1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luật hình sự 2 bán trắc nghiệm

8 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật hình sự 2 bán trắc nghiệm
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Sách giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 20,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM (Tập 1) Phần 1: NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI VÀ GIẢI THÍCH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Tội cướp tài sản có cấu thành vật chất? Sai. Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa. CCPl: Điều 168 BLHS 2015

Trang 1

LUẬT HÌNH SỰ - PHẦN CÁC TỘI PHẠM

(Tập 1)

Phần 1: NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI VÀ GIẢI THÍCH

CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

1 Tội cướp tài sản có cấu thành vật chất?

Sai Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa

CCPl: Điều 168 BLHS 2015

2 Tội cướp tài sản có một khách thể duy nhất là quyền sở hữu tài sản?

Sai Ngoài khách là quyền sở hữu, thì tội cướp tài sản còn có khách thể khác là sức khỏe, tính mạng.( Quyền nhân thân)

3 Hậu quả làm chết người được quy định tại điểm c, khoản 4, điều 168 BLHS được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp?

Sai Hậu quả chết người ở điểm c được thực hiện với lỗi vô ý Tức là trong quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không có mong muốn hoặc không nhận thức được hậu quả sẽ làm chết người xảy ra

Trường hợp người phạm tội nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể bị xử lý về tội giết người được quy định tại điều 123 BLHS

4 Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản?

Sai Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, chỉ cần có hành vi bắt cóc con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành Không cần biết đã chiếm đoạt thành công tài sản trên thực tế hay chưa Mà việc xác định tài sản chiếm đoạt là căn cứ để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2, 3 và 4 điều 169 BLHS

Trang 2

5 Tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chỉ có một khách thể duy nhất là quyền sở hữu tài sản của công dân?

Sai Ngoài quyền sở hữu tài sản, thì tội phạm này còn bảo vệ khách thể là tính mạng, sức khỏe, quyền tự do thân thể của con người Tức không chỉ bảo vệ mỗi quyền sở hữu tài sản

Một điều luật quy định về tội phạm thường bảo vệ nhiều khách thể khác nhau, trong đó có một khách thể chính và một hoặc một số khách thể phụ Khi một tội phạm xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội (khách thể) được pháp luật hình sự bảo vệ thì khách thể trực tiếp của tội phạm đó chính là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Ví dụ: Tội Trộm cắp tài sản chỉ có một khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu, còn các quan hệ xã hội khách như tính mạng, sức khỏe dù bị hành vi phạm tội trộm cắp tài sản xâm hại nhưng sự xâm hại này chỉ là gián tiếp

6 Tội cưỡng đoạt tài sản có cấu thành hình thức?

Đúng Chỉ cần thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác, với mục đích là chiếm đoạt tài sản thì tội phạm xem như đã hoàn thành Không cần biết

đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa Việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là căn cứ để

áp dụng tình tiết định khung tăng nặng (cấu thành tăng nặng) đối với người phạm tội

Cũng cần lưu ý, để phân biệt giữa tội Cướp tài sản và tội Cưỡng đoạt tài sản là cần phải xem xét đến các yếu tố như: Việc người phạm tội đã dùng vũ lực hay chưa? Việc đe dọa vũ lực có tức khắc hay không? Nạn nhân sau khi bị đe dọa còn khả năng chống cự được hay không? Ý chí của nạn nhân đã bị tê liệt hay chưa?

7 Hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội Cưỡng đoạt tài sản có thể được diễn

ra ngay tức khắc?

Sai Hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội phạm này không diễn ra ngay tức khắc, bởi vì nếu diễn ra ngay tức khắc thì ý chí của nạn nhân sẽ bị tê liệt và sau đó là rơi vào trạng thái không thể chống cự được Thì lúc này, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi khách quan trong cấu thành tội Cướp tài sản Chính việc đe dọa dùng vũ lực KHÔNG tức khắc (đe dọa sẽ dùng vũ lực) nên ở tội Cưỡng đoạt tài sản, nạn nhân chưa bị tê liệt hoàn toàn về ý chí mà vẫn có thể đàm phán, thỏa thuận hay thậm chí là chống cự lại…

8 Tội cướp giật tài sản không đòi hỏi việc người phạm tội phải thực hiện hành vi một cách lén lút khi thực hiện hành vi phạm tội?

