Để hiểu thêm những chế định trong luật hình sự và những giá trị ảnh hưởng to lớn của nó đối với pháp luật xưa và nay, nên việc tìm hiểu “luật hình sự và những giá trị” của nó trong luật
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử của Việt Nam từ xa xưa cho đến nay đã ra đời và hình thành nhièu bộ luật khác nhau Mỗi triều đại thì có những bộ luật và nét đặc trưng riêng, thể hiện ý chí của giai cấp đó
Nói đến các triều đại Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc tới triều Lêvới bề giày 360 năm tồn tại Triều đại nhà Lê đã để lại những thành lại những thànhtựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển chế, và một trong những bộ luật thànhcông tiêu biểu có giá trị nhất của pháp luật thời lê nói riêng và xã hội phong kiếnnói chung là luật Hồng Đức Qua nghiên cứu luật Hồng Đức, ta thấy rằng luật hình
sự dường như bao trùm toàn bộ bộ luật, mọi cái đều xử phạt theo luật hình sự LuậtHình sự trong bộ luật Hồng Đức nó phản ánh rất sâu sắc xã hội lúc bấy giờ Qualuật hình sự ta biết được tính nghiêm minh của xã hội lúc bấy giờ Những biện pháp
áp dụng trong luật hình sự làm cho xã hội trở nên trật tự hơn
Luật hình sự nó có một vai trò và giá trị hết sức to lớn không chỉ trong xã hộixưa, mà còn góp phần làm cơ sở lý luận và nền tảng để xây dựng hoàn thiện nềnpháp luật Việt Nam hiện nay
Để hiểu thêm những chế định trong luật hình sự và những giá trị ảnh hưởng to
lớn của nó đối với pháp luật xưa và nay, nên việc tìm hiểu “luật hình sự và những giá trị” của nó trong luật Hồng Đức được chọn làm đề tài tiểu luận.
2 Tình hình nghiên cứu.
Nghiên cứu luật hình sự trong Bộ luật Hồng Đức: Có bài viết của PTS TháiVĩnh Thắng - Trường đại học Luật Hà Nội: Nghiên cứu về Tầm quan trọng của luậtHình sự đối với khoa học pháp lý ngày nay
Nghiên cứu: Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hồng Đức, TS Hoàng VănHùng - Trường đại học Luật Hà Nội
Bài viết: Những tiến bộ còn sống mãi với thời gian: TS Đỗ Ngọc Hà,và rấtnhiều các bài nghiên cứu của nhiều tác giả khác
Tuy nhiên, nghiên cứu về luật hình sự và những giá trị của nó trong Bộ luậtHồng Đức thì chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện và sâu sắc Vì vậy,tôi mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu
Trang 23 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Nhiệm vụ
Để làm rõ được mục đích trên, tiểu luận phải thực hiện những nhiệm vụ sau: Làm rõ những nội dung của luật hình sự trong Bộ luật Hồng Đức
Làm bật được những giá trị lịch sử, thời đại của nó
5 Phương pháp nghiên cứu.
Tiểu luận được thực hiện bằng các phương pháp sau:
Phương pháp khảo sát
Phương pháp liệt kê
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh
Phương pháp liệt kê
Các thao tác tư duy lôgic, duy vật biện chứng
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Đối với việc nghiên cứu tiểu luận nói chung, bước đầu đã tạo tiền đề cho việctiếp cận với các tri thức khoa học, làm quen với các công trình nghiên cứu sau này
Trang 3Tiểu luận này làm tư liệu cho việc giảng dạy, nghiên cứu, học tập trong quátrình giảng dạy môn Lịch Sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam.
Nghiên cứu về pháp luật triều Lê không chỉ hiểu thêm về triều đại này mà cònhiểu thêm về cách xây dựng pháp luật của các nhà làm luật thời phong kiến Đồngthời, giúp ta rút ra được những bài học kinh nghiệm, những gợi ý lịch sử để nhìnnhận về pháp luật Việt Nam hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu chúng ta đánh giá được một cách khách quan hơn
về luật hình sự và những giá trị của nó Bên cạnh đó giúp chúng ta hiểu thêm vềnhững chế định, phong tục, tập quán trong luật hình sự của người Việt Nam
Trang 4
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC
1.1 Hoàn cảnh ra đời và bố cục của Luật Hồng Đức
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời.
