Tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản như thế này, “chất lượng tín dụng là thuật ngữ dùng để chỉ khoản vay đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: ngân hàng cho vay đúng đối tượng, khách hàng sử
Trang 1NỢ XẤU VÀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CO PHẰN Á CHÂU ACB
Họ và tên sinh viên : TRỊNH THỊ NGA
Trang 3Sinh viên lớp: K15 NHTMA
Khoa: Ngân hàng
Trường: Học Viện Ngân Hàng
Khóa: 2012 - 2016
Em xin cam đoan Khóa luận “Nợ xấu và quản trị nợ xấu tại NHTMCP Á
Châu ACB” là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, tài liệu tham khảo
được trích dẫn rõ ràng, có nguồn gốc trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Trịnh Thị Nga
Trang 4Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng việt Nguyên nghĩa tiếng
TPĐB Trái phiếu đặc biệt
BCTC Báo cáo tài chính
FundVAMC Công ty quản lý tài sản Việt Nam Vietnam Asset
Management CompanyACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Asia Commercial Bank
với một môi trường học tập năng động và sự chỉ dạy nhiệt tình của các thầy cô, em
đã học hỏi và trang bị cho mình nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết để chuẩn bịcho con đường lập nghiệp phía trước Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Bangiám đốc Học viện, các thầy, cô giáo; đặc biệt là các thầy cô bộ môn khoa Ngânhàng đã truyền thụ cho em nhiều kiến thức quý báu trong quá trình em học tập tạitrường
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới Ths Đinh Đức Thịnh - giáo viên trựctiếp hướng dẫn em khóa luận Mặc dù rất bận rộn với nhiều công việc nhưng thầyvẫn cố gắng dành thời gian, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ chỉ bảo em trong suốtquá trình thực hiện khóa luận Nhờ đó, em đã có thể thực hiện việc nghiên cứu vàhoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5-EIB Ngân hàng thương mại cổ phần Xuât
nhập khẩu Việt Nam Vietnam Export ImportCommercial Joint Stock
Bank
^MB Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội Military Commercial
Joint Stock BankSTB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn
Thương tín Saigon Thuong TinCommercial Joint Stock
Trang 6- Hà Nội Commercial Stock
BankTCB Ngân hàng thươn mại cổ phần kỹ thương
Việt Nam
Technological andCommercial Joint StockBank
VCB Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Joint Stock commercial
Bank for Foreign Trade
of Vietnam
CTG Ngân hàng công thương Việt Nam Vietnam Joint Stock
Commercial Bank forIndustry and Trade
Trang 8Bảng 1.2: Tình hình nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ 2010 đến 2015 24
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tài chính của ACB giai đoạn 2012-2015 31
Bảng 2.2: Tỷ lệ, quy mô và tốc độ tăng trưởng nợ xấu của ACB giai đoạn 2012-2015 37
Bảng 2.3: Nợ xấu theo nhóm nợ tại ACB giai đoạn 2013-2015 40
Bảng 2.4: Tỷ lệ Nợ khó đòi/Tổng dư nợ-Nợ khó đòi/Nợ xấu của ACB giai đoạn 2012-2015 41
Bảng 2.5: Tỷ lệ Quỹ DPRR/Nợ xấu của ACB giai đoạn 2012-2015 42
Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ xấu giữa ACB và trung bình ngành giai đoạn 2013-2015 44
Bảng 2.7: Tỷ lệ và quy mô nợ xấu của 9 NHNY giai đoạn 2012-2015 45
Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ khó đòi/Tổng dư nợ và Nợ khó đòi/Nợ xấu của 9 NHNY giai đoạn 2013-2015 49
Bảng 2.9: Tỷ lệ Quỹ dự phòng rủi ro/Nợ xấu của 9 NHNY giai đoạn 2013-2015 50
Bảng 2.10: Quy trình tín dụng hiện nay tại ACB 56
Bảng 2.11: Kết quả nợ xấu đã được xử lý tại ACB giai đoạn 2013-2015 62
Bảng 2.12: Trích lập và sử dụng DPRR của ACB giai đoạn 201-2015 63
Bảng 2.13: Kết quả xử lý nợ xấu của ACBA giai đoạn 2013-2015 64
Bảng 2.14: Tỷ lệ nợ khó đòi/nợ xấu tại ACB giai đoạn 2012-2015 65
Trang 9Biểu đồ 2.1: Tổng vốn huy động của ACB giai đoạn 2012-2015 32
Biểu đồ2.2: Dư nợ tín dụng của ACB giai đoạn 2012-2015 33
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn của ACB giai đoạn 2013-2015 34
Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận trước thuế của ACB giai đoạn 2012-2015 35
Biểu đồ 2.5: Chi phí và tỷ lệ chi phí/thu nhập của ACB giai đoạn 2013-2015 35
Biểu đồ 2.6: Giá trị tổng tài sản của ACB giai đoạn 2012-2015 36
Biểu đồ 2.7: Quy mô và tỷ lệ nợ xấu của ACB giai đoạn 2012-2015 38
Biểu đồ 2.8: Tốc độ tăng trưởng nợ xấu và tín dụng của ACB giai đoạn 2012-201539 Biểu đồ 2.9: Cơ cấu nợ xấu theo nhóm nợ tại ACB theo giai đoạn 2013-2015 41
Biểu đồ 2.10:Tỷ lệ nợ xấu của ACB và trung bình ngành giai đoạn 2012-2015 44
Biểu đồ 2.11: Tổng nợ xấu của 9 NHNY giai đoạn 2013-2015 46
Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ nợ xấu của 9 NHNY giai đoạn 2013-2015 47
Biểu đồ 2.13: Sự thay đổi trong cơ cấu nợ xấu nhóm NHNY giai đoạn 2013-2015 48 Biểu đồ 2.14: Sự thay đổi trong cơ cấu nợ xấu của ACB giai đoạn2013-2015 48
Biểu đồ 2.15: Tỷ lệ và quy mô nợ xấu tại ACB giai đoạn 2012-2015 56
Biểu đồ 2.16: Quy mô, tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn tại ACB giai đoạn 2012-2015 57
Trang 101 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM 3
1.1 Khái quát chung về nợ xấu 3
1.1.1 Khái niệm về nợ xấu và các xác định nợ xấu 3
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 5
1.1.3 Hậu quả của nợ xấu 10
1.2 Khái quát chung về quản trị nợ xấu 13
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Nội dung quản trị nợ xấu tại các NHTM 14
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị nợ xấu 20
1.3 Công tác xử lý nợ xấu của Việt Nam - Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại một số nước và bài học cho ACB 21
1.3.1 Công tác xử lý nợ xấu ở Việt Nam 21
1.3.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại một số nước 24
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho ACB 26
2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TẠI ACB 28
2.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức và hoạt động của ACB 28
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ACB 28
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của ACB 31
2.2 Thực trạng nợ xấu và quản trị nợ xấu tại ACB 37
2.2.1 Thực trạng nợ xấu tại ACB 37
2.2.2 So sánh tình hình nợ xấu tại ACB với các NHNY khác 43
2.2.3 Thực trạng quản trị nợ xấu tại ACB 51
2.3 Đánh giá công tác quản trị nợ xấu tại ACB 60
2.3.1 Những kết quả đạt được 60
2.3.2 Những tồn tại 67
Trang 113.1 Định hướng phát triển của ACB trong thời gian tới 71
3.1.1 Định hướng hoạt động chung 71
3.1.2 Định hướng trong công tác quản lý nợ xấu 72
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản trị nợ xấu tại ACB 73
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả ngăn ngừa nợ xấu 73
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu 75
3.3 Những kiến nghị 78
3.3.1 Đối với Chính phủ 78
3.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 81
3.3.3 Với các Bộ, ngành có liên quan 82
3.3.4 Đối với khách hàng 83
4 KẾT LUẬN 85
5 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính thiết thực của đề tài
Ngân hàng thương mại thuộc loại hình doanh nghiệp dịch vụ, với chức năngchính là hoạt động trung gian tài chính cho mọi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cánhân trong nền kinh tế Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính, đem lạinguồn thu nhập chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạnhiện nay Bản chất của hoạt động tín dụng là hoạt động đầu tư Các Ngân hàngthương mại bỏ vốn trong hiện tại nhằm thu lợi trong tương lai Hoạt động đầu tưbao giờ cũng luôn tiểm ẩn những rủi ro Việc tiếp tục nghiên cứu để phát hiện sớmnhững dấu hiệu rủi ro, xây dựng các kịch bản và phương pháp xử lý đúng đắn, xử lýsớm trước khi các rủi ro trở nên trầm trọng là việc làm cần thiết đối với bộ phậnquản trị rủi ro của tất cả các Ngân hàng thương mại
Trong những năm qua, nhiều Ngân hàng thương mại tập trung chủ yếu vàoviệc phát triển thị phần, coi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là những chỉ tiêu quantrọng trong hoạt động quản lý điều hành Trong khi đó, hàm tăng trưởng tín dụng vàhàm chất lượng tín dụng là hai hàm nghịch biến Tăng tưởng tín dụng quá nóng kéotheo chất lượng tín dụng nhất định sẽ giảm Vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị Ngânhàng là tăng trưởng ở mức độ hợp lý nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng Vìvậy, đòi hỏi việc nghiên cứu thấu đáo môi trường bên trong, bên ngoài; phân tíchnhững thuận lợi và khó khăn; cơ hội và thách thức một cách bài bản giúp cho cácnhà quản trị ngân hàng có những hành động tích cực trong việc hạn chế việc giatăng nợ xấu, có phương pháp xử lý và những quyết định điều hành đúng đắn nhằmbảo toàn tối đa giá trị tài sản của Ngân hàng khi có nợ xấu xảy ra
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại NHTMCP Á Châu, em đã quyết định lựa
chọn đề tài: “Nợ xấu và quản trị nợ xấu tại NHTMCP Á Châu ACB” cho khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là đưa ra các nghiên cứu và giải quyết những vấn đề sau:
- Lý thuyết cơ sở về nợ xấu và quản trị nợ xấu, đưa ra một số kinh nghiệmtrong việc việc xử lý nợ xấu ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút
Trang 13ra bài học kinh nghiệm cho ACB.
