1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương hệ thống thể loại và ngôn ngữ trong vh trung đại

19 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương hệ thống thể loại và ngôn ngữ trong VH trung đại
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Văn học Trung Đại
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản Không rõ
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 30,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 1 Ngâm khúc 1 1 Khái niệm ngâm khúc Ngâm khúc là tác phẩm thơ trữ tình trường niêm phản ánh tâm trạng đau buồn, sầu uất triền miên của con người trước bi kịch của cuộc đời H.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:

1 Ngâm khúc:

1.1 Khái niệm ngâm khúc:

- Ngâm khúc là tác phẩm thơ trữ tình trường niêm phản ánh tâm trạng đau buồn, sầu uất triền miên của con người trước bi kịch của cuộc đời Hầu hết các tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát (STLB), riêng Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn được viết bằng chữ Hán thể trường đoản cú

- Ngâm khúc là một trong ba thể loại lớn được viết bằng ngôn ngữ dân tộc, đóng góp một sứ mạng không thể thay thế trên cả lĩnh vực nội dung và nghệ thuật từ thế kỉ XVIII-đến nửa đầu thế

kỉ XIX Đi sâu vào nội tâm của con người là khuynh hướng nổi bật của giai đoạn này Với thể thơ STLB lần đầu tiên tâm trạng đau buồn, sầu hận của con người được thể hiện thành thơ, khẳng định chức năng thẩm mỹ độc đáo của thể loại văn học Ở giai đoạn này, với quy mô trường thiên của thể thơ dân tộc, độc đáo với nội dung mang cảm hứng nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa

xã hội rộng lớn, với ngôn ngữ điêu luyện, ngâm khúc là thể loại đặc sắc kết tinh truyền thống thơ ca dân tộc Thành công rực rỡ nghệ thuật phản ánh bước trưởng thành vượt bậc của thơ ca trữ tình trong thành tựu trung đại Việt Nam

1.2 Cơ sở hình thành, phát triển ngâm khúc:

-Cơ sở lịch sử, xã hội:

+Thế kỉ XVIII-đầu thế kỉ XIX bối cảnh xã hội có nhiều bất ổn chính trị khủng hoảng, kinh tế suy thoái cuộc sống con người đối mặt với nhiều khó khăn Cho phép người ta cảm nhận được nỗi đau của mọi kiếp người trong xã hội một cách rõ rệt, con người có nhu cầu giãi bày tâm sự, kể lể nỗi lòng Ngâm khúc ra đời đáp ứng những đòi hỏi ấy của con người

+ Ở đô thị lớn, kinh tế hàng hóa trong bối cảnh hỗn loạn, không

bị quản chế ngặt nghèo đã có những bước pháp triển, kéo theo

đó là sự xuất hiện của tầng lớp thị dân Ở tầng lớp này nhu cầu

cá nhân, ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc phát triển mạnh mẽ và đã tác động đến đời sống tinh thần thời đại Con người nhận ra sự đối lập giữa hiện thực và khát vọng sống, khát

Trang 2

vọng hạnh phúc của họ Sự thất vọng, bi quan bao trùm Ngâm khúc đã khai thác triệt để tâm trạng này

- Cơ sở văn hóa, văn học:

+Sự ra đời hoàn thiện của chữ Nôm như một ngôn ngữ dân tộc, những thể nghiệm để khẳng định ưu thế của chữ Nôm trong việc phản ánh vấn đề thuộc về cuộc sống đời thường, đời sống tâm tư tình cảm người Việt Sự phát triển của thể thơ trữ tình,

tự tình thời trung đại Đặc biệt là những tác phẩm trữ tình, tự tình dài hơn: ca, ngâm, hành, văn khúc, vịnh… Chữ Hán, chữ Nôm Trong đó có một nhân vật trữ tình tự giãi bày cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự ra đời và phát triển ngâm khúc

- Sự phát triển của ngâm khúc:

+ Từ thơ thể hiện đạo lí-> thơ tỏ lòng (giãi bày tình cảm, mắt thấy tai nghe)-> góp phần cho sự ra đời của Ngâm khúc

- Ngâm khúc ra đời gắn với sự hình thành và hoàn thiện của thơ STLB trong văn học viết

