Việc đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa các bộ môn, đòi hỏi lấy người học làm trung tâm, đặc biệt đối với bộ môn ngữ văn giáo viên phải hướng đến dạy học phát triển năng lực, thay vì dạy học chạy theo nội dung như trước đây. Giáo viên phải chuyển từ dạy theo kiểu giảng văn sang dạy đọc hiểu theo đặc trưng thể loại….Đứng trước những thách thức lớn như thế, là một một giáo viên tâm huyết với nghề nhất định phải tìm ra phương pháp hiệu quả, vừa giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, khắc sâu, nhớ lâu, không học vẹt như trước đây, vừa khơi dậy niềm đam mê, yêu thích, hăng say, tích cực của các em trong giờ học ngữ văn, từ đó hình thành những kĩ năng, phẩm chất cần thiết để các em ứng dụng vào cuộc sống, là một khó khăn vô cùng lớn. Từ việc giảng dạy thực tế tôi đã tìm ra được kỹ thuật lẩu băng chuyền để ứng dụng vào quá trình dạy học ngữ văn 7, với kỹ thuật này, cũng giống như hình thức “học mà chơi, chơi mà học” nếu được ứng dụng một cách hiệu quả tôi tin chắc nó sẽ giúp không ít thầy, cô cải thiện những khó khăn thường gặp khi lên lớp.
Trang 1BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN “ỨNG DỤNG HIỆU QUẢ KỸ THUẬT LẨU BĂNG CHUYỀN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 7”
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
chuyền trong dạy học ngữ văn 7”
I- SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:
- Ngày tháng năm sinh: 19 - 06 - 1995
- Nơi thường trú: ấp Bình Hoà 1, xã Mỹ Khánh, LX - AG
- Đơn vị công tác: trường THCS và THPT Vĩnh Nhuận
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm Ngữ văn
- Lĩnh vực công tác: Giáo dục
II- SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ:
Trường Trung học cơ sở Vĩnh Nhuận được thành lập vào năm 1998 với đội ngũ CB– GV – CNV có chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy tốt Trường được công nhận trườngĐạt Chuẩn Quốc gia theo quyết định số 3291/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2018 củaChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang quyết định về việc công nhận trường trung họcđạt chuẩn quốc gia Ngày 14 tháng 5 năm 2021, trường được Ủy ban nhân dân tỉnh AnGiang ra Quyết định số 1011/QĐ-UBND, Quyết định về việc thành lập trường THCS vàTHPT Vĩnh Nhuận trên cơ sở tổ chức lại trường THCS Vĩnh Nhuận và chính thức bắt đầuhoạt động vào ngày 01 tháng 6 năm 2021
Tình hình đội ngũ CB – GV – CNV, cơ sở vật chất và TBDH phục vụ nhiệm vụnăm học 2022 – 2023 như sau:
Trang 3- Diện tích trường: 9.296 m2cộng với khu cấp THPT mới xây trên 2000m2
- Phòng học: 22 phòng với đầy đủ bàn ghế, ánh sáng, quạt phục vụ dạy học
- Khu phòng học bộ môn được xây dựng theo quy định của trường Đạt chuẩnQuốc gia
- Khu hành chính quản trị văn phòng đầy đủ các phòng ban theo quy định củatrường Đạt chuẩn Quốc gia
1 Thuận lợi
Ngữ văn hiện nay được xem là một trong những môn học chính trong nhà trường
Nó được coi là thứ “vũ khí vô song” bởi “văn học là nhân học” Văn học là một loạihình nghệ thuật phản ánh chân thực cuộc sống bằng hình tượng thông qua ngôn ngữ,góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, hình thành kĩ năng giao tiếp,ứng xử, làm phong phú tâm hồn và vẻ đẹp nhân cách cho người học
Đó cũng chính là lý do Bộ và Sở Giáo dục & Đào tạo cùng ban lãnh đạo nhàtrường hết sức quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ giáo viêntham gia chương trình tập huấn, bồi dưỡng để từng bước tiếp cận, thích ứng vớichương trình giáo dục phổ thông mới
Nhìn chung, những năm gần đây, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đãđược thống nhất theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổchức, hướng dẫn của giáo viên Những định hướng này được thể hiện đồng bộ trongviệc đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa các bộ môn, các bậc học từ tiểuhọc đến trung học cơ sở và trung học phổ thông
Ngoài ra, đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường luôn quan tâm, đầu tư, xây dựng
hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin như: wifi, loa, máy tính, máy chiếu, mànhình TV, máy in, đường truyền internet, tranh ảnh.… tận dụng tối đa các phương tiện
để hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học
Trang 4Một số phụ huynh chưa biết đến các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học dẫn đến trường hợp không đồng tình hoặc không chủ động phối hợp với giáoviên bộ môn tạo điều kiện thuận lợi để học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập.
-Đối mặt với những khó khăn trên trong quá trình công tác tại đơn vị, đứng ởgóc độ là một giáo viên tâm huyết với nghề tôi nhận thấy việc tìm ra một phươngpháp dạy học (PPDH) hoặc kĩ thuật dạy học hiệu quả là một bước hết sức quan trọngbởi vì một PPDH hoặc kĩ thuật dạy học hiệu quả nó có thể giúp thầy/cô tháo gỡ mọikhó khăn trong quá trình dạy học Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng củaPPDH và kĩ thuật dạy học, từ quá trình công tác tôi rút ra được những kinh nghiệm
thực tiễn để trình bày và chia sẻ với đồng nghiệp về đề tài: Ứng dụng hiệu quả kỹ
thuật Lẩu băng chuyền trong dạy học ngữ văn 7 Lĩnh vực: Ngữ văn.
III- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN:
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Theo Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các giai đoạn phát triển tâm
lý theo lứa tuổi được chia thành 9 giai đoạn, trong đó lứa tuổi của học sinh THCSthuộc giai đoạn thứ 6 (từ 11-15 tuổi), người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn của lứatuổi thiếu niên Ở lứa tuổi này, các em có nhiều sự chuyển biến phức tạp về mặt tâmsinh lý, các em có những biểu hiện rất khác nhau, nhưng nhìn chung, đây được xem làlứa tuổi khủng hoảng, tuổi khó bảo, tuổi bất trị, tuổi ăn tuổi chơi, tuy nhiên đây cũng
là độ tuổi thơ ngây, hồn nhiên, trong sáng và những biểu hiện tiêu cực lẫn tích cực đóảnh hưởng không ít đến thái độ và chất lượng học tập của các em Cụ thể như sau:
- Nhiều em tỏ ra chán ghét bộ môn, học tập một cách thụ động, gò ép, thiếu sáng tạo
- Không có hứng thú, say mê đối với bộ môn ngữ văn, kéo theo tâm thế lười học, chánhọc, thường tỏ ra mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ, thậm chí gục ngủ ngay trên bàn
- Vì không có hứng thú học tập cho nên các em thường lơ là, mất tập trung hoặc nói
Trang 5mà giáo viên đã giao.
- Trong giờ học các em ngồi học thụ động, ít hăng hái phát biểu xây dựng bài, chỉ mộtvài em học giỏi mới hăng say trả lời Không khí lớp học vì vậy mà bị trùng xuống,cảm giác rất nặng nề
Để có những nhận xét đánh giá chính xác, khách quan về thực trạng trên tôi
đã thực hiện khảo sát, điều tra, lập bảng thống kê đối với 72 học sinh của 2 lớp: 7A2
và 7A4 tại trường THCS và THPT Vĩnh Nhuận[Phụ lục 1] Kết quả như sau:
Lớp 7A2_Sỉ số 38
Số lượng Tỷ lệ lượng Số Tỷ lệ lượng Số Tỷ lệ lượng Số Tỷ lệ
Trang 6Qua kết quả về mức độ nhận thức, thái độ, hứng thú học tập Ngữ văn của họcsinh lớp 7A2 và 7A4 cho thấy:
- Có 12 HS (16.67%) cho rằng môn Ngữ văn quan trọng, 23 HS (31.94%) cho
môn Ngữ văn rất quan trọng và có 30 HS (41.67%) cảm thấy môn Ngữ văn là một môn học cực kỳ quan trọng Đây quả là một tín hiệu đáng mừng vì có đến 90.28%
đều nhận thức được tầm quan trọng của môn Ngữ văn, bởi vì khi có được nhậnthức đúng đắn về vai trò, vị trí của môn học thì các em mới có được động cơ học
Trang 7- Quả thật vậy, khi được hỏi về động cơ học tập 35 HS (48.61%) cho rằng môn
Ngữ văn cần thiết cho cuộc sống, 21 HS (29.17%) cho rằng Ngữ văn có nội dung
bổ ích, hấp dẫn, chỉ có 10 HS (13.90%) học tập do bắt buộc và 6 HS (8.33%) là
do các động cơ khác.
- Tuy nhiên trên thực tế chỉ có 16 HS có thái độ hứng thú và thích học môn Ngữ
văn Cụ thể, có 10 HS (13.89%) cảm thấy thích môn Ngữ văn và chỉ có 6 HS (8.33%) rất thích môn học này, như vậy qua biểu đồ chúng ta có thể nhận thấy rất
rõ ràng số lượng HS tỏ ra hờ hửng với môn học này chiếm tỉ lệ không nhỏ Cụ thể,
30 HS (41.67%) thấy bình thường, không thích mà cũng không chán, 26 HS (36.11%) thì thấy chán môn này.
Trang 8- Nguyên nhân chủ yếu làm cho các em này yêu thích các giờ học văn là do đây là
môn học chỉ cần học thuộc bài, không cần tư duy chiếm số lượng 36 HS (50%),
còn lại 6 (8.33%) HS cho rằng do GV dạy hấp dẫn và 30 HS (41.67%) chọn lí do
khác Từ những con số trên cho ta thấy một sự thật đáng buồn, nhiều học sinh
không cảm thấy mình bị lôi cuốn bởi môn học này, chưa chủ động, tích cực, chưasay mê, yêu thích, nguyên nhân chính là do GV chưa có phương pháp dạy họcphù hợp và hấp dẫn
- Cùng với một số cuộc trò chuyện nho nhỏ, tôi nhận ra gần như các em đềukhông có nhiều thời gian để đầu tư cho môn Văn, vì phần lớn thời gian các emdành để thực hiện nhiệm vụ của các môn học khác, đặc biệt là các môn tự nhiên.Chính vì vậy lượng thời gian HS tự học, tìm hiểu bài, soạn bài môn Ngữ văn rất ítthậm chí là không có, điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến sự tích cực của HS khitham gia tiết học, ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất là việc tham gia phát biểu xây
dựng bài trong giờ Ngữ văn cũng ít: có 40 HS (55.60%) thỉnh thoảng hoặc thường
xuyên đến rất thường xuyên tham gia phát biểu, còn lại là 32 HS (44.44%) không
tham gia phát biểu
- Có thể nói, việc khảo sát “Mức độ hứng thú, tích cực, chủ động của người học
đối với bộ môn Ngữ văn” ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm này, vì vậy để khách quan hơn tôi đã tiến hành phân công tổ trưởng
ở mỗi lớp ghi nhận việc tham gia phát biểu của HS trong mỗi giờ học Ngữ văn[Phụ lục 2]
1.5 Bảng thống kê số lượt tham gia phát biểu xây dựng bài môn Ngữ văn BÀI 1: TIẾNG NÓI CỦA VẠN VẬT 7A2 7A4
Số lượng Số lượng
Đọc kết nối chủ điểm ÔNG MỘT - CON CHIM CHIỀN CHIỆN
Từ tỉ lệ nêu trên thì số lượng HS cho rằng mình thường giơ tay phát biểu trongmột tiết học Văn là rất ít, đa số GV phải chủ động gọi các em phát biểu, khi phát biểumột số em đều đưa ra câu trả lời chính xác, như vậy có nghĩa là dù biết câu trả lờinhưng các em vẫn không chủ động tham gia xây dựng bài và điều đáng chú ý hơn, một
số lượt giơ tay phát biểu đều rơi vào những em giỏi văn và có năng khiếu bẩm sinh,nghĩa là các em đã có sẵn niềm say mê, yêu thích đối với môn này, vậy những học sinhcòn lại thì như thế nào? Làm sao để khơi gợi sự tích cực, khả năng ham học hỏi, tìm tòi,yêu thích bộ môn đối với các em?
