Nhưng sự tăng trưởng trong nền kinh tế Việt Nam giaiđoạn 2001 – 2007 có thể nói chủ yếu là do sự tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài khi nềnkinh tế trên thế giới giai đoạn đó đang dần phục
Trang 1CHƯƠNG 2
2.1 Bối cảnh kinh tế và sự phát triển của hệ thống ngân hàng
Bắt đầu từ năm 2001 trở lại những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã vượtqua giai đoạn suy thoái, bắt đầu đi vào giai đoạn tăng trưởng và trở nên tăng trưởngmạnh vào năm 2004 (9,5%) Đi liền với sự tăng trưởng nhanh đó là lạm phát cũngkhông ngừng gia tăng một cách nhanh chóng, lạm phát ở Việt Nam năm 2001 từ 0,8%tăng lên 12,63% vào năm 2007 Nhưng sự tăng trưởng trong nền kinh tế Việt Nam giaiđoạn 2001 – 2007 có thể nói chủ yếu là do sự tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài khi nềnkinh tế trên thế giới giai đoạn đó đang dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng 1997 ởĐông Á, bên cạnh đó là việc mở rộng thị trường qua hiệp định thương mại Việt – Mỹ,cộng với nó là các chính sách về quản lý doanh nghiệp tư nhân…Và cũng trong gần 10năm qua, do cán cân thương mại của nước ta liên tục thâm hụt qua nhiều năm dẫn đếntình trạng Việt Nam trở thành một nước liên tục đi vay nợ
2.1.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam thời gian qua
2.1.1.1 Kinh tế Việt Nam trước WTO
Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã phát triển không ngừng, giao lưuvới nhiều nước trên thế giới hơn và đạt được rất nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuynhiên, các thị trường bất động sản, khoa học công nghệ, lao động… lại chưa có sự pháttriển đồng bộ Nổi bật nhất là bộ máy quản lý vẫn còn nặng về cơ chế kế hoạch hóa tậptrung, nhà nước vẫn còn độc quyền ở một số lĩnh vực lớn, tình trạng bao cấp vẫn xuấthiện ở một số nơi Ngân hàng nhà nước vẫn chưa thực hiện được hết các nhiệm vụ củamình trong việc ban hành các chính sách Hệ thống ngân hàng thương mại vẫn còn yếukhi mà tiềm lực tài chính vẫn còn thấp, chất lượng phục vụ chưa cao, đó là chưa kểđến khối lượng nợ xấu cứ ngày một gia tăng trong toàn hệ thống
Cấu trúc các khu vực kinh tế có sự chênh lệch lớn Nhà nước sử dụng nhiềuchính sách bảo hộ dành cho các mặt hàng trong nước, tạo môi trường cạnh tranh khônglành mạnh khiến các doanh nghiệp nước ngoài không “mặn mà” lắm với thị trườngtrong nước
Trang 2Chưa gia nhập WTO, chưa thật sự gia nhập với nền kinh tế thế giới nên hầuhết ở nước ta, chính phủ thường đưa ra các chính sách để có thể giúp các doanh nghiệptrong nước, nhất là trong xuất nhập khẩu Đây thật sự là một bất cập trong việc nângcao năng lực cạnh tranh, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước
2.1.1.2 Kinh tế Việt Nam sau WTO
Sau khi chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO,nền kinh tế Việt Nam sẽ có rất nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra không ítkhó khăn và thử thách Trong hai năm 2007 và 2008, Việt Nam đã thu hút được rấtnhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như thị trường xuất khẩu được mởrộng, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Điều này đã chứng tỏ được thái độ lạcquan của các nhà đầu tư nước ngoài đối với tiềm năng phát triển của đất nước
Môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam được cải thiện đáng kể Nềnkinh tế tăng trưởng nóng vào giai đoạn năm 2007, khi mà thị trường chứng khoán cólúc vượt ngượng 1.000 điểm, tăng trưởng tín dụng đạt 53,9%, một con số cao chưatừng có trước đây, vốn đăng ký FDI đạt trên 20 tỷ USD, khối lượng vốn đầu tư toàn xãhội thực hiện năm 2007 theo giá ước tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng trong đó vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài đạt 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1% Nền kinh tếtăng trưởng nóng khi mà lạm phát của năm 207 lên tới 12,63% Bên cạnh đó việc gianhập WTO cũng đặt các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vào một môi trường cạnhtranh cao Hàng loạt các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu đầu tư vào Việt Nam, nếunhư doanh nghiệp trong nước không nâng cao trình độ, chất lượng sản phẩm, nâng caohiệu suất làm việc thì các doanh nghiệp trong nước có thể dễ dàng bị đánh bại ngay cảtrên thị trường nội địa
Có thể nói, việc gia nhập WTO bên cạnh việc mở ra nhiều cơ hội cho nước tathì đồng thời nó cũng đặt ra rất nhiều khó khăn Do đó, việc đề ra các chính sách hợp
lý là một trong những yếu tố quan trọng để giúp nền kinh tế nước ta có thể vượt quađược những khó khăn và thách thức Và chính sách tiền tệ là một trong những chínhsách quan trọng nhất
Sau khi gia nhập WTO, chính phủ luôn theo đuổi một chính sách tiền tệ linhhoạt để có thể nhanh chóng đối phó với những bất thường xảy ra trong nền kinh tế.Nhưng bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách tiền tệ liên tục từ nới lỏng sang thắt chặthoặc ngược lại lại làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc đi vay ởngân hàng Đó là chưa kể đến những bất cập trong chính sách tiền tệ thời gian qua.Điển hình nhất là vào năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã mua vào hơn 9 tỷ USDtương đương với 144000 tỷ đồng Việt Nam, đồng thời trong giai đoạn này, mức tăngtrưởng tín dụng vẫn cao là 54% và số tiền này chủ yếu lại được cho vay đổ vào hai thịtrường bất động sản và chứng khoán gây ra cơn sốt ảo của thị trường chứng khoán vàbong bóng bất động sản vào năm đó Kết quả là một lượng cung tiền qua lớn đã được
Trang 3đưa vào lưu thông mà không được dùng vào cho phát triển sản xuất hàng hóa dịch vụđồng thời ngân hàng nhà nước lại không có chính sách để dung hòa lượng tiền này,chính điều đó đã đẩy lạm phát Việt Nam năm 2007 lên tới 12,63%.