- Tìm hiểu thực trạng về nợ xấu và quản trị nợ xấu tại NHTMCP Á Châu;
đánh giá công tác quản trị nợ xấu tại ACB về kết quả đạt được cũng như những hạnchế còn tồn tại Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp cụ thể và thiết thực nhằmnâng cao hiệu quả quản trị nợ xấu tại ACB trong thời gian tới
- Đề xuất một số kiến nghị đối với NHNN, Chính phủ, các Bộ ngành có liên
quan nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản trị nợ xấu tại các NHTM
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề xử lý nợ xấu tại NHTMCP Á Châu.Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2013-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp bao gồm: Khảo nghiệm thực tế,nghiên cứu, thống kê, tổng hợp số liệu Trên cơ sở số liệu thu thập được kết hợp vớiphương pháp lý luận thực tiễn, phân tích, so sánh, phương pháp toán học, tư duylogic và dự báo để đưa ra các phân tích, đánh giá, giải pháp và kiến nghị về vấn đề
“Nợ xấu và quản trị nợ xấu tại ACB”.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu, đưa ra những vấn đề cơ bản về nợ xấu, thực trạng nợ xấu
và quản trị nợ xấu tại ACB
Dựa trên tình hình nợ xấu tại ACB trong thời gian qua, tác giả đánh giánhững kết quả đã đạt được trong công tác quản trị nợ xấu tại ACB, đồng thời đưa ranhững hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân và giải pháp
Cuối cùng, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị với NHNN, Chính phủ,
ngành có liên quan để hoàn thiện các giải pháp quản trị nợ xấu tại các NHTM
6 Ket cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tàiđược kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan về nợ xấu và quản trị nợ xấu tại các NHTM.
Chương II: Thực trạng quản trị nợ xấu tại ngân hàng ACB.
Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả quản trị nợ xấu tại ACB.
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU
TẠI CÁC NHTM
2.1 Khái quát chung về nợ xấu
2.1.1 Khái niệm về nợ xấu và cách xác định nợ xấu
Trước khi bàn về khái niệm thế nào là nợ xấu, chúng ta cùng xem xét định
nghĩa về “chất lượng tín dụng” Tìm lại những giáo trình về nghiệp vụ ngân hàng,
sẽ rất khó để tìm thấy một khái niệm hoàn chỉnh về 4 từ “chất lượng tín dụng” dù
cho nó được sử dụng khá là nhiều và phổ biến Tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản như
thế này, “chất lượng tín dụng là thuật ngữ dùng để chỉ khoản vay đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: ngân hàng cho vay đúng đối tượng, khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và đã phát huy hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; trên cơ sở đó khách hàng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn đối với ngân hàng”.
2.1.1.1 Khái niệm nợ xấu
Thuật ngữ “nợ xấu” (NPL - Non-performing loans hay nợ khó đòi nhưFofack 2005) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, bị nghi ngờ về khả năng trả nợlẫn khả năng thu hồi vốn, thường xảy ra khi người vay nợ tuyên bố phá sản hoặc đãbán dần tài sản Hiện nay, nhằm giúp cho mọi người hiểu rõ về vấn đề này, các tổchức uy tín trên thế giới đã đưa ra những khái niệm của riêng mình về hai từ “nợxấu”
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê - Liên Hợp Quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ ”.
Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh châu Âu: “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng”.
Với riêng hệ thống quy định Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đưa ra lầnđầu dựa trên Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, sau đó được sửa
Trang 15đổi bởi Quyết định 18/2008/QĐ-NHNN, trong đó quy định “Nợ xấu là những khoản
nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn) ” Và mới đây nhất, nhằm giúp cho các ngân hàng giám sát và quản
trị nợ xấu một cách tốt hơn, NHNN Việt Nam đã cho ra đời thông tư NHNN ngày 21/01/2013, thay thế cho Quyết định 493 trước đó với những thay đổilớn và được đánh giá là tiệm cận gần hơn với Basel II trong việc phân loại nợ vàtrích lập DPRR
02/2013/TT-Nhìn chung, tất cả các định nghĩa trên về nợ xấu thì một khoản vay được xácđịnh là nợ xấu chỉ dựa trên hai yếu tố là khả năng trả nợ và thời gian từ lúc khoản
nợ quá hạn đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ mà không xem xét đến việc kháchhàng có sử dụng vốn đúng mục đích hay không, có bảo vệ môi trường hay không?
Điều này cho thấy “nợ xấu” và “chất lượng tín dụng” không hoàn toàn trái nghĩa
nhau Một khoản vay có chất lượng tín dụng kém nhưng chưa chắc đã là nợ xấunhưng một khoản nợ xấu chắc chắn có chất lượng tín dụng kém
5 nhóm
Ngày 21/01/2013, NHNN Việt Nam ban hành thông tư 02/2013/TT-NHNN,trong đó NHNN phân loại nợ thành 5 nhóm theo hai phương pháp: phương phápđịnh lượng và phương pháp định tính Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các ngânhàng đang phân loại nợ dựa trên phương pháp định lượng mà không xem xét đếncác chỉ tiêu định tính bởi lẽ phân loại nợ theo phương pháp này tương đối rõ ràng và
có thể áp dụng thống nhất tại các NHTM khác nhau Chỉ có rất ít ngân hàng thựchiện phân loại theo phương pháp định tính như BIDV, Vietcombank, Agribank dựatrên xếp hạng tín dụng nội bộ của mỗi NHTM được NHNN phê duyệt
Theo quy định, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 Nợ xấuthuộc nhóm 3, 4 và 5 có khả năng thu hồi giảm dần và được ngân hàng trích lập một
tỷ lệ DPRR cho khoản nợ xấu với tỷ lệ tương ứng là 20%, 50% và 100% trên tổng
dư nợ của nhóm đó Việc phân loại nợ và xác định nợ xấu đang ngày càng được coitrọng tại các NHTM Bên cạnh việc xác định nợ xấu, các NHTM còn xây dựng một
số chỉ tiêu phản ánh tình hình nợ xấu của chính ngân hàng mình để có những cáinhìn khách quan và toàn diện về hoạt động tín dụng như: Tổng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu,
tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ, tỷ lệ quỹ dự phòng/tổng nợ xấu
Bảng 1.1 Phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN
Trang 16và lãi bị quá hạn, gốc và lãi đúng thời hạn còn lại hạn
Nợ không cókhả năng thuhồi nợ gốc vàlãi khi đến hạn,
có khả năng tổnthất một phần
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai. _
Nợ có khả năngtổn thất cao
5 Nợ có
khả năng
mất vốn
(Bad)
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trởlên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lạithời hạn trả nợ lần thứ hai nhưng lại quá hạn;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bịquá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ khoanh, chờ xử lý.
