1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi bán trắc nghiệm luật hình sự 2

15 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi bán trắc nghiệm luật hình sự 2
Tác giả Long Thu Nguyệt
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự
Thể loại Bài tập trắc nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 28,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI BÁN TRẮC NGHIỆM LUẬT HÌNH SỰ 2 51. Căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật hình sự là mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội. => Nhận định này Sai. Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này. Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS.

Trang 1

CÂU HỎI BÁN TRẮC NGHIỆM LUẬT HÌNH SỰ 2

51 Căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật hình sự là mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội

=> Nhận định này Sai

Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa

án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS

52 Trong một tội danh bắt buộc phải có 3 loại cấu thành tội phạm: cấu thành cơ bản, tăng nặng và giảm nhẹ

=> Nhận định này Sai

Trong một tội danh không bắt buộc có đủ 3 loại cấu thành tội phạm Ví dụ: Điều 173 quy định về tội trộm cắp tài sản Theo đó, Khoản 1 là cấu thành tội phạm cơ bản, Khoản 2 và Khoản 3 là cấu thành tội phạm tăng nặng, Khoản 5 là hình phạt bổ sung Điều luật này không quy định về cấu thành tội phạm giảm nhẹ

53 Tội phạm có cấu thành vật chất là một tội phạm mà trên thực tế đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội

=> Nhận định này Sai

Để xác đinh một tội phạm có cấu thành vật chất là phải dựa vào mặt khách quan của tội phạm do luật định, tức là hậu quả của tội phạm được quy định cụ thể trong điều luật, không dựa vào hậu quả đã xảy ra trên thực tế

54 Khách thể của tội phạm là các QHXH mà luật hình sự có nhiệm vụ điều chỉnh => Nhận định này Sai

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Còn quan hệ xã hội được luật hình sự điều chỉnh là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện một tội phạm, đây là quan

hệ pháp luật hình sự

55 Đối tượng tác động của một tội phạm luôn là đối tượng vật chất cụ thể =>

Nhận định này Sai

Trang 2

Đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người (VD: hành vi giết người), đối tượng vật chất (VD: trộm cắp tài sản) hoặc hoạt động bình thường của con người (VD: đưa hối lộ)

56 – Mọi tội phạm suy cho cùng đều là xâm phạm đến khách thể chung => Nhận

định này Đúng

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ khỏi xự xâm phạm của tội phạm Bất kể tội phạm nào khi được thực hiện đều đã xâm phạm đến các mối quan hệ đó Vì vậy, suy cho cùng đều xâm phạm đến một khách thể chung là các quan hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ

57.Nếu trên thực tế tội phạm đã làm cho đối tượng tác động của tội phạm tốt hơn so với tình trạng ban đầu thì không bị coi là gây thiệt hại cho XH

=> Nhận định này Sai

Thông thường, hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm Có những trường hợp hành vi phạm tội không làm xấu đi tình trạng của đối tượng tác động, nhưng vẫn gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể

Ví dụ: A trộm dây chuyền vàng của B A mang về, cất đi, bảo quản và không làm gì

hư hại đến sợi dây chuyền Nhưng hành vi trộm cắp tài sản của A đã gây thiệt hại cho quyền sở hữu của B Nên hành vi của A vẫn gây nguy hiểm cho xã hội và cấu thành tội phạm

58 Tuổi chịu TNHS là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH

=> Nhận định này Đúng

Vì chỉ khi một người đạt đến một độ tuổi nhất định (do luật quy định) thì người này mới có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân Từ đó, vấn đề “lỗi” mới được đặt ra nếu người này đủ tuổi chịu TNHS

59 Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS thì không phải chịu TNHS

=> Nhận định này Sai

Căn cứ vào Điều 21 BLHS 2015 quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo đó, người mắc bệnh tâm thần chỉ là điều kiện cần để loại trừ trách nhiệm hình sự Chỉ khi nào một người đang mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả

Trang 3

năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội (điều kiện đủ) thì mới được xem là không có năng lực TNHS

