1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại việt nam giai đoạn 2008 2018

54 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động này có sự tham gia của các nước cho vay, các nước đi vay, các tổ chức hỗ trợ tài chính quốc tế như IFM hay WB, ngân hàng Phát triển châu Á, … Từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ X

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN KHÓA LUẬN: Tình hình nợ xấu và các biện pháp

xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

Trang 2

M ỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài: 7

2 Tổng quan tài liệu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu: 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11

5 Phương pháp nghiên cứu: 12

6 Kết cấu của đề tài: 12

CHƯƠNG 1 13

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG 13

THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU Ở CÁC 13

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13

1.1 Ngân Hàng Thương Mại 13

1.1.1 Khái niệm 13

1.1.2 Các hoạt động 14

1.1.3 Phân loại 19

1.1.4 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế 19

1.2 Nợ xấu 21

1.2.1 Khái niệm 21

1.2.2 Phân loại 21

1.2.3 Các tiêu chí nhận biết nợ xấu 22

1.2.4 Nguyên nhân của nợ xấu 22

1.2.5 Tác động của nợ xấu 23

1.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu ở các ngân hàng thương mại 25

1.3.1 Nội dung quản lý 25

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu 28

Kết luận chương 1: 30

CHƯƠNG 2: 31

THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP 31

QUẢN LÍ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG 31

Trang 3

THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng chung về nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 31

2.1.1 Giai đoạn 2008 – 2010 31

2.1.2 Giai đoạn 2010 – 2015 33

2.1.3 Giai đoạn 2015 – 2018 36

2.2 Các biện pháp quản lý nợ xấu tại một số Ngân hàng Thương Mại tại Việt Nam 38

2.2.1 Các biện pháp quản lí nợ xấu tại Ngân hàng thương mại BIDV 38

2.2.2 Các biện pháp xử lí nợ xấu tại Ngân hàng Thương Mại Vietcombank 41

Kết luận chương 2: 43

CHƯƠNG 3 44

KINH NGHIỆM PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 44

3.1 Kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu ở một số quốc gia 44

3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam 49

KẾT LUẬN 51

Tài liệu tham khảo 52

Trang 4

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Trang 5

Bảng Tiếng Anh

Chữ viêt tắt Nghĩa Tiếng Anh Nghĩa Tiếng Việt

FDIC Federal Deposit Insurance Corporation Công ty Bảo hiểm Ký

thác Liên bang Hoa Kỳ

KAMCO KoreanAsset Management

Corporation

Công ty quản lý tài sản

Hàn Quốc NPA Non-performing assets Tài sản không hiệu quả

Monetary Fund

Quỹ tiền tệ Quốc tế

Company Công ty quản lý tài sản

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong nền kinh tế quốc tế hiện nay, hoạt động vay nợ nước ngoài là một hoạt động diễn ra phổ biến trên toàn thế giới Hoạt động này có sự tham gia của các nước cho vay, các nước đi vay, các tổ chức hỗ trợ tài chính quốc tế như IFM hay WB, ngân hàng Phát triển châu Á, … Từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ XIX, các nhà chính trị

đã ý thức được việc chuyển giao các nguồn lực nước ngoài (thông qua những khoản vay, tài trợ và viện trợ) tại các nước là cần thiết Chúng bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước, giúp các quốc gia chuyển đổi nền kinh tế nhằm đạt mức tăng trưởng cao hơn Do vậy, nợ nước ngoài ở nhiều quốc gia không ngừng tăng lên qua thời gian Theo tổng hợp từ Văn phòng Phát triển thế giới của Anh, trong giai đoạn 20 năm, từ giữa năm 1973 đến 1993, nợ công của các nước đang phát triển trung bình tăng 20% hàng năm, tương đương từ 300 tỷ USD lên 1.500 tỷ USD và đóng góp vào mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng ở nhiều quốc gia (Theo số liệu của

https://www.politics.co.uk/reference/debt-and-debt-relief-in-the-developing-world)

Mặc dù đem lại nhiều lợi ích như vậy nhưng ở một số quốc gia việc quản lý nợ được thực hiện không tốt từ đó dẫn đến hệ lụy là quốc gia, tổ chức đó không thể trả

nợ Dẫn đến những khoản nợ xấu, khó đòi và ảnh hưởng tiêu cực đến cả nền kinh tế

Để quản lý, đưa ra các biện pháp xử lý những khoản nợ khó đòi này Cả nước đi vay cũng như các nước cho vay phải có biện pháp phù hợp để đảm bảo lợi ích hài hòa giữa chủ nợ và con nợ

Nợ xấu và quản lý đang là đề tài nóng, được thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn từ phạm vi toàn cầu, châu lục, các liên minh đến các tổ chức quốc tế, cũng như tại từng quốc gia Với đầy đủ mọi giới, từ các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và công chúng Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng như hiện nay Trên thế giới, nợ xấu và quản lý đã được nghiên cứu từ lâu nhưng ở Việt Nam chỉ mới được đề cập nhiều trong những năm gần đây,