Nợ không cònkhả năng thuhồi, mất vốn
Trang 17Để có thể phòng ngừa và xử lý nợ xấu một cách hiệu quả, ngoài việc phânloại và xác định nợ xấu thì một việc làm không thể thiếu và rất quan trọng cần phảilàm đó là tìm hiểu, phân tích, đồng thời đưa ra kết luận chính xác về nguyên nhân,
Trang 18nguồn gốc phát sinh nợ xấu Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhânsong nhìn chung, chúng có thể được sắp xếp vào hai nhóm nguyên nhân cơ bản sau:Nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan
2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân khách quan
Trong nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: nhóm nguyên nhân từ môitrường kinh doanh và nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng
❖ Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
Thứ nhất, từ môi trường pháp lý
Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định và khung pháp lý cơ bảntrong việc hạn chế và giải quyết nợ xấu như phân loại nợ, trích lập DPRR, xử lýTSBĐ, hoạt động mua bán nợ, Điển hình như Quyết định 493 hay mới đây nhất
là Thông tư 02 được cho là tiệm cận gần với Basel II trong việc phân loại nợ vàtrích lập DPRR Tuy nhiên, tại Việt Nam, do sự yếu kém trong quản lý và những
hạn chế trong việc “Định danh khách hàng” đã khiến cho các quy định trên khi đi
vào thực tế trở nên bất cập, không phát huy được hiệu quả như mong đợi; dẫn đếntình trạng nợ xấu không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, trở thành
“cục máu đông” chèn ép, bóp nghẹn nền kinh tế.
Thứ hai, từ yếu tố kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế nói chung hay hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng dù ít haynhiều cũng phải chịu sự tác động và ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế vĩ mô Hoạtđộng của các ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi một nền kinh tếđang tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội lớn, sẽ tácđộng thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái,thậm chí là rơi vào khủng hoảng sẽ làm sản xuất bị đình trệ, đầu tư giảm sút, giảmkhả năng trả nợ của người vay Từ đó tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam đang chịu tác động tiêu cực
từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm cho kinh tế suygiảm, hoạt động kinh doanh bị tê liệt; khả năng trả nợ của các cá nhân và doanhnghiệp giảm sút, là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên các khoản nợ xấu khổnglồ
Trang 19Thứ ba, từ sự thay đổi chính sách của Nhà nước
Do đặc thù hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có liên quan đến rất nhiềuđến các bộ, ngành và lĩnh vực khác nhau nên việc thay đổi về chính trị; điều chỉnhchính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước đều có thể tác động tới kết quả hoạtđộng của các ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng
Thứ tư, từ thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh
Thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, là những biến cố khách quan, bất khả kháng,không thể lường trước được Tuy nhiên, nó lại có tác động trực tiếp đến hoạt độngsản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thực hiện dự án cũng như việchoàn thành nghĩa vụ trả nợ của các doanh nghiệp đối với ngân hàng Trong nhiềutrường hợp, ngân hàng có khả năng mất trắng khoản vay và không thể thu hồi nợ
❖ Nguyên nhân từ phía khách hàng
Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành nợ xấu bởikhách hàng là người được cấp tín dụng, là người trực tiếp sử dụng các khoản vay
Vì vậy, với bất kỳ động thái nào của khách hàng không đúng như cam kết trong hợpđồng tín dụng cũng có thể là nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu
Thứ nhất, rủi ro đạo đức từ phía khách hàng
Rủi ro đạo đức từ phía khách hàng đã trở thành một trong những vấn đề đượccác ngân hàng rất quan tâm Rủi ro này có thể đến từ việc khách hàng sử dụng vốnsai mục đích, làm giả hồ sơ vay vốn, cố tình lừa đảo hay chiếm dụng vốn của ngânhàng, Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do khách hàng làm mọicách để cố gắng chạy theo những tiêu chuẩn, điều kiện tín dụng mà các ngân hàngđặt ra, hoàn thiện hồ sơ tín dụng, đảm bảo đủ điều kiện để được vay vốn ngân hàng.Chính điều này dẫn đến một loạt những hệ lụy xấu xảy ra sau này khi hoạt độngkinh doanh của khách hàng không đạt hiệu quả như mong đợi Và hệ lụy xấu nhất làkhách hàng không đủ khả năng để trả nợ ngân hàng, khoản vay đó không thể thu hồi
và trở thành nợ xấu
Thứ hai, khó khăn về dòng tiền hoặc khả năng thanh toán
Với khách hàng cá nhân: Khi nguồn thu giảm sẽ gây ra khó khăn cho việc trả
nợ ngân hàng Nuyên nhân dẫn đến nguồn thu giảm có thể là do: thất nghiệp, các
Trang 20chi phí phát sinh bất thường, tình hình kinh doanh khó khăn, gặp sự cố bất ngờ (quađời, bệnh tật, tai nạn)
Với khách hàng doanh nghiệp: Xuất phát từ việc kinh doanh, hoạt động quản
lý kém hiệu quả, các chi phí bất thường phát sinh, gặp sự cố bất thường ảnhhưởng đến kế hoạch trả nợ ngân hàng
2.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Nhóm nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính bản thân ngân hàng baogồm:
Một là, nhận thức và trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng về rủi ro tín dụng còn hạn chế
Một thực trạng phổ biến hiện nay tại các ngân hàng Việt Nam là trình độ vànghiệp vụ của các cán bộ tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu tín dụng hiện nay.Nguyên nhân là ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường đại học, các cán bộ tín dụngchỉ được đào tạo về quy trình nghiệp vụ tín dụng, cho vay, giải ngân, nhưng lạikhông được trang bị những kiến thức về các chuyên ngành kinh tế có liên quan chặtchẽ với tín dụng như: xây dựng, nông nghiệp, y tế, giáo dục Điều này dẫn đếnmột bất cập khi các cán bộ tín dụng tiếp xúc với những hồ sơ tín dụng liên quan đếncác chuyên ngành kinh tế đó thì lại thiếu những kiến thức, kinh nghiệm thực tế để
có thể đưa ra những đánh giá đúng đắn về tính hiệu quả của phương án kinh doanh
mà khách hàng lập ra Từ đó, dẫn đến những quyết đính tín dụng sai lầm, làm giảmchất lượng tín dụng và có nguy cơ cao dẫn đến nợ xấu
Bên cạnh đó, nhiều cán bộ tín dụng còn yếu về nghiệp vụ, khả năng phântích các báo cáo tài chính kém, phong cách làm việc dập khuôn, truyền thống, dựanhiều vào kinh nghiệm cá nhân; có những nhận thức sai lầm trong mối quan hệ vàtầm quan trọng giữa rủi ro, kinh doanh và nguồn vốn
Hai là, thiếu giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay
Theo dõi nợ một cách xuyên suốt và triệt để trong cả quá trình vay là mộtviệc vô cùng quan trọng để đảm bảo chất lượng tín dụng của khoản vay Tuy nhiên,nhiều ngân hàng lại có thói quen tập trung quá nhiều vào việc thẩm định trước khivay nhưng lại buông lỏng, không đánh giá một cách toàn diện những rủi ro có thể
Trang 21xảy ra sau khi cho vay Nguyên nhân của vấn đề này một phần là do yếu tố tâm lý
nể nang, ngại gây phiền hà cho khách hàng của một số cán bộ tín dụng; một phần là
do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp không cungcấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
Ngoài ra, quy trình thanh tra giám sát còn chưa thực sự hiệu quả và cònnhiều bất cập làm cho công tác giám sát, quản lý nợ còn nhiều hạn chế
Ba là, vấn đề đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ ngân hàng
Đặc điểm kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm vìvậy đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ ngân hàng không chỉ cần thiết mà cònmang tính bắt buộc và quan trọng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân mà một số cán bộ ngân hàng đã cấu kết với khách hàng để che giấu sựthật, gian lận, cố ý làm trái quy định nhằm chiếm dụng vốn ngân hàng như: làm giả
hồ sơ vay vốn, nâng giá trị tài sản thế chấp, cho vay trái quy định, Đây là mộttrong những nguyên nhân chính làm cho nợ xấu tăng cao, gây thiệt hại lớn cho ngânhàng
Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng còn đặt ra tiêu chuẩn đánh giá năng lực củanhân viên thông qua doanh số cho vay mà thiếu quan tâm đến chất lượng tín dụng
sẽ làm cho các cán bộ tín dụng làm mọi cách, bất chấp rủi ro từ các hợp đồng tíndụng để nâng cao doanh số cho vay, làm gia tăng rủi ro cho các khoản vay và lànguy cơ cao dẫn đến nợ xấu tăng nhanh
Bốn là, tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng
Về cơ bản, sở hữu chéo là một thuộc tính kinh tế khách quan, trong đó cácngân hàng ngoài hoạt động chính là huy động vốn và cho vay còn thực hiện hoạtđộng đầu tư Tình trạng sở hữu chéo lẫn nhau làm cho một số ngân hàng thay vìdùng vốn huy động để cho vay thì lại ủy thác cho các công ty con để đầu tư vào bấtđộng sản, chứng khoán, mua cổ phần; hay việc các công ty không có hoạt động tàichính nhưng lại nắm giữ một lượng lớn cổ phần tại các NHTM Về lâu dài, nếu hìnhthức sở hữu chéo không phù hợp sẽ trở thành nguyên nhân làm gia tăng việc chovay thiếu kiểm soát, khiến các quy định về dự phòng và phân loại trở nên sai lệch;nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng không được đánh giá đúng
Trang 22mức Bên cạnh đó, do tình trạng sở hữu chéo mà các khoản vay không được đánhgiá đầy đủ và chính xác dẫn đến những quyết định tín dụng sai lầm, từ đó tác độnglàm giảm chất lượng tín dụng và hình thành nợ xấu.