Đúng Bởi đặc trưng trong hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản là hành

vi được thực hiện một cách công khai, nhanh chóng về mặt thời gian, và chính nhanh

Trang 3

chóng về mặt thời gian đã tạo ra yếu tố bất ngờ giúp người phạm tội dễ dàng chiếm đoạt được tài sản, sự nhanh chóng thể hiện ở hành vi chiếm đoạt, không nhất thiết phải nhanh chóng tẩu thoát Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách công khai, tức là không có ý thức che giấu hành vi của mình đối với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản và những người khác Đây cũng là một đặc trưng để nhận biết và phân biệt với những trường hợp phạm tội khác như hành vi khách quan của tội trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản không có tính công khai, trắng trợn

9 Tội Cướp giật tài sản được xem là hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản?

Đúng Mặc dù văn của điều luật không quy định rõ, nhưng về lý luận tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, do đó chỉ khi nào người phạm tội giật được tài sản thì tội phạm mới hoàn thành, nếu có hành giật nhưng chưa giật được tài sản thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt Tội cướp giật tài sản là tội phạm thuộc loại nghiêm trọng nên nhà làm luật không quy định mức tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu cấu thành tội phạm như đối với các tội khác như tội trộm cắp, tội công nhiên chiếm đoạt, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Do đó người phạm tội cướp giật tài sản

có giá trị lớn hay chỉ có giá trị rất nhỏ (hoa tai giả, dây chuyền giả) vẫn là phạm tội cướp giật tài sản – Theo cách luận giải của TS Đinh Văn Quế

10 Hậu quả chết người được quy định tại điểm c, khoản 4, điều 171 BLHS được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp Tương tự câu số 03.

11 Cá nhân chỉ phải chịu TNHS về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt được có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên?

Sai, mặc dù tài sản chiếm đoạt được có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng người thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn một trong các điều kiện được quy định từ điểm a đến điểm d khoản 1, điều 172 BLHS thì vẫn phải chịu TNHS về tội phạm này

Ở góc độ lý luận, khoa học luật hình sự xác định hành vi chiếm đoạt từ 02 triệu đồng trở lên là hành vi gây huy hiểm cho xã hội, còn hành vi chiếm đoạt tài sản dưới

02 triệu đồng thì cũng đã gây ra nguy hiểm cho xã hội nhưng ở mức độ thấp, chưa đến mức phải truy cứu TNHS Trong một số trường hợp, mặc dù tài sản chiếm đoạt giá trị dưới 02 triệu đồng, nhưng trước đó người này đã từng thực hiện hành vi chiếm đoạt tương tự và đã bị xử phạt hành chính nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt đó tiếp Thì lúc này, tính chất nguy hiểm của hành vi chiếm đoạt sau được nâng cao hơn so với hành vi chiếm đoạt đã bị xử lý hành chính trước đó

Trang 4

Do đó, việc phải truy cứu TNHS đối với những trường hợp nói trên là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với tính chất của hành vi mà người đó đã thực hiện (cách giải thích ở c, d tương tự)

12 Mặt khách quan của tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng bất kì thủ đoạn nào để chiếm đoạt được tài sản?

Đúng Bởi vì dấu hiệu đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội lợi dụng vướng mắc có sẵn của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Do vướng mắc có sẵn làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản dù nhìn thấy nhưng không có khả năng ngăn cản hành vi chiếm đoạt Nên người phạm tội không có và không cần phải sử dụng bất kì thủ đoạn nào để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Trường hợp, người phạm tội sử dụng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản thì cần phải xác định thêm một tình tiết nữa là việc người phạm tội có biết được chủ tài sản

có khả năng ngăn cản nếu mình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hay không, thì lúc đó mới xác định được tội danh tương ứng

13 Việc nạn nhân rơi vào trạng thái không thể tự bảo vệ được tài sản của mình trong tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản là không phải do người phạm tội

cố ý gây ra?

Đúng Vì người thực hiện tội phạm công nhiệm chiếm đoạt tài sản lợi dụng vướng mắc CÓ SẴN của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản mà không có và không cần phải sử dụng bất cứ thủ đoạn nào

Trường hợp người phạm tội đã cố ý đẩy nạn nhân rơi vào trạng thái không thể bảo vệ được tài sản nhằm chiếm mục đích chiếm đoạt, thì lúc này tùy thuộc vào từng hành vi khách quan mà người phạm tội đã thực hiện, người phạm tội sẽ phải chịu TNHS về tội phạm khác tương ứng

14 Lén lút thực hiện hành vi phạm tội là một trong các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội Trộm cắp tài sản?