Trang 8

nhất là sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ (2007-2009) và khủng hoảng nợ công châu

Âu (2009-2011), khi nợ công đang gia tăng nhanh chóng và sắp vượt ngưỡng an toàn Quản lý nợ xấu có vai trò hết sức quan trọng, bởi vì: nếu quản lý nợ xấu không hiệu quả có thể đưa một nước lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, thậm chí có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ Việc giám sát quá trình vay và trả nợ xấu không chặt chẽ có thể dẫn tới sự mất cân đối nghiêm trọng cho nền tài chính quốc gia Việc

sử dụng nguồn vốn vay công kém hiệu quả, sai mục tiêu và sự trì trệ trong thay đổi chính sách để thích nghi với bối cảnh hội nhập quốc tế có thể khiến các nước vay nợ

có nguy cơ trở thành những nước mắc nợ trầm trọng Chính vì vậy, quản lý nợ xấu như thế nào cho hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp bách trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã diễn ra trên 20 năm và ngày càng sâu, rộng sẽ tác động rất lớn đến nền KT-XH nói chung, cũng như an ninh tài chính

- tiền tệ quốc gia nói riêng, trong đó nợ xấu là vấn đề then chốt Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quản lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập, chưa theo kịp những chuẩn mực quốc tế, chưa xây dựng được một

hệ thống quản lý nợ xấu có hiệu lực, hiệu quả Ở Việt Nam, Quản lý nợ xấu là lĩnh vực mới mẻ cả về lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu cơ

sở lý luận khoa học, đúc rút các kinh nghiệm của việc quản lý nợ xấu không chỉ có ý nghĩa mang tính học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách Để làm rõ, em đã

chọn đề tài: “ Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018” để nghiên cứu, làm rõ hơn về vấn đề

này

Trang 9

2 Tổng quan tài liệu

Đã có một số bài viết, luận văn, bài báo viết về các phương thức quản lý nợ xấu nhiều cách khác nhau của các NHTM ở Việt Nam và trên thế giới Trong nền kinh tế quốc tế hiện nay, hoạt động vay nợ nước ngoài là một hoạt động diễn ra phổ biến trên toàn thế giới Hoạt động này có sự tham gia của các nước cho vay, các nước đi vay, các tổ chức

hỗ trợ tài chính quốc tế như IFM hay WB, ngân hàng Phát triển châu Á, hoạt động về quản lý nợ xấu đặc biệt cần được quan tâm, là vấn đề then chốt quyết định tiến trình phát triển của nền kinh tế Nợ xấu và xử lý nợ xấu từ trước đến nay luôn là mối lo ngại của các quốc gia Do vậy nghiên cứu xác định các yếu tố gây ra tình trạng tăng vọt của

nợ xấu cùng cách thức quản lý nợ xấu của các NHTM có ý nghĩa vô cùng quan trọng Luận văn thạc sĩ Tài chính Ngân hàng của Nguyễn Thị Thùy Dương (2015), xuất phát từ những thực tiễn, nhu cầu cần thiết và cấp bách của việc xử lý nợ xấu trong hoàn cảnh hiện tại , đã chỉ ra rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam, các nhân tố nào đã dẫn tới tình trạng nợ xấu Việt Nam tăng cao từ 2010 đến nay Nir Klein (2013) đã có một bài luận văn nghiên cứu để cho thấy nợ xấu có nguồn gốc bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau cấu thành, chủ yếu thuộc chính các NHTM do

đã đưa ra cac chính sách không hợp lý, thiếu sự chặt chẽ, quy trình quản lý lỏng lẻo, thiếu hợp lý, thiếu hiệu quả Việc chỉ tập trung vào đầu tư, chấp nhận rủi ro tiềm ẩn cao

để đi theo lợi nhuận là một sai lầm trầm trọng, một trong những nguyên do chính dẫn tới nợ xấu tăng cao, tiêu biểu cũng là một trong các lý do dẫn tới khủng hoảng kinh tế

2008

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) với đề tài “Quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam” Nghiên cứu này đã chỉ rõ được mức độ quan trọng trong công tác quản lý, xử lý nợ xấu với các ngân hàng Đồng thời, tác giả sử dụng Hiệp định Basel

II, một tiêu chuẩn quốc tế chung, một chuẩn mực để so sánh, để có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với việc quản lý nợ xấu trong hệ thống các NHTM

Kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia khác về vấn đề quản lý, xử lý nợ xấu rất đáng

để nghiên cứu, rút ra bài học, vậy nên PGS.TS Tô Ngọc Hưng (2012) với đề tài “Xử

Trang 10

kinh nghiệm quốc tế, rồi từ đó chỉ ra những giải pháp hữu ích, cụ thể để có thể giúp Việt Nam trong quá trình thay đổi các chính sách, tái cơ cấu hệ thống NHTM để có thể hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất Ngoài ra tác giả cũng chỉ ra 2 nhóm nguyên do chính dẫn đến tình hình nợ xấu tăng cao tại các NHTm Việt Nam là nhóm chủ quan từ chính bên trong nội bộ các NHTM Việt Nam và nhóm khách quan là các yếu tố từ môi trường kinh tế chính trị bên ngoài tác động

Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng của Nguyễn Tiến Đức (2017) đã cho một ví

dụ từ một chi nhánh của Ngân hàng Thương mại Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) trong công cuộc quản lý nợ xấu một cách hiệu quả Ở đây tác giả nghiên cứu phân loại các loại nợ xấu sử dụng các biểu đồ cụ thể kèm số liệu dẫn chứng rõ ràng để phân tích 2 nhóm nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đế lượng nợ xấu tăng nhanh Đồng thời đưa ra các giải pháp, kiến nghị về định hướng hoạt động kinh doanh,

tổ chức phân tích, phân loại nợ xấu định kì trong tương lai để có những bước đi đột phá trong chi nhánh này, góp phần làm tiền đề phát triển cho BIDV

Từ việc tổng quát một số công trình nghiên cứu tại Việt Nam và nước ngoài, chúng ta thấy được điểm chung đó là tầm quan trọng của công tác quản lý nợ xấu của các hệ thống NHTM bởi nó ảnh hưởng theo hiệu ứng dây chuyền, một mắt xích bị hỏng có thể dẫn tới sự sụp đổ của các bộ máy, ở đây là nền kinh tế Dẫn chứng cụ thể nhất đấy là khủng hoảng kinh tế thế giới bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 Tuy nhiên các nghiên cứu này có nhược điểm là tập trung phân tích thiếu sự bao quát hệ thống, chủ yếu tập trung vào một số ngân hàng tiêu biểu để làm dẫn chứng Đồng thời các giải pháp quản lý, hạn chế nợ xấu, nợ khó đòi, và nguyên nhân, các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam còn chưa sâu Đây có thể là đầu mối để cải thiện nghiên cứu này, lấp đầy những khoảng trống mà các bài nghiên cứu kia còn thiếu sót, thực hiện tốt hơn bài nghiên cứu này của mình

Trang 11

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chính: Tập trung phân tích thiếu sự bao quát hệ thống, chủ yếu tập trung vào một số ngân hàng tiêu biểu để làm dẫn chứng, để tìm ra các giải pháp quản lý, hạn chế nợ xấu, nợ khó đòi, và nguyên nhân, các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam

Thứ nhất, tìm hiểu về mục đích, vai trò và tình hình nợ xấu của các ngân hàng

thương mại tại Việt Nam??? Các chỉ số phản ánh nợ xấu , các nhân tố tác động đến NPL và các biện pháp xử lý nợ xấu

Thứ hai, tìm hiểu về cách thức xử lý, kinh nghiệm phòng ngừa nợ xấu ở một số quốc

gia

Thứ ba, tìm hiểu về nợ xấu, thực trạng và các biện pháp xử lí nợ xấu của các ngân

hàng thương mại tại Việt Nam

Thứ tư, từ bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia và thực trạng NPL ở Việt Nam  rút ra bài học cho Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của bài là nợ xấu ở một số ngân hàng thương mại Việt Nam và ngân hàng nước ngoài

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Việt Nam, một số NHTM tại Mỹ, Arghentina, Hàn Quốc (những cuộc khủng hoảng tiêu biểu, ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quốc gia, từ đó đến nay các quốc gia này đã có những biện pháp cải thiện để có thể vực dậy toàn bộ nền kinh tế)

Trang 12

- Phạm vi thời gian: 2008-2018 (bởi hệ thống NHTM bắt đầu có những chuyển biến mới, ngày một cải thiện từ những kinh nghiệm đúc rút được từ cuộc khủng

hoảng tài chính làm rung chuyển thế giới năm 2008)

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

Phương pháp thu thập số liệu: Tài liệu, số liệu được sử dụng trong bài viết chủ yếu được kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, khoá luận, luận án và các trang thông tin điện tử chính thức của các bộ, ngành liên

quan

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm

Dựa trên những tài liệu thứ cấp, phân tích và tổng hợp lại các chính sách, kinh nghiệm hay của các quốc gia đã sử dụng để tham khảo và học hỏi áp dụng vào Việt Nam để quản lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt hiệu quả tối đa

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và nợ xấu ở các ngân hàng thương mại

Chương 2 Thực trạng và các biện pháp xử lí nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU Ở CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Ngân Hàng Thương Mại

1.1.1.Khái niệm

Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng, tùy thuộc và từng quốc gia và luật pháp của từng nước cũng như từng vùng lãnh thổ khác nhau Khi đi sâu vào khai thác phân tích thì chúng ta có thể nhận ra một điểm chung của các định nghĩa là ngân hàng thương mại được hiểu là một tổ chức kinh tế, nó có nhiệm vụ chuyên biệt trong các hoạt động về tài chính, cung cấp tiền tệ những dịch vụ tài chính liên quan giữa ngân hàng với công chúng hoặc ngược lại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh

tế Tùy thuộc vào tính chất mục tiêu hoạt động của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, Ngân hàng bao gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, và các loại hình Ngân hàng khác, trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và

số lượng các Ngân hàng

Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam quy định: “Ngân hàng

thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho

vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”