Sau khi đánh bại quân Minh ngày 15/4/1928 Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng
đế đóng đô ở thành Đông Kinh (Thăng Long) Ngay sau khi lên ngôi vua Lê Thái
Tổ cũng như các vị vua kế nghiệp sau này rất chú trọng vào việc xây dựng Bộ máyNhà nước và pháp luật Nhưng pháp luật buổi đầu của thời kỳ Lê Sơ tuy đã đượcchú trọng nhưng chưa phát triển tới đỉnh cao Vào thế kỷ XV, đã đánh dấu mộtbước mới trong hoạt động của luật pháp đặc biệt trong thời kỳ của vua Lê ThánhTông với niên hiệu “Hồng Đức”
Năm 1438 vua Lê Thánh Tông đã cử các triều thần đi sưu tập các điều luật màcác triều vua trước đã ban hành, sau đó đã sửa đổi những điều luật không phù hợp,chỉnh sửa và ban hành thêm những quy định mới và cuối cùng đã ban hành thành
bộ luật hoàn chỉnh mà tên gọi lúc ban đầu là “Lê Triều Hình Luật” mà trong sửsách bây giờ gọi là “Luật Hồng Đức” Bộ luật này được áp dụng chủ yếu trong thời
kỳ nhà nước Lê Sơ và sau đó được áp dụng cho các triều đại sau Đến mãi thế kỷXVIII vẫn được sử dụng trên cơ sở được chỉnh lý một số điều cho phù hợp
Hiện nay chúng ta không có Bộ luật Hồng Đức nguyên bản bởi vì bộ luật này
đã bị Lê Hoàng sửa đổi bổ sung thời kỳ Lê Mạc
Tên gọi
Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của Quốc Triều Hình Luật thời Lê Sơhiện vẫn còn được lưu giữ đầy đủ Hiện tại cũng có nhiều người cùng quan điểmmuốn gắn bộ luật tiêu biểu nhất của thời Lê với niên hiệu Hồng Đức và tên tuổi củaông vua nổi tiếng Lê Thánh Tông, với cách gọi giản lược là Luật Hồng Đức
Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện vẫn cònđược lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán - Nôm (Hà Nội) Tại đây có hai bản in vánkhắc đều có tên là Quốc Triều Hình Luật Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy
có tên gọi là Lê Triều Hình Luật, nhưng bản sao của nó lại là bản sao của QuốcTriều Hình Luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này
Trong đó bản Quốc Triều Hình Luật mang ký hiệu A.341 là bản in khắc hoàn
Trang 5quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành mộtcuốn, sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại
in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác Bìa nguyên bản cuốn sách đãmất được thay thế bằng một tờ bìa viết bốn chữ Hán là Quốc Triều Hình Luật bằngbút lông Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép trong phầnHình luật chí của Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, nhưng thiếu so với cuốn sáchnày 143 trong tổng số 722 điều
Từ đầu thế kỷ XX, Quốc Triều Hình Luật đã được khảo dịch sang tiếng pháp.Đến năm 1956, nó mới được dịch sang chữ quốc ngữ lần đầu tiên (Bản dịch củaTrường luật khoa đại học do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa,Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của, SàiGòn, 1956) Gần đây, Viện sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn(Nhà xuất bản pháp lý, Hà Nội - 1991) Một số học giả pháp, khi khảo dịch vànghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật được in năm 1977 Ý kiến của
Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dướithời Lê Bộ Hồng Đức Hình Luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho
bộ Hoàng Việt Luật Lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là
Bộ luật Hồng Đức
Các ý kiến khác nhau cho rằng Bộ Quốc Triều Hình Luật đã soạn, sửa đổiliên tục từ thời nhà Hậu Lê, trong đó có đóng góp to lớn dưới thơi Lê Thánh Tông.Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư với ghi chép là năm TháiHoà thứ 7(1949), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điềnsản gồm 14 điều Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (vớinhững điểm khác nhau về nội dung của các bản), các bổ sung và các tên gọi cácđơn vị hành chính ghi trong bộ luật Có thể nhận thấy rằng bộ luât này được soạnthảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê Thời điểm khởi thảo , ban hànhlần đầu cho đến nay vẫn chưa rõ