Trang 9- Chất lượng học tập vì thế cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Biểu hiện rõ ràng nhất làthông qua điểm số của một số bài tập, bài kiểm tra, nhiều học sinh có điểm ≤5 và
không có học sinh nào đạt điểm≥8.
- Bên cạnh đó, còn có thể nhận biết thông qua khả năng lĩnh hội tri thức của học sinhngay tại lớp Cụ thể, một số em tuy tỏ ra tập trung trong giờ học nhưng khi giáo viênyêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức đã học, những em này hoàn toàn không thểthực hiện được, một số khác chỉ biết học thuộc lòng từng bài, từng câu, từng chữnhưng khi giáo viên yêu cầu áp dụng lý thuyết đã học để phân tích một văn bản theođặc trưng thể loại, các em cũng không thể áp dụng
Để có những nhận xét, đánh giá chính xác, khách quan tôi đã thực hiện khảo
sát chất lượng học tập qua bài tập về “Thơ 4 chữ và 5 chữ” [Phụ lục 3]và bảng điểm[Phụ lục 4] của 72 học sinh ở 2 lớp - 7A2 và 7A4 tại trường THCS và THPT Vĩnh Nhuận.Kết quả như sau:
- Từ bảng thống kê trên có thể thấy:
+ Tỷ lệ Điểm tốt chỉ có 2/72 học sinh (2.78%), cả 02 học sinh đạt điểm tốt đều
rơi vào lớp 7a4, như vậy lớp 7a2 không có HS nào đạt từ 8đ trở lên
+ Điểm khá có 15/72 học sinh (20.83%), tuy số lượng tương đối nhưng so với
số học sinh đạt và chưa đạt thì vẫn còn chiếm số lượng rất ít
+ Điểm đạt chiếm đến 27/72 học sinh (37.50%), Điểm chưa đạt lên đến 28/72
học sinh (chiếm 38.89%)
- Với những con số đáng quan ngại như thế này, có thể thấy hứng thú học tậpđóng vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập củahọc sinh Với tư cách là một giáo viên yêu nghề, tâm huyết với nghề tôi nhận thấycần phải đổi mới PPDH và kĩ thuật dạy học môn ngữ văn, nhằm nâng cao chấtlượng dạy học, nhất là trong giai đoạn thay sách, đổi mới chương trình giáo dục
và phương pháp dạy-học hiện nay
1.6 Bảng thống kê điểm bài tập của HS hai lớp: 7a2 và 7a4
Lớp Sỉ số Điểm tốt
(10 – 8.0)
Điểm khá (7.75 – 6.5)
Điểm đạt (6.25 – 5.0)
Chưa đạt (Từ 4.75 trở xuống)
Tổng 72 2 (2.78%) 15 (20.83%) 27 (37.50%) 28 (38.89%)
Trang 102 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
* Đối với giáo viên
Qua tất cả những câu hỏi khảo sát mà tôi đã đưa ra, kết hợp với thực tế giảngdạy tại đơn vị tôi nhận thấy quả thật trong những tiết dạy - học Văn không khí lớp họcchưa thật sự sôi nổi, hấp dẫn, chưa thu hút, lôi cuốn, khơi gợi khả năng ham học hỏi,tìm tòi yêu thích bộ môn ở các em Mà hứng thú học tập đối với một môn học là rấtcần thiết, mức độ hứng thú càng cao thì sự thành công của GV trong việc sử dụng cácphương pháp dạy học cũng như chất lượng bộ môn đạt kết quả càng lớn
Mặt khác những yêu cầu đổi mới của nền giáo dục Việt Nam, đòi hỏi giáoviên phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, điều đókhiến cho nhiều thầy, cô không khỏi lúng túng, một phần là vì chưa có nhiều tài liệutham khảo, hướng dẫn cụ thể cho giáo viên và học sinh, một phần là do các phươngpháp dạy học hiện nay khá phong phú, đa dạng vì vậy giáo viên còn băn khoăn trongviệc lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp với nội dung bài học, năng lực của từnghọc sinh để giúp các em củng cố, khái quát hóa kiến thức cơ bản, khắc sâu kiến thứctrọng tâm của bài học
Bên cạnh đó, do yêu cầu lấy HS làm trung tâm, rèn luyện kỹ năng toàn diệncho HS, giáo viên phải chuyển từ dạy theo kiểu giảng văn sang dạy đọc hiểu Cụ thểchuyển từ việc nói nhiều, nói hộ, đọc hộ, cảm thụ hộ học sinh sang tổ chức các hoạtđộng cho các em tự đọc, tự tìm hiểu văn bản Với thách thức lớn như thế không ítgiáo viên vẫn còn bỡ ngỡ, chưa kịp thích ứng, chính vì vậy giờ học thường cứng nhắc,luôn có tâm lí dạy làm sao cho hết được bài học, không hướng tới học sinh làm trungtâm của việc dạy học
Giáo viên còn dạy chay, vận dụng phương pháp chưa linh hoạt, đặc biệt ít sửdụng trò chơi học tập vào tiết dạy hoặc nếu có sử dụng trò chơi thì cũng chỉ là hìnhthức, cho có, chưa đạt hiệu quả cao Chính vì thế chưa lôi cuốn được học sinh trongcác tiết dạy
* Đối với học sinh
Trước đây các em đã quen với phương pháp học truyền thống, được nghe thầy
cô đọc và ghi vào vở nhưng nay phải tự mình lĩnh hội và ghi chép, lại thêm nhiều kiếnthức mới nên việc tiếp thu bài học khá khó khăn với các em