Đúng Bởi vì ở tội trộm cắp tài sản, người phạm tội chiếm đoạt được tài sản mà không cần phải sử dụng đến vũ lực Do đó, để chiếm đoạt được tài sản thì không còn cách nào khác là người phạm tội phải lén lút, bí mật, che giấu hành vi chiếm đoạt của mình Nên lét lút là một trong các dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản được

mô tả trong mặt khách quan của tội phạm này

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị mất tài sản, chỉ sau khi mất tài sản họ mới biêt bị mất tài sản Tính chất lén lút (bí mật) của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội của mình

Trang 5

15 Tình tiết hành hung để tẩu thoát được quy định tại điểm đ, khoản 2, điều 173 được hiểu là người phạm tội dùng vũ lực để trốn thoát một mình chứ không thể dùng vũ lực để được trốn thoát cùng tài sản?

Sai Nội dung của tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 2 này quy định chỉ cần đích của việc sử dụng vũ lực là để trốn thoát, không cần biết có trốn thoát mục cùng tài sản hay không Trường hợp người phạm tội sử dụng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đến cùng thì tội phạm chuyển hóa sang tội Cướp tải sản Chi tiết các bạn có thể xem thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP

Câu này hay ra vào đề thi, hỏi về trường hợp chuyển hóa tội phạm nên các bạn nghiên cứu kĩ

16 Tội Trộm cắp tài sản được xem là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản?

Đúng Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, khi hậu quả là tài sản đã bị chiếm đoạt được thì tội phạm được xem là đã hoàn thành Thông thường các tội danh như Cướp tài sản, Cưỡng đoạt tài sản có hành vi sử dụng hoặc đe đọa sử dụng vũ lực, mà việc sử dụng vũ lực có khả năng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của công dân nên chỉ cần thực hiện hành vi thì tội phạm được xem là đã hoàn thành Trong khi đó, tội trộm cắp hay một số tội danh khác không có yếu tố dùng vũ lực, tức

là tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn nên vấn đề tội phạm hoàn thành chỉ đặt ra khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản

17 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành hình thức?

Sai Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành vật chất, tội phạm được xem là hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Cách lý giải tương tự câu

số 16

18 Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm đoạt có trước còn mục đích chiếm đoạt tài sản có sau?

Sai Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt phải có trước, sau đó người phạm tội vì muốn đạt được mục đích chiếm đoạt nên đã thực hiện hành vi gian dối để có được tài sản Nếu người phạm tội có được tài sản trước sau đó mới xuất hiện mục đích chiếm đoạt thì không phạm tội lừa đảo mà có thể là tội phạm khác tương ứng như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

19 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xem là hoàn thành khi tài sản đã bị chiếm đoạt?

Đúng Đây là tội phạm có cấu thành vật chất, nên khi hậu quả tài sản bị chiếm đoạt xảy ra thì tội phạm mới xem là hoàn thành

Trang 6

Trong cấu thành cơ bản của Điều luật mô tả, hậu quả của tội phạm là tài sản bị chiếm đoạt từ 4 000.000 đồng trở lên hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 của Điều luật, trong khi thông thường ở các tội phạm khác trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu, giá trị tài sản bị chiếm đoạt có định lượng từ 2.000.000 đồng Việc quy định này dựa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Cụ thể, đặc điểm của tội phạm này là người phạm tội ban đầu không có ý định chiếm đoạt tài sản, chỉ sau khi có được tài sản một cách hợp pháp thì người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt Ở một góc độ nào đó, nhà làm luật chứng minh được rằng thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá mức

độ nguy hiểm của từng loại tội phạm

20 Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nạn nhân luôn chuyển giao tài sản cho người phạm tội một cách tự nguyện?

Đúng Bởi vì ban đầu người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản, nên việc thỏa thuận chuyển giao tài sản giữa hai bên không có sự gian dối, lừa gạt nạn nhân vì tín nhiệm, tin tưởng người phạm tội nên mới đồng ý và tự nguyện chuyển giao tài sản cho người phạm tội Nói cách khác, việc người phạm tội có được tài sản thông qua một cách hợp pháp

21 Tội phạm được quy định tại điều 179 BLHS là chủ thể thường?

Sai Tội phạm này có chủ thể đặc biệt, chủ thể của tội phạm này yêu cầu người phạm tội phải là người có nhiệm vụ trực tiếp quản tài sản bị thiệt hại Nếu một người làm mất mát, hư hỏng tài sản của nhà nước, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nhưng không có nhiệm vụ quản lý trực tiếp đối với tài sản đó thì không chịu TNHS về tội phạm này mà phải chịu TNHS về một tội phạm khác tương ứng

22 Tài sản được quy định tại điều 179 BLHS là của nhà nước hoặc do nhà nước góp vốn một phần?

Sai Tài sản được quy định tại tội danh này có thể là của nhà nước, hoặc của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Điều văn của Điều luật mô tả: “Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ” vì thiếu trách nhiệm mà để gây mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nhất định thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này