Năm là, công nghệ ngân hàng còn yếu kém
Công nghệ ngân hàng được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọngtrong việc hạn chế rủi ro tín dụng và sự bất cân xứng trong thông tin Tuy nhiên,hiện nay, công nghệ chưa được quan tâm đúng mức, còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêucầu cho công tác quản trị hệ thống thông tin trước sự tăng trưởng tín dụng quá nóngcủa các ngân hàng hiện nay Các ngân hàng chưa xây dựng được thước đo lượnghóa rủi ro, xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng còn mang tính chủ quan do thiếuthông tin, khó khăn trong việc “định danh khách hàng”, thiếu cơ sở để ra quyết địnhtín dụng và phân loại nợ một cách chính xác
Tóm lại, những quy định chưa chặt chẽ của pháp luật, những diễn biến bấtlợi của nền kinh tế vĩ mô, các tác động tiêu cực từ phía các doanh nghiệp hay nhữngđiểm yếu kém trong hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng
đã và đang làm nảy sinh nợ xấu tại các TCTD và có chiều hướng ngày càng tăng
2.1.3 Hậu quả của nợ xấu
Nợ xấu giờ đây không còn là câu chuyện riêng của một ngân hàng nào mà đãtrở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Nó không chỉ tác động xấu đến hoạtđộng của ngân hàng mà còn ảnh hưởng sâu rộng tới tình hình kinh doanh của cácdoanh nghiệp và cả nền kinh tế
2.1.3.1 Đối với các NHTM
❖ Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Nợ xấu phát sinh khiến cho một lượng vốn không nhỏ của ngân hàng bị tồnđọng và không có khả năng thu hồi Điều này khiến ngân hàng mất đi cơ hội chovay khác có thể đem lại lợi nhuận cao; tác động trực tiếp làm giảm vòng quay vốn
và doanh số cho vay, hiệu quả sử dụng vốn giảm, kéo theo đó là sự giảm sút của lợinhuận và uy tín trên thị trường
Hoạt động tín dụng là nguồn đem lại phần lớn thu nhập và nguồn vốn chủyếu của ngân hàng là vốn huy động Để có nguồn vốn cho vay, ngân hàng phải trả
Trang 23một lượng chi phí lớn cho nguồn vốn huy động Khi nợ xấu xảy ra, các khoản vaykhông có khả năng thu hồi, tác động làm thu nhập của ngân hàng giảm trong khi đócác ngân hàng vẫn phải đều đặn chi trả chi phí cho việc huy động vốn Bên cạnh đó,bản thân các khoản vay đó còn phát sinh thêm nhiều chi phí khác như: chi phí tríchlập dự phòng cho khoản nợ xấu đó, chi phí quản lý, chi phí đôn đốc thu hồi nợ vànhiều chi phí liên quan Nói tóm lại, nợ xấu tác động trực tiếp làm giảm hiệu quả sửdụng vốn, tăng chi phí, giảm thu nhập từ đó làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng.
❖ Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của ngân
hàng
Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay Nếu các khoảntín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi gốc và lãi của các khoản vay sẽ gặp rất nhiều khókhăn, thậm chí là mất vốn Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ vàđúng hạn đối với các khoản tiền gửi Sự mất cân đối giữa vốn cho vay và vốn huyđộng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanhcủa ngân hàng đã đặt ra trước đó
Bên cạnh đó, nợ xấu tăng sẽ làm tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ giữ ở mức cao, lànguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Tinh trạng này chỉnên diễn ra trong một giới hạn nhất định, song nếu nó vượt qua giới hạn cho phépcủa ngân hàng cộng thêm tâm lý khách hàng rút vốn ồ ạt vì cảm thấy không an toàncho đồng vốn của mình, sẽ gây nên khủng hoảng thanh khoản trầm trọng và có nguy
cơ mất dần khả năng thanh toán Cuối cùng, có thể dẫn đến sự phá sản của ngânhàng
❖ Làm giảm uy tín của ngân hàng
Trong ngành ngân hàng, đặc biệt là giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay, uytín là một yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mộtngân hàng Nếu ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu càng cao đồng nghĩa với chất lượng tíndụng của ngân hàng đó càng thấp Điều này tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng
cả bên cho vay và đi vay, làm khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng Từ đó, tác động làm giảm đáng kể các hoạt động giao dịchvới ngân hàng Chưa kể đến, khi tỷ lệ nợ xấu tăng quá cao, vượt quá giới hạn an
Trang 24toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NHTM ở trong nước và trên thị trườngquốc tế bị giảm sút nghiêm trọng Nếu điều này xảy ra thì sẽ khiến hoạt động củangân hàng trở nên khó khăn và có khả năng bị đóng băng.
❖ Làm giảm khả năng hội nhập của các NHTM
Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của NHTM khi phân tíchđánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng và là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh khitiến hành hội nhập Các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ khó có khả năng mở rộngcác mối quan hệ trên trường quốc tế do uy tín, thương hiệu và hiệu quả kinh doanhkhông còn được đánh giá cao
❖ Không duy trì được đội ngũ nhân viên
Khi một ngân hàng làm ăn không hiệu quả hay để tình trạng nợ xấu giữ ởmức cao và kéo dài sẽ gây tâm lý hoang mang cho chính các cán bộ, nhân viên ngânhàng đó Điều này làm cho một bộ phận không nhỏ các nhân viên có chuyên mônnghiệp vụ cao sẽ rời bỏ ngân hàng để tìm một công việc tốt hơn, gây ra một tổn thấtrất lớn cho ngân hàng Ngân hàng sẽ mất thêm chi phí đào tạo nhân viên và khókhăn trong việc ổn định lại cơ cấu nhân sự trong ngân hàng
2.1.3.2 Đối với khách hàng
❖ Khách hàng vay vốn
Trong nền kinh tế hiện đại và phát triển, phần lớn các hoạt động thanh toángiao dịch của khách hàng đều được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng và hoạtđộng kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp cũng chủ yếu dựavào vốn ngân hàng Do vậy, khi khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợgốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, sẽ làm giảm uy tín đối với ngân hàng; dẫn tới
họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cảnhững nguồn khác của nền kinh tế Không có vốn cũng đồng nghĩa với việc duy trìsản xuất hay mở rộng kinh doanh trong tương lai sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Bên cạnh đó, do nợ xấu ứ đọng, các NHTM bị thiếu hụt vốn bắt buộc phảithắt chặt điều kiện cho vay và thu hẹp quy mô hoạt động dẫn đến nhiều khách hàngkhác (không có nợ xấu hay thậm chí là chưa từng vay vốn ngân hàng) không có cơhội vay vốn để sản xuất hay mở rộng kinh doanh
Trang 25❖ Khách hàng gửi tiền
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoảntiền gửi và lãi nếu như tình hình nợ xấu tại ngân hàng trở nên trầm trọng và thậmchí rơi vào tình trạng phá sản
2.1.3.3 Đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, có chức năngtrung gian tín dụng, vừa là kênh huy động vừa là kênh cho vay vốn đối với các cánhân, doanh nghiệp và tổ chức trong nền kinh tế Do đó, rủi ro tín dụng có ảnhhưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế
❖ Ảnh hưởng đến sản xuất, tăng trưởng kinh tế
Nợ xấu xảy ra làm việc lưu thông tín dụng gặp khó khăn, vốn bị ứ đọng, cơhội tiếp cận vốn để sản xuất và mở rộng kinh doanh của các khách hàng bị hạn chế.Trong khi đó, các doanh nghiệp đang bị nợ xấu thì không thể tiếp tục vay vốn đểduy trì sản xuất, vực dậy khó khăn Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự tăngtrưởng và phát triển của nền kinh tế
❖ Ra tăng sức ép lạm phát
Tình trạng nợ xấu nếu giữ ở mức cao và kéo dài sẽ dẫn đến sự khan hiếmvốn trầm trọng do một khối lượng vốn lớn bị ứ lại trong các khoản nợ xấu, tiềntrong lưu thông bị giảm sút, từ đó gây sức ép tăng cung tiền và lạm phát gia tăng