60 Sự kiện bất ngờ là tình tiết loại trừ yếu tố lỗi của hành vi phạm tội => Nhận

định này Đúng

Căn cứ vào Điều 20 BLHS 2015 thì “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại

cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo đó, trong

trường hợp sự kiện bất ngờ thì người có hành vi gây thiệt hại được xem là không có lỗi vì họ không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả Do đó, họ không phải chịu TNHS

61 Người bị cưỡng bức thân thể, trong mọi trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội

=> Nhận định này Sai Người bị cưỡng bức thân thể vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội Căn cứ vào điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 thì “Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức” chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS

62 Mọi trường hợp biểu lộ ý định phạm tội đều không bị xử lý theo PLHS

=> Nhận định này Sai

Về nguyên tắc, biểu lộ ý định phạm tội không phải là 1 giai đoạn thực hiện tội phạm, cho nên không phải chịu TNHS Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, việc biểu lộ ý định tội phạm đã có tính nguy hiểm cho xã hội Vì vậy, trong các trường hợp này, luật hình sự quy định việc biểu lộ ý định phạm tội thành 1 tội độc lập và người biểu lộ ý định vẫn phải chịu TNHS như bình thường Ví dụ: Điều 133 BLHS quy định về tội đe dọa giết người

63 Tội phạm có cấu thành hình thức là loại tội phạm không có giai đoạn phạm tội chưa đạt

=> Nhận định này Sai

Căn cứ vào Điều 15 BLHS 2015 thì “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm

nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội” Theo đó, đối với những tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức

mà hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi, nếu người phạm tội chưa thực hiện hết tất cả các hành vi mà dừng lại do nguyên nhân khách quan thì được coi là phạm tội chưa đạt

Trang 4

Ví dụ: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS 2015) là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức về mặt khách quan bao gồm: hành vi bắt cóc con tin, hành

vi đe dọa chỉ tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản Nếu người phạm tội chỉ mới thực hiện hành vi bắt cóc con tin mà đã bị bắt giữ thì trường hợp này ở giai đoạn phạm tội chưa đạt

64 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không bị coi là phạm tội

=> Nhận định này Sai

Căn cứ vào Điều 16 BLHS 2015 thì “Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có

đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này” Theo đó, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm

hình sự về tội định phạm do chính sách khoan hồng của Nhà nước, chứ không phải là không phạm tội

65 Mức độ thực hiện hành vi phạm tội là 1 trong những căn cứ ảnh hưởng đến mức độ TNHS

=> Nhận định này Đúng

66 Mỗi tội phạm chỉ trực tiếp xâm hại đến 1 Quan hệ xã hội cụ thể

=> Nhận định này Sai Các quan hệ xã hội tồn tại như một hệ thống, có tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy khi một tội phạm được thực hiện, nó có thể xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội khác nhau được luật hình sự bảo vệ

Ví dụ: hành vi cướp tài sản trực tiếp xâm hại quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân

67 Người phạm tội và người bị hại có quyền thỏa thuận với nhau về mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội

=> Nhận định này Sai

Xuất phát từ phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền uy – phục tùng Trong đó Nhà nước buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Vì thế, không có sự thỏa thuận nào trong TNHS giữa người phạm tội và người bị hại

68 Tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho XH của hành vi là tình tiết loại trừ tính chất phạm tội

=> Nhận định này Đúng

Tình thế loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi được ghi nhận trong BLHS

2015 từ Điều 20 đến Điều 26 Theo đó, tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội

Trang 5

của hành vi là một trong 2 dạng tình tiết loại trừa tính chất phạm tội (cùng với tình tiết loại trừ tính có lỗi của hành vi) Tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở pháp lí quan trọng để phân định tội phạm và các hành vi không phải

là tội phạm

69 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì không bị coi là phạm tội

=> Nhận định này Sai

Căn cứ vào Điều 16 BLHS 2015 thì “Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có

đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này” Theo đó, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm

hình sự về tội định phạm do chính sách khoan hồng của Nhà nước, chứ không phải là không phạm tội