Theo luật các tổ chức tín dụng (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của NHTM).: “NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện

toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục

Trang 14

tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khách của

pháp luật”

Theo nghĩa rộng, NHTM dùng để chỉ các định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác nhau Theo nghĩa hẹp, khái niệm này dùng để chỉ các ngân hàng tổng hợp thực hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi viết séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay (thường là ngắn hạn), môi giới chứng khoán v,v…

Như vậy, NHTM không chỉ là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch

vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan, mà còn là một định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nên kinh tế thị trường và đời sống xã hội của người lao động Nền kinh tế ngày càng phát triển làm cho đời sống người lao động được cải thiện và nâng cao kéo theo các hoạt động liên quan đến tiền gửi ngân hàng cũng một tăng làm NHTM cũng ngày càng hoàn thiện hơn và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế nước nhà

1.1.2.Các hoạt động

Hoạt động huy động nguồn vốn

Đây là hoạt động đặc trưng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Nghiệp

vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép

sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế

Các thành phần nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác

- Vốn tự có của NHTM gồm các vốn điều lệ và các quỹ dự trữ Vốn tự có hình

thành từ vốn của chủ sở hữ khi ngân hàng mới đc thành lập, là nguồn vốn bổ

Trang 15

sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữu Sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định năng lực và sự phát triển của ngân hàng thương mại Vốn tự có có tính ổn định cao và tăng liên tục hằng năm

Đây là yếu tố quan trọng nhất của ngân hàng để cho thấy quy mô của ngân hàng và khả năng tài chính của ngân hàng để đảm bảo xử lý được khi có các khoản nợ phát sinh, là tiền để để để nhận được sự đầu tư từ các nhà đầu tư, + Vốn điều lệ của NHTM: là vốn để xây dựng nhà cửa, văn phòng, phục vụ cho việc mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời phần còn lại của vốn điều lệ còn được sử dụng để đầu tư, liên doanh, cho vay

+ Các quỹ dự trữ: được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng, được trích lập theo tỷ lệ quy định trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng Bao gồm quỹ dự trữ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phát triển ký thuật nghiệp vụ, quỹ khen thường,

- Vốn huy động của NHTM: là vốn tiền tệ, các khoản tiền đầu tư được NHTM

huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền tiết kiệm, trái phiếu, kỳ phiếu, Đây là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau mà NHTM chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả lại đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi các chủ sở hữu có nhu cầu rút Đây là nguồn vốn chính để ngân hàng kinh doanh tiền tệ, có vị trí quan trọng và chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của

các NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 80%)

- Vốn đi vay của NHTM: là khoản tiền mà NHTM đi vay mượn từ ngân hàng

trung ương (hoặc ngân hàng nước ngoài), các tổ chức tín dụng nhằm chi trả khi khả năng huy động vốn bị hạn chế, đồng thời để chống rủi ro thanh khoản của các NHTM Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngân hàng, chủ yếu là vốn ngắn hạn, chi phí cao cấp phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, lãi suất cao hay thấp

của ngân hàng trung ương, của các tổ chức tín dụng

Trang 16

- Các loại vốn khác của NHTM: là các nguồn vốn mà ngân hàng huy động được

từ việc cung cấp các phương tiện phục vụ cho việc thanh toán như séc,tiền ký quỹ để mở L/C- Letter of Credid hoặc cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư

Hoạt động sử dụng vốn:

Cho vay và đầu tư là 2 hoạt động quyết định, quan trọng nhất đối với khả năng tồn tại, hoạt động và phát triển của NHTM Ngoài ra còn có cả hoạt động dự trữ (đối với tài sản tự có của NHTM)

- Dự trữ (Reserve): Các NHTM sử dụng vốn để kinh doanh nhằm mục đích thu

lợi nhuận, tuy nhiên cần phải đảm bảo sự an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng, của các nhà đầu tư Chính vì vậy nguồn vốn, tài sản tự có của NHTM là phần nguồn vốn không sử dụng, được NHTM dự trữ để có thể sẵn sàng xử lý tình huống khó khăn, đảm bảo được khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, các nhà đầu tư Ngân hàng nhà nước cho phép

ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định Phần dự trữ này gồm

+ Dự trữ sơ cấp (Primary reserves): tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tại các ngân hàng khác

+ Dự trữ thứ cấp (Secondary reserves): tồn tại dưới dạng chứng khoán như tín phiếu kho bạc, các giấy nợ ngắn hạn khác chỉ sử dụng khi dự trữ sơ cấp cạn kiệt