Bên cạnh đó, nhiều học sinh vẫn còn tâm lý nhìn nhận môn Ngữ văn chỉ làmôn học thuộc bài, không cần phải tư duy quá nhiều, từ đó sinh ra thói lười biếng,thiếu ý thức tự học, chỉ chờ giáo viên đưa nội dung bài học và về nhà học thuộc, vìvậy tư duy của các em ngày càng nghèo nàn, dần mất đi hứng thú học tập
Đồng thời, các ý tưởng riêng của học sinh đôi khi chưa được giáo viên quan
Trang 11kiến của mình và theo quy luật tự nhiên nó kéo theo tư duy nhút nhát không dám giơtay phát biểu, tham gia xây dựng bài, tạo ra hiện tượng thụ động, khiến lớp học trầmlắng, không khí tiết học nặng nề, ảnh hưởng nhiều đến khả năng tiếp thu của học sinh
Quan trọng hơn hết là về đặc trưng tâm lý, lứa tuổi này là lứa tuổi hay tò mò,ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới, muốn khẳng định mình, các em tự cho mình làngười lớn và cũng muốn mình được coi là người lớn, muốn được tham gia vào cáchoạt động một cách độc lập, muốn thử sức mình, thích học mà chơi, chơi mà học
Vậy nên việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Ứng dụng hiệu quả kỹ thuật
Lẩu băng chuyền trong dạy học ngữ văn 7” là vô cùng cần thiết Đây là hình thức
thiết kế và tổ chức một tiết học “vừa học vừa chơi”, qua đó giúp các em hình thành kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần làm cho giờ học bớt căng thẳng, nặng
nề, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, khơi gợi tính tích cực chủ động của người học, gâyhứng thú học tập cho HS, việc tiếp thu kiến thức cũng trở nên nhẹ nhàng, hứng khởi,phát triển ở học sinh kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức,khả năng suy luận, phán đoán, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn của học sinh
IV NỘI DUNG SÁNG KIẾN:
1 Tiến trình thực hiện
1.1 Giai đoạn 1: Tìm hiểu kĩ thuật “Lẩu băng chuyền”
- Kỹ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền” hay còn được gọi là “Xích xe tăng”, “Ổ
bi”: Là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, có khả năng tạo hiệu ứng dây
chuyền
- Cách thức tiến hành: có 2 hình thức
+ Hình thức 1: Chia sẻ theo nhóm lớn, tức là mỗi tổ chia thành 2 nhóm ngồi
đối diện nhau, GV thiết kế menu câu hỏi (Số lượng menu và câu hỏi tùy thuộc
vào nội dung bài học)
Cách 1: Menu di chuyển (theo mũi tên), HS ngồi tại chỗ
Cách 2: HS di chuyển (theo mũi tên), menu giữ tại chỗ
+ Hình thức 2: Chia sẻ nhóm đôi (Share pair), tức là cả tổ là một đội trong
đó 2 bạn cùng bàn là một nhóm, GV thiết kế câu hỏi trên 1 menu:
Bước 1: Cặp số 1 chọn 1 món ăn bất kì (tương ứng với 1 câu hỏi) sau
đó điền đáp án vào ô trả lời
Bước 2: Cặp số 1 chuyền menu cho cặp số 2, thực hiện nhiệm vụtương tự cho đến khi hết các món ăn trong menu
Trang 121.2 Giai đoạn 2: Xác định các nguyên tắc chủ đạo trong xây dựng chương trình,
thiết kế bài học, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phù hợp với nội dung chương trình môn Ngữ Văn lớp 7
- Đảm bảo bám sát mục đích chung của chương trình đào tạo và mục tiêu cụ thểcủa bài học
- Xây dựng bài học cần đơn giản, dễ hiểu, lôi cuốn, hấp dẫn và tạo hứng thú cho
học sinh cả về hình thức lẫn nội dung
- Phối hợp tốt các phương pháp trong các hoạt động dạy học
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiến trình xây dựng kiến thức
- Sử dụng PPDH, kỹ thuật dạy học và hình thức tổ chức dạy học phù hợp đặcđiểm nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng học sinh, đảm bảo pháttriển được các năng lực cần thiết cho học sinh qua các hoạt động
1.3 Giai đoạn 3: Quy trình xây dựng bài học
Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học.
Bước 2: Xác định mục tiêu của bài học, căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng
và yêu cầu về thái độ trong chương trình
Bước 3: Nghiên cứu sách giáo khoa, các tài liệu liên quan: hiểu chính xác và
đầy đủ những nội dung liên quan đến bài học, xác định trình tự logic của bàihọc
Bước 4: Xác định nội dung câu hỏi và khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận
thức của học sinh
Bước 5: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và
cách thức đánh giá thích hợp giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
