BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ ĐỀ BÀI SỐ 01 Hà Nội, 2020 HỌ VÀ TÊN NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG MSSV 441957 LỚP N02 TL1 Đề bài số 1 1 Trình bày các quan điểm về.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI SỐ: 01
Hà Nội, 2020
HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Trang 2Đề bài số 1:
1 Trình bày các quan điểm về khái niệm Luật hình sự quốc tế
2 Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế
về tội phạm buôn bán người
Trang 3NỘI DUNG
1 Các quan điểm về khái niệm Luật hình sự quốc tế
Luật hình sự quốc tế là một hiện tượng còn tương đối mới mẻ đối với khoa học pháp lý nói chung và rất mới mẻ ở Việt Nam nói riêng Khái niệm luật hình sự quốc tế không xuất hiện ngay lập tức, mà được hình thành và hoàn thiện dần dần Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau đã có những tranh luận về khái niệm luật hình sự quốc tế, và về sự cần thiết tồn tại một ngành luật như vậy
Hiện nay giới nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này
Ở Việt Nam:
Quan điểm thứ nhất, theo GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng: :Quá trình ra đời, định hình và phát triển của Luật hình sự quốc tế cho phép chúng ta xác định rằng Luật hình sự quốc tế là một lĩnh vực của công pháp quốc tế với những nguyên tắc, những quy phạm được sử dụng để điều chỉnh quá trình hợp tác của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong nỗ lực đấu tranh chống tội phạm Là một lĩnh vực thuộc công pháp quốc tế, Luật hình sự quốc tế có đầy đủ các đặc trưng của công pháp quốc tế: đối tượng điều chỉnh là các quan hệ quốc tế, tức là các quan hệ với sự tham gia của các quốc gia và các
tổ chức quốc tế, chủ thể của các quan hệ là các quốc gia và các tổ chức quốc
tế, nguồn của luật là các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế” 1
Với định nghĩa này thì theo GS.TSKH Đào Trí Úc, Luật hình sự quốc tế không phải là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế mà chỉ là một bộ phận, một lĩnh vực của luật quốc tế, mà chính xác là một lĩnh vực trong ngành luật công pháp quốc tế, và ngành luật công pháp quốc tế này lại là ngành độc lập trong cơ cấu của hệ thống pháp luật quốc gia
Quan điểm thứ hai, đối lập với quan điểm trên, theo GS.TSKH Lê Cảm
định nghĩa thì: “Luật hình sự quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ
thống pháp luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những hành vi nào đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế là những tội phạm quốc tế (hoặc những tội phạm có tính chất quốc
1
GS.TSKH Đào Trí Úc (2013), các nguyên tắc của Luật hình sự quốc tế, tr 63- 82, những vấn đề lý luận, thực tiễn về Luật hình sự quốc tế, NXN chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 4tế), cũng như các biện pháp hình phạt và các chế định pháp lý khác có thể được áp dụng đối với chủ thể có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, đồng thời điều chỉnh những vấn đề hợp tác của các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc trong việc đấu tranh (bao gồm cả phòng và chống) những tội phạm này”
Định nghĩa này xác định phạm vi điều chỉnh cơ bản của Luật hình sự quốc tế
là những nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh những tội phạm nguy hiểm nhất xâm phạm đến lợi ích chung của nhân loại và các chế tài có thể áp dụng đối với các chủ thể thực hiện tội phạm Ngoài ra, trong định nghĩa còn chỉ rõ tác giả đã coi Luật hình sự quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng
Cùng với quan điểm cũng coi Luật hình sự là một ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc tế, TS Trịnh Tiến Việt đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Luật hình sự quốc tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật ghi nhận những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc
tế là các tội phạm quốc tế (và tội phạm có tính chất quốc tế - tội phạm xuyên quốc gia), đồng thời quy định hệ thống hình phạt và các chế định pháp lý có thể được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm, cũng như tổng hợp những nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong việc xử lý và phòng, chống các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đã nêu” 2
Theo ThS Nguyễn Thị Bình, quan niệm Luật hình sự quốc tế là một ngành luật có tính hợp lý, bởi lẽ để trở thành một ngành luật thì Luật hình sự quốc tế cũng như các ngành luật khác cũng có đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh riêng, dựa trên những nguyên tắc xác định và có mối liên hệ với các ngành khác trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Từ các nhận định trên, ThS Nguyễn Thị Bình đề xuất đưa ra định nghĩa về Luật