- Cho vay (Loans): là hoạt động của NHTM mà ở đó một pháp nhân gọi là người

cho vạy để cho một người khác gọi là người đi vay sử dụng một số tiến với cam kết hoàn trả kèm theo lãi Số tiền mà NHTM dùng để cho vay xuất phát từ số tiền mà NHTM huy động được Lợi nhuận thu được của NHTM phụ thuộc vào

sự chênh lệch giữa phí để huy động được nguồn vốn và lãi suất mà NHTM cho vay Đây là hình thức đầu tư chứa nhiều rủi ro lớn khi NHTM không thu hồi được vốn vay, người đi vay trả không hết hoặc không đúng hạn Đó là lí do NHTM thường sử dụng một số hình thức cho vay có khả năng đảm bảo cao như:

Trang 17

+ Chiết khấu (Discount): là một hình thức cho vay ngắn hạn của NHTM mà khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán cho NHTM như trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, tín phiếu, kì phiếu NHNN hoặc các tổ chức khác phát hành

Theo Luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12: "Chiết khấu là việc mua có kì

hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán".

+ Cho thuê tài chính (Financial leasing): Là loại hình tín dụng trung hoặc dài hạn NHTM dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định Người đi thuê phải trả tiền thuê cho NHTM định kỳ Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên NHTM

+ Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee): là hình thức cho vay mà khách hàng được NHTM cấp bảo lãnh, nhờ đó mà khách hàng có thể vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết

Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: "Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc

tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận."

- Đầu tư (Investment): Đây là khoản mục đem lại nguồn thu nhập lớn cho

NHTM NHTM sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn huy động được để đầu tư dưới các hình thức như mua vốn cổ phần, cố phiếu của các công tư khác hoặc mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu của các công

ty Các hoạt động này đều đem lại rủi ro tuy nhiên nếu đầu tư vào trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương thì độ rủi ro sẽ giảm bớt

Trang 18

Các hoạt động trung gian khác:

- Các hoạt động dịch vụ của các NHTM trên thế giới đang ngày càng phát triển, đem lại lượng lớn lợi nhuận Riêng ở Việt Nam con số này chỉ khoảng 25% tổng lợi nhuận Tuy nhiên đối với nước ta, một đất nước đang trong đà phát triển, thì việc đa dạng cũng như cải tiến các dịch vụ ở NHTM đang rất được quan tâm:+ Nhận bảo quản các tài sản quí giá, giấy tờ quan trọng: đội ngũ nhân viên bảo

vệ cùng các két sắt giữ tiền an toàn nên khách hàng có thể ký gửi các tài sản quý, giấy tờ quan trọng,

+ Tư vấn tài chính: tư vấn cho khách hàng về tiết kiệm, đầu tư, giúp khách hàng, các doanh nghiệp vạch ra kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư cho riêng mình

+ Nghiệp vụ ủy thác: các NHTM nhận ủy thác từ các khách hàng để quản trị các tài sản khác có thể bằng tiền, hiện vật và quản trị các hoạt động tài chính cho các cá nhân và các doanh nghiệp thương mại

+ Ngân hàng trực tuyến: các loại hình dịch vụ tài khoản, chuyển tiền, thanh toán quốc tế, ngân hàng điện tử online, phone banking, internet banking,

+ Bán các dịch vụ bảo hiểm: bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng để đảm bảo hoàn trả cho khách hàng trong trường hợp gặp tai nạn bị tàn phế hoặc chết NHTM thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các thỏa thuận đại lí kinh doanh độc quyền từ các công ty bảo hiểm Các công ty bảo hiểm đặt một văn phòng đại lí tại ngân hàng và ngân hàng sẽ là trung gian, nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ bảo hiểm đó

Trang 19

1.1.3.Phân loại

Dựa vào hình thức sở hữu

- NHTM nhà nước: là ngân hàng được thành lập từ vốn thuộc Ngân sách Nhà nước, là trụ cột nền kinh tế, ví dụ: Ngân hàng TMCP VietinBank

- NHTM cổ phần: là các NHTM được thành lập từ vốn góp các cổ đông, kinh

doanh đa năng, ví dụ: Ngân hàng TMCP ACB, ngân hàng TMCP

SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank,

- NHTM liên doanh: là các NHTM do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng

góp của các đối tác nước ngoài không quá 50% vốn điều lệ, ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina, Ngân hàng liên doanh Viet Lao,

- Chi nhánh NHTM nước ngoài: là các NHTM được thành lập theo pháp

luật Việt Nam do chủ sở hữu nước ngoài cấp 100% vốn, ví dụ: Ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam,

Dựa vào chiến lược kinh doanh

- NH bán lẻ: là các NHTM tập trung khai thác nhóm đối tượng khách hàng là

cá nhân hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy giá trị của các sản phẩm nhỏ nhưng bù lại là lực lượng khách hàng rất lớn do sản phẩm đa dạng đáp ứng

nhu cầu nhiều khách hàng

- NH bán buôn: là các NHTM tập trung nhắm đến đối tượng khách hàng là

các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp, xí nghiệp lớn Tuy sản

phẩm không đa dạng nhưng giá trị từng giao dịch thường rất lớn

- NH vừa bán buôn vừa bán lẻ: là các NHTM thực hiện song song cả bán

buôn và bán lẻ, ví dụ: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Seabank),