Hình 2.01: Nguồn vốn FDI giai đoạn 1991-2005
Tỷ USD
1991-1995 1996-2000 2001-2005 2006 2007 2008
FDI thực hiện qua các năm
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – bộ kế hoạch và đầu tư) Hình 2.02: Nợ nước ngoài giai đoạn 2003-2008
(Nguồn : http://www.indexmundi.com/vietnam/debt_external.html)
Trang 4Hình 2.03 :Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 1997-2008
8.15
5.76 4.77
2.1.2 Sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua:
2.1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường tài chính- Ngân hàng Việt Nam
Lãi suất:
Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập trung
ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương Theo
đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng 6-2002, Ngân hàng Nhà nướcchuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trước đó Hàng tháng Ngânhàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, vẫn quy định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất táichiết khấu; cùng với lãi suất nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ Swap, lãi suất thị trường mở,lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước tác động vào lãi suất thị trường,lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của các Tổ chức tín dụng
Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, theo số liệu báo cáo nhanh của các
tổ chức tín dụng đến ngày 7/4/2009, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thịtrường tiền tệ liên ngân hàng có xu hướng tăng ở hầu hết các kỳ hạn (qua đêm, 1 tuần,
2 tuần và 12 tháng); ngoại trừ lãi suất bình quân kỳ hạn 3 tháng không đổi, lãi suấtbình quân các kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng giảm nhẹ so với tuần trước đó Việc tăng đầu
tư bằng VND là tác động tích cực chính sách kích cầu của Chính phủ nhằm tháo gỡkhó khăn cho nền kinh tế, thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Đối với lãi suất bằng VND, NHNN cho biết, so với cuối năm 2008, mặt bằnglãi suất huy động giảm từ 0,5-1,5%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 2,5-4%/năm Tuynhiên từ giữa tháng 02/2009 đến nay, một số ngân hàng thương mại (NHTM) đã điềuchỉnh tăng lãi suất huy động với mức tăng từ 0,3-1%/năm Hiện nay, mặt bằng lãi suấthuy động bằng VND phổ biến ở mức 6,8-7,5%/năm, lãi suất cho vay ở mức8-10,5%/năm Riêng lãi suất cho vay đối với các khoản cho vay được hỗ trợ lãi suất
Trang 5chỉ còn 4-6%/năm; lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và cho vay thông quathẻ tín dụng là 12-14%/năm Đối với lãi suất bằng USD, có xu hướng giảm so với cuốinăm 2008 với mức giảm từ 0,2-0,5%/năm đối với lãi suất huy động và từ0,2-1,5%/năm đối với lãi suất cho vay Hiện lãi suất huy động USD phổ biến ở mức2,2-3,5%/năm và lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 5,7-7,4%/năm; lãi suất cho vayđối với khách hàng cam kết bán lại ngoại tệ cho ngân hàng là 4%/năm.
Nhiều chuyên gia kinh tế và mới đây nhất là chuyên gia phân tích KhalilBelhimeur thuộc Ngân hàng Standard Chartered cho rằng, việc giảm thêm lãi suất cơbản là có thể xảy ra nhằm hỗ trợ nền kinh tế tốt hơn
Khi lạm phát được chặn lại, đứng trước nguy cơ suy giảm kinh tế, lãi suất cơbản đã được liên tục cắt giảm và đã được giữ ở mức 7% trong mấy tháng nay Trước
đó, lãi suất cơ bản tiền VNĐ đã được Ngân hàng Nhà nước giảm xuống còn 7%/năm
Từ lãi suất cơ bản này, lãi suất cao nhất mà các ngân hàng thương mại cho doanhnghiệp vay là 10,5%/năm Hiện tại, lãi suất phổ biến mà các ngân hàng thương mạicho doanh nghiệp vay nằm trong khoảng 8,5% - 10,5%/năm, tùy vào vay ngắn hạn haytrung và dài hạn Tuy nhiên, các mức lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mạiNhà nước đều thấp hơn so với khối ngân hàng thương mại cổ phần
Chính sách của Chính phủ là hỗ trợ doanh nghiệp 4% lãi suất vay vốn ngânhàng để phát triển sản xuất kinh doanh cũng đang được khẩn trương triển khai Theo
đó, các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong khoảng thờigian từ 1.2 đến hết 31.12 đều được Chính phủ hỗ trợ 4% lãi suất vay ngân hàng trongthời hạn 8 tháng Một vấn đề quan trọng khác là Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhquy chế bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo đó, các doanhnghiệp có vốn dưới 20 tỷ đồng và dưới 500 lao động đều được Ngân hàng Phát triểnbảo lãnh vay vốn
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triểncủa hệ thống ngân hàng và là bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa tài chính ở
VN Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suấttrong thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khókhăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN công bố lãi suất cơ bản nhằm địnhhướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổphần tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất
Tỉ giá hối đoái:
Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau,nhưng trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa ngày nay, xu hướng tiến tới tự do hóa
tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các quốc gia theo đuổi Xét trên bình diện quản lý
Trang 6vĩ mô thì NHNN Việt Nam đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt, có sự kiểm soát củaNhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của Nhà nước trong điều kiện quátrình hội nhập của Việt Nam với thế giới còn nhiều cách biệt Nếu lựa chọn chế độ tỷgiá thả nổi tự do thì điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng ta chưacho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu “an toàn” thì khôngthể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều mà chúng
ta đang cố gắng thay đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tế theo các quiluật phát triển Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu đối với Nhà nước trong việclựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với hội nhập và tạođộng lực phát triển kinh tế
Xét về mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế dài hạn và chế độ tỷ giá, ta thấy bất
kỳ nền kinh tế nào cũng tập trung vào bốn mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là sản lượng,
ổn định giá cả, việc làm và cân bằng ngoại thương (thuộc hai nhóm mục tiêu cân bằngnội và cân bằng ngoại) Tuy nhiên, lạm phát và ngoại thương chỉ là yếu tố ngoại sinh
dù có tác động qua lại lẫn nhau Điều quan trọng để đạt các mục tiêu trên không chỉquyết định bởi chế độ tỷ giá hối đoái, mà do sự phối hợp hợp lý giữa các chính sáchkinh tế vĩ mô Điều này thể hiện rõ trong đường lối kinh tế của Việt Nam giai đoạn1989-1993 khi nội tệ gần như được “thả nổi”, nhưng đi kèm là một chính sách thắtchặt lượng tiền cung ứng, không những đã chặn đà lạm phát mà còn thúc đẩy xuấtkhẩu, thu hút đầu tư nước ngoài
Trên lý thuyết, tỷ giá hối đoái dựa trên cung cầu của mỗi đồng tiền trên thịtrường ngoại hối Đồng tiền nào có nhu cầu cao hơn thì tỷ giá của nó so với đồng yếtgiá sẽ tăng lên và ngược lại Trên thực tế, tỷ giá hối đoái được chính phủ mỗi nước sửdụng như một công cụ hữu hiệu để điều tiết hoạt động XNK cũng như dòng dịchchuyển của các luồng ngoại tệ Chính vì thế đôi khi tại mỗi quốc gia tỷ giá hối đoáitrong nước có thể trái ngược với trên thị trường quốc tế, gây khó khăn cho các doanhnghiệp trong việc dự báo Ví dụ, trong tình trạng suy thoái hiện nay của nền kinh tế thếgiới, để cứu giúp nền kinh tế trong nước, chính phủ Mỹ cũng như nhiều nước khác đãtung ra các gói cứu trợ trị giá hang ngàn tỷ đô la Như vậy theo lý thuyết đồng USD sẽmất giá do lượng cung tiền USD tăng lên trên mức bình thường Vậy nhưng tại saođồng USD trên thị trường quốc tế vẫn có thể tăng giá? Phải chăng đang có mâu thuẫnxảy ra? Thực ra nguyên nhân là do:
+ Thứ nhất, trong tình trạng khủng hoảng- suy thoái hiên nay, bất chấp lượngcung tiến USD tăng lên thì nhu cầu về đồng USD vẫn rất cao Khi mà TTCK khắp nơisụt giảm, đầu tư gặp bất lợi thì nhu cầu nắm giữ tiền mặt tăng lên do tâm lý thận trọngcủa người dân Thêm vào đó nhiều nhà đầu tư lại cần tiền mặt để chuẩn bị đầu tư dohiện nay các tài sản để đầu tư nhu cổ phiếu, bất động sản đang rất rẻ Chính vì thế Cầu