70 Phòng vệ khi sự tấn công chưa xảy ra luôn là phòng vệ quá sớm

=> Nhận định này Sai

Phòng vệ quá sớm là trường hợp có hành vi chống trả khi chưa có những biểu hiện đe dọa sự tấn công sẽ xảy ra ngay tức khắc Theo đó, mặc dù hành vi tấn công chưa xảy

ra nhưng đã đe dọa xảy ra ngay tức khắc cũng làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng được ghi nhận tại Điều 22 BLHS 2015

71 Giúp sức để kết thúc tội phạm vào thời điểm sau khi tội phạm hoàn thành trong mọi trường hợp đều là đồng phạm

=> Nhận định này Đúng

Vì căn cứ vào khoản 3 Điều 17 BLHS 2015 thì: “Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm” Giúp sức để kết thúc tội phạm tức là được tiến hành trước khi tội phạm kết thúc Đây là điệu kiện để hành vi giúp sức của người giúp sức trở thành đồng phạm

72 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tôi xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản

=> Nhận định này Sai

Vì: Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội phạm này Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản, còn có các nhóm hành vi khách quan khác như:

+ Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)

+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)

Trang 6

+ Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)

+ Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.(Điều 180 BLHS)

73 Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu

=> Nhận định này Đúng

Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng của tội xâm phạm sở hữu

Vì để trở thành đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu thì tài sản đó phải thỏa mãn một số điều kiện

Ví dụ như: Vật: muốn thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm sở hữu thì vật đó không có tính năng đặc biệt ví dụ như ma túy, vũ khí quân dụng… Lúc bấy giờ nếu có hành vi xâm phạm đến quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng những vật có tính năng đặc biệt như trên thì không cấu thành đối tượng tác động của các tội phạm

sở hữu, mà cấu thành những tội riêng biệt Như hành vi cướp ma túy của người khác không cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) mà cấu thành tội chiếm đoạt chất

ma túy (Điều 252 BLHS)

74 Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 1168 BLHS)

=> Nhận định này Sai

Hành vi đe dọa dùng vụ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan trong cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS)

Do đo, hành vi này không chỉ cấu thành tội cướp tài sản mà còn có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản tùy vào trường hợp

VD: A đe dọa B giao 5 triệu vào ngày mai nếu không sẽ cùng nhóm bạn đánh hội đồng B Trong trường hợp này, hành vi đe dọa dùng vụ lực của A không diễn ra ngay tức khắc, nạn nhân là B cũng không rơi vào tình trạng không thể chống cự được ngay tức khắc, B chỉ bị tác động, quyền xử sự vẫn do B quyết định Trường hợp này, hành

vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của A cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS)

75 Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS)

=> Nhận định này Sai Vì: Trước tiên, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người có thể cấu thành một trong hai tội danh:

Trang 7

– Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người” được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 168 BLHS;

– Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người” được quy định tại điểm d khoản 5 Điều 169 BLHS

Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức lỗi mà người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản

mà dẫn đến hậu quả chết người có thể cấu thành một tội danh hoặc hai tội danh Cụ thể:

– Trường hợp cấu thành một tội danh: Nếu lỗi của người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là lỗi hỗn hợp, tức là người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng vô ý với hậu quả chết người thì chỉ cấu thành một tội danh

là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người”

– Trường hợp cấu thành hai tội danh: Nếu người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản ngoài cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản còn cố ý với hành vi giết người thì cấu thành cả hai tội danh là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội giết người

Như vậy, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản không phải lúc nào cũng cấu thành hai tội danh và trong trường hợp cấu thành hai tội danh không chỉ có trường hợp Tội cướp tài sản và Tội giết người mà còn có trường hợp Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội giết người

76 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người

=> Nhận định này Sai

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người vì trong ý thức chủ quan của người phạm tội, chủ thể mà họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình nhất chính là người quản lý tài sản bởi chính người quản lý tài sản là chủ thể dễ dàng nhất trong việc nhận thức được tài sản mình đang trong tình trạng thế nào, ở đâu … , chính vì thế, dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản mà không đòi hỏi phải lén lút với tất cả mọi người, ở đây, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ

Trang 8

77 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối

là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)

=> Nhận định này Sai Vì: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) mà cò cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản (Điều