❖ Hiệu ứng khủng hoảng dây chuyền
Ngân hàng là kênh chủ yếu thực hiện huy động và cho vay Hoạt động ngânhàng là hoạt động kinh tế mang tính dây chuyền Khi một ngân hàng lâm vào tìnhtrạng nợ xấu trong một thời gian dài và không thể kiểm soát, dẫn đến mất khả năngthanh toán và phá sản, thì theo hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệthống ngân hàng Hoạt động tín dụng bị suy giảm, khan hiếm nguồn vốn, đầu tư thuhẹp, sản xuất đình trệ đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng; ảnh hưởng tiêu cực đếnđời sống xã hội và sự phát triển đất nước
2.2 Khái quát chung về quản trị nợ xấu
NHTM là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn, là kênh huy động
và cho vay đối với nền kinh tế Trong đó, hoạt động cho vay là hoạt động truyền
Trang 26thống của các NHTM, đem lại nguồn lợi nhuận lớn nhưng cũng đồng thời chứađựng nhiều rủi ro và khả năng phát sinh nợ xấu là biểu hiện rõ ràng nhất của rủi rotín dụng Tỷ lệ nợ xấu nếu giữ ở mức cao và kéo dài sẽ gây ra những hậu quảnghiêm trọng không chỉ cho chính ngân hàng đó mà còn kéo theo sự khủng hoảngcủa cả hệ thống tài chính và nền kinh tế Vì vậy, để xử lý tốt nợ xấu cần phải có sựquan tâm đúng mức từ chính bản thân các ngân hàng, sự hỗ trợ kịp thời của chínhphủ và cần có một khung pháp lý chặt chẽ Trên cơ sở đó, đưa ra những biện phápquản trị nợ xấu một cách kịp thời và hiệu quả Vậy quản trị nợ xấu là gì? Thực hiệnquản trị nợ xấu như thế nào thì đem lại hiệu quả?
2.2.1 Khái niệm
Có rất nhiều cách hiểu về quản trị nợ xấu nhưng có thể hiểu đơn giản, ii Quan trị nợ xấu tại các ngân hàng thương mại là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách phòng ngừa, quản lý; các biện pháp thu hồi và xử lý nợ xấu nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng của các khoản vay; tiến tới sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hoạt động ngân hàng”.
2.2.2 Nội dung quản trị nợ xấu tại các NHTM
2.2.2.1 Tổ chức quản trị nợ xấu
❖ Mục tiêu
Rủi ro và sinh lời là hai yếu tố song hành trong các hoạt động tín dụng củangân hàng Nhằm đảm bảo sự gia tăng thu nhập ngân hàng trong dài hạn, cần phảixác lập mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lợi, đảm bảo rủi ro ở trong giới hạn cho phép
mà ngân hàng đặt ra Trong đó, việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để hạn chếrủi ro phát sinh, giải quyết và bù đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dungchính của công tác quản lý tín dụng Quản trị nợ xấu phải hướng vào việc hạ thấptổn thất, nâng cao mức độ an toàn bằng các biện pháp quản lý, giám sát tín dụngmột cách khoa học; đảm bảo tính hiệu quả và nâng cao chất lượng của hoạt động tíndụng
Chính phủ cũng đã đưa ra những mục tiêu cho công tác quản trị nợ xấu thôngqua Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của chính phủ phê duyệt đề án
“Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” hay Quyết định
Trang 27843/QĐ-TTg ngày 31/05/2013 phê duyệt “Đề án xử lý nợ xấu” Trong đề án nêu rõ
mục tiêu xử lý nợ xấu của các TCTD là nhằm tạo điều kiện cho TCTD mở rộng tíndụng với lãi suất hợp lý, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
❖ Thiết lập bộ máy quản trị nợ xấu
Để quản trị nợ xấu hiệu quả thì việc tổ chức một bộ máy quản trị nợ xấu phùhợp là rất quan trọng và cần thiết Các NHTM có thể xây dựng bộ máy quản trị nợxấu của mình theo mô hình tập trung hoặc phân tán, tương thích với mô hình quản
lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Trong đó:
- Mô hình quản lý tập trung là cách tổ chức quản lý dựa trên nguyên tắc quản
lý rủi ro tín dụng và quản lý nợ xấu tại một bộ phận trong đó quyền quyết định tậptrung ở trung ương
- Mô hình quản lý phân tán: là cách tổ chức hoạt động quản lý nợ xấu nói
riêng và quản lý rủi ro tín dụng nói chung phân tán ở nhiều bộ phận khác nhau,quyền quyết định không tập trung ở trung ương mà dàn đều ở các cấp cơ sở
2.2.2.2 Nội dung quản trị nợ xấu
❖ Phòng ngừa và hạn chế nợ xấu phát sinh
Nội dung đầu tiên trong quản trị nợ xấu là các NHTM cần phải tập trung xâydựng và thực thi các biện pháp ngăn chặn nợ xấu nhằm đạt được một tỷ lệ nợ xấutrong kỳ vọng bao gồm:
- Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng
Tiến hành hoạt động thẩm định đối với phương án, khách hàng vay vốntrước, trong và sau khi cho vay Dùng các biện pháp để kiểm tra lại tính khả thi vàsinh lợi của phương án, khả năng tài chính của khách hàng đi vay, thường xuyêntheo dõi tình hình hoạt động của phương án sau khi giải ngân để đưa ra những nhậnxét về khả năng thu hồi vốn, bao gồm cả gốc và lãi Khi đến kì hạn trả nợ, nếu thấykhách hàng cố tình kéo dài thời gian trả nợ, lừa đảo, không có thiện chí trả nợ thìngân hàng phải tiến hành các biện pháp thu nợ Còn nếu mà khách hàng có thiện chítrả nợ nhưng gặp khó khăn tạm thời về tài chính thì ngân hàng có thể tiến hành cácbiện pháp hỗ trợ như gia hạn nợ, giảm lãi suất, tạo điều kiện để khách hàng tiếp tục
Trang 28sản xuất kinh doanh, tạo ra nguồn thu để trả nợ cho ngân hàng.
Thực hiện tốt quy trình tín dụng, từ chối cấp hạn mức nếu thấy khách hàng
có rủi ro mất khả năng thanh toán Phân tích, đánh giá các rủi ro có thể xảy trongtừng quy trình nghiệp vụ; thực hiện ngay các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn rủiro; lựa chọn cán bộ có đầy đủ năng lực, trình độ, đạo đức để thực hiện Từ nhữngđánh giá, phân tích rủi ro của các khoản vay theo định kỳ đó, tiến hành lập dựphòng về các tổn thất liên quan đến các khoản nợ xấu
Ban hành những quy định về tiêu chuẩn và yêu cầu tối thiểu đối với hệ thốngquản lý rủi ro trong hoạt động thanh toán, áp dụng công nghệ thông tin để đề xuất
và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa rủi ro Đồng thời, hoàn thiện cơ chếthông tin, xây dựng hệ thống cảnh bảo sớm để nâng cao khả năng quản lý, kiểmsoát thị trường, kết hợp với việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạmpháp luật
- Xây dựng chiến lược hoạt động hợp lý
Chiến lược hoạt động của ngân hàng cần phải mang lại thu nhập cho ngânhàng và đảm bảo khả năng thanh khoản Các ngân hàng xây dựng, triển khai các sảnphẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao củakhách hàng cũng như sự phát triển của nền kinh tế Rủi ro luôn đi kèm với hoạtđộng của bất kỳ ngân hàng nào và hoạt động ngân hàng cần phải nằm trong giới hạnrủi ro Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng, nhất là hoạt động tín dụng, cácngân hàng cần phải xác định mức độ rủi ro tối đa cũng giới hạn tỷ lệ nợ xấu chophép trong khả năng chịu đựng được của ngân hàng
Ngân hàng phải xây dựng danh mục tài sản với các rủi ro có thể chấp nhậnđược và danh mục nguồn vốn với chi phí thực sự hợp lý, phù hợp với khả năngthanh khoản thực tế ngành, vùng và cả nền kinh tế Ngân hàng đưa ra những sảnphẩm và dịch vụ thu hút khách hàng với các chính sách về chăm sóc khách hàng, lãisuất, chi phí hợp lý trên cơ sở nghiên cứu kỹ hành vi, tâm lý khách hàng và thịtrường
Ngân hàng phải xác định và tận dụng mọi lợi thế của mình trong việc xácđịnh chiến lược hoạt động ngắn, trung và dài hạn đồng thời hạn chế những mặt còn
Trang 29chưa tốt trong nội tại của ngân hàng mình Tập trung hoạt động vào những điểmmạnh, khai thác thị trường dựa trên những ưu điểm đã có để không ngừng mở rộngmạng lưới phân phối, chiếm lĩnh thị phần, vànâng cao sức cạnh tranh so với các đốithủ.