Bước 6: Thiết kế kế hoạch dạy học
Trang 131.4 Giai đoạn 4: Thiết kế Menu, giáo án thực nghiệmPhụ lục 6
2 Thời gian thực nghiệm: Thực hiện từ đầu học kì I năm học 2022 – 2023.
3 Biện pháp thực nghiệm
3.1 Đối tượng:
- Lớp thực nghiệm: 7A4 (năm học 2022 - 2023)
- Lớp so sánh đối chiếu: 7A2 (năm học 2022 - 2023)
3.2 Cách thức tổ chức
- Lớp thực nghiệm tiến hành theo quy trình của sáng kiến kinh nghiệm
- Lớp đối chiếu tiến hành theo phương pháp truyền thống
- Thời gian thực nghiệm: trong học kì 1
- Lớp thực nghệm tiến hành theo các bước :
mình yêu thích, thảo luận,
điền đáp án vào khung trả
2 nhóm hoàn thành sớm nhất được GV công nhận kết quả
2 nhóm lần lượt trình bày sản phẩm của mình trước tập thể
Trang 143.3 Hình ảnh thực nghiệm
Hình 1: HS tích cực, nghiêm túc tìm câu trả lời từ văn bản
Trang 15Hình 2 Các em đang tích cực trao đổi nhóm đôi, thậm chí giúp đỡ các bạn
cùng đội để tìm câu trả lời
Trang 16Hình 3 HS tương tác với Menu
Hình 4 HS thảo luận nhóm đôi - Share pair
Trang 174 Khảo sát và phân tích kết quả khảo sát:
- Hình thức khảo sát:
+ Kiểm chứng bằng bài tập trắc nghiệm kết hợp tự luận
+ Đối chiếu kết quả khảo sát của lớp 7A4 trước và sau khi khảo sát
+ Đối chiếu kết quả khảo sát của lớp thực nghiệm 7A4 với lớp không thực nghiệm7A2
- Đối tượng khảo sát: lớp được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 7A4 (2022 - 2023) và
lớp không được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 7A2 (2022 - 2023)
- Kết quả thực nghiệm:
Hình thức đo lường: phiếu khảo sát[Phụ lục 2] và phiếu ghi nhận việc tham giaphát biểu của HS mỗi tổ trong mỗi giờ học Văn[Phụ lục 1]
Đối chiếu kết quả khảo sát của lớp 7A4 trước và sau khi khảo sát
Hình 5 Sau khi khơi gợi được hứng thú của HS vở bài soạn của các em
có nhiều thay đổi, chuẩn bị bài công phu, kĩ lưỡng, đầy đủ.
Trang 18Nhìn chung, từ sơ đồ “Thái độ và mức độ tham gia phát biểu” của học sinhlớp 7A4 so với kết quả trước thực nghiệm (trước TN) đã đạt kết quả khả quan hơn, tỉ lệ
HS yêu thích và tham gia phát biểu xây dựng bài đều tăng đáng kể Cụ thể:
Tỉ lệ học sinh cảm thấy thích và rất thích môn học này là 100%, so với trước
TN (chỉ có 23.53%) tăng 76.47%, tỉ lệ này cũng đồng nghĩa với việc không còn học
sinh nào cảm thấy chán hoặc cảm thấy thờ ơ - bình thường, không thích cũng không
chán các tiết học Ngữ văn.
Đồng thời các em cũng tự đánh giá bản thân mình đã tích cực, chủ động hơnkhi tham gia phát biểu, xây dựng bài trong giờ học Có 88.23% học sinh cho rằng các
em thường xuyên hoặc rất thường xuyên tham gia phát biểu trong giờ học, so với trước
TN tăng 70.59% và tỉ lệ học sinh cảm thấy mình không thường xuyên hoặc chỉ thỉnh
thoảng giơ tay phát biểu đã giảm 70.60% so với trước TN
Và trên thực tế, qua ghi nhận số lượt giơ tay phát biểu đã có dấu hiệu khảquan, các em đã tích cực, chủ động hơn, giờ học cũng sinh động, lôi cuốn hơn:
4.2 Bảng thống kê số lượt giơ tay, tham gia phát biểu xây
dựng bài Bài 2
BÀI HỌC CUỘC SỐNG
7A4
Số lượng VĂN BẢN 1: Ếch ngồi đáy giếng 155
VĂN BẢN 2: Thầy bói xem voi 148
Trang 19Ở mỗi câu hỏi GV đưa ra hầu hết các em đều không chờ đợi GV gọi nữa và
đã chủ động, tích cực giơ tay phát biểu, thậm chí tranh nhau phát biểu, phấn khích yêucầu GV gọi tên mình Nguyên nhân chủ yếu phát sinh từ quá trình thảo luận, đã có một
số đôi bất đồng ý kiến, vì vậy khi được phát biểu để trình bày sản phẩm của nhóm mìnhcác em hăng hái cùng nhau tranh luận khá sôi nổi để kiểm chứng đáp án mình đưa ra làđúng Không khí lớp học vì thế mà trở nên sôi nổi, không còn hiện tượng HS gục ngủtrên bàn, nói chuyện riêng hay học bài môn khác nữa, các em hoàn toàn tập trung vàobài học trên lớp
Và khi được khảo sát “Lý do học sinh thích môn ngữ văn” có đến 88.24%
học sinh cho rằng do Giáo viên dạy hấp dẫn, so với trước TN tăng 76.48% Như vậy,
việc lựa chọn kỹ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền” áp dụng trong giờ dạy Văn là hoàntoàn phù hợp, đặc biệt là phù hợp với lứa tuổi của học sinh lớp 7 Ở độ tuổi này trẻ có
Trang 20khả năng tư duy logic mặc dù còn hạn chế, nhưng tốc độ và hiệu quả suy nghĩ tăng lên,trí nhớ cải thiện, khả năng điều tiết cảm xúc tốt hơn, kỹ năng lập kế hoạch và giảiquyết vấn đề tăng lên Vì vậy, các hoạt động, vận động cũng dần trở nên tinh vi hơn,thích thử thách bản thân qua các trò chơi đòi hỏi sự cân bằng cao, thao tác phức tạphơn, kỹ năng vận động cụ thể hơn Do đó kỹ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền” vớihình thức vừa học vừa chơi là giải pháp tối ưu nhất nhằm kích thích và giúp trẻ pháttriển toàn diện nhất là về mặt trí lực.
Hình thức đo lường: Bài tập trắc nghiệm kết hợp tự luận [Phụ lục 3]
So với trước TN tỉ lệ Điểm tốt 13/34 (đạt 38.24%) tăng 11 lượt (32.36%).