1.1.2 Bố cục
Quốc Triều Hình Luật trong cuốn sách A 314 có 13 chương, ghi chép trong
6 quyển (5quyển có 2 chương/ quyển có 3 chương), gồm 722 điều Ngoài ra, trướckhi đi vào các chương và điều thì Quốc Triều Hình Luật còn có các đồ biểu quyđịnh về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng,gông, dây sắt…)
Trang 6Bố cục cụ thể như sau:
Chương Danh vệ: 49 điều quy định về những vẫn đề cơ bản có tính chất chiphối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộctội bằng tiền…)
Chương Cấm vệ: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành va cáctội về cấm vệ
Chương Vi chế:144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái củaquan lại, các tội về chức vụ
Chương Quân chính: 43 điều quy định về trừng phạt các hành vi sai trái củatướng sĩ, các tội quân sự
Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân - gia đình vàcác tội trong phạm vi các lĩnh vực này
Chương Điền sản :59 điều, trong đó có 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sungsau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hoả , 9 điều về châmchước bổ sung luật hương hoả) quy định về ruộng đất, thừa kể, hương hoả về cáctội trong lĩnh vực này
Chương Thông gian: 10 điều quy định về tội phạm tình dục
Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về tội trộm cướp, giết người và một số tộichính trị như phản nước hại vua
Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau, ẩu đả và cáctội vu cáo, lăng mạ
Chương Trá ngụy: 38 điều quy định về các tội giả mạo, lừa dối
Chương Tạp luật: 92 điều, quy định những tội mà không thể thể xếp vàochương khác
Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tộithuộc lĩnh vực này
Chương Đoán ngục: 65 điều, quy định về việc xử án, giam giữ can phạm vànhững tội thuộc trong lĩnh vực này
Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoànchỉnh
Trang 7Như vậy, Bộ Quốc Triều Hình Luật là một bộ luật tổng hợp, bao gồm nhiềuquy phạm pháp luật thuộc nhiều nghành luật khác nhau: luật hình sự, luật dân sự,luật hôn nhân và gia đình, luật hành chính.
1.2.Những quy định trong lĩnh vực hình sự
1.2.1.Những nguyên tắc hình sự chủ yếu được thể hiện qua bộ luật
- Nguyên tắc vô luật bất hình
Theo Điều 683, trong bản án, khi luận tội quan xử án phải dẫn đúng điều luậtnói về tội phạm đó, không được thêm bớt Điều 685 cho hay, nhưng chế sắc củavua luận tội gì, chỉ xét xử nhất thời chứ không phải là sắc lệnh vĩnh viễn thì khôngđược viện dẫn mà xử đoán việc sau Theo Điều 708, nếu xét những tội có điều gìnghi ngờ thì cứ chiểu theo tội đó mà giảm Đặc biệt, Điều 722 quy định hình quankhi định tội danh phải chiểu chính điều trong luật, không được tự ý thêm bớt hoặcviện dẫn điều khác
Các điều quy định trên thể hiện trên thể hiện nội dung của nguyên tắc này là: + Chỉ bị khép vào loại tội khi trong bộ luật có quy định tội danh đó, không bịthêm bớt vào các tội danh khác
+ Chỉ áp dụng mức hình phạt mà bộ luật đã quy định cho hành vi phạm tội đó
Có thể nói đây là manh nha của nguyên tắc hình sự hiện đại là một hành vi
chỉ bị coi là tội phạm, không có một hình phạt nào lại không do luật quy định để
bổ sung cho nguyên tắc này, Điều 642 của bộ luật quy định thêm về trừng phạtnhững việc không được phép làm mà làm
- Nguyên tắc chiếu cố
Nguyên tắc này được thể hiện ở một số loại người và nội dung chiếu cố Thứ nhất là sự chiếu cố theo đơn vị xã hội
Điều 3 quy định tám hạng người được xét giảm tội (bát nghị ), gồm:
Nghị thân, là họ tôn thất từ hạng đản miếu (họ hàng nhà vua trong 5 thế hệ)trở lên, họ hoàng thái hậu từ tiểu công (hạng để tang 5 tháng trở lên)
Nghị cố, là những người cố cựu (chỉ những người cũ, đã theo giúp vua lâungày hoặc những người giúp vua từ triều trước)
Nghị hiền, là những người có đức hạnh lớn
Trang 8Nghị năng, là những người có tài năng lớn.