- Vào nửa đầu thế kỉ XVIII, Ngâm khúc chính thức ra đời với tác phẩm của Đặng Trần Côn và bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc Sau đó hàng loạt tác phẩm thơ Nôm trường thiên viết theo thể STLB xuất hiện (ngắn nhất là Thu dã lữ hoa ngâm, có

140 câu: dài nhất là Tự tình khúc, gồm 608 câu) Khác với những thế kỉ trước, các tác phẩm này đều viết về nỗi đau buồn, sầu uất của con người trước vấn đề số phận và quyền sống Nội dung ngâm khúc không có cốt truyện mà là sự thể hiện dòng tâm trạng nhân vật Tuy vậy, qua mỗi tác phẩm người đọc vẫn hiểu được giá trị, tình cảm, số phận và khát vọng của nhân vật trữ tình Tất cả hiện lên trong dòng suy tư mang cảm hứng trữ tình bi thương, là sự nhận thức bằng điểm nhìn mang nhiều cung bậc tâm trạng của chủ thể trữ tình Trong những sáng tác này, tâm trạng bi kịch của con người là đối tượng trung tâm của

sự phản ánh nghệ thuật

1.3 Diễn tiến và vị trí của Ngâm khúc:

- Giai đoạn hình thành XVI-XVII: Giai đoạn này là sự tìm tòi, thể nghiệm nội dung (cảm hứng) và hình thức (thể thơ)

- Giai đoạn phát triển từ giữa XVIII- XIX:

Trang 3

+ Thế kỉ XVIII với ba ngâm khúc lớn: Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Ai tự vãn Những nhân vật phụ nữ chiếm vai trò trung tâm trong khúc ngâm: tình yêu, hạnh phúc, viết về người phụ nữ bất hạnh mang tính chất giới như xa chồng, chồng chết, chồng ruồng bỏ, không lấy được chồng…

+ Thế kỉ XIX: Hai khúc ngâm lớn là "Tự tình khúc", "thu dạ lữ hoài âm"

"Tự tình khúc" có quy mô lớn nhất (608 câu), Cao Bá Nhạ (cháu Cao Bá Quát), viết khi Cao Bá Nhạ bị bắt giam do CBQ chống lại triều đình "Thu dạ lữ hoài âm" cũng được viết khi tác giả bị bắt giam do có liên quan đến CBQ Cả hai nhân vật trữ tình đều là nam giới

- Giai đoạn thoái trào: từ đầu thế kỉ XX-giữa XX: Số lượng ngâm khúc (17 ngâm khúc) Không có tác phẩm nào đạt thành tích nổi bật như giai đoạn trước, nhân vật trữ tình phong phú, đa dạng hơn

- Ngâm khúc có quá trình hình thành và hoàn thiện trong hai thế kỉ Trên những chặng đường phát triển, các tác phẩm đều phản ánh dòng tâm trạng đau buồn của con người trước những

bi kịch của thời đại Ngâm khúc đã đánh dấu khung hướng mới của văn học trung đại Việt Nam, đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của con người với những cung bậc cảm xúc khác nhau

- Vị trí của ngâm khúc:

+ Ngâm khúc là thể loại nội sinh, một trong hai thể loại văn học

có quy mô lớn, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đóng góp quan trọng vào việc kiến tạo diện mạo văn học Việt Nam Sự có mặt của ngâm khúc góp phần khẳng định bước trưởng thành và sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam Với ngâm khúc lần đầu tiên trong văn học đời sống nội tâm con người được khai thác và biểu đạt trọn vẹn Từ việc khám phá con người bên trong những vấn đề bức thiết về số phận và khát vọng của con người cá nhân được thể hiện sâu sắc

1.4 Đặc trưng nội dung và nghê thuật của Ngâm khúc:

1.4.1 Đặc trưng nội dung:

Trang 4

- Mỗi tác phẩm viết về tâm trạng nhân vật trước một phương diện hiện thực xã hội mang nỗi đau khổ của con người Dựa trên đối tượng trữ tình và nội dung biểu hiện, về cơ bản có thể chia khúc ngâm thành hai nhóm:

+ Những khúc ngâm viết về tâm trạng người phụ nữ bất hạnh: Với ba khúc ngâm lớn: Chinh phụ ngâm, cung oán ngân khúc, ai

tự vãn đều nói nỗi oan thán, lời than, nỗi niềm của người phụ

nữ, nhân vật trữ tình luôn xuất hiện khi hạnh phúc đã mất, hiện tượng này là sự phản ánh số phận của con người, bi kịch hồng nhan bạc mệnh Ngâm khúc là tiếng than cho số phận bi kịch của người phụ nữ, bày tỏ những tâm tư, khát vọng hạnh phúc Khát vọng hạnh phúc chính là tiếng nói chung của tất cả phụ

nữ, không phân biệt sang-hèn, quý tộc-bình dân Đó là tiếng nói

về quyền con người, vừa mang tính nhân bản, nhân văn vừa mang tính hiện thực sâu sắc

+ Những khúc ngâm viết về nỗi đau buồn của con người tha phương lữ thứ lại hàm oan: Nổi bật là hai tác phẩm "thu dạ lữ hoài âm" và Tự tình khúc, nhân vật trữ tình trong hai tác phẩm

là nam giới Mỗi khúc ngâm như một lời tự bạch, một dòng độc thoại nội tâm của nhân vật trữ tình Con người cô đơn đau khổ

tự chìm đắm trong những suy tư trước số phận bất hạnh Qua dòng tâm trạng bị kịch mang chất tự tình, tác giả từng khúc ngâm đã đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc Đặc biệt là khát vọng mãnh liệt về quyền sống, quyền hạnh phúc của con người trước thảm họa của chiến tranh phong kiến, của chế độ cung tần, trước sự bất công về pháp luật, sự đen bạc của thế thái nhân tình trong xã hội trọng đồng tiền hay sự nghiệt ngã của cái chết Nỗi đau của cảnh ngộ cùng nỗi đau mất hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình, mất quyền sống kết đọng lại thành "khối sầu vạn cổ"

1.4.2 Nghệ thật của Ngâm khúc:

- Tính tự tình là một trong những đặc trưng nổi bật của thể loại Ngâm khúc

- Kết cấu theo dòng cảm xúc nhân vật, quá khứ-hiện tại-tương lai Sự đồng điệu của ba thời đặt trong hệ soi chiếu nhau, lấy hiện tại làm trung tâm Trong tương quan ba thời, quá khứ-hiện tại được đề cập nhiều hơn cả

Trang 5

- Với giọng điệu than vãn, trần tình, kể lể, giãi bày, đầy sắc thái buồn thương sâu sắc

- Về ngôn ngữ:

+Với ngâm khúc tiếng Việt đã khẳng định khả năng to lớn trong việc biểu đạt thế giới tâm hồn người Việt, với mọi cung bậc cảm xúc trong đời sống nội tâm của con người đều được biểu đạt bằng hệ thống âm thanh, màu sắc, nhạc điệu phong phú Ngôn ngữ phong phú đa dạng tinh tế, giàu sức biểu cảm khi diễn tả các cung bậc cảm xúc trong thế giới nội tâm con người

+ Ngôn ngữ sống động, gợi cảm khi miêu tả thiên nhiên, ngoại hình, ngoại vật Ngôn ngữ có sự kết hợp hài hòa giữa Hán Việt

và Thuần Việt, giữa tình cảm trang trọng, điềm nhã và tình cảm đời thường, gần gũi, sinh động

- Về thể loại:

+ STLB là thể thơ sức mạnh đặc biệt trong phô diễn tâm trạng buồn Sự lặp lại mang tính chu kì của những khổ thơ cấu trúc giống nhau, góp phần diễn tả cái miên mang, vô tận, dường như không có điểm dừng của nỗi sầu não của con người

Nhạc tính dồi dào, nhịp điệu linh hoạt giúp tác phẩm ngâm khúc phản ánh được một cách tinh tế những trạng thái tình cảm khác Mô hình thể thơ STLB rất phù hợp với phương thức kết cấu đăng đối, trùng điệp, một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến

1.5 Tác phẩm trọng tâm: Chinh phụ ngâm

1.5.1 Giới thiệu chung về tác giả:

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là một kiệt tác bằng chứ Hán (gồm 470 câu) theo thể đoản trường cú (câu dài và câu ngắn xen nhau câu dài 13 chữ câu ngắn 3 chữ) Nội dung là lời than vãn, nỗi sầu oán của người phụ nữ khi có chồng ra trận lâu không về, cũng không có tin tức

- Ước đoán sáng tác năm 1720-1742

- Các bản diễn Nôm hiện hành, truyền đạt trọn vẹn hài cốt, tinh thần của nguyên tác Chinh phụ ngâm được phiên dịch ra nhiều bản khác nhau, bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc lưu hành