Điểm khá 17/34(đạt 50%) tăng 12 lượt (35.30%).Điểm đạt 4/34 (11.76%) giảm 10 lượt
(29.42%) Điểm chưa đạt 0/34 (0%) so với trước khi thực nghiệm giảm (38.89%)
Hình thức đo lường: phiếu ghi nhận việc tham gia phát biểu của HS mỗi tổtrong mỗi giờ học Văn[Phụ lục 2] Quan sát biểu đồ có thể thấy số lượt giơ tay phát biểu,
tham gia xây dựng bài ở lớp thức nghiệm cao hơn lớp đối chứng
Đối chiếu kết quả khảo sát của lớp thực nghiệm 7A4 với lớp không thực nghiệm 7A2
Trang 21Nhìn chung ở lớp thực nghiệm, hoạt động là chủ yếu, thầy là người tổ chức,dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức, học sinh tự trao đổi qua lại Quan sát nét mặt, biểucảm của HS có thể khẳng định, hầu hết các em đều cảm thấy hứng thú hăng say, tíchcực hoạt động nhóm và thảo luận sôi nổi, các em không còn quan tâm nhiều đến thờigian tiết học, vẫn muốn tiếp tục tiết học dù đã hết giờ Trong quá trình hoạt động họcsinh đã thể hiện được những hiểu biết về nội dung bài học, xử lý tốt những câu hỏi được
GV đưa ra Có thể nói, với cách dạy học này, GV đã gián tiếp góp phần rèn luyện chohọc sinh một số kỹ năng nhất định như: hoạt động nhóm, hợp tác, giải quyết vấn đề,thuyết trình trước đám đông Học sinh đã biết cách tự học, tự quản, tự đánh giá mình vàbạn trong nhóm, tự giác tìm hiểu bài, chia sẻ những trải nghiệm cùng với sự trợ giúpcủa thầy/cô và các bạn để chiếm lĩnh kiến thức mới, các em đã tự tin hơn, cởi mở hơn,mạnh dạn bộc lộ cảm xúc, sẵn sàng chia sẻ suy nghĩ của bản thân Tuy nhiên, do ảnhhưởng từ thói quen học tập thụ động trước đây, học sinh chưa quen với việc hoạt độngnhóm, với việc thuyết trình, do đó học sinh còn rụt rè, e ngại, nhưng sau một số tiết họcthực nghiệm các em đã dần bắt kịp được các hoạt động này
Còn ở lớp đối chứng, dạy theo mô hình truyền thống - thầy nói và giảng bài làchủ yếu, thầy truyền đạt kiến thức, trò thụ động tiếp thu, ít có sự trao đổi qua lại, lớphọc trật tự, gò bó, học sinh không chú ý, chỉ thụ động ghi chép hoặc mệt mỏi chán nản
4.7 Bảng thống kê điểm bài tập lớp 7a4 và 7a2
Lớp Sỉ số Điểm tốt
(10 – 8.0)
Điểm khá (7.75 – 6.5)
Điểm đạt (6.25 – 5.0)
Chưa đạt (Từ 4.75 trở xuống)
Trang 22Phân tích bài kiểm tra ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng kết quả thu được
như sau: tỉ lệ HS đạt điểm Tốt đạt 38.24%, trong khi đó lớp thực nghiệm chỉ có 5.26%, vượt hơn 32.98% Tỉ lệ HS đạt điểm Khá ở lớp thực nghiệm là 50% cao hơn lớp đối
chứng 28.95% Điều đáng chú ý là sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này hoàn
toàn không có HS có điểm Chưa đạt, trong khi đó lớp đối chứng có đến 39,47% và số bài có điểm Đạt ở lớp thực nghiệm cũng thấp hơn lớp đối chứng 22.45% Như vậy sau
khi tiến hành thực nghiệm kết quả cho thấy chất lượng làm bài tập của lớp thực nghiệmcao hơn lớp đối chứng
Kết quả khảo sát trên là minh chứng cho thấy sáng kiến kinh nghiệm đã được
áp dụng một cách hiệu quả, bước đầu giúp các em nắm bắt được một số đặc trưng của
thể loại chẳng hạn như: kiểu nhân vật, đề tài, sự kiện, không gian, thời gian của truyện
ngụ ngôn, rút ra được thông điệp, bài học được từ một tác phẩm truyện ngụ ngôn hoặc
các em có thể xác định được ý kiến lớn, ý kiến nhỏ, lý lẽ, bằng chứng của một văn bản
nghị luận văn học… Còn đối với lớp đối chứng phần lớn các em đều trả lời sai ở nhữngcâu nhận biết, thông hiểu….tức là các em ở lớp đối chứng đã không lĩnh hội được hoànchỉnh những kiến thức mà giáo viên đã truyền đạt trên lớp
Ở lớp thực nghiệm, GV thiết kế những món ăn sinh động trên menu - tươngứng với từng câu hỏi, từng nhiệm vụ cụ thể đã giúp các em cụ thể hóa thông tin, giúpcác em nắm được và hiểu được nội dung mỗi văn bản, dễ dàng nhận diện được một sốđặc trưng của thể loại Vì có hứng thú, phần lớn lớp thực nghiệm đều thực hiện tốtnhiệm vụ GV đã giao về nhà và trực tiếp trên lớp, nhờ đó học sinh dễ dàng chiếm lĩnhkiến thức, đồng thời còn giúp các em rèn luyện về cách tự học, cách tìm kiếm, thu thậptài liệu liên quan đến bài học Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cùng
7A2 38 2 (5.26%) 8 (21.05%) 13 (34.21%) 15 (39.47%)
Trang 23em đề ra phương án thực hiện sao cho đạt hiệu quả cao nhất và không ngừng cổ vũ,giúp đỡ đồng đội của mình, qua đó học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo trong học tập và rèn luyện một số kỹ năng cơ bản góp phần cùng nhà trường nângcao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Đối với lớp đối chứng, các em chưa tích cực chủ động trong quá trình tìmhiểu tri thức, nhiều HS gặp khó khăn trong việc thảo luận, trình bày vấn đề chưa chínhxác, thiếu chặt chẽ, logic, còn ngại và rụt rè thi trình bày Khả năng khái quát hệ thốnghóa kiến thức chưa tốt, giờ học trầm hơn lớp thực nghiệm, kém hứng thú Thực trạnghọc Ngữ văn ở lớp này thường không sôi nổi, các em chỉ học và trả lời những kiến thức