- Triển khai công cụ kiểm soát rủi ro mới
Ngân hàng phải triển khai phân loại, chấm điểm tín dụng với từng đối tượngkhách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng Ngoài ra, ngânhàng có thể kiểm soát tín dụng bằng giới hạn tín dụng, giải ngân kèm chứng từ hànghóa để hạn chế tổn thất khi cho vay
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các khoản nợ xấu phát sinh bao gồm cácthủ tục và quy trình thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn diện Sửdụng các công cụ phái sinh tín dụng giống như một hợp đồng bảo hiểm, trong đó,đối tượng được bảo hiểm chính là các khoản vay trước rủi ro tín dụng Các công cụphái sinh tín dụng có thể được phân loại thành các loại như: Hợp đồng hoán đổi,hợp đồng quyền chọn, các trái phiếu liên kết phái sinh rủi ro tín dụng Việc sử dụngcác công cụ này có thể giúp các NHTM cô lập được rủi ro tín dụng, ngăn ngừa việcphát sinh nợ xấu
- Quan tâm, phát triển và quản lý có hiệu quả đội ngũ cán bộ ngân hàng
Cải thiện năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và nâng cao trình độ chuyênmôn, tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng
- Tăng cường tính minh bạch trong hoạt động
Xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo giữa các TCTD và vấn đề lợi ích nhómtrong TCTD; tăng tính đại chúng, tăng số lượng và đa dạng hóa cổ đông, thành viêntham gia góp vốn của TCTD
❖ Nhận biết, phân loại và đo lường nợ xấu
Vấn đề nhận biết và phân loại nợ xấu đã được nói đến trong phần cách xácđịnh nợ xấu Còn về đo lường nợ xấu thì thông qua một số chỉ tiêu: Tổng nợ xấu, tỷ
lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ và tỷ lệ quỹ dự phòng/tổng nợ xấu
❖ Xử lý nợ xấu
- Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ
Trang 30Sau khi nhận biết và đo lường nợ xấu, các TCTD sẽ phải tiến hành rà soát,đánh giá và phân loại lại toàn bộ các khoản tín dụng, đầu tư trái phiếu, ủy thác đầutư, sắp xếp chúng theo mức độ rủi ro để có biện pháp xử lý thích hợp.
- Tái cơ cấu doanh nghiệp và tái cơ cấu lại nợ:
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình triển khai tái cơ cấu hoạt động sản xuất
kinh doanh, tái cơ cấu tài chính của những doanh nghiệp có tình hình kinh doanhkém nhưng có triển vọng phát triển Đồng thời, tiếp tục cho vay, cấp thêm vốn chodoanh nghiệp để doanh nghiệp có thể phục hồi sản xuất và phát triển
Tái cơ cấu nợ: TCTD cùng với khách hàng cơ cấu lại nợ; giúp khách hàng
tháo gỡ khó khăn tạm thời về mặt tài chính bằng cách: gia hạn nợ; giảm trừ lãi, điềuchỉnh kỳ hạn nợ và kế hoạch trả nợ
Song song với đó, cần phải xây dựng kế hoạch thu hồi nợ phù hợp với từngkhoản nợ xấu đã được phân loại và quản lý chặt tình hình tài chính của khách hàngnhằm hạn chế rủi ro xảy ra
- “Xử lý” các khoản nợ xấu
Để có thể làm đẹp bản báo cáo tài chính, giúp tăng uy tín và hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng mình trên thị trường, các NHTM hiện nay thực hiện hàng loạtnhững biện pháp nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu trở về mức thấp khoảng ≤ 3% (ngưỡng antoàn mà NHNN đề ra) Các biện pháp đó bao gồm:
+ Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu: Chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc
các khoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp
để giao dịch
+ Chuyển nợ thành vốn góp: là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu tiền nợ
đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để mua chính cổ phần củadoanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ vớigiá tương đương hoặc theo thỏa thuận
+ Bán các khoản nợ: Việc bán các khoản nợ thường được ngân hàng sử dụng
với các khoản nợ không có TSBĐ hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngânhàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức kinh tế, cá nhân có chức năng theoquy định để có thể sớm thu hồi vốn của mình Để thực hiện biện pháp này một cách
Trang 31hiệu quả, ngoài việc đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản nhanhchóng thì các ngân hàng thường thành lập tổ chức có chuyên môn cao gọi là Công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) AMC sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thựchiện mua bán tiếp theo
- Xử lý TSBĐ, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu nhưng không thể cơ cấu lại nợ, khách hàngkhông có khả năng cải thiện tình hình tài chính, chây ì trong việc trả nợ thìNHTM cần phải chủ động xử lý TSBĐ nợ vay thông qua các hình thức:
+ Trực tiếp bán TSĐB hay bán thông qua tổ chức đấu giá;
+ NHTM nhận chính TSBĐ đó để thay cho việc được đảm bảo;
+ NHTM có thể nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ bên thứ ba khi thế chấpquyền đòi nợ hoặc từ bên có nghĩa vụ liên quan đến TSBĐ
- Trích lập và sử dụng DPRR để xử lý nợ xấu
Quỹ DPRR của các NHTM nhằm để bù đắp vào những tổn thất trong hoạtđộng kinh doanh Trên cơ sở rà soát, phân loại và đo lường nợ xấu, TCTD trích lập
và sử dụng DPRR tương ứng với từng khoản vay theo quy định của pháp luật
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng là khi bên được bảo lãnh vayvốn, khách hàng vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bịphá sản, giải thể hoặc cá nhân bị mất tích, bị chết hoặc không thể thực hiện đượccác nghĩa vụ thuộc nhóm nợ có khả năng mất vốn Trong đó, ưu tiên các khoản nợxấu không có TSBĐ, khách hàng vay không còn tồn tại và nợ xấu thuộc nhóm 5
- Sử dụng công cụ pháp lý để đòi nợ
Đối với khoản vay có đầy đủ hồ sơ và phù hợp về mặt pháp lý, ngân hàng cóthể kiện khách hàng ra tòa, nhờ luật pháp giúp đỡ để đòi nợ Tuy nhiên, sử dụngbiện pháp này thường không mang lại hiệu quả, gây ảnh hưởng đến uy tín ngânhàng, thủ tục rắc rối, làm mất nhiều thời gian và chi phí cho ngân hàng
- Khuyến khích việc mua bán, sáp nhập các ngân hàng
Đối với các TCTD yếu kém, có nguy cơ mất khả năng thanh toán, biện phápkhả thi là sáp nhập hoặc giải thể Chính phủ cần cho phép một số ngân hàng có tiềmlực tài chính mạnh, quản trị doanh nghiệp tốt mua lại những nhà băng yếu kém,
Trang 32khuyến khích việc các ngân hàng yếu thế sáp nhập vào những ngân hàng mạnh.Trên cơ sở đó, giúp tăng tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng.