về tiền mặt, cụ thể là USD rất cao
Trang 7+ Thứ hai, không chỉ Mỹ, các nước khác như Anh, Úc, các nước EU cũngđang bơm tiền vào nền kinh tế, nên tỷ lệ mất giá giữa các đồng tiền cũng không chênhnhau nhiều lắm, trong khi đồng USD được sử dụng phổ biến nhất trong các giao dịchquốc tế, vì thế so với các đồng EURO, AUD(đô la Úc)… đồng USD vẫn tăng giá mặc
dù lượng cung của nó đang tăng lên
Tại VN, tỷ giá USD/VND đang được Chính phủ Việt Nam sử dụng để tạo cácđòn bẩy cho nền kinh tế Từ ngày 10/03/2008, tỷ giá giao dịch bình quân trên thịtrường liên ngân hàng nới thêm ±0,25% (tăng từ ±0,75% lên ±1%) Và trong thời giangần đây, ngày 23/03/2009, NHNN vừa thông báo nâng biên độ tỷ giá lên đến 5% Đây
là một động thái cho thấy chính sách tỷ giá đang cởi mở hơn, phản ánh thị trường sáthơn trong thời gian tới với mục đích giúp biên độ tỷ giá biến động hai chiều linh hoạthơn, bám sát cung cầu thị trường Ngân hàng và doanh nghiệp cũng có điều kiện chủđộng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho 2009 Bằng việc để cho đồng nội tệ tiếptục mất giá, chính phủ đang khuyến khích doanh nghiệp trong nước tăng cường xuấtkhẩu do hang hóa XK rẻ đi, đồng thời hạn chế nhập khẩu Thêm vào đó sẽ khuyếnkhích các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào thị trường VN, hạn chế việc rút ngoại tệcủa các nhà đầu tư do việc mua đồng USD trở nên đắt hơn trước, trong khi bán USDthì thu được nhiều đồng bản tệ hơn Do đó xu hướng tăng giá USD không có gì là mâuthuẫn với các qui luật tiền tệ cả Thế nhưng việc để đồng USD tăng giá sẽ là con dao 2lưỡi vì nếu để tỷ giá USD/VND tăng quá cao sẽ gây áp lực lạm phát do hang hóa nhậpkhẩu như các nguyên vật liệu, hang hóa tiêu dung trở nên đắt đỏ hơn Vì vậy Tỷ giáhối đoái là công cụ quan trọng của Chính phủ để điều tiết nền kinh tế
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là con số do Ngân hàng nhà nước qui định bắt buộc các
ngân hàng thương mại mỗi khi nhận các khoản tiền gửi (trong diện phải trích dự trữ bắt buộc) phải đảm bảo giữ lại lượng tiền sao cho:
atbuoc Tyledutrub dutru
ngdienphai Tienguitro
giulai utru
Khi thiếu hụt lượng tiền dự trữ để duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàngthương mại có thể đi vay tiền mặt để bổ sung, thường là trên thị trường liên ngân hàng
và từ ngân hàng trung ương
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ để ngân hàng trung ương điều chỉnh chínhsách tiền tệ, tác động tới tốc độ quay của đồng tiền trong nền kinh tế
Trang 8+ Tăng dự trữ bắt buộc: giả sử các nhân tố khác không thay đổi khi ngân hàngnhà nước sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ (giả dụ nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc) sẽ làmcho lãi suất tăng lên, lãi suất tăng khiến cho chi phí đi vay nhiều hơn làm giảm đầu tư,giảm cầu nền kinh tế, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế hơn nữa việc tăng dự trữ bắtbuộc khiến lượng tiền lưu thông giảm và gián tiếp làm giảm lượng tiền vào chứngkhoán, khiến TTCK giảm Mục đích của việc sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ trênthực tế là để kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
+ Giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc: Trong khi khả năng tạo tiền của hệ thống NHTMđược coi là một phát minh lớn trong hoạt động ngân hàng, đem lại lượng vốn đáng kểcho nền kinh tế khi nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ tín dụng; thì ngược lại, việcthắt chặt tiền tệ tín dụng sẽ làm giảm lượng vốn tín dụng trong nền kinh tế theo hệ sốnhân tiền tương ứng Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ giúp tăng “hệ số tạo tiền”, qua đógiúp các NH có thêm tiền để cho vay; giảm được chi phí sử dụng vốn, một mặt giúpgiảm áp lực phải tăng lãi suất để huy động vốn, mặt khác tạo điều kiện cho các NHgiảm thêm lãi suất cho vay
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định giảm khá mạnh tỷ lệ dự trữ bắtbuộc đối với tiền gửi của các tổ chức tín dụng từ ngày 1.3 Cụ thể, mức dự trữ bắt buộccủa đa số các ngân hàng được giảm từ 5% xuống còn 3% trên tổng số dư tiền gửi đốivới tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng Với Agribank, mức dự trữ bắtbuộc giảm từ 2% xuống còn 1%, còn với nhiều ngân hàng và quỹ tín dụng khác, mức
dự trữ bắt buộc là 1% trên tổng số dư tiền gửi Riêng tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc chung là 1% Đây là quyết định có ý nghĩa quan trọng, trực tiếpđối với các ngân hàng và tiếp đó là đối với các doanh nghiệp vay vốn bởi nó tạo điềukiện cho các ngân hàng tăng tỷ lệ vốn khả dụng ra thị trường thông qua việc cho cácdoanh nghiệp vay để đầu tư sản xuất kinh doanh
2.1.2.2 Thành tựu và khó khăn
Thành tựu
Ngân hàng là một trong những định chế quan trọng của nền kinh tế, có thể nói
nó là “huyết mạch” của nền kinh tế khi chức năng chính của ngành ngân hàng là điềutiết vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Đây là một chức năng rất quan trọng củangành ngân hàng, nhằm thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế Không ai có thểphủ nhận chức năng quan trọng này của ngành ngân hàng đối với nền kinh tế Trongnhững năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả
về quy mô hoạt động lẫn chất lượng sản phẩm dịch vụ, không ngừng tăng cường mạnglưới và hiện đại hóa công nghệ
Trang 9Bảng 2.01: Số lượng các Ngân hàng năm 1997-2008
(Nguồn: www.saga.vn) Hình 2.04: Số lượng các ngân hàng năm 1997 và năm 2008
Số lượng Ngân hàng qua các năm
NHTM Nhà nước NHTM Cổ phần (Đô thị & Nông thôn)
NH Liên doanh & CN NH nước ngoài
(Nguồn: www.saga.vn)
Tính tới cuối tháng 11 năm 2008, cả nước hiện có khoảng 84 ngân hàng trong
đó gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 31 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, 4ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 5 ngân hàng liên doanh, 37 chi nhánh ngânhàng nước ngoài và 2 ngân hàng chính.Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại Việt Namlại có quy mô còn rất nhỏ và trình độ phát triển vẫn còn chưa cao Hiện nay, có trên90% thị phần hoạt động trong ngân hàng là do 16/84 ngân hàng thương mại lớn nhấtViệt Nam và 2 ngân hàng chính sách nắm giữ, trong đó riêng các ngân hàng thươngmại quốc doanh đã nắm giữ trên 70% thị phần
Xét về quy mô thì đứng đầu toàn ngành ngân hàng vẫn là 4 ngân hàng thươngmại nhà nước Quy mô vốn của 4 ngân hàng này liên tục tăng nhanh qua các năm, tínhđến năm 2006 thì tổng tài sản bình quân của những ngân hàng này đã lên tới gần180.000 tỷ đồng/ ngân hàng Tính chung tổng tài sản của cả khối này năm 2005 tăng18,2% so với năm 2004, năm 2006 tăng 26,9% so với năm 2005
Về vốn chủ sở hữu thì đến hết năm 2006, Vietcombank vẫn đang đứng đầutoàn ngành với tốc độ tăng chung của giai đoạn 2004 – 2006 là 48,5%, đạt tới 11.277
tỷ đồng Qua những năm gần đây giữa các ngân hàng nhà nước liên tục có sự chạy đuanhau để cạnh tranh nhau về tốc độ huy động vốn, nếu năm 2005 Vietcombank đứng
Trang 10đầu về khả năng huy động vốn thì sang năm 2006 vị trí này lại nhường lại cho Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Bên cạnh đó, các ngân hàng nhà nước cũngkhông ngừng nâng cao mức tín nhiệm của thị trường dàng cho mình Đối vớiVietcombank, mặc dù mạng lưới ko lớn nhưng tốc độ huy động vốn thì luôn đứnghàng thứ nhất, nhì trong khối ngân hàng thương mại nhà nước, điều này chứng tỏVietcombank có uy tín rất cao trên thị trường và có giá trị thương hiệu khá mạnh mẽ.Tuy nhiên, cùng với việc tổng tài sản của các ngân hàng thương mại nhà nước khôngngừng tăng cao thì tỷ lệ tổng tài sản và huy động vốn của khối ngân hàng này so vớitổng số của 16 ngân hàng thương mại lớn nhất đang giảm dần qua các năm (năm 2004chiếm 85,9% và 85,5%, năm 2005 còn 83,1% và 83,4%, năm 2006 là 78,4% và78,6%).
Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần thì gặp phải nhiều khó khănhơn so với ngân hàng thương mại nhà nước trong việc tăng tổng tài sản Tuy nhiên đếnnăm 2007 thì tổng tài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần lại chiếm hơn 20%tổng tài sản của cả hệ thống, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2004 Hoạt động huy độngvốn cũng đạt được những kết quả tốt, đạt trên 21% huy động của toàn hệ thống và tănggấp 2,64 lần so với năm 2004 Có thể nói giai đoạn 2004 – 2007 là giai đoạn mà khốingân hàng thương mại cổ phần phát triển nhanh chóng, có 9/12 ngân hàng có tốc độtăng tài sản bình quân xấp xỉ 50%/năm và giá trị tổng tài sản của 12 ngân hàng này vớibình quân chung của toàn khối lên tới 57,5%/ năm, cao gấp 2,6 lần tốc độ tăng của 4ngân hàng thương mại nhà nước, gấp 2,5 lần tốc độ tăng chung của toàn ngành ngânhàng Việt Nam và khoảng 5 – 6 lần tốc độ tăng chung của thế giới Để đạt được kếtquả huy động cao như vậy là do ngân hàng thương mại nhận biết được phần lớn vốnhuy động được là đến từ khu vực dân cư nên các ngân hàng này đã không ngừng đẩymạnh cạnh tranh nhau về lãi suất song song với rất nhiều các hình thức khuyến mại…
Tỷ lệ tổng tài sản của khối này so với tổng số của 16 ngân hàng tăng nhanh qua cácnăm (năm 2004 chiếm 14,5%, năm 2005 chiếm 16,6% và năm 2006 chiếm 21,4%)
Đứng đầu về quy mô trong khối ngân hàng thương mại cổ phần trong giaiđoạn từ 2004 - 2007 vẫn là các ngân hàng ACB, Sacombank, Eximbank, MHB vàTechcombank 100% ngân hàng thương mại cổ phần đã tăng vốn điều lệ lên gấp hơn 2lần trong năm 2006 và hiện nay, Sacombank đang là ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhấtkhi tăng vốn từ 2.340 tỷ đồng lên gần 4.450 tỷ đồng, mở đầu cho việc tăng vốn vàocuối năm 2007 của hàng loạt các ngân hàng khác
Như vậy, chúng ta có thể thấy được hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gianqua không ngừng gia tăng về quy mô, mạng lưới hoạt động Bên cạnh đó, hệ thốngngân hàng cũng đã huy động và cung cấp được một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế,chiếm gần 50% vốn đầu tư toàn xã hội Và chúng ta cũng không thể nào phủ nhậnđược những đóng góp của hệ thống ngân hàng đối với sự tăng trưởng, phát triển và ổnđịnh của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Trang 11 Khó khăn
Bên cạnh những thành tựu mà ngành ngân hàng đã đạt được trong thời gianqua, thì vẫn còn đọng lại những khó khăn, và hạn chế cần phải được khắc phục để hệthống ngân hàng có thể ngày càng khẳng định được vai trò và chức năng quan trọngcủa mình đối với nền kinh tế
Tuy đã có nhiều cải thiện đối với dịch vụ ngân hàng nhưng hệ thống dịch vụngân hàng trong nước vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được một số nhu cầu cần thiết củakhách hàng, chưa đa dạng hóa được nhiều sản phẩm dịch vụ thêm vào đó là thủ tụcvẫn còn rườm rà, và phức tạp
Trong khi đó, tình hình nợ xấu ở các ngân hàng tuy là có xu hướng giảmnhưng mà lại chưa chắc chắn Số liệu thống kê về tình hình hoạt động cũng như là tìnhtrạng nợ xấu của các ngân hàng lại không được công khai một cách minh bạch cho nênkhó có thể nắm bắt được chính xác được hoạt động của các ngân hàng có thật sự tốthay không
Những năm vừa qua, chúng ta có thể thấy mặt bằng lãi suất trong nước liêntục thay đổi Điều này sẽ gây nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, nhất là cácdoanh nghiệp, các công ty có mối quan hệ vay vốn với ngân hàng Bên cạnh đó, tỷtrọng tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm vẫn chiếm 1 tỷ lệ khá thấp ở các ngân hàng thươngmại trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn lại rất nhiều Tính chung cả nội tệ vàngoại tệ thì số vốn huy động ngắn hạn chuyện cho vay trung và dài hạn chiếm tớikhoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn Đây là một tỷ lệ khá cao và nó tiềm ẩnnhiều rủi ro lớn có thể gây ra rủi ro thanh khoản cho cả hệ thống ngân hàng
Phần lớn các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đều thấp nên tính thanhkhoản của các ngân hàng vẫn còn thấp và chưa bền vững Trong khi 75% thị trườnghuy động vốn thuộc về hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước, thì các ngân hàngthương mại cổ phần, quỹ tín dụng lại có quy mô huy động vốn khá nhỏ, điều này làmgiảm sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần và quỹ tín dụng Do đó,các ngân hàng cần phải thay đổi và mở rộng phương thức kinh doanh, nâng cao hơnnữa năng lực thẩm định các dự án… nhằm tạo nên sự khác biệt và nâng cao khả năngcạnh tranh của mình trong bối cảnh hiện nay đặc biệt là sau khi nước ta đã chính thứctrở thành 1 thành viên của WTO, lúc này sức ép cạnh tranh sẽ lại còn lớn hơn nữa
2.1.3 Tình hình hoạt động và cơ chế tín dụng của ngân hàng Việt Nam thời gian qua:
2.1.3.1 Tình hình hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng.
Nhìn vào cơ cấu huy động vốn của 4 ngân hàng thương mại dưới đây có thểthấy tín dụng chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tàisản và nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng
Trang 12Hình 2.06: Cơ cấu huy động vốn của 4 NHTM năm 2008
Techcombank Sacom bank Eximbank Đông Á
CƠ CẤU HUY ĐỘNG VỐN NĂM 2008
Gửi của các TCTD khác Tiền gửi của khách hàng Khác
Vốn chủ sở hữu
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2008 chưa kiểm toán)
Tín dụng không chỉ là phương thức huy động vốn mà còn là hoạt động manglại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng Việt Nam Một ngân hàng nếu có hoạtđộng tín dụng mạnh và bền vững thì ngân hàng đó sẽ đạt được lợi nhuận cao và tạonhiều khả năng để phát triển Trong thời gian qua, nền kinh tế liên tục tăng trưởng kéotheo hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng tăng một cách nhanhchóng, nhất là sau khi môi trường pháp lý ngày càng được hoàn thiện, nền kinh tế đangdần đi vào ổn định…
Hình 2.07: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam 2000-2008.