có sẵn trong sách, khả năng tư duy và tìm tòi kém, những câu hỏi mở rộng được giáoviên đưa ra các em ít khi trả lời đúng và đầy đủ Thái độ đối với học tập không hàohứng, nhiệt tình, nhiều khi còn học vẹt đối phó trong các giờ kiểm tra và các bài tậpgiáo viên cho về nhà
5 Mức độ khả thi: Những điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp
Các hoạt động trong quá trình tổ chức dạy - học bằng kĩ thuật “Lẩu băngchuyền” không tốn nhiều chi phí, không đòi hỏi thiết bị dạy học hiện đại hay kĩnăng chuyên nghiệp, cách thức tiến hành đơn giản, hiệu quả phù hợp với điều kiệnthực tế của lớp, của đơn vị
V-HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1 Sau khi áp dụng sáng kiến
Những khó khăn trước khi áp dụng sáng kiến được cải thiện rõ rệt:
- Không khí lớp học vui tươi
- HS hăng hái, tích cực, tham gia giơ tay phát biểu, xây dựng bài
- Mạnh dạng trình bày, chia sẻ ý kiến suy nghĩ bản thân
- Có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, khi gặp một văn bản xa lạcác em có thể xác định được thể loại văn bản và đặc trưng của thể loại đó
2 Lợi ích thu được khi sáng kiến được áp dụng
* Đối với giáo viên và tổ bộ môn
- Nhìn chung, kĩ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền” đã cải thiện được những hạnchế ở phương pháp dạy học truyền thống Nó giúp GV đáp ứng được yêu cầuđổi mới PPDH và kĩ thuật dạy học của ngành giáo dục trong bối cảnh xã hộihiện nay Góp phần nâng cao kết quả học tập của HS và chất lượng giảng dạycủa GV và tổ bộ môn
- GV làm chủ được tiết học
- Thêm yêu nghề, tâm huyết với nghề nhiều hơn
- Giảm áp lực, căng thẳng khi cùng hòa vào không khí học tập sôi động của HS
- Kĩ thuật này còn cho phép GV có thể phối hợp nhiều phương pháp, kỹ thuậtdạy học phù hợp khác nhau, nhờ vậy HS đồng thời được rèn luyện nhiều kỹnăng cùng lúc
Trang 24+ Kỹ năng đọc - hiểu đặc trưng thể loai
+ Kỹ năng lắng nghe
+ Kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm
+ Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và đặc biệt luôn biết khai thác kiến thức đã
có để giải quyết một vấn đề mới đó cũng là yêu cầu môn học nào cũng đặtra
+ Kỹ năng trình bày trước đám đông
*Đối với học sinh
- Dạy học dưới hình thức “học mà chơi, chơi mà học” dễ dàng kích thích lòngham muốn, thi đua giữa các tổ Mà lứa tuổi này nhiều háo thắng, các em luônmuốn mình là người đúng, người chiến thắng vì vậy các em sẽ tự giác và chủđộng hơn, chủ động phân chia công việc cho các thành viên trong nhóm, chủđộng đoàn kết sao cho thu thập được đáp án đúng nhất, sớm nhất
- Các em được rèn luyện kỹ năng đoàn kết Kĩ thuật này đòi hỏi sự đoàn kết củacác thành viên trong tổ, do đó mỗi HS đều cảm nhận được sự quan trọng cũngnhư trách nhiệm của mình đối với thành quả của cả nhóm, do đó tất cả HS đềuchuẩn bị bài trước ở nhà, khi lên lớp không một em nào lười biếng, tất cả các
em đều hoạt động tương đối tích cực, không còn lười tư duy như trước đây
- Bởi vì các em đã có sự chuẩn bị từ trước, các em tự tin với những kiến thứcmình đã tìm tòi được cộng hưởng với sự khích lệ của giáo viên các em mạnhdạng trình bày ý kiến của mình hơn, thậm chí các em tranh nhau trình bày câutrả lời Lớp học sinh động, sôi nổi hơn trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã có Công văn về việc hướng dẫn đổi mớiphương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn Cụ thể, HS khôngcòn kiểm tra theo hướng máy móc như trước đây - học gì kiểm đó, thay vào đócác em sẽ được đọc hiểu một đoạn ngữ liệu ngoài SGK, có cùng thể loại với cácvăn bản mà các em đã được học, vì vậy để làm được bài các em phải nắm đượcđặc trưng của từng thể loại, để đáp ứng yêu cầu đó kỹ thuật “Lẩu băng chuyền”
là một trong số những lựa chọn hợp lý nhất, với kỹ thuật này các em sẽ đượcrèn luyện kỹ năng tự học, tự tìm tòi, chủ động chiếm lĩnh kiến thức…Vì tự taylàm, tự mình tìm kiếm câu trả lời, tự nghiên cứu nội dung cho nên kiến thức củacác em được khắc sâu hơn, kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loạicũng ngày càng cải thiện
- Nhờ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, học sinh của tôi đã thực sự yêu thích
và chăm chú dõi theo từng giờ dạy của tôi với niềm say mê, thích thú Đó chính
là niềm vui và phần thưởng lớn nhất mà tôi nhận được trong những năm dạyhọc của mình Tôi thực sự mong muốn có được những trải nghiệm nhiều hơnthế nữa để đóng góp một phần nhỏ thắp sáng niềm đam mê Văn học trong các
em Tuy nhiên, đây chưa phải là phương pháp tối ưu nhất, bởi không phải tiếtdạy Văn nào chúng ta cũng áp dụng được kỹ thuật “chơi mà học - học mà chơi”một cách hiệu quả, chính vì vậy khi dạy bất kỳ một tiết học nào giáo viên cũngcần kết hợp nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học khác nhau để đạt hiệu quả
Trang 25VI- MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG
Từ thực tế sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm tôi mạnh dạng khẳng định sứcảnh hưởng của kỹ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền” là khá lớn và khả năng đạt hiệuquả cao Giải pháp trên không chỉ có thể vận dụng phù hợp với các nội dung dạy họcmôn Ngữ văn khối 7 mà còn có thể vận dụng cho nhiều khối lớp, nhiều môn học khácnhau Thầy/ cô có thể vận dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học này cho HS hình thành kiếnthức mới hoặc để ôn tập, củng cố những nội dung đã học
*Những nội dung trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 có thể sử dụng kỹ thuật dạy học “Lẩu băng chuyền”
Tiết PPCT
1 Bài 1: Tiếng nói
vạn vật ( 11 tiết)
Tri thức: Thơ 4, 5 chữ và các loại vần
3
Đọc mở rộng và kết nối: Con chim
2
Bài 2:
Bài học cuộc sống ( 13 tiết)
Tri thức: Truyện ngụ ngôn 12
-13
Đọc: Những cái nhìn hạn hẹp: Ếch
ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi
14 – 15 Đọc: Những tình huống hiểm nghèo:
Hai người bạn đồng hành và con gấu, Chó sói và chiên con
16 - 17
Đọc mở rộng và kết nối: Chân, Tay,
Tai, Mắt, Miệng + Biết người, biết ta 18
3
Bài 3:
Những góc nhìn văn chương ( 11 tiết)
Tri thức: Văn bản nghị luận phân tích
Đọc: Em bé thông minh – nhân vật
Đọc: Hình ảnh hoa sen trong bài ca
dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen”
27 - 28 Đọc mở rộng và kết nối: Bức thư
gửi chú lính chì dũng cảm + Sức hấp 29
Trang 26dẫn của truyện ngắn “Chiếc lá cuốicùng”
Bài 4:
Quà tặng của thiên nhiên ( 11 tiết)
Đọc mở rộng và kết nối: Thu sang +
5
Bài 5:
Từng bước hoàn thiện bản thân ( 12 tiết)
Tri thức: Văn bản thông tin giới thiệu
một quy tắc hoặc luật lệ trong trò chơi
-Đọc mở rộng và kết nối: Bài học từ
cây cau + Phòng tránh đuối nước 56
Tuy còn tồn tại một số hạn chế nhưng vẫn có thể góp một phần trong việc nângcao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS và THPT Vĩnh Nhuận.Đồng thời giải pháp này thực hiện không tốn kém về mặt kinh tế, dễ thực hiện,tính khả thi cao vì vậy không chỉ có thể áp dụng trong điều kiện cơ sở vật chất tại ởtrường THCS và THPT Vĩnh Nhuận và mang lại lợi ích thiết thực, mà còn có thể ápdụng ở các đơn vị bạn, thậm chí có thể áp dụng cho những trường có điều kiện khókhăn hoặc mới thành lập
VII-KẾT LUẬN
Giảng dạy bộ môn Ngữ văn, đặc biệt dạy học theo định hướng phát triển nănglực và phẩm chất người học lại không hề đơn giản Vì thế giữ được “lửa” trong mỗigiờ lên lớp hay sự say sưa tiếp nhận sáng tạo của học sinh là yêu cầu then chốt của vấn
đề HS sau các hoạt động theo phương pháp định hướng phát triển năng lực, sẽ được tựtìm tòi, khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức bên cạnh sự định hướng của GV và tham giahoạt động nhóm, hoạt động cặp đôi…để tạo ra những sản phẩm học tập thực sự qua
Trang 27- GV phải có sự chẩn bị chu đáo về mọi mặt như: kiến thức, phương tiện, PPDH
và kĩ thuật dạy học phù hợp, linh hoạt;
- GV phải khơi dậy và bồi dưỡng cho HS tình yêu văn học và khám phá vẻ đẹpcủa nghệ thuật ngôn từ trong lòng HS;
- HS phải xác định đúng mục đích học tập môn Ngữ văn, chủ động tìm tòi và tiếpnhận tri thức, sẵn sàng hợp tác, giao lưu, sẵn sàng chia sẻ, biết trình bày chính kiến củabản thân bằng ngôn ngữ trau chuốt, diễn đạt tình cảm, rung động chân thành của mình
về một vấn đề văn học
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi qua thực tế giảng dạy Mặc dù đã cốgắng rất nhiều nhưng những giải pháp của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong quý đồng nghiệp góp ý kiến, bổ sung thêm Tôi cam đoan nhữngnội dung báo cáo là đúng sự thật
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến Ngày 30 tháng 11 năm 2022
Người viết sáng kiến
Lê Thị Ngọc Trân
Trang 28TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chương trình giáo dục phổ thông Môn ngữ văn, Bộ GD và Đào tạo, Hà Nội 2018
2 Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học NXB Đại học Sư phạm, Hà
Nội,Bộ GD và Đào tạo, Dự án Việt - Bỉ(2010),
3 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS - Một số vấ đề lí luận và thực tiễn.
Trần Kiều, Trần Đình Châu, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thủy NXB Giáo dụcViệt Nam
4 Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học Nguyễn Lăng Bình,
Đỗ Hương Trà NXB Đại học sư phạm
5 Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, Trần Thị Thanh Thủy (2016), NXB Đại
học Sư phạm Hà Nội
6 “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trực tuyến ở trường Tiểu học
Kim Ngọc” Hoàng Tiến Lực Vĩnh Phúc
Websites:
1 Báo cáo chuyên đề: Những kỹ thuật dạy học trực tuyến
thuat-day-hoc-truc-tuyen/ctmb/112764/952645
https://thvothisauq7.hcm.edu.vn/chuyen-de-thao-giang/bao-cao-chuyen-de-nhung-ky-2 Cách thực hiện kỹ thuật dạy học "Xích xe tăng" hay "Băng chuyền" trong dạy tập
https://congdoan.lamdong.edu.vn/vi/chi-tiet-tin-tuc/?param=32-ky-thuat-day-hoc-tich-7 Sáng kiến kinh nghiệm “Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết dạy Ngữ
văn 7”, Cao Văn Muốn, THCS Cần Đước sang-kien-kinh-nghiem-ngu-van-7-tao-hung-thu-hoc-tap-cho-hoc-sinh-trong-cac-tiet- day-ngu-van-7.htm