thuyết phê phán rất mạnh

phong trào “Âu hóa” thông qua nhân vật Tạ Đình Hách Nhân vật địa chủ thân Pháp được miêu tả lố lăng thế này: “Dứt lời “chửi”, “quan” bước xuống xe và sập cửa xe rất mạnh để tỏ ý giận dữ Đó là một người gần 50 thân thể vạm vỡ, hơi lùn, trước

mặt có một cặp kính trắng gọng vàng, trên môi có một ít râu lún phún kiểu Tây, cái mũ dạ đen hình quả dưa, cái áo đen bóng một khuy, cái quần đen, rọc trắng,

đôi giày láng mũi nhọn và bóng lộn, làm cho lão có cái vẻ sang trọng mà quê kệch,

cái vẻ rất khó tả của những anh trọc phú học làm người văn minh ” (trích Giông tố,

chương III) [Vũ Trọng Phụng, 2008 : 39] Cái lối ăn mặc nửa quê kệch nửa văn

minh đã tố cáo nhận thức của Nghị Hách Cùng với Nghị Quế (Tắt đèn – Ngô Tất Tố), Nghị Lại (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan)… , các nhân vật này làm

thành một mô-típ nhân vật địa chủ ngu dốt, lố lăng và tàn ác điển hình trong dòng văn học hiện thực phê phán, cũng là kiểu nhân vật hỗ trợ rất tốt cho nỗ lực của các

nhà văn hiện thực trong việc đả kích xã hội mà theo họ là rối loạn và vô lương tâm

Cùng với Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan (1903-1977) cũng thường nhắc đến chuyện ăn mặc ở thành thị với một thái độ mỉa mai châm biếm thẳng thừng “Ở đời này mà cứ ăn mặc theo lối cổ, thì bất quá lấy được anh giáo học là

cùng! Những thằng Cao đẳng nó chỉ ưa tân thời thôi Thấy bạn vẽ cái tương lai,

cô lại thở dài, oán cái nền nếp nhà cô Sao trời đã sinh ra cô là con gái; con gái phố Hàng Đào; con gái phố Hàng Đào có nhan sắc; con gái phố Hàng Đào có nhan sắc của một nhà giàu; đương thì đào tơ mơn mởn, mà không được sinh trưởng vào một cái gia đình được ăn mặc tự do, để được xứng đáng với từng ấy cái mà cô được hơn

Trang 37

người.”(trích Cô Kếu gái tân thời) [Phan Cự Đệ sưu tầm và tuyển chọn, 1983: 115]

Nguyễn Công Hoan thẳng tay chỉ trích đám “gái mới” đổ xô theo phong trào “Âu hóa” Những nhân vật như cô Kếu hay xuất hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan với bộ dạng nửa quê mùa nửa thành thị, lúc nào cũng ấp ủ cái tham vọng được chưng diện kiểu mới cho bằng chị bằng em “Cô mơ màng đến ngày

cưới cô, quyết thế nào cô cũng xin mặc quần trắng và áo sa-tanh hồng, thêu hoa

to bằng cái bát Rồi cô tưởng tượng đến người bạn trăm năm của cô, trẻ, đẹp, đẫy

đà cứ chiều chiều dắt cô ra Bờ Hồ hóng mát Những người ấy phải mặc quần Tây

phẳng nếp, đầu chải thật bóng Mà cô thì cầm cái mũ cho chồng, mặc lối tân thời

từ đỉnh đầu đến dưới gót!” (trích Cô Kếu gái tân thời) [Phan Cự Đệ sưu tầm và

tuyển chọn, 1983: 116] Nguyễn Công Hoan đúng là chẳng ưa gì đám người chạy theo Tây ấy Dù rằng trang phục không phải là một đề tài lớn trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, nhưng qua đó, ta thấy rõ quan điểm phê phán của một nhà văn nhìn cuộc sống theo khuynh hướng hiện thực