1.1.4.Vai trò của NHTM trong nền kinh tế

NHTM là một lĩnh vực không thể thiếu và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của một đất nước

Trang 20

Là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường

Nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải sản xuất rất nhiều để

có thể phục vụ cho nhu cầu của người dân Để điều này khả thi thì phải cần nguồn vốn dồi dào, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có nguồn vốn tự thân để

có thể đáp ứng được điều này Vì vậy hầu hết các doanh nghiệp phải vay mượn, kêu gọi vốn đầu tư từ các NHTM để có thể sử dụng cho việc thuê lao động, máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất để có thể đầu tư cho sản xuất và lưu thông ra thị trường

Là trung gian thanh toán, tài chính

Các NHTM sẽ thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa

và dịch vụ Ngoài ra, việc có các NHTM làm trung gian sẽ giảm thiểu các rủi ro, bảo đảm sự an toàn cho các giao dịch Đồng thời các NHTM giúp tiết kiệm cho xã hội chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa bằng các công cụ lưu thông như sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán,

Là công cụ giúp nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Nhà nước điều tiết các hoạt động của các NHTM thông qua những công cụ điều hành chính sách tiền tệ để từ đó,điều tiết nền kinh tế vĩ mô Các hoạt động kinh doanh của các NHTM gắn liền với các doanh nghiệp, các chủ thể, tổ chức trong nền kinh tế, điều này ảnh hưởng tới tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá, và ảnh hưởng tới chính phủ trong việc đưa ra những chính sách phù hợp để điều tiết nền kinh tế

Là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia

Xu hướng toàn cầu hóa tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó

có Việt Nam Nước ta đang là một trong những nước dần dần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc hội nhập quốc tế Chúng ta không chỉ hợp tác về chính trị mà

cả về các vấn đề kinh tế với các quốc gia khác Vì vậy NHTM sẽ góp phần thu hút vốn và mở rộng đầu tư trong và ngoài nước để thúc đẩy nền kinh tế

Trang 21

1.2 Nợ xấu

1.2.1.Khái niệm

Nợ xấu hay còn gọi là nợ quá hạn là khoản nợ mà người đi vay (có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp) không thể trả gốc và lãi vào ngày đến hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

1.2.2.Phân loại

Theo QĐ 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 Về Phân Loại Nợ, Trích Lập Và

Sử Dụng Dự Phòng Rủi ro Tín Dụng Trong HĐ Của Tổ Chức Tín Dụng của thống

đốc NHNN ban hành, nợ xấu được phân loại thành:

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng

trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3

và Khoản 4 điều này

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3

và Khoản 4 điều này

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý

Trang 22

- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3

và Khoản 4 điều này

1.2.3 Các tiêu chí nhận biết nợ xấu

Dấu hiệu của một khoản vay có biểu hiện nguy cơ nợ xấu:

- Tính khả thi của dự án thấp

- Sản phẩm làm ra của dự án không tiêu thụ được, bị ứ đọng, trì trệ

- Thu nhập của bên đi vay giảm sút hoặc không ổn định

- Vốn vay bị sử dụng sai mục đích

- Nợ vay hoản trả không đẩy đủ, không đúng thời hạn

- Báo cáo tài chính bắt buộc nộp cho ngân hàng bị bên đi vay trì hoãn, biểu hiện không thiện chí, lẩn tránh khi có người từ ngân hàng đến kiểm tra

- Ban lãnh đạo của doanh nghiệp đi vay thay đổi hoặc lục đục nội bộ

- Thiên tai, hỏa hoạn cũng có thể gây ảnh hưởng tới các chính sách vay vốn

1.2.4 Nguyên nhân của nợ xấu

1.2.4.1 Nguyên nhân chủ quan

 Từ phía khách hàng, nợ xấu tăng mạnh từ việc sử dụng vốn vay sai mục đích,

sử dụng để chuộc lợi hoặc vay số lượng vốn quá lớn, tạo độ rủi ro cao, gây khó khăn cho NHTM trong việc thu hồi vốn Trong nhiều trường hợp, khách hàng còn không có thiện chí, trốn tránh, cố tình lờ đi trong việc chi trả nợ, thậm chí là thiếu

sự minh bạch, chân thật trong việc khai báo tình hình tài chính, tình hình sử dụng vốn cho ngân hàng Điều này cũng là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến

sự gia tăng nợ xấu

 Từ phía các NHTM, TCTD, các nguyên nhân chủ quan đến từ quy trình hoạt động, cơ cấu trong việc giám sát, đề phòng, xử lý rủi ro sản sinh các khoản nợ khó đòi, nợ quá hạn, nợ xấu chưa hợp lý, năng lực quản lý tài chính của bản thân còn hạn chế, thiếu sự kỷ luật trong việc tuân thủ chặt chẽ các quy chế, quy trình quản