Nghị công, là những người có công huân lớn
Nghị quý, là những viên quan có chức sự từ tam phẩm trở lên, những quanviên tản chức (chức quan nhàn tản, như chức học quan, hàn lâm) có tước từ nhịphẩm trở lên
Nghị cần, là những người cần cù chăm chỉ
Nghị tân, là con cháu các triều vua trước
Nội dung nghị giảm được quy định cụ thể ở các Điều 4,5,8 và 10 Theo đó,những người thuộc diện Bát nghị, trừ khi phạm tội thập ác, còn nếu phạm tội tử thìcác quan nghị án phải khai rõ tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, làm thành bảntấu dâng lên để vua quyết định, nếu phạm từ tội lưu trở xuống thì được giảm mộtbậc, những người thuộc nghị thân được miễn tội đánh roi, đánh trượng, thích chữvào mặt (riêng họ hoàng hậu thì dùng tiền để chuộc) Nếu người phạm tội mà đượchưởng nhiều bậc nghị giảm thì chỉ được giảm theo bậc giảm nhiều nhất chứ khôngđược giảm cả Bát nghị là chế định của luật pháp Trung Hoa, ở Đại Việt lần đầutiên được vận dụng vào Bộ luật của triều Lê (nếu theo các văn bản cổ luật hiệncòn)
Hai là sự chiếu cố theo tuổi tác và đối với người tàn tật, phụ nữ
Điều 16 quy định, những người từ 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống hoặcngười bị tàn phế, phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tội bằng tiền, trừ khiphạm thập ác Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống, hoặc bị ác tật, nếu phạm tộiphản nghịch, giết người đáng tội chết thì cũng phải tâu để vua quyết định, nếu ăntrộm và đánh người bị thương thì cho chuộc tội bằng tiền, còn ngoài ra thì khôngbắt tội Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu bị tội chết cũng không hành hình,nếu có kẻ nào xui xiểm thì bắt tội kẻ đó, nếu ăn trộm có tang vật thì kẻ nào chứachấp tang vật ấy phải bồi thường Theo Điều 17, người già cả hoặc bị tàn tật trướcđây phạm tội đến khi già cả tàn tật mới bị phát giác, hoặc người khi còn bé phạmtội đến khi lớn lên mới bị phát giác thì đều bị xử theo luật già cả, tàn tật, trẻ nhỏ
Như vậy, qua đây ta thấy được tính nhân đạo trong Bộ luật Hồng Đức luôn
nghĩ và hướng về con người Chính những giá trị này đã góp phần không nhỏ làmnên sức sống của bộ luật
Trang 9Trong lượng hình hoặc thi hành hình phạt đối với nữ phạm nhân, nhà làm luật
đã giành một số ưu đãi
Ví dụ: Theo Điều 1, khi phạm tội đồ hoặc lưu, nam phạm nhân bao giờ cũng
bị đánh thêm trượng, còn nữ phạm nhân chỉ phải chịu tội roi Theo Điều 680, nữphạm nhân tội tử, tội xuy mà đang có thai thì phải đủ 100 ngày sau khi sinh conmới bị đem ra hành hình hoặc đánh roi
Như vậy, nếu như việc chiếu cố về địa vị xã hội thể hiện bản chất giai cấp của
Bộ luật thì sự chiếu cố đối với người già, trẻ em tàn tật, phụ nữ biểu hiện tính nhânđạo của nhà làm luật Đây là điểm mới tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức so với các bộluật khác Và chính điều này mà sau này các nhà làm luật đã vận dụng và học hỏi
nó
- Nguyên tắc chuộc tội bằng tiền
Nguyên tắc chuộc tội bằng tiền được thể hiện ở một số loại người được chuộctội, một số loại được chuộc bằng tiền, hoặc ở hình thức vô ý phạm tội
Theo Điều 6, những người họ hoàng hậu nếu bị ghép vào tội trượng, tội thíchchữ vào mặt thì được chuộc tội bằng tiền Theo Điều 16, người già từ 70 tuổi trởlên, trẻ em từ 15 tuổi trở xuống nếu phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tộibằng tiền, người từ đủ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống nếu phạm tội trộm cắp, tộiđánh người thành thương thì cho chuộc Điều 14 quy định, những quan viên quândân phạm tội nếu vì sơ suất lầm lỗi từ tội lưu trở xuống thì cho chuộc tội bằng tiền,trừ khi phạm vào thập ác
Theo các Điều 22,23, 24 mức độ tiền chuộc của các tội như sau:
+ Tội trượng, mỗi trượng, quan tam phẩm thì phải chuộc 5 tiền, tứ phẩm 4tiền, ngũ và lục phẩm 3 tiền, thất và bát phẩm 2 tiền, cửu phẩm và thứ dân 1 tiền.+ Tội biếm, mỗi hạng, quan nhất phẩm phải chuộc 100 quan, nhị phẩm 75quan, tam phẩm 50 quan, tứ phẩm 39, ngũ phẩm 25 quan, lục và thất phẩm 20quan, bát và cửu phẩm 15 quan, dân đinh và nô tỳ 10 quan