2.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị nợ xấu
2.2.3.1 Nhân tố bên ngoài
❖ Môi trường kinh tế - xã hội
Một đất nước ổn định về chính trị, có môi trường kinh tế lành mạnh, minhbạch, với sự phát triển đầy đủ của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trườngchứng khoán và thị trường bất động sản sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa nội địa cũng như xuất khẩu, tác động làm nợ xấu giảm đi
Ngược lại, một đất nước với tình hình chính trị, kinh tế - xã hội bất ổn,không lành mạnh sẽ ảnh hưởng rất xấu đến nền sản xuất và hoạt động quản lý nợxấu của ngân hàng
❖ Môi trường pháp lý
Để giúp cho công tác quản trị nợ xấu đạt hiệu quả, cần phải xây dựng hànhlang pháp lý chặt chẽ, rõ ràng Đặc biệt là các luật về thủ tục thế chấp, tịch thu tàisản, phá sản ngân hàng; góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hóahoạt động doanh nghiệp; tác động làm hạn chế nợ xấu xảy ra
❖ Môi trường tự nhiên
Đối với nền kinh tế có các hoạt động kinh doanh lệ thuộc nhiều vào tự nhiênnhư trồng trọt, chăn nuôi ở Việt Nam thì yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởngrất lớn Nếu môi trường tự nhiên không thuận lợi, kèm theo thiên tai, dịch bệnh thì
sự thất bại của các dự án về trồng trọt, chăn nuôi, là rất lớn, dẫn đến mất khảnăng thanh toán và hình thành nợ xấu
❖ Thị trường mua bán nợ
Thị trường mua bán nợ phát triển là một trong những kênh quan trọng giúpNHTM chủ động hơn trong việc xử lý và thu hồi nợ xấu Quá trình xử lý nợ xấu sẽdiễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian xử lý, góp phần hạn chếnhững hậu quả nghiêm trọng mà nợ xấu gây ra cho nền kinh tế
2.2.3.2 Nhân tố bên trong
❖ Nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nợ xấu
Trang 33Sự phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, họ là nhân
tố quan trọng nhất trong môi trường quản lý cũng như đóng vai trò là chủ thể trựctiếp thực hiện mọi thủ tục trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Do vậy, việctuyển chọn và xây dựng nguồn lực nhanh nhạy, có phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầucủa thị trường, phát hiện và xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình cho vay là
vô cùng quan trọng
❖ Công nghệ ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàngluôn là những người đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ trong công nghệ đểnâng cao hiệu quả hoạt động Sự phát triển của công nghệ ngân hàng tác động đếnhiệu quả của hệ thống thông tin và công tác kế toán trong ngân hàng, từ đó làm thayđổi các thủ tục kiểm soát và nâng cao chất lượng quản lý nợ xấu
❖ Tiềm lực tài chính của ngân hàng
Để có thể xử lý nợ xấu một cách triệt để đòi hỏi NHTM phải có tiềm lực tàichính đủ mạnh (đặc biệt là quy mô vốn chủ sở hữu lớn) Điều này cũng dễ hiểu bởiviệc trích lập và sử dụng quỹ DPRR vẫn là biện pháp chủ yếu trong xử lý nợ xấu.Tuy nhiên, để có thể trích lập đủ DPRR, xử lý hết nợ tồn đọng thì phải có một tiềmlực tài chính đủ mạnh Và điều này thì không phải ngân hàng nào cũng làm được
Vì vậy, việc nâng cao năng lực tài chính, tăng quy mô vốn chủ sở hữu là điều kiệnquan trọng giúp cho các NHTM chủ động hơn trong công tác quản lý nợ xấu củamình
❖ Mô hình tổ chức
Mô hình tổ chức tác động trực tiếp lên kế hoạch triển khai xử lý nợ xấu Một
mô hình tổ chức phù hợp, được phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng bộphận, đặc biệt là bộ phận xử lý nợ sẽ giúp công tác triển khai, xử lý nợ hiệu quả vàchuyên nghiệp hơn
2.3 Công tác xử lý nợ xấu của Việt Nam - Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại
một số nước và bài học cho ACB
2.3.1 Công tác xử lý nợ xấu ở Việt Nam
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ViệtNam luôn là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay cao
Trang 34trong khu vực Trong giai đoạn 2008 - 2010, chính phủ thực hiện các giải pháp kíchthích kinh tế đã tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng tăng trưởng nhanh chóng kéotheo là sự tăng nhanh về tỷ lệ nợ xấu (bình quân đạt 47,87%/năm) Đến cuối năm
2010, chính phủ thực thi các biện pháp đồng bộ về chính sách tiền tề và chính sáchtài khóa nhằm kiềm chế lạm phát, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế; tác động làm nợxấu dần lộ diện, tăng trưởng tín dụng chậm dần và giảm liên tục, đặc biệt là trongnăm 2012
Trước tình hình đó, Chính phủ và NHNN đã sử dụng đồng bộ nhiều giảipháp để xử lý nợ xấu dưới cả hai hình thức tập trung và phi tập trung nhằm cải thiệntình hình thanh khoản và xây dựng hệ thống các TCTD hoạt động lành mạnh, antoàn và hiệu quả Đồng thời, tạo điều kiện mở rộng tín dụng với lãi suất hợp lý gópphần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Giải pháp chủ yếu sửdụng để xử lý nợ xấu là các TCTD chủ động xử lý nợ xấu, khách hàng tự củng cốnâng cao năng lực quản lý, hiệu quả sản xuất kinh doanh, củng cố hoàn thiện cơ chếchính sách, tăng cường thanh tra, giám sát và thành lập VAMC để xử lý nợ xấuthông qua làm sạch bảng cân đối kế toán, tăng thanh khoản cho các TCTD Cụ thể:
❖ TCTD chủ động xử lý và hạn chế nợ xấu xảy ra:
TCTD chủ động thực hiện các biện pháp: (i) Đánh giá lại chất lượng và khảnăng thu hồi các khoản nợ; (ii) Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợxấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phát triển; (iii) Rà soát đánh giá lạiTSBĐ, yêu cầu khách hàng bổ sung TSBĐ hợp pháp; (iv) Đôn đốc, thu hồi nợ, tríchlập và sử dụng DPRR để xử lý nợ xấu; (v) Bán nợ xấu cho cho VAMC
❖ Thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam
Nhằm tạo dựng công cụ xử lý nợ xấu tối ưu đối với hệ thống TCTD, NHNNquyết định thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam Ngày26/7/2013, VAMC chính thức đi vào hoạt động; đi kèm với đó là hàng loạt cácthông tư, quyết định có liên quan đảm bảo cơ sở pháp lý về cơ cấu, tổ chức và hoạtđộng của VAMC
❖ Xử lý nợ xấu thông qua VAMC
Trang 35Dư nợ
(tỷ đồng) VAMC là công cụ đặc biệt của nhà nước, có vốn điều lệ là 2000 tỷ đồng,
hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận, hạn chế rủi
ro chi phí trong xử lý nợ xấu VAMC là doanh nghiệp đặc thù, được tổ chức dướihình thức công ty TNHH một thành viên, 100% vốn nhà nước Thông qua VAMC,các TCTD chuyển đổi nợ xấu thành các trái phiếu đặc biệt, lấy vốn về để tiếp tụchoạt động kinh doanh
Về phương pháp định giá chuyển nhượng các khoản nợ thì giai đoạn đầu,VAMC mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt theo giá trị ghi sổ (số dư nợ gốc khách hàngvay chưa trả được khấu trừ số tiền dự phòng cụ thể đã trích lập nhưng chưa sử dụngđổi với khoản nợ xấu đó) Sau đó, VAMC mua lại theo giá thị trường Song songvới việc mua nợ xấu, VAMC có trách nhiệm xử lý các khoản nợ đã mua bằng tráiphiếu đặc biệt như: cơ cấu nợ, miễm giảm lãi, thu nợ, bán nợ và bán TSBĐ
❖ về cơ chế, chính sách
Bên cạnh việc chỉ dạo các NHTM thường xuyên báo cáo tình hình nợ xấu,minh bạch trong báo cáo tài chính, chính phủ còn ban hành nhiều các quyết định vàthông tư; hoàn thiện khung pháp lý về phân loại nợ, xử lý nợ, TSĐB, mua bánnợ, tạo điều kiện để xử lý nợ xấu một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trước động thái tích cực và quyết liệt của chính phủ và NHNN, tình hình nợxấu đã được khắc phục và đến năm 2015, nợ xấu đã xuống mức 3% (ngưỡng antoàn) Cụ thể, theo báo cáo của NHNN, năm 2010, 2011 lần lượt ở mức 2,21 % và3,10% Đến năm 2012, nợ xấu tăng vọt chạm mức 4,08% trên tổng dư nợ, tươngđương với 126.109 tỷ đồng Nợ xấu tăng nhanh đột biến cộng thêm những số liệu
“hỏa mù” về nợ xấu càng khiến cho tình hình ngày càng trở nên phức tạp, đẩy nềnkinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng Các năm tiếp theo, nợ xấu vẫn giữ ở mứccao là 3,61% năm 2013 và 3,25% năm 2014
Tuy nhiên, với những biện pháp quyết liệt và đồng bộ của chính phủ, năm
2015, nợ xấu được kiểm soát, giảm xuống còn 2,9% vào tháng 11/2015 (đạt mụctiêu về ngưỡng an toàn nợ xấu mà chính phủ đề ra)
Việc mua bán nợ thông qua VAMC và các TCTD tự xử lý nợ xấu bằngnguồn DPRR kèm theo các biện pháp nhằm làm giảm phát sinh nợ xấu mới trong
khi tổng dư nợ tín dụng tăng nhanh (18%) đã làm nợ xấu bình quân toàn hệ thốngxuống dưới 3% Song sẽ còn nhiều khó khăn cho việc xử lý dứt điểm nợ xấu tồnđọng khi chưa có nguồn tài chính thực từ bên ngoài hệ thống, khi thị trường vàkhuôn khổ pháp lý cho mua bán nợ xấu còn nhiều vướng mắc
Bảng 1.2: Tình hình nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ 2010-2015
Trang 36Tỷ lệ nợ
xấu (%)
Trang 37Nợ xấu
♦ Tỷ lệ nợ xấu
(Nguồn báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia)
2.3.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại một số nước
2.3.2.1 Công tác xử lý nợ xấu tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản hình thành ba tổ chức với vai trò thực hiện mua bán nợ, giúptăng cường xử lý nợ xấu: Công ty thu hồi nợ (RCC), Cơ quan tái thiết công nghiệp(IRCJ) và Các quỹ tái thiết doanh nghiệp tư nhân Ba tổ chức này rất tích cực trong
Trang 38việc mua bán nợ xấu từ các TCTD khiến cho nợ xấu giảm một cách nhanh chóng.