Trang 23

lý nợ xấu của pháp luật Ngoài ra, còn một phần nhỏ liên quan đến đạo đức nghề nghiệp từ các nhân viên, bộ phận cán bộ làm việc tại các TCTD, NHTM bị biến chất, lợi dụng quyền hạn, chức năng của mình để thực hiện các hành động phi pháp, thiếu tính lành mạnh, an toàn nhằm mục đích chuộc lợi làm ảnh hưởng đến

uy tín làm việc cũng như an ninh của các TCTD, NHTM

1.2.4.2 Nguyên nhân khách quan

 Sự biến động, thiếu ổn định trên thị trường tài chính tiền tệ và kinh tế quốc tế

sẽ gây ra tác động rất lớn đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những nước đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, chất lượng kinh tế cũng chưa tăng trưởng cao, nợ công tăng nhanh Vì thế, các doanh nghiệp để tốn tại phụ thuộc rất nhiều vào việc vay vốn từ các NHTM, dẫn đến rủi ro nợ xấu của các NHTM tăng nhanh

 Ảnh hưởng từ môi trường tự nhiên, thời tiết, thiên tai, lũ lụt, hạn hán cũng ảnh hưởng lớn tới thị trường, đồng thời cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoàn vốn vay lại cho các NHTM dẫn đến những khoản nợ quá hạn, nợ xấu, đặc biệt là quy mô hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn nhỏ, làm sự tác động càng thêm trầm trọng

 Hệ thống đã có một số các cơ chế chính sách về xử lý tài sản, các quy định pháp luật về giảm thiểu cũng như giải quyết nợ xấu của các TCTD như các quy định về định mức trích quỹ dự phòng rủi ro, quy định về phân loại nợ, quy định về cách thức xử lý các tài sản đảm bảo nợ, quy định về phát mại, khởi kiện, quy định về các hoạt động mua bán nợ, Tuy nhiên các quy định còn nhiều hạn chế, còn bất cập nên dù đã giải quyết phần nào về tình trạng nợ xấu nhưng chưa hợp lý, minh bạch, gây mất nhiều thời gian, khó khăn trong quá trình thu hồi nợ

1.2.5 Tác động của nợ xấu

 Với nền kinh tế

Hệ thống các NHTM liên kết chặt chẽ với nền kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, để thu hút , cung cấp nguồn

Trang 24

vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế phục vụ các hoạt động kinh doanh Vì vậy rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến cả nền kinh tế của một đất nước Khi các mức độ rủi ro tín dụng ở mức độ thấp, cơ hội để có thể mở rộng hoạt động sản xuất, mở rông kinh doanh của các khách hàng sẽ giảm mạnh, hạn chế, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế Khi các mức độ rủi ro tín dụng tăng lên cao hơn, thậm chí đến mức độ có thể khiến một NHTM có nguy cơ phá sản thì hiệu ứng domino sẽ tác động lên toàn bộ hệ thống NHTM bởi các NHTM liên kết với nhau Điều này có thể dẫn tới sự khủng hoảng ở mức độ rất cao đối với

cả nền kinh tế, ảnh hưởng tới cả xã hội của một quốc gia

 Với khách hàng

Bởi nợ xấu không chỉ tác động đến một NHTM mà còn có khả năng tác động đến

cả hệ thống nên sẽ rất khó để khách hàng có thể tiếp cận các ngân hàng để vay vốn bởi những khoản nợ xấu đã làm khách hàng mất uy tín đối với các NHTM Đặc biệt, khi các NHTM có khả năng bị phá sản, chủ thể đi vay còn thậm chí có nguy

cơ mất cả gốc lẫn lãi đã gửi vào ngân hàng

 Với các NHTM

Việc nợ xấu gia tăng, các NHTM không thu hồi được lượng vốn đã đem cho vay, không thu được lãi từ các khoản vốn vay đó, dẫn đến không thu được lợi nhuận chỉ tiêu để ra Để duy trì hoạt động, NHTM cần nguồn vốn được trích ra tử lợi nhuận, nên nếu lợi nhuận không đủ theo kế hoạch, họ sẽ phải trích từ quỹ dự phòng rủi ro, quỹ của chính bản thân để bù lại số tiền lỗ, bù đắp thiệt hại Điều này có thể gây ảnh hưởng tới đà phát triển, kế hoạch đầu tư, mở rộng quy mô của ngân hàng Hơn nữa, nếu nguồn vốn tự có không đủ mạnh, sẽ mất uy tín cũng như hình ảnh bị ảnh hưởng trong mắt các nhà đầu tư, dẫn đến nguồn lực tài chính từ các nhà đầu tư bị thất thoát, rồi dần dần có thể dẫn đến nguy cơ phá sản, ảnh hưởng tới cả hệ thống ngân hàng

Trang 25

1.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu ở các ngân hàng

Kiểm soát chất lượng tín dụng

- Các ngân hàng cần rà soát, kiểm tra một cách đầy đủ, kỹ lưỡng đối với các

dự án vay, người vay vốn trước khi kí kết hợp đồng cho vay đối với các đối tượng đó Cần kiểm tra tính khả thi cũng như khả năng sinh lời của các dự