hình sự quốc tế như sau: “Luật hình sự quốc tế là một ngành luật trong pháp
luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những hành
vi nào đặc biệt nguy hiểm cho lợi ích của cộng đồng quốc tế là tội phạm quốc
tế (hoặc những tội phạm có tính chất quốc tế), đồng thời quy định các loại hình phạt và các chế tài pháp lý khác áp dụng với chủ thể có lỗi trong việc
2
TS Trịnh Tiến Việt (2013), vai trò của Luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người, Tr
111-144, Những vấn đề lý luận, thực tiễn về Luật hình sự quốc tế, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 5thực hiện tội phạm, cũng như các trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án và vấn
đề hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình đấu tranh, phòng ngừa những tội phạm này”
Quan điểm của các nhà luật học nước ngoài:
GS Martenx F.F của trường đại học Sant Peterburg cho rằng: “Luật hình
sự quốc tế là tập hợp những quy phạm xác định điều kiện tương trợ xét xử quốc tế giữa các quốc gia để thực hiện quyền trừng phạt của mình trong cộng đồng quốc tế” 3
Giáo sư Panov V.P quan niệm rằng: “Luật hình sự quốc tế là hệ thống
thống các nguyên tắc và các quy phạm điều chỉnh sự hợp tác của các quốc gia trong cuộc đấu tranh chống những tội phạm do các điều ước quốc tế quy định” 4
Blisenco I.P và Fixenco I.P viết: “Luật hình sự quốc tế có thể được định
nghĩa là tổng hợp các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp tác của các quốc gia trong việc ngăn ngừa và trừng phạt việc thực hiện những tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế” 5
Trong khoa học luật quốc tế và trong thực tiễn, thuật ngữ “Luật hình sự quốc tế” đã được sử dụng phổ biến từ lâu, tuy nhiên khái niệm này không được hiểu thống nhất trong giới khoa học nghiên cứu về luật hình sự quốc tế Vấn đề lý luận còn chưa đi đến thống nhất là vấn đề phạm vi điều chỉnh và tên gọi phù hợp cho ngành luật này Trên thế giới có nhiều quan điểm về luật hình sự quốc tế, có người cho rằng luật hình sự quốc tế là một ngành luật độc lập, nhưng có người lại cho rằng luật hình sự quốc tế chỉ là một lĩnh vực của luật quốc tế Nhưng dù thế nào, về bản chất, luật hình sự là sản phẩm tích hợp của hai lĩnh vực pháp lý khác nhau Đó là phương diện hình sự của luật quốc
tế và phương diện quốc tế của luật hình sự quốc gia
Với quan điểm tiếp cận tổng thể trên cơ sở phân tích, đánh giá khái niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể đưa ra khái niệm về luật
hình sự quốc tế như sau: luật hình sự quốc tế là một lĩnh vực thuộc hệ thống
pháp luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những
3Lucasuk I.I và Naumob A.B (199), Luật hình sự quốc tế, NXB Spark, Matxcova, tr.11
4 Kibalnhik A.G (2002), Luật hình sự quốc tế, Matxcova, tr.2 (Sách gốc: Panov V.P., Luật hình sự quốc tế,
1997, tr.5
5 Blisenco I.P và Fixenco I.P., Sđd, tr.8
Trang 6hành vi nào đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế
là những tội phạm (tội ác quốc tế), cũng như hình phạt và các chế tài pháp lý khác để trừng trị người thực hiện tội phạm
2 Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người
Trong thời gian qua, tội phạm buôn bán người đang có chiều hướng phức tạp, đặc biệt là nạn mua bán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tượng vô cùng nhức nhối đang diễn ra ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nó đang trở thành một vấn nạn gây quan ngại đối với toàn thể xã hội
Văn bản pháp luật quốc tế về tội buôn bán người bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ
và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt Nam đã tham gia Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống
và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
Khái niệm “buôn bán người” theo pháp luật hình sự quốc tế được quy định trong Điều 3 Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia6
.Như vậy, theo quy định tại Công ước quốc tế, bị coi là tội phạm buôn bán người đòi hỏi phải có đủ các dấu hiệu về hành vi, phương tiện, mục đích phạm tội và vấn đề ý thức chủ quan của nạn nhân
Nhằm thực thi những quy định của Điều ước quốc tế về quyền con người nói chung, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân Theo tinh thần Hiến pháp 2013, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong
đó có pháp luật hình sự với vai trò là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người Từ cơ sở đó, các tội pahjm về mua bán người được xây dựng và tiếp tục hoàn thiện ngày càng phù hợp với tinh thần của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ năm 1999 đến nay, Bộ luật Hình sự Việt Nam đã có những sửa đổi quan trọng liên quan đến tội phạm buôn người, đáp ứng yêu cầu trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đến năm 2015, tội mua bán người lại tiếp tục được hoàn thiện nhằm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định Điều
6 Xem thêm về khái niệm “buôn bán người” tại Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng, chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia
Trang 7120 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã được quy định thành các tội danh khác nhau trong BLHS 2015, phản ánh đúng bản chất hành vi của các tội phạm này Đó là: Tội mua bán người (Điều 150), Tội mua bán người dưới
16 tuổi (Điều 151)…Bên cạnh đó, BLHS 2015 đã quy định rõ các yếu tố cấu thành tội phạm ngay trong điều luật chứ không còn quy định chung chung như năm 1999 và năm 2009
Sự tương đồng giữa quy định của pháp luật quốc tế và BLHS năm 2015
về tội mua bán người
Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều thống nhất bằng cách ban hành các quy định nhằm ngăn chặn và chống việc buôn bán người, trong đó đặc biệt chú ý đến phụ nữ và trẻ em, bảo vệ và hỗ trợ các nạn nhân của việc buôn bán này, cùng với việc tôn trọng đầy đủ các quyền con người của họ và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế để đạt được mục tiêu này Cụ thể, trong quan niệm về hành vi mua bán người, cả pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều có những nội dung quy định giống nhau sau:
Về phương thức thể hiện: có việc dùng vũ lực, đe dọa bằng vũ lực, lừa
gạt hoặc bằng thủ đoạn khác
Về hành vi: đều đề cập đến sự chuyển giao hoặc tiếp nhận và tuyển mộ,
vận chuyển, chứa chấp người khác
Về mục đích: là để giao, nhận tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác hay
để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc
vì mục đích vô nhân đạo khác
Có sự phân biệt giữa hành vi mua bán người đã trưởng thành và trẻ em với tinh thần chú ý bảo vệ hơn và trừng trị nặng hơn đối với tội phạm mua bán trẻ em
Một số khác biệt giữa quy định của pháp luật quốc tế và BLHS năm 2015
về tội phạm mua bán người
Mặc dù Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc việc nội luật hóa các điều ước quốc tế liên quan đến tội phạm mua bán người song do nhiều nguyên nhân khác nhau như điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia đang phát triển, trình độ lập pháp vẫn còn hạn chế, nên vẫn còn một số khác biệt giữa quy định của pháp luật quốc tế và BLHS năm 2015 Qua nghiên cứu, ta thấy rằng còn một
số nội dung chưa tương thích cần phải tiếp tục nghiên cứu, xem xét như sau:
Thứ nhất, về xác định độ tuổi, BLHS 2015 quy định về Tội mua bán
Trang 8người dưới 16 tuổi tại Điều 151 mà không phải là mua bán trẻ em như quy định tại Nghị định thư Vì trẻ em theo quy định tại Nghị định thư là “bất kì người nào dưới 18 tuổi”7 Điều này cho thấy BLHS Việt Nam đang có chính sách xử lí tội mua bán người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi tại Điều 150 Điều này là không nhất quán với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: mua bán người dưới 18 tuổi là mua bán trẻ em và có chế tài xử lí nặng hơn thể hiện chính sách bảo vệ của cộng đồng quốc tế đối với đối tượng này Vì lý
do người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, chưa có năng lực nhận thức đầy đủ, họ rất dễ trở thành nạn nhân của tội phạm Đồng thời, xử lí tội mua bán trẻ em khác so với mua bán người thể hiện chính sách nhân đạo của cộng đồng quốc tế Chính vì sự không tương thích của BLHS Việt Nam với quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Nghị định thư về vấn
đề này, dẫn đến việc bảo vệ của pháp luật hình sự đối với đối tượng từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa được đúng mức Chính vì thế, để bảo đảm thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên của Việt Nam, đáp ứng đầy đủ yêu cầu hợp tác quốc tế, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, bảo vệ tốt hơn các em ở độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, BLHS Việt Nam nên sửa đổi theo hướng quy định tội mua bán người và mua bán trẻ em, trong đó quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi
Thứ hai, về hành vi, theo quy định của Nghị định thư, “buôn bán người là
việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm ” Như vậy, các hành vi được quy định trong Nghị định thư cấu thành tội buôn bán người như hành vi chuyển giao, tiếp nhận, tuyển dụng, vận chuyển, chứa chấp là độc lập với nhau Khi thực hiện bất kì hành vi nào trong số đó có mục đích như Nghị định thư quy định thì sẽ cấu thành tội buôn bán người Tuy nhiên, BLHS 2015 quy định hoàn toàn khác, đó là việc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi: chuyển giao hoặc tiếp nhận người
để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác mới cấu thành tội buôn người Quy định như vậy tại Bộ luật Hình sự 2015 vô tình làm hẹp đi phạm vi tội
7
Xem điểm d Điều 3 Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của LHQ
Trang 9phạm theo quy định tại Nghị định thư Chính vì thế, Bộ luật Hình sự Việt Nam cần phải sửa đổi theo đúng tinh thần của Công ước, nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm và nghĩa vụ thành viên của Việt Nam
Thứ ba, trường hợp phạm nhiều tội trong đó có mua bán người, thực
tiễn, nạn nhân của các vụ án mua bán người còn có thể bị xâm phạm tình dục (hiếp dâm, cưỡng dâm), xâm phạm tính mạng, sức khỏe (giết người, cố ý gây thương tích) hoặc các hành vi xâm phạm khác Trường hợp này, khi áp dụng BLHS 2015 nếu cấu thành các tội phạm tương ứng thì người phạm tội ngoài việc bị xử về tội mua bán người còn phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng đó Tuy nhiên, Nghị định thư Palermo không đề cập đến trường hợp phạm nhiều tội trong đó có những tội là tiền đề để thực hiện được hành vi của tội phạm mua bán người
Thứ tư, về ý chí chủ quan của nạn nhân, nếu như Nghị định thư dành một
khoản để quy định việc loại trừ sự đồng thuận của nạn nhân về việc bị bóc lột thì luật hình sự Việt Nam không đề cập đến nội dung này trong khi chúng ta ngầm hiểu dù nạn nhân có đồng ý hay không thì chỉ cần chủ thể thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm thì đã phạm tội Thực tế này khiến cho các quy định của luật trở nên thiếu chặt chẽ để buộc tội mua bán người trong trường hợp nạn nhân mong muốn được bán, thậm chí nạn nhân còn biết ơn người đã bán mình
3 Một số đề xuất, kiến nghị
Trước yêu cầu cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện BLHS Việc hoàn thiện các tội phạm mua bán người trong bối cảnh hiện nay còn xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này và nghĩa vụ nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết, phê chuẩn Để đạt được những yêu cầu đó, cần phải tiếp tục hoàn thiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, quy định tội danh đồng nhất với quy định của Nghị dịnh thư
trong khái niệm trẻ em là người dưới 18 tuổi, quy định như vậy cũng phù hợp với Công ước quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia kí kết và là thành viên
Thứ hai, khi điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam phát triển hơn, trình
Trang 10độ dân trí được nâng lên thì phải nội luật hóa toàn bộ các dấu hiệu của tội phạm mua bán người và thống nhất quan niệm về tội phạm mua bán người giữa luật hình sự Việt Nam và các điều ươc quốc tế, dấu hiệu vì mục đích vụ lợi không phải dấu hiệu bắt buộc cần phải chứng minh khi xử lí các tội phạm này
Thứ ba, cần bổ sung các mục đích khác bên cạnh cưỡng bức lao đọng
như cung cấp dịch vụ, bao gồm lao động để trả nợ hoặc gán nợ, lao động nô
lệ hoặc các hình thức tương tự, phục dịch như nô lệ, bao gồm nô lệ tình dục,
sử dụng cho hoạt động trái pháp luật hoặc phạm tội, cưỡng bức hôn nhân hoặc biến thành nô lệ thông qua hôn nhân, cưỡng bức hoặc cưỡng ép đi ăn xin Quy định như vậy tránh tình trạng cùng một hành vi khách quan mà với động
cơ, mục đích khác nhau nhưng quy định của Nghị định thư là tội buôn bán người, còn theo luật hình sự Việt Nam lại không phạm tội
Thứ tư, cần thiết có một khoản quy định về ý chí chủ quan của nạn nhân
không có ý nghĩa loại trừ TNHS hay làm tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội Điều này có nghĩa là nạn nhân có thể biết mình bị mua bán nhưng cũng có thể không biết Thậm chí có người còn tự nguyện để người khác mua bán thì người phạm tội vẫn phải chịu TNHS về tội mua bán người Bởi lẽ, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể là quyền tối thiểu của con người, của công dân được Hiến pháp và các luật khác quy định, cho nên mọi hành vi xâm hại bất kể được người đó đồng ý hay không cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được ngăn chặn