ra của cải vật chất cho xã hội, mà chủ yếu đổ vào thị trường chứng khoán và bất độngsản, gây ra cơn sốt ảo của chứng khoán và tình trạng bong bóng BĐS trong năm 2007.Đến thời điểm cuối năm 2007 đầu năm 2008 thị trường chứng khoán sụt giảm nghiêmtrọng đúng lúc đó trước tình hình lạm phát tăng cao nhà nước đã tiến hành chính sách
Trang 13thắt chặt tiền tệ (năm 2008, hạn mức tín dụng được đưa ra là tăng trưởng dư nợ chovay không quá 30% so với cuối năm 2007, chỉ bằng gần 1/2 so với mức tăng khoảng
55% của năm 2007), kết hợp với sự sụt giảm của thị trường bất động sản từ tháng
4/2008 các ngân hàng thực hiện thắt chặt tín dụng, tăng lãi suất làm cho tăng trưởngtín dụng năm 2008 chỉ ở mức 21-22%/năm
Đến thời điểm năm 2009 nhiều khoản vốn huy động về trước đó (cuối năm
2007, đầu năm 2008) với chi phí cao vẫn tồn đọng và phải cho vay ra với lãi suất thấp.Đồng thời với sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, bất động sản và hoạt động khókhăn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì năm 2009 được đánh giá là tăngtrưởng tín dụng sẽ không cao, cho dù chủ trương hỗ trợ 4%/năm lãi suất cho các doanh
nghiệp đã được triển khai Dự báo tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ở mức 15% cho năm 2009.
2.1.3.2 Thực trạng cơ chế tín dụng của các ngân hàng Việt Nam.
Cơ chế cho vay ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, việc cải tiến các thủ tục
đã thông nhưng chưa thật sự thoáng với những đơn vị đang rất cần vốn kinh doanh,sản xuất:
- Bất bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân và nhà nước, quốc doanh thì tínchấp còn dân doanh phải thế chấp mà vẫn chưa chắc đã được vay
- Cơ chế tồn tại quá nhiều thủ tục giấy tờ Cụ thể, khi có nhu cầu, một doanhnghiệp phải có đơn đề nghị vay vốn, giấy cam kết sử dụng vốn đúng mục đích, hóađơn giao nhận hàng và giấy nhận nợ
- Vấn đề định giá tài sản thế chấp cũng gây nhiều tranh cãi bởi khung giá ngânhàng đặt ra quá thấp so với thực tế Phía ngành ngân hàng thì rất lúng túng bởi thịtrường bất động sản lên xuống thất thường chính vì vậy mà nhiều ngân hàng đã nắmgiữ sổ đỏ, nếu thế chấp bằng tài sản khác, thì doanh nghiệp phải nộp giấy chứng nhận
sở hữu có công chứng, việc này khó thực hiện và rất phi lý cho doanh nghiệp
- Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng còn yếu về chuyên môn, thiếu kiến thức kinh tế
và thiếu hiểu biết để thẩm định chính xác các dự án xin vay vốn.a
Trong năm 2009 nhà nước đã ban hành một số biện pháp tín dụng cho phía ngân hàng:
- Mở rộng tín dụng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, ápdụng lãi suất hợp lý, xử lý các vướng mắc về trả nợ vay và tiếp cận tín dụng ngân hàngcủa tổ chức, cá nhân
- Tiếp tục đổi mới chính sách và mở rộng tín dụng đối với khu vực nôngnghiệp, nông thôn; tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Trang 14- Các đầu mối sẽ tiếp tục đề xuất và tổ chức thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất vàhuy động nguồn vốn cho các dự án kích cầu đầu tư Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạocác ngân hàng thương mại cân đối vốn kinh doanh để bố trí vốn giải ngân cho các hợpđồng tín dụng đã ký kết cho các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, các dự án đầu tư theochủ trương kích cầu đầu tư, cũng như mua trái phiếu Chính phủ với mục đích đầu tưcho các dự án kích cầu.
Tuy nhiên, kế hoạch phát triển cho năm 2009 phải được xây dựng trên cơ sở
dự báo khó khăn đối với hoạt động của ngành còn tồn tại, do độ trễ của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu
=> Nhìn lại hoạt động NH cũng như cơ chế chính sách liên quan, có thể xác định 4 nguyên nhân chính dẫn tới tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại.
- Thứ nhất: Căng thẳng vốn khả dụng và thanh khoản Từ đầu năm 2008, hoạt
động của các ngân hàng thương mại bắt đầu xuất hiện hiện tượng khan hiếm tiềnVND Hiện tượng này trở thành vấn đề lớn từ tháng 2/2008, khi nhiều ngân hàng đồngloạt hạn chế (thậm chí ngừng hẳn có thời hạn) cho vay ra do khó khăn thanh khoản vàcăng thẳng vốn khả dụng
Khó khăn này kéo dài đến giữa tháng 7/2008 Một số ngân hàng thương mạilớn bắt đầu thực hiện giảm lãi suất cho vay, tăng cường giải ngân cho những nhóm đốitượng nhất định, đặc biệt là theo hướng khuyến khích các ngành hàng sản xuất, xuấtkhẩu, nông nghiệp và nông thôn… Tín hiệu này có thể sẽ nâng tốc độ tăng trưởng tíndụng thời gian tới tăng nhẹ trở lại nhưng không cao
- Thứ hai: Rào cản lãi suất cao Từ tháng 4/2008, lãi suất huy động của các
ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua nóng sốt nhất trong lịch sử Lãi suất cho vay đầu
ra được điều chỉnh tăng theo cân đối Nhưng mức lãi suất 24% - 25% đối với VND trởthành một thách thức lớn đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vay vốn,cũng như hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân Cuối năm 2008 lãi suấtcho vay đã thực hiện theo cơ chế mới ở mức tối đa 21%/năm vẫn là một chi phí lớn.Lãi suất cao như vậy khiến nhiều nhà đầu tư cân nhắc và chuyển quyết định vay vốn từtrung và dài hạn sang ngắn hạn Mặt khác, để đảm bảo thanh khoản cũng như giảm bớt
độ nóng của tín dụng, ngân hàng cũng hạn chế cho vay trung và dài hạn
Từ đây có thể giải thích cho cơ cấu của tăng trưởng tín dụng những tháng đầunăm 2008: dư nợ ngắn hạn tăng cao, còn tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn giảm mạnh
- Thứ ba: Hạn chế giải ngân những “điểm nóng” Đó là khó khăn từ thị trườngchứng khoán và bất động sản Hai thị trường này bước vào kỳ sụt giảm mạnh và thanhkhoản khó khăn từ đầu năm, dẫn tới sự thận trọng và hạn chế cho vay của các ngânhàng thương mại
Trang 15Trong năm 2007, đây là hai lĩnh vực trọng điểm giải ngân của nhiều nhà băng.