+ Tội đồ, khao đinh, tang thất phụ mà trước đó đã đồ làm nô tỳ thì tiền chuộc
là 30 quan, tượng phương binh 60 quan, chủng tiền binh 100 quan
+ Tội lưu, bị đầy đi châu gần chuộc 130 quan, châu ngoài 200 quan, châu xa
230 quan
+ Tội tử là 330 quan
Trang 10+ Tội bị thích chữ vào mặt hoặc cổ, mỗi chữ, tam phẩm chuộc 2 quan, tứphẩm 1 quản 5 tiền, ngũ phẩm 1 quan, lục phẩm 7 tiền, thất phẩm 6 tiền, bát cửuphẩm và thứ dân 5 tiền
Việc quy định mức độ tiền chuộc tội đối với các quan tuỳ theo phẩm truật, vìnhà làm luật quan niệm người có quan tước phải chịu trách nhiệm cao hơn dânthường, chức tước càng cao, tiền chuộc càng lớn Thập ác là những trọng tội, nênkhông được chuộc Trong luật không quy định việc chuộc tội đánh roi có mục đíchrăn bảo, dạy dỗ người phạm tội biết xấu hổ
Chuộc tội không chỉ nhằm làm giàu công khố mà còn tạo điều kiện cho nhữngngười giàu không phải chấp hành hình phạt khi phạm vào những tội nhất định Mặtkhác, nguyên tắc chuộc tội thể hiên tính nhân đạo đối với người già, trẻ em, ngườitàn tật
- Nguyên tắc về trách nhiệm hình sự
+Trách nhiệm hình sự liên đới là một trong những điểm đặc trưng của luật cổ.Nguyên tắc này được thực hiện trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và đồng cư Điềunày được thực hiện ở hai khía cạnh
Một là khi phạm vào một số lọai tội, người thân thích trong gia đình phải chịu
tội thay cho kẻ phạm tội Theo khoản cuối của Điều 35, nếu tất cả người trong nhàcùng phạm tội thì chỉ bắt tội người tôn trưởng Điều 38 quy định, con cháu phảithay thế ông bà, cha mẹ chịu tội đánh roi, đánh trượng, và được giảm mộtbậc.Những quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của người gia trưởng và đạohiếu của con cháu
Ở khía cạnh thứ hai, đối với một số trọng tội, không những phạm nhân mà cả
vợ con cũng phải chịu trách nhiệm hình sự Theo các điều 411 và 412, những kẻphạm tội mưu phản, mưu đại nghịch thì không những kẻ phạm tội bị chém đầu, mà
cả vợ con điền sản đều bị tịch thu sung công Việc liên đới chịu trách nhiệm hình sựcòn được thể hiện qua nhiều khoản khác của Bộ luật Về độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự, theo Điều 16 những người từ 8 tuổi trở lên đến dưới 90 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự về hành vi vi phạm của mình tuy có phân biệt ở mức độ và phạm vikhác nhau
- Miễn giảm trách nhiệm hình sự
Trang 11Qua tinh thần và nội dung của một số điều khoản, những trường hợp sau đây
sẽ được tha miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Tự vệ chính đáng,được quy định ở Điều 450
+ Tình trạng khẩn cấp, theo Điều 553, người vô cớ mà phóng ngựa chạy trongphố phường đường ngõ ở kinh thành, hay trong đám đông người thì bị xử phạt 60trượng…
+ Tình trạnh bất khả kháng, Điều 499 quy định: Những việc lầm lỡ làm người
bị thương hay chết đều xét theo tình trạng sự việc mà giảm tội
+ Trường hợp thi hành mệnh lệnh, như điều 553 đã dẫn ở trên
+ Trường hợp tự thú, theo Điều 18, trừ tội thập ác và tội giết người
- Nguyên tắc thưởng người tố giác và trừng phạt kẻ che giấu tội phạm
Theo Điều 25, những người tố cáo việc mưu phản, mưu đại nghịch thì đượcthưởng tước từ 3 tư trở lên, tố cáo việc phạm cấm lớn thì được thưởng 2 tư, tố cáomưu giết người được thưởng từ 100 quan trở lên, tố cáo việc giấu diếm ruộng đấtthì được thưởng 1 phần 10 số ruộng đất đó v.v Khoản cuối của Điều 411quy định,người cố tình dung túng giấu diếm kẻ mưu phản, mưu làm việc đại nghịch thì xửnhư kẻ phạm tội
Nguyên tắc trên còn thể hiện ở nhiều điều khoản khác nhau của Bộ luật
- Nguyên tắc thân thuộc được che dấu tội cho nhau: Theo Điều 39, Điều504…, người thân thích phải để tang từ 9 tháng trở lên, ông bà ngoại, cháu ngọai,cháu nội, anh em chồng, vợ anh em, vợ chồng được che dấu tội cho nhau, trừ tộimưu phản, đại nghịch, mẹ đẻ hoặc mẹ kế giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ Nguyêntắc này nhằm đảm bảo trật tự gia đình gia trưởng phong kiến
1.2.2.Tội phạm.