Cụ thể từ 3/2002 đến tháng 3/2005, nợ xấu giảm từ 43200 tỷ yên xuống còn 25300
tỷ yên và đến 3/2007, chỉ còn 12000 tỷ yên
RCC là công ty trực thuộc Bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản, chủ yếu tậptrung thu hồi các khoản nợ xấu mua của 173 định chế tài chính phá sản, thu hồi cáckhoản nợ xấu được giao từ 7 công ty cho vay mua nhà trước đó và mua, xử lý nợxấu từ các ngân hàng lành mạnh RCC sau khi mua nợ sẽ áp dụng nhiều biện pháp
để thu hồi nợ như: (i) Bán tài sản bảo đảm nợ; (ii) Thu nợ từ khách nợ bao gồm thu
nợ bằng tiền và thu nợ bằng tài sản Tuy nhiên, việc bán nợ không được áp dụngnhiều mà chủ yếu do RCC tự xử lý nhằm bảo vệ các khách nợ yếu thế, tránh trườnghợp người mua nợ áp dụng các biện pháp khắt khe, gây khó khăn cho khách nợ
Cơ quan tái thiết doanh nghiệp (IRCJ) được thành lập theo hình thức công ty
cổ phần do Bảo hiểm tiền gửi nắm giữ 50% tổng số cổ phần phát hành, còn lại docác TCTD tư nhân tự nguyện góp vốn Mục đích hoạt động của IRCJ nhằm hỗ trợtái sinh các hoạt động của các doanh nghiệp đang có những khoản nợ lớn, hoạt độngkhông hiệu quả thông qua việc mua lại các khoản nợ của các TCTD IRCJ khôngthực hiện mua bán nợ như RCC mà tái thiết doanh nghiệp gắn với xử lý nợ thôngqua các biện pháp như thực hiện hoán đổi vốn - nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp, táithiết hoạt động, cử người trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp Sau khi doanhnghiệp hoạt động ổn định, IRCJ sẽ thực hiện thoái vốn trong thời hạn 3 năm
Có thể khẳng định hoạt động của RCC và IRCJ không chỉ giúp xử lý mộtlượng lớn nợ xấu mà còn tạo ra sự sôi nổi trong thị trường mua bán nợ xấu, kíchthích thành lập các quỹ tái thiết tư nhân, góp phần xử lý nhanh chóng và có hiệu quả
nợ xấu
2.3.2.2 Công tác xử lý nợ xấu tại Mỹ
Mỹ thành công trong việc xử lý nợ xấu theo mô hình tập trung Chính phủban hành các chính sách tác động đến toàn bộ hệ thống tài chính nhằm hỗ trợ thanhkhoản cho hệ thống ngân hàng như mua lại trái phiếu chính phủ, hạ lãi suất chiếtkhấu và bơm tiền Chính phủ đứng ra đảm bảo và cam kết hỗ trợ thanh khoản cho
Trang 39những ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn, có nguy cơ mất thanh khoản cao,tiến hành xử lý nợ xấu, từng bước thực hiện lộ trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó, Mỹ còn xây dựng chương trình giải cứu tài sản xấu TARP,nhằm mua lại các tài sản thế chấp bị tổn hại để làm sạch bảng cân đối kế toán củacác tổ chức tài chính và hỗ trợ các ngành như bảo hiểm, ô tô, bất động sản Ngânsách cho chương trình được huy động từ nhiều nguồn bao gồm việc phát hành tráiphiếu và hối phiếu chính phủ Với những biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả, nợxấu ở Mỹ đã được kiểm soát, lợi nhuận của các ngân hàng đều tăng rất cao trên 19-31%, chất lượng tín dụng được cải thiện rõ rệt
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho ACB
Một thực tế tại Việt Nam bây giờ chính là việc con số nợ xấu được công bố íthơn rất nhiều lần so với con số nợ xấu thực sự tại các ngân hàng hiện nay Nguyênnhân là do các ngân hàng cố tình giấu giếm, bóp méo số liệu, lợi dụng những quyđịnh thiếu chặt chẽ trong phân loại nợ nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp nhất
để giảm chi phí trích lập DPRR, giúp gia tăng lợi nhuận, ii Iam đẹp báo cáo tài chính” của ngân hàng mình Và đến một lúc nào đó, khi tình hình kinh tế rơi vào
bất ổn, cái bọc ấy sẽ bị rách ra, kéo theo là sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính Vìvậy, dựa trên công tác xử lý nợ xấu ở Việt Nam và một số nước, ACB cần rút ranhững bài học kinh nghiệm cho chính mình để có thể xử lý nợ xấu một cách hiệuquả hơn trong tương lai Cụ thể:
Thứ nhất, đề cao vai trò chủ đạo của nhà nước trong việc xử lý nợ xấu thông
qua việc hỗ trợ tài chính và xây dựng khung pháp lý chặt chẽ, minh bạch
Thứ hai, thực hiện quy trình cấp tín dụng chặt chẽ; đề ra lộ trình cụ thể và lâu
dài cho việc xử lý nợ xấu kết hợp với các biện pháp phòng ngừa nợ xấu xảy ra
Thứ ba, ACB cần tuân thủ nghiêm ngặt ba nguyên tắc trong xử lý nợ xấu: (i)
Trách nhiệm xử lý nợ xấu đúng với nguồn phát sinh nợ xấu; (ii) Đảm bảo tính độclập và minh bạch trong xử lý nợ xấu; (iii) Đánh giá nợ xấu, định giá lại tài sản đúngvới giá thực trên cơ sở tuân thủ cơ chế thị trường
Thứ tư, phối hợp với VAMC trong việc mua bán, xử lý các khoản nợ xấu sau
khi phát hành TPĐB nhằm giải quyết triệt để nợ xấu Tăng cường công tác thanh
Trang 40tra, giám sát, phát hiện kịp thời những sai phạm trong công tác tín dụng để cónhững biện pháp xử lý kịp thời.
Thứ năm, tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ, các định chế tài chính; phát
triển thị trường trái phiếu, mở rộng đầu tư nước ngoài, thu hút vốn phục vụ cho hoạtđộng kinh doanh Đồng thời, cần phải thành lập công ty quản lý nợ (AMC) để táchhoạt động xử lý nợ xấu khỏi hoạt động kinh doanh
KẾT LUẬN CHƯƠNG IChương I đã đưa ra những lý luận cơ bản về nợ xấu và xử lý nợ xấu tại cácNHTM, đồng thời cũng tìm hiểu về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở một số quốc giatrên thế giới Cơ sở lý thuyết và bài học kinh nghiệm thực tiễn rút ra được sẽ là nềntảng để nghiên cứu, đi sâu phân tích về tình hình nợ xấu và quản trị nợ xấu tạiNHTMCP Á Châu được trình bày cụ thể ở chương II