Tỷ trọng cho vay đối với đầu tư chứng khoán phổ biến từ 10% – 15% tổng dư nợ, cábiệt có trường hợp lên tới trên 40%; với lĩnh vực bất động sản bình quân khoảng 15%.Thì đến quý 3/2008, tỷ trọng cho vay đầu tư chứng khoán ở nhiều ngân hàng chỉkhoảng từ 1 – 3%; với bất động sản khoảng 10%, một số thành viên chỉ còn quanh 3%
- Thứ tư: Hạn mức 30% Nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà
nước “chốt” mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức 30% Theo đó, các ngânhàng thương mại không còn khả năng đẩy tín dụng tăng trưởng nóng như trong năm
2007 (lên tới 51,39%)
2.2 Thực trạng về mức độ nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay:
2.2.1 Mức độ dư nợ cho vay trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam:
Cho đến thời điểm này, dưới sự lãnh đạo, điều hành quyết liệt của Đảng vàchính phủ, sự cố gắng của các cấp, ngành, các tầng lớp nhân dân và doanh nghiệp, nềnkinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng và phát triển khá ổn định; lạm phát đượckiềm chế, lãi suất tín dụng giảm nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệptiếp cận các nguồn vốn vay
Theo dữ liệu Trung tâm Thông tin Tín dụng, đến cuối tháng 12/2008, dư nợcho vay VND cả nước là 933.402.389 triệu đồng, dư nợ cho vay USD là15.245.428.998 USD
2.2.1.1Dư nợ cho vay VND
a Phân theo tổ chức tín dụng
Bảng 2.03: Dư nợ cho vay VND theo khối TCDN (tr.đồng)
Số liệu đến cuối T02/09 Số liệu đến cuối T06/08 Tăng/Giảm Tỷ lệ tăng/ giảm
Trang 16Dư nợ cho vay VND theo khối TCTD (triệu đồng)
509,902,821 362,068,690
19,073,631 33,952,225 8,405,022
458,617,183 322,356,660
11,847,251 22,410,935 6,462,169
- 100,000,00
0
200,000,00 0
300,000,00 0
400,000,00 0
500,000,00 0
600,000,00 0
b Phân theo vùng kinh tế:
Hình 2.09: Dư nợ cho vay VND theo vùng kinh tế (triệu đồng)
Dư nợ cho vay VND theo cùng kinh tế (tr.đ)
50,000,000
Đông Bắc
Tây Bắc ĐB
Sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Số liệu đến cuối T12/08 Số liệu đến cuối T06/08
(Nguồn: CIC)
Trên địa bàn Hà Nội, tổng số vốn huy động của hệ thống NH cho đến cuối năm
2008 đạt trên 428.000 tỉ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2007 Tổng dư nợ tín dụngđối với nền kinh tế của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn cũng tăng 22% sovới cuối năm 2007, đạt gần 248.700 tỉ đồng
Trang 17Bảng 2.04: Dư nợ cho vay VND theo vùng kinh tế (triệu đồng)
(Nguồn: Tổng hợp từ CIC)
Số liệu đến cuối T12/08
Số liệu đến cuối
Tỷ lệ tăng/ giảm
Trung 63,543,582 7.39% 59,698,564 7.26% 3,845,018 6.44%Tây Nguyên
Theo số liệu mới nhất của CIC, thì sau khi quyết định 131 về hỗ trợ lãi suấtđược Thủ tướng ký ban hành và có hiệu lực từ ngày 23/1 thì dư nợ cho vay VND tăngđáng kể Trong chương trình kích cầu bằng lãi suất này, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làđối tượng được quan tâm nhiều nhất Chính phủ kỳ vọng hỗ trợ giảm lãi suất sẽ giúpgiảm giá thành sản phẩm hàng hóa, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo công ănviệc làm trong điều kiện nền kinh tế chịu tác động của khoảng hoảng tài chính và suythoái trên thế giới
2.2.1.2 Dư nợ cho vay USD
a Phân theo tổ chức tín dụng
Hình 2.10: Dư nợ cho vay theo khối TCTD đến cuối T12/2008
Trang 18Dư nợ cho vay USD the o khối TCDN đế n cuối T12/2008
NH TM Cổ phần 5.120.413.410 USD TCTD Phi Ngân hàng 254.398.706 USD
NH Nước ngoài 4.604.712.820 USD
NH Liên doanh 419.248.368 USD
(Nguồn: CIC)
B ng 2.05: D n cho vay USD theo kh i TCTDảng 2.05: Dư nợ cho vay USD theo khối TCTD ư nợ cho vay USD theo khối TCTD ợ cho vay USD theo khối TCTD ối TCTD
Số liệu đến cuối T12/08 Số liệu đến cuối T06/08 Tăng/Giảm
Tỷ lệ tăng/ giảm
Trang 19Hình 2.11: Dư nợ cho vay theo vùng kinh tế đến cuối T12/2008
Du no cho vay USD theo vung kinh te den cuoi T12/08
ĐB Sông Hồng Bắc Trung Bộ Duyên hải miền Trung Tây Nguyên
(Nguồn: CIC)
B ng 2.06: D n cho vay USD theo vùng kinh t (tri u đ ng)ảng 2.05: Dư nợ cho vay USD theo khối TCTD ư nợ cho vay USD theo khối TCTD ợ cho vay USD theo khối TCTD ế(triệu đồng) ệu đồng) ồng)
Số liệu đến cuối T12/08 Số liệu đến cuối T06/08 Tăng/Giảm
Tỷ lệ tăng/giảm
ĐBSCL
314,787,
779 2.06% 404,093,574 3.00% -89,305,795 -22.10%Đông Nam Bộ
7,293,315,
149 47.83% 7,346,784,412 49.00% -53,469,263 -0.73%Đông Bắc
249,349,
897 1.63% 188,788,724 1.00% 60,561,173 32.08%Tây Bắc
3,409,
945 0.02% 4,900,854 0.03% -1,490,909 -30.42%
ĐB Sông
Hồng 6,215,575,516 40.77% 6,110,441,507 40.00% 105,134,009 1.72%Bắc Trung Bộ 305,543,125 2.00% 314,112,685 2.00% -8,569,560 -2.73%Duyên hải
miền Trung
758,827,
182 4.97% 829,773,750 5.00% -70,946,568 -8.55%Tây Nguyên 104,620,405 0.68% 46,875,888 0.30% 57,744,517 123.19%
(Nguồn: Tổng hợp từ CIC)
2.2.2 Mức độ nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng:
Theo công văn số 7129/NHNN-TD ngày 18/8/2006 của Ngân hàng Nhà nước,các khoản nợ xấu mà ngân hàng thương mại nhà nước được bán cho DATC gồm các