Một số quan niệm của nhà làm luật về tội phạm:
Về khái niệm tội phạm và phân lọai tội phạm:
Quan niệm về tội phạm được hiểu rất rộng Tuy không có những định nghĩa cụthể về tội phạm là gì nhưng trong Bộ Quốc Triều Hình luật thời Lê đã có nhữngquan niệm về tội phạm và việc xâm hại đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế
độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung(nhóm
Trang 12tội thập ác), xâm phạm đến trật tự kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm củaNho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm tài sản của con người Đếnthời nhà Nguyễn, trong Bộ Hoàng Việt Luật Lệ cũng không có những định nghĩachung về tội phạm mà chỉ đi thẳng vào các quy định cụ thể đối với từng loại tội.Nhìn chung pháp luật phong kiến chưa có những quy định, định nghĩa về tòngphạm nhưng ta có thể hiểu được quan niệm tội phạm của pháp luật phong kiến làtất cả những hành vi vi phạm không chỉ trong lĩnh vực hình sự mà trong cả lĩnh vựcdân sự, hành chính, thuế khóa, ruộng đất và cả trong quan niệm đạo đức.
Luật Hồng Đức phân lọai tội phậm theo hai hướng:
Hướng thứ nhất, lấy các lọai hình phạt (ngũ hình và các loại hình phạt khác)
để phân loại tội phạm Trong Bộ luật, các loại tội phạm nhiều chỗ được gọi bằngcác tội danh: tội xuy, tội trượng, tội đồ, tội lưu, tội tử, tội biếm…
Hướng thứ hai, coi tội phạm có hai loại: nhóm tội thập ác(những tội nguy hại
đối với vương quyền và trật tự xã hội gia đình phong kiến) và những nhóm tội bìnhthường khác
- Phân biệt vô ý phạm tội với cố ý phạm tội
Qua nhiều điều luật, nhà làm luật đã có sự phân biệt cố ý phạm tội và vô ýphạm tội để có cách xử lý khác nhau Quan niệm này được thể hiện nổi bật nhất ở
Điều 47: “Những người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau, nhưng phải phân biệt
sự phạm tội vì lầm lỡ hay cố ý, phải xét tội nặng nhẹ mà thêm bớt, không nên câu
nệ để hợp với ý nghĩa việc xét xử hình án Tha người tội lỗi không kể tội nặng, bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ.”
- Quan niệm về đồng phạm
Tuy Bộ luật không có quy phạm định nghĩa chung về đồng phạm và các loạingười đồng phạm, nhưng qua một số điều khoản, nhà làm luật đã có ý niệm phânbiệt chính phạm và tòng phạm Điều 469 quy định: Đồng mưu đánh người bịthương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm, kẻ chủ mưu cũng phải cùngtội, còn người tòng phạm thì được giảm một bậc Theo điều luật này, chính phạmgồm kẻ chủ mưu và thủ phạm (kẻ tích cực nhất trong việc thực hiện tội phạm) cònnhững người khác là tòng phạm Điều 36 quy định: nhiều người cùng phạm một tội,thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng (tòng phạm) được giảm một bậc…Còn tòng phạm là gì? Điều 36 quy định nhiều người phạm cùng một tội mà có