23 Tội phạm được quy định tại điều 179 BLHS được xem là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm này?

Trang 7

Sai đây là tội phạm có cấu thành vật chất Điều này cũng đồng nghĩa với việc khi hậu quả là tài sản bị mất mát, hư hỏng, lãng phí thì tội phạm mới được xem là hoàn thành

Trong trường hợp một người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản được giao,

dù chưa hoàn thành đúng nhiệm vụ quản lý đó nhưng không xảy ra thiệt hại hoặc thiệt hại không đáng kể thì không phải chịu TNHS mà có thể bị xử lý bằng những quy định khác Chỉ khi nào việc thiếu trách nhiệm dẫn đến hậu quả là thiệt hại nghiêm trọng về tài sản thì người thiếu trách nhiệm trong việc quản lý đối với tài sản được giao mới phải chịu TNHS Điều này cũng đồng nghĩa với việc, tội phạm không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt

cấu thành hình thức sẽ giúp tăng nặng TNHS đối với người phạm tội, cũng như bảo vệ được ở mức cao nhất loại khách thể quan trọng này!

25 Người thực hiện hành vi mô tả trong CTTP của tội giết người thì luôn phải chịu TNHS về tội giết người cho dù hậu quả chết người không xảy ra?

Sai Trường hợp người thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP của tội giết người nhưng thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Bên cạnh đó, một người tuy thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội giết người nhưng thực hiện với hình thức lỗi cố ý gián tiếp

và hậu quả chết người không xảy ra, thì người thực hiện hành vi đó không phải chịu TNHS về tội giết người, mà có thể sẽ chịu TNHS về tội Cố ý gây thương tích - điều

134 BLHS

26 Người nào giúp người khác tự sát thì cũng phải chịu TNHS về tội giết người?

Sai Người nào giúp người khác tự sát thì không phải chịu TNHS về tội giết người, mà có thể phải chịu TNHS về tội giúp người khác tự sát theo điều 131 BLHS

27 Tội giết người có thể được thực hiện dưới dạng không hành động?

Đúng Hành vi giết người có thể được thực hiện dưới dạng hành động, chẳng hạn như trường hợp người mẹ nuôi con nhỏ Vì mâu thuẫn với chồng nên đã nảy sinh

ý định giết con bằng cách không cho đứa bé bú sữa, ăn uống trong nhiều ngày liền, dẫn đến cháu bé chết

Chú ý, cần phân biệt hành vi giết người được thực hiện dưới dạng không hành động với “Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” Nếu hành vi khách quan của Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho

Trang 8

nạn nhân thì hành vi khách quan của Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mang chỉ là hành vi cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Thực tiễn cho thấy, để xác định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua các tiêu chí cơ bản sau đây:

(1) Nếu nạn nhân bị chết do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng thì: Định Tội giết người khi người phạm tội vì mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra nên đã cố ý đặt nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng khi người phạm tội chỉ vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, trước đó người phạm tội không có bất kỳ hành vi cố ý nào xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của nạn nhân;

(2) Nếu nan nhân bị chết không phải do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

mà do hành vi của người phạm tội cố ý gây ra, thì người thực hiện hành vi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân chỉ có thể phạm tội giết người mà không phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

28 Tội giết người có thể được thực hiện bằng lời nói?

Sai Tội giết người không thể thực hiện bằng lời nói Trường hợp một người dùng lời nói để nhằm mục đích tước đoạt tính mạng người khác thì có thể phải chịu TNHS về tội Xúi giục người khác tự sát hoặc tội bức tử

29 Nếu người phạm tội giết phụ nữ đang mang thai thì sẽ phải chịu TNHS theo điểm c, khoản 1, điều 123 BLHS?

Sai Điểm c, khoản 1, điều 123 BLHS quy định “giết phụ nữ mà biết là có thai”

là trường hợp người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ đang có thai (không

kể tháng thứ mấy) Nếu người bị giết có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội không biết họ đang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội giết phụ nữ mà biết là có thai mà thuộc trường hợp quy định tại điểm i, khoản 1, điều 52 BLHS (tình tiết tăng nặng TNHS)

Ngược lại, trong trường hợp người phụ nữ bị giết không có thai, nhưng người phạm tội tưởng lầm là có thai và sự lầm tưởng này của người phạm tội là có căn cứ, thì người phạm tội vẫn bị xử lý về tội giết người trong tường hợp "Giết phụ nữ mà biết là có thai"

30 Giết người có tính chất côn đồ có thể là giết người vì lý do hết sức đơn giản, nhỏ nhặt?

Ngày đăng: 10/06/2023, 15:16

w