Trang 20khoản nợ quá hạn được phân loại vào nhóm 3, 4, 5 quy định tại quyết định số493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước; các khoản nợ thuộc đối tượng được
xử lý theo quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các khoản nợ đãđược ngân hàng xử lý bằng dự phòng rủi ro hoặc các nguồn khác, hiện đang hạch toántheo dõi trên tài khoản ngoại bảng
Nhìn vào diễn biến nợ quá hạn qua các năm trong bảng số liệu ta nhận thấy các ngân hàng thương mại quốc doanh luôn đứng đầu bảng, chiếm tỷ lệ nợ quá hạn cao nhất trong toàn bộ hệ thống NHTM
Bảng 2.07: Nợ quá hạn của các ngân hàng từ năm 1999-2002(Đơn vị tính: Tỷ
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước TP.HCM)
Kế đến, là tỷ lệ nợ quá hạn trên dư nợ của các NHTMCP, năm 2002 lên đến 29,5%
Theo Ngân hàng Nhà nước, nếu nợ xấu năm 2002 vượt quá 20.000 tỉ đồng (chiếm 7,2% tổng dư nợ), thì sang năm 2004 chỉ còn khoảng 13.000 tỉ đồng Tuy nhiên, từ năm 2005 trở lại đây, số lượng nợ xấu tuyệt đối lại tăng, năm 2005 khoảng 17.500 tỉ đồng, nhưng tỷ lệ giảm xuống, chỉ còn 3,18% (trên 7% đối với ngân hàng quốc doanh) do tổng dư nợ tăng cao
Hình 2.12: Nợ nhóm 2 và nợ không đủ tiêu chuẩn cần cảnh báo theo khối các
TCTD (Số liệu T01/2009)
Trang 21Nợ nhóm 2 và nợ không đủ tiêu chuẩn cần cảnh báo theo khối các
TCTD (Số liệu T01/2009)
NN nước ngoài
934 tỷ VND 1% NH liên doanh 748 tỷ VND
1%
NH TMNH 73.000 tỷ VND 70%
TCTD phi NH 3.601 tỷ VND 3%
NH TMCP 25.618 tỷ VND 25%
(Nguồn: CIC)
Trong những tháng vừa qua, các NH tập trung chủ yếu vào công tác thu hồi
nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ, phân loại nợ để trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quyđịnh Một số NHTM có dư nợ cho vay BĐS tăng do phát sinh các khoản vay mới chủyếu áp dụng đối với các khách hàng cũ để giải ngân vốn theo tiến độ dự án, bổ sungvốn lưu động dựa trên hạn mức đã ký kết hoặc các khoản vay ngắn hạn mới có cầm cốbằng sổ tiết kiệm của cá nhân hoặc hợp đồng tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp
Hình 2.13: Diễn biến các nhóm nợ cần cảnh báo toàn hệ thống
Diễn biến các nhóm nợ cần cảnh báo toàn hệ thống
0 20000
Trang 22khó khăn Các khoản nợ xấu này do nhiều nguyên nhân, trong đó phần lớn là nợ củacác doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả và từ lĩnh vực bất động sản Một con số Ngânhàng Nhà nước đưa ra hồi cuối tháng 7 cho biết, dựa vào khả năng trả nợ đúng hạn củacác doanh nghiệp hiện đang có quan hệ tín dụng với các ngân hàng thươngmại, 23% doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả; 73,2% hoạt động trungbình và 3,8% doanh nghiệp gặp khó khăn, trong đó có 1,42% doanh nghiệp không cókhả năng trả nợ Cuối năm 2007, đầu 2008 là thời điểm bùng nổ của thị trường bấtđộng sản Một lượng lớn vốn của ngân hàng đã đổ vào lĩnh vực này Đến thời điểmhiện tại, bất động sản đã giảm 30 - 40% và thị trường đóng băng nên doanh nghiệp khótrả nợ vay ngân hàng Cùng với làn sóng đầu cơ BĐS, hàng loạt hợp đồng vay vốnngân hàng, thế chấp BĐS được thiết lập Thông thường, các hợp đồng vay vốn ngắnhạn có thời hạn khoảng 1 năm Như vậy, cuối năm 2008 là thời điểm hàng loạt hợpđồng đáo hạn Tuy nhiên, gần cả năm nay thị trường BĐS rơi vào tình trạng đóng băngkhiến các nhà đầu tư BĐS khó có cơ hội giải chấp hợp đồng vay vốn
Hiện nay, ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất cũng vào khoảng 4,5% theochuẩn kế toán Việt Nam và ngân hàng có nợ xấu thấp nhất là 0,18% cũng theo chuẩn
kế toán này Những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thường rơi vào những ngân hàngthương mại quốc doanh Trong khối ngân hàng này cũng có ngân hàng đã thực hiệngần với chuẩn mực quốc tế nhưng cũng có những ngân hàng chưa thực hiện theochuẩn quốc tế Do đó những ngân hàng đã áp dụng chuẩn kế toán quốc tế thường có tỷ
lệ nợ xấu tương đối cao
Theo NHNN, trong số nợ xấu thì số nợ xấu nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)chiếm chưa đầy một nửa so với số tiền dự phòng của các tổ chức tín dụng Do vậy, cóthể còn khó khăn nhưng hoạt động tín dụng vẫn đảm bảo an toàn hoạt động, tín dụngvẫn nằm trong khả năng kiểm soát Số nợ xấu này sẽ được xử lý bằng khoản dự phòngrủi ro do các tổ chức tín dụng đã trích lập Một điều đáng quan tâm nữa là, nợ xấu chỉtập trung ở một số ngân hàng cho vay kinh doanh bất động sản, hoặc cho vay dài hạnquá nhiều Những nợ xấu này nếu không xử lý được có thể gây nguy hiểm cho toàn hệthống Tuy nhiên, nợ xấu vẫn nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước mặc
dù tình hình nợ xấu của các ngân hàng trong năm nay và năm sau sẽ tiếp tục tăng
Trang 232.3 Phân tích nguyên nhân chính làm gia tăng nợ xấu trong hệ
thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Hình 2.14: Nguyên nhân làm gia tăng nợ xấu
Lạm phát tăng Nới lỏng tín dụng.