Một nhà văn hiện thực khác là Ngô Tất Tố (1894-1954), cũng bày tỏ cùng

một quan điểm với Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Công Hoan Một đoạn trong Tạp

văn của Ngô Tất Tố cho thấy rõ điều đó: “Càng ngày càng thấy Cát Tường Lơ muya

là bậc vĩ nhân… Sự thi đậu thứ bét trường Mỹ thuật của ông ta chẳng cấm ông ta đem cái óc cách mệnh mà tô điểm cho nước Việt Nam Cuộc cách mệnh bắt đầu từ mấy cái gấu quần, gấu áo của bạn gái kẻ chợ mà cách mệnh đi Trước đây, chừng năm, sáu năm chi đó, gấu áo gấu quần của bạn gái kẻ chợ đâu được văn minh như ngày nay Nó còn bàn bạc bằng cái quân bài kia chứ Nhờ về một bầu máu nóng của họa sĩ họ Lơ tuôn xuống dưới ngòi bút vẽ, mà đến bây giờ, bao nhiêu gấu quần gấu áo hủ bại ngày xưa đều bị đánh đổ tất cả Cuộc cách mệnh ấy đã lan đến các

cụ cao mũ dài áo Các cụ đang hăng hái cách mệnh cái áo thụng cho khỏi mang tiếng hủ bại… Chúng ta cứ tưởng tượng một cụ có râu hay không râu, náu mình trong tấm áo màu lam, cổ tràng vạt, hai ống tay bằng hai cái cống tháo nước, đứng

trước một bà kẻ lông mày, bôi môi son, bận quần trắng, đi giày cao gót, phỏng

chừng bà nọ có thể nhắm mắt mà hôn cụ kia một cái được chăng?” (trích Xin nhờ

Lơmuya Cát Tường việc này nữa) [Phan Cự Đệ sưu tầm và tuyển chọn, 1997: Ngô

Trang 38

Tất Tố có hơi hướng phê phán theo cách của các nhà Nho xưa, có phần bảo thủ Nhà văn cho rằng, việc truyền thống và hiện đại giao thoa với nhau là điều không thể Mặt hạn chế của ông cũng chính là ở điểm này, vì thực tế không có một sự tách biệt rạch ròi nào giữa “cũ” và “mới” Cái “cũ” chính là bước phát triển của cái “cũ” hơn trước nó “Cũ” phát triển thành “mới”, mới phát triển thành “mới”hơn… tất cả đều đi theo quy luật dung hòa và loại bỏ Văn hóa không nằm ngoài quy luật đó Hơn nữa, không hẳn truyền thống đồng nghĩa với cái đẹp, hiện đại đồng nghĩa với xấu xa

Thái độ chung của các nhà văn theo khuynh hướng hiện thực là phê phán gay gắt, phản đối quyết liệt chuyện ăn mặc theo lối tân thời, vì họ cho rằng như vậy là đi ngược với truyền thống của dân tộc Quan điểm này, rõ ràng trái ngược với Tự lực văn đoàn nói riêng và các nhà văn theo khuynh hướng lãng mạn nói chung

Ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong trang phục diễn ra sớm hơn Đầu thế kỷ XX, Sài Gòn đã được xem là “một trong những viên ngọc Viễn Đông Đây người ta nói thành phố to như Thượng Hải hay xa xôi hơn, như Nữu Ước của Mỹ châu Ban đêm, sự buôn bán làm ăn không ngừng, ánh sáng còn rực rỡ hơn ban ngày… Bao nhiêu công việc tạp nhạp, người trong ấy để cả cho khách trú và người Bắc làm hết Hầu hết họ cứ đến bữa ăn thì ra

tiệm, tối đến đi chơi, chẳng lo nghĩ gì cả Đồng tiền thật như nước” (Trích Người

con gái – Nguyên Hồng) Ngay từ những ngày đầu của thế kỷ XX, trong tiểu thuyết

của các nhà văn Nam bộ, cách ăn mặc theo lối phương Tây đã xuất hiện rất nhiều

Hồ Biểu Chánh, nhà văn Nam bộ tiêu biểu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tả