án đó, đồng thời kiểm tra khả năng tài chính của khách hàng đi vay để tính tới việc khách hàng có khả năng trả nợ hay không Vốn vay càng lớn, rủi ro

sản sinh ra nợ xấu, nợ quá hạn càng cao

- Khi đến hạn, các NHTM cần tiến hành thu nợ nhanh chóng, hợp pháp Có thể tiến hành các biện pháp hỗ trợ theo quy định của luật tài chính để giảm lãi suất, gia hạn nợ, cho khách hàng nếu khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ Đồng thời sử dụng các hình thức đúng đắn theo pháp luật khi khách hàng có dấu hiệu trốn nợ, thiếu thiện chí trong việc trả nợ hoặc có dấu

hiệu lừa đảo

- Tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an

toàn hệ thống

Xác định mức độ rủi ro một cách tối đa

- Vì hệ thống tín dụng đem lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM nên xác định mức độ rủi ro là điều tối quan trọng để tránh mất mát lớn Bất kì một hoạt động nghiệp vụ nào cũng chứa đựng rủi ro, nên vốn vay càng lớn, khoản đầu tư tín dụng tiềm ẩn rủi ro, có nguy cơ chuyển sang nợ quá hạn, nợ xấu

Trang 26

- Cải thiện hệ thống thông tin, điện tử một cách chính xác để có thế thu thập thông tin, đánh giá thị trường để có thể đưa ra các đánh giá chính xác nhất, cải thiện khả năng quản lý các rủi ro

- Phân tích, đánh giá các rủi ro có thể xảy ra trong từng quy trình nghiệp vụ, lập danh sách, thống kê về tài sản, khả năng của ngân hàng, khả năng của người đi vay, tình hình kinh tế để có thể sớm phát hiện rủi ro và xử lý kịp thời

1.3.1.2 Xử lý nợ xấu

Tái cơ cấu nợ

- Đây là biện pháp đang được áp dụng ngày càng nhiều hơn và có vẻ nhân đạo hơn Thay vì đẩy những khách hàng vào tình thế khó khăn khi không thanh toán được khoản nợ, làm sản sinh ra các khoản nợ xấu, thì các NHTM tái cấu trúc và bàn phương án trả nợ như miễn giảm lãi, miễn giảm các khoản phải chi trả, hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ hay gia hạn nợ, tuy nhiên điều này còn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí trả nợ của khách hàng, đồng thời phải tuân thủ theo các quy định pháp luật của Nhà nước

- Biện pháp này là cách tránh áp lực trả nợ để hỗ trợ khách hàng., doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh NHTM cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp khách hàng vượt qua khó khăn, làm tiền để giải quyết các khoản nợ trước đây với ngân hàng Đây là biện pháp tạm chấp nhận được mặc dù rủi ro của

nó khá cao

Bán các khoản nợ

- Sử dụng khi các khoản nợ không có tài sản đảm bảo hoặc 2 bên người đi vay

và người cho vay không muốn mất thời gian đòi nợ NH sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cả nhân khác có chức năng theo quy định hợp pháp để sớm thu lại vốn của mình NHTM thường sẽ bán với giá thấp hơn ban đầu đối với các khoản nợ này để có thể thu hồi vốn

Trang 27

nhanh chóng, tránh gia tăng thêm các khoản nợ xấu, tránh ảnh hưởng đến các khoản nợ khác

- Các NHTM thường thành lập một công ty con có tính chuyên môn cao gọi

là AMC – Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ( Asset Management Company), là cơ quan triển khai các hoạt động thu hồi nợ, trong đó 3 biện pháp chính được áp dụng là đôn đốc khách hàng trả nợ, thu giữ tài sản đảm bảo và khởi kiện khách hàng AMC sẽ sử dụng chức năng của mình để tiếp

nhận các khoản nợ và thực hiện các hoạt động mua bán

Sử dụng quỹ để phòng rủi ro để bù đắp các khoản nợ

- Quỹ dự phòng rủi ro thuộc tài sản tự có của các NHTM là nguồn vốn, tài sản

tự có của NHTM là phần nguồn vốn không sử dụng, được NHTM dự trữ để

có thể sẵn sàng xử lý tình huống khó khăn, đảm bảo được khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, các nhà đầu tư Ngân hàng nhà nước cho phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất

thể là lừa đảo, buộc NH phải sử dụng biện pháp này

- Phát mại tài sản là quá trình ngân hàng hoặc đơn vị đứng ra cho vay vốn công bố và bán tài sản của người đi vay công khai theo thủ tục do pháp luật

quy định để thanh toán khoản nợ mà người đi vay không có khả năng chi trả

- Biện pháp này là không mong muốn, thường là biện pháp cuối cùng bởi nó

quá phức tạp, nhiều thủ tục, tốn thời gian

Ngày đăng: 16/03/2021, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w