Sụt giảm của thị trường chứng khoán
Đầu cơ Nhu cầu nhà ở cao
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
BĐS đóng băng
Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả
Chính sách tiền tệ thắt chặt 1
2
5 3
11
13 0
14 0
15 0
Nguyên nhân
khác
16 0
Trang 24Chúng ta sẽ tiến hành phân tích nguyên nhân gia tăng nơ xấu bất động sảnqua 2 giai đọan:
- Nguy cơ nợ xấu từ sự gia tăng tín dụng bất động sản vào thời điểm cuốinăm 2007
- Sự sụt giảm trên thị trường bất động sản và việc nhà nước thắt chặt tíndụng trong năm 2008
2.3.1.1 Nguy cơ nợ xấu từ sự gia tăng tín dụng bất động sản vào thời điểm cuối năm 2007
Cuối năm 2006, thị trường BĐS bắt đầu khởi sắc trở lại sau thời gian ảm đạmnhờ vào quy luật chu kỳ cộng với việc Việt Nam gia nhập WTO Khi gia nhập WTO,FDI đổ vào Việt Nam tăng đột biến khiến cho nhu cầu về khu công nghiệp, nhà ở chongười lao động, khách sạn, căn hộ cao cấp cho các chuyên gia nước ngoài tăng mạnhtheo Với tâm lý cho rằng, khi Việt Nam gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam sẽ phát triểnmạnh, người lao động có công ăn việc làm ổn định, thu nhập khá sẽ làm tăng mạnh nhucầu về nhà ở Điều này khiến cho thị trường BDS Việt Nam phát triển khá nhanh vàmạnh trong năm 2007 Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán cuối năm 2006 và đầunăm 2007 phát triển mạnh mẽ Nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước gặt hái đượcthành công đã chia sẻ nguồn lợi nhuận lớn đầu tư vào BĐS
Đó là lý do tại sao chỉ trong một thời gian ngắn chưa đến 3 tháng (tháng12/2007 đến 2/2008), giá nhà đất đã tăng bình quân 300%, thậm chí có nơi tăng đến500% Một số dự án xây dựng chung cư tung hàng ra bán ngay thời điểm thị trườngđang "khát" Có những dự án, cùng một loại căn hộ, nhưng giữa 2 đợt bán hàng giá đãtăng hơn 1.200 USD/m2, thế nhưng vẫn không đủ hàng đáp ứng nhu cầu thị trường Ta
có thể thấy qua biểu đồ giá trị căn hộ cao cấp tại TP.HCM vào Q1/2008 rất cao gần6.000 US$/m2, và hình khuynh hướng giá văn phòng cho thuê cho thấy thời điểm cuốinăm 2007 đầu 2008 giá văn phòng cho thuê đã tăng rất nhanh
Hình 2.15: Diễn biến giá căn hộ cao cấp tại TP.HCM từ Q1/2007 – Q4/2008
Trang 25(Nguồn: Vietrees) Hình2.16: Khuynh hướng giá văn phòng cho thuêở TP.HCM Q1/2007 –
Q4/2008
(Nguồn: CBRE)
Thị trường BĐS liên tục tăng giá nhiều nhà đầu tư kiếm được những khoản lờikhổng lồ, đầu tư bất động sản trở thành kênh đầu tư hấp dẫn nhất Chính vì thế nhu cầuvay vốn đầu tư bất động sản rất lớn Đúng vào thời điểm này các ngân hàng lại đangđua nhau tăng trưởng tín dụng Sự chuyển động nhanh và mạnh của giá bất động sảnđược xem là một lý do tại sao các ngân hàng quá sốt sắng cho vay bất động sản khi cótrong tay quá nhiều tiền thanh khoản
Dư nợ cho vay đối với các nhu cầu vốn kinh doanh bất động sản đến cuối năm
2007 của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM đạt 34.700 tỷ đồng, tăng 36% sovới năm 2006 Đỉnh điểm của sự bùng nổ tín dụng là tháng 12/2007, khi đó đã có41.000 tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ USD) được bơm vào nền kinh tế từ các ngân hàng
ở Tp.HCM Mặc dù một phần lượng tín dụng này có liên quan đến hoạt động sản xuấtphục vụ Tết và sự gia tăng nhập khẩu ôtô và thép, nhưng sự gia tăng đột biến chưa từng
có này có liên quan trực tiếp đến đầu cơ bất động sản, và phần lớn xuất phát từ cácngân hàng cổ phần.Việc tham gia vào bất động sản, gồm vốn vay cho cả chủ dự án lẫnngười mua, đã đạt tỷ lệ cao đáng lo ngại tại nhiều ngân hàng
Cùng lúc đó, các "bong bóng kinh tế" trong thị trường BĐS đang mang lại rấtnhiều lợi nhuận bất hợp lý cho các nhà đầu tư Trên thị trường, giá nhà đất ở nhiều khuvực thuộc 2 thành phố lớn đã đạt ngưỡng 1 tỷ đồng/m2 Nhiều tờ báo đã nói là giá nhàđất ở Việt Nam đạt đỉnh trên thế giới Bên cạnh đó, phải nói tới tình trạng số ngườiđăng ký mua nhà luôn vượt từ 7 tới 10 lần số lượng căn hộ bán ra của dự án Chỉ tính
từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2007, giá nhà đất ở Việt Nam và đặc biệt là các đô thị
Trang 26lớn đã tăng vọt Giá đất thuộc các dự án "bình dân", nơi kém thuận lợi trước đó chỉkhoảng 2 - 3 triệu đồng/m2, sau khi tăng giá cũng đạt mức 8 - 10 triệu đồng/m2 Giákhách sạn cao cấp trung bình tăng gấp đôi so với năm 2006, còn giá văn phòng chothuê đã trở nên ngày một đắt, xếp thứ 13 trên thế giới.
Trước nhu cầu về nhà đất tăng, nhiều nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư trong nước
và nước ngoài nhận định thị trường BĐS Việt Nam sẽ phát triển rất mạnh mẽ FDI đổvào lĩnh vực BĐS đã tăng chóng mặt Theo thống kê, năm 2007 vốn FDI đăng ký đầu
tư vào lĩnh vực BĐS đạt gần 8,5 tỷ USD, tương đương khoảng 40% so với tổng vốnFDI đăng ký Năm 2008, con số này ước đạt khoảng 28 tỷ USD, tức tăng hơn 3 lần sovới năm 2007 Phần lớn, FDI được dồn vào kinh doanh văn phòng, căn hộ cao cấp vàkhách sạn du lịch
Ngân hàng tiến hành giải ngân đúng vào lúc giá bất động sản đạt đỉnh điểm(tháng 1/2008)
Hình2.17: Dư nợ cho vay BĐS của các ngân hàng tại TP.HCM giai đoạn
(Nguồn: báo cáo NHNN – Chi nhánh TP.HCM)
Ta thấy từ năm 2004 – 2006 dư nợ cho vay BĐS ở TP.HCM tương đối ổnđịnh ở mức 25.000 tỷ đồng, nhưng đến năm 2007 thì tăng cao lên đến gần 35.000
Điều này gián tiếp cho thấy khả năng rất nhiều nhà đầu cơ đã vay tiền để muabất động sản đúng vào lúc thị trường lên cơn sốt cao độ.Và ngoài vay tiền mua ở thờiđiểm giá cao, giá bất động sản giảm, thì việc điều chỉnh lãi suất cho vay cũng là ngòidẫn của một “làn sóng” gia tăng nợ xấu không mong đợi có thể xẩy ra Chính vì thế
mà các phương tiện truyền thông "khản cổ" thông tin về các cảnh báo, dự báo, đánh giá
Trang 27của các chuyên gia về sự rủi ro của việc đầu tư vào nhà đất theo kiểu phong trào, nhưngvẫn không thể ngăn được làn sóng đầu cơ ồ ạt.
Như vậy, chính sự nới lỏng tín dụng từ phía ngân hàng trong năm 2007 đã có
tác động gián tiếp đến sự biến động của thị trường bất động sản tạo ra những nguy cơtiềm ẩn làm gia tăng tỷ lệ nợ xấu
2.3.1.2 Tỷ lệ nợ xấu gia tăng từ sự sụt giảm trên thị trường bất động sản
và việc nhà nước thắt chặt tín dụng năm 2008.
Đến cuối năm 2007, đầu 2008, trước tình hình lạm phát tăng cao Chính phủ vàNgân hàng nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách điều chỉnh lãi suất, hạn chế cho vayBĐS Đây như là một ngòi kim chọc vào bong bóng bất động sản đang rất nóng,khiến thị trường này dần mất tính thanh khoản Nhìn vào biểu đồ % tăng giá của thịtrường căn hộ cao cấp chuyển nhượng tại TP.HCM có thể thấy tăng trưởng giá căn hộcao cấp bắt đầu giảm vào đầu năm 2008
Hình 2.18: Thị trường căn hộ cao cấp chuyển nhượng tại Tp.HCM: % tăng giá so với
thời điểm trước đó