Huỳnh Phi Phụng trong Nhân tình ấm lạnh : " Cô tuổi vừa mới 17, nước da trắng

đỏ, đầu tóc đen huyền, hàm trăng trắng mà đều như hột bầu, ngón tay dài mà lại non

như da giấy, mình mặc áo lãnh màu bông phấn quần lụa bom-bay mới tinh, chơn đi giày thêu cườm, bông tai cà rá, dây chuyền đều nhận hột xoàn sáng ánh." Bối

cảnh tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh phần nhiều ở Lục Tỉnh, Sài Gòn và Gia Ðịnh,

đó là những nơi ông đã sống, làm việc Trong xã hội mà Hồ Biểu Chánh phản ánh, những cô thôn nữ, những chàng sinh viên, những con người phiêu lưu dấn thân vào con đường thương mại để thay đổi cuộc đời… đều chịu ảnh hưởng của cách ăn mặc, phục sức theo kiểu Tây Chuyện trang phục trở thành một nét rất “bình thường, tất

Trang 39

nhiên” trong văn chương Cũng cần nói thêm, ở khía cạnh này, các nhà văn miền Nam nói chung rất ít biểu hiện thái độ phê phán hoặc ủng hộ rõ ràng Xét riêng những tác phẩm văn học ra đời trong giai đoạn 1930-1945, thì càng ít thấy một xu hướng nào rõ ràng thể hiện quan điểm của nhà văn với vấn đề trang phục Nếu có phê phán, cũng không phải với thái độ gay gắt như các nhà văn hiện thực phê phán

phía Bắc Trong một bài đăng trên Nông Cổ Mín Đàm, chủ bút Trần Chánh Chiếu

viết: “Nói sang qua phong tục thì lại thấy nó mỏng manh hơn bánh tráng Xưa vẽ mình, ở dã, ở bãi, nhờ ba con cá nuôi lỗ miệng, đầu trọc, mình đóng khố Sau lần

lần bắt chước lân bang, sắm áo quần ngày càng tao nhã thanh lịch Nay lại muốn

bỏ đồ xưa, đổi áo thay xiêm, đổ dài thay vắn, cúp tóc cho gọn Xưa đi giày hàm ếch

lượt bượt Nay đi giày đính gót gọn gàng Xưa bịt khăn, nay đội nón Muôn việc

cũng đều bắt chước các nước, còn việc cơ xão, việc thông minh, bày vẽ cho cận tiện thì mình thua sút xa thăm thẳm Nghĩ lại sự bắt chước cũng không mau được, ban đầu thì xài quần tây, đến sau cúp tóc, đội nón, bây giờ muốn đổi áo Mấy ông tưởng vậy là đủ cuộc trí thời thức thế sao? Tôi tưởng chưa, là vì việc hủ lậu còn đầy, sự nghi nan còn nặng Việc đọc sách, đọc nhựt trình còn sơ, việc cơ xão công nghệ còn hẹp Nay lo chuyện sua se là dọn quần đánh áo Hà tất duy tân Ấy là có vỏ nõ có ruột Phải ráng mà bươn chải với đời, lo cho con nhà nước Nam thông nghề buôn, giỏi nghiệp nghệ, tiện tặn chắt lót, thủ quyền lợi vì hễ có hằng sản mới có hằng tâm; bằng tay không chân rồi, dầu có mặc áo gấm cũng chẳng làm chi, bất quá thì hơn