175 BLHS) nếu thỏa mãn hết các dấu hiệu định tội Xét về biểu hiện khách quan: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) quy định người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) quy định người nào thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ dưới 4 triệu đồng (đối với trường hợp Luật định) bằng việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (Điểm a Khoản 1) thì cũng sẽ cấu thành tội này

Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối nhưng biểu hiện gian dối này không là hành vi để Tội phạm chiếm đoạt được tài sản thì sẽ không cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS)

78 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng khác mà tài sản từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)

=> Nhận định này Sai

– Hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng khác mà tài sản từ 4 triệu đồng trở lên có thể không cấu thành tội quy định tại Điều 175 Lúc này, quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự

Hành vi này chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đi cùng với hành vi khách quan dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

79 Nạn nhân tử vong là dấu hiệu định tội của Tội bức tử (Điều 130 BLHS)

=> Nhận định này Sai Vì: Tội bức tử được hiểu là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát

Trang 9

Điều 130 BLHS chỉ quy định về hành vi phạm tội “người nào có hành vi đối xử tàn

ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người

đó tự sát” mà không quy định hậu quả Căn cứ theo quy định trên cấu thành tội phạm của tội bức tử là cấu thành tội phạm hình thức, nghĩa là không quan tâm đến hậu quả xảy ra, chỉ có hành vi phạm tội là dấu hiệu bắt buộc Tội phạm cấu thành khi có xử

sự tự sát của nạn nhân bất kể sự tự sát có thành hay không Do đó nạn nhận tử vong không phải là dấu hiệu định tội của tội phạm này

80 Cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại là hành vi cấu thành Tội giúp người khác tự sát (Điều 131 BLHS)

=> Nhận định này Sai Vì: Giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác sử dụng các điều kiện đó để tự sát

Hành vi khách quan của Tội giúp người khác tự sát là hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác tự sát như cung cấp thuốc độc để nạn nhân tự đầu độc hoặc chỉ dẫn cách tự sát Hành vi khách quan này chỉ đóng vai trò là điều kiện để nạn nhân sử dụng các điều kiện đó mà tự sát Chủ thể tội phạm không trực tiếp tước đi tính mạng của nạn nhân Còn hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác dù có theo yêu cầu của người bị hại hay không đều là hành vi khách quan của tội giết người

Như vậy, cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại không là hành vi cấu thành tội giúp người khác tự sát

81 Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả

=> Nhận định này Sai

Không phải cứ là hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơ so với tiêu chuẩn đã đăng ký, công bố, ghi trên bào bì là hàng giả Trong trường hợp trên, để

hàng hóa đó là hàng giả thì phải đáp ứng điều kiện theo : “Hàng hóa có hàm lượng,

định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa”

82 Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại điều 192,

193, 194, 195 BLHS

=> Nhận định này Sai

Trang 10

– Hàng giả còn có thể là đối tượng tác động của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nếu hàng hóa giả về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam

và thu lợi bất chính theo Điều 226 BLHS

83 Không phải mọi trường hợp trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành tội trốn thuế được quy định được quy định tại Điều 200 BLHS

=> Nhận định này Đúng

Hành vi khách quan cấu thành tội trốn thuế là các hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 200 Trong đó có các hành vi cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hành hóa; khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan ngoài cấu thành tội trốn thuế (Điều 200) còn có thể cấu thành các tội buôn lậu (Điều 188), tội vận chuyển trái phép hành hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189) trong những trường hợp thỏa mãn cấu thành tội phạm của các tội này

84 Không phải mọi hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đều cấu thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp từ ngân sách nhà nước (Điều 203 BLHS)

=> Nhận định này Đúng

Hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chỉ cấu thành Tội

in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp từ ngân sách nhà nước nếu chứng từ, hóa đơn

từ thu nộp ngân sách ở dạng phôi phải từ 50 đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ

đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30000000 đồng đến dưới 100000000 đồng m ới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 203 BLHS

85 Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS)

=> Nhận định này Sai

– Dấu hiệu băt buộc trong cấu thành tội phạm của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:

+ Hành vi khách quan: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đăng được bảo hộ tại Việt Nam

+ Hậu quả: hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới

Ngày đăng: 10/06/2023, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w