con công một thí mà thôi.” [Nông Cổ Mín Đàm số 2, ra ngày 21-11-1907] Trần

Chánh Chiếu tuy nói đến trang phục mà không phải chủ đích là phê phán chuyện

trang phục, ông chỉ mượn trang phục để nói đến một vấn đề khác: duy tân Cải cách

đất nước và học theo văn minh phương Tây để tự cứu mình, làm cho dân Việt Nam tiến bộ là tư tưởng của những trí thức tiến bộ Việt Nam thời kỳ đó Nỗ lực lập ra những tờ báo đầu tiên, mang văn chương, kiến thức của phương Tây phổ biến vào Việt Nam là nhằm mục đích “duy tân” đất nước “Duy tân” không phải chỉ ở chuyện quần áo, giày dép, mũ nón, mà vấn đề chính là ở tư tưởng, kỹ thuật, nghề nghiệp Nhà văn không phê phán chuyện trang phục thay đổi, mà phê phán cách người ta quá chú trọng tới trang phục xem đó như toàn bộ cuộc cải cách xã hội mà

Trang 40

và tỉnh táo Thực chất, bất kỳ sự thay đổi nào cũng có hai mặt của nó, trang phục cần phải thay đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và cuộc sống sinh hoạt mới của con người, miễn sao sự thay đổi đó không làm mất thuần phong mỹ tục mà thôi

2.1.2 Tiện nghi vật chất

Cùng với trang phục, những tiện nghi sinh hoạt hằng ngày đã chinh phục những người Việt “sính ngoại”, thích chạy theo “Âu hóa” Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX vẫn còn là một xã hội nông nghiệp lạc hậu Khi người phương Tây mang theo xe hơi, xe đạp, đồng hồ, bóng điện… và rất nhiều tiện nghi khác vào Việt Nam, họ đã tạo ra một “cú sốc” thực sự trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là ở thành thị Những thay đổi chóng mặt đó cũng tạo ra những làn sóng khác nhau trong văn học Việt Nam giai đoạn này Cùng một thực tại, nhưng mỗi nhà văn lại nhìn nó theo cách riêng Tương tự như vấn đề trang phục, chuyện sinh hoạt, vật chất thường ngày cũng được phản ánh theo hai xu hướng chính : ủng hộ và phê phán

Cùng với trang phục, lớp phủ vật chất bao quanh những nhân vật tân thời của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng rất được chú trọng Một số tác phẩm của Tự lực

văn đoàn, nhất là những tác phẩm vào khoảng 1939-1940 (Đẹp, Thanh đức, Bướm

trắng) đã có phần thi vị hóa cuộc sống tư sản với ô tô, nhà lầu, villa bãi biển, mỏ

vàng, đồn điền, cửa hàng kinh doanh ở các thành phố lớn bên cạnh một cuộc sống đầy nhục cảm, những cuộc tình duyên tay ba, tay tư cùng các thiếu nữ ngây thơ, kiều diễm có salon văn chương, khiêu vũ, tắm biển, âm nhạc, hội họa, có những bữa tiệc rất sang, những buổi phá tán, hành lạc kéo dài đến tận sáng ở các hộp đêm… Hình ảnh con người ở đây, ngoài lớp văn nghệ sĩ là những tri huyện tân học, những

cử nhân, tiến sĩ ở Pháp về, những bà Án, bà Tuần, những ông Quản, Hàn Na, Thanh Đức, toàn một lớp tư sản hoặc tư sản kiêm địa chủ, làm giàu bằng các thủ đoạn cạnh tranh, lừa lọc, tàn nhẫn… Vốn là tiếng nói của tầng lớp tư sản dân tộc, Tự lực văn đoàn dường như chấp nhận cái hiện thực đó, chỉ muốn cải cách và hoàn thiện nó chứ không đặt vấn đề phủ nhận (như các nhà văn hiện thực) Lại nói về nhân vật

Hồng trong tác phẩm Thoát ly: “Nàng nghĩ thầm: "Lần này là lần đầu mình được

trông thấy cái máy truyền thanh Tiếng to quá, mà chẳng còn giống tiếng người nữa, nghe như tiếng ma tiếng quỷ ấy." Và nàng mỉm cười nghĩ tiếp: "Chả trách chị Nga

bảo mình quê mùa Thực chẳng oan tí nào” (trích Thoát ly, chương II) [Tuyển tập

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w