Trang 6

rộng rãi và hay nhất lâu nay vẫn được xem là của Đoàn Thị Điểm, gần đây nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng bản diễn Nôm hiện hành là của Phan Huy Ích Do vậy, việc xác định tác giả chưa được thống nhất Về tác phẩm chinh phụ ngâm khúc được coi là sáng tác đầu tiên sự hiện diện của một thể loại mới, trường ca trữ tình bằng ngôn ngữ dân tộc, thể thơ dân tộc-STLB

1.5.2 Nội dung tác phẩm "Chinh phụ ngâm khúc"

Chiến tranh phong kiến là tai họa khủng khiếp đối với con người thời trung đại, đặc biệt là người phụ nữ Vì vậy chiến tranh và nỗi khổ của người phụ nữ có chồng ra trận là đề tài quen thuộc trong văn học, bao gồm cả sáng tác dân gian cũng như sáng tác thành văn Bản thành văn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của hai người nghệ sĩ và tâm trạng con người thời đại Chinh phụ ngâm là tác phẩm mở đầu nhưng cũng là tác phẩm thành công nhất của thể loại khi viết về đề tài này Cuộc sống đau khổ, tâm trạng bi thiết và khát vọng thiết tha của người đàn bà vắng chồng hiện dần qua từng khổ thơ Người chồng ra trận để lại người vợ trẻ đơn chiếc nơi quê nhà Từ chốn "phòng không" cô quạnh, với tình yêu thương xen lẫn tự hào, người chinh phụ nhớ lại cảnh tiễn chồng lên đường với ánh hào quang của niềm kiêu hãnh Trong trái tim và ánh mắt nàng, hình ảnh người chồng-tráng sĩ thật hào hùng, đẹp đẽ:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

Sau những phút dùng dằng, "nhủ rồi tay lại cầm tay" là sự chia lìa Người chồng ra đi, nỗi buồn của người phụ nữ trĩu nặng, ngưng đọng cả không gian tiễn biệt Mang tâm trạng "sầu lên ngọn ải, oan ra cửa phòng" trở về nơi phòng cũ "lẻ loi", người vợ bắt đầu những ngày chờ đợi Nhớ thương, khắc khoải, trong suy tưởng của người chinh phụ hiện lên dự cảm về sự gian khổ, hiểm nguy, tiều tụy của chồng- kẻ chinh phụ nơi "tử địa"

Nỗi lo cho vận mệnh của chồng muôn dặm chiến trường, nỗi đau buồn vì tháng ngày xa cách xen nỗi cực lòng khi một thân gánh vác việc gia đình cứ chồng chất trong lòng người thiếu phụ Nhưng nhiều nhất vẫn là nỗi cô đơn, sầu muộn Nàng đau

Trang 7

buồn vì sự quạnh vắng trong xa cách, xót xa cho hạnh phúc lứa đôi tàn lụi theo năm tháng, càng đau buồn trước sự hủy hoại của thời gian đối với nhan sắc, tuổi trẻ và tình cảnh của chính bản thân "gai tơ mấy chốc mà ra nạ dòng"

Nỗi nhớ chồng nhiều khi làm cho người phụ nữ trở nên thảng thốt Trong con mắt tâm tư của nàng cảnh vật qua mùa mỗi tháng, mỗi người đã làm bùng cháy khát khao hạnh phúc lứa đôi Cảnh và tâm trạng con người có hai chiều ảnh hưởng, khi đồng điệu khi tương phản Những bức tranh thiên nhiên đặc sắc trong Chinh phụ ngâm vừa là thế giới tạo vật có đời sống, quy luật tác động tự nhiên khách quan, vừa là hinh tượng ẩn dụ cảm xúc:

"Sương như búa bổ mòn gốc liễu, Tuyết nhường cưa xẻ héo càng khô"

Sương tuyết lạnh lùng làm héo mòn cây lá nhưng cũng là hình tượng ẩn dụ kín đáo nói về cuộc sống cô đơn có sức mạnh tàn phá dung nhan, khát vọng và sức sống của người vợ đợi chồng Trong không gian, tiếng chim, tiếng côn trùng, tiếng chuông chùa, tiếng gió và cả bóng hoa, bóng nguyệt vừa thể hiện cảnh vắng vẻ, vừa thể hiện sự lẻ loi thậm chí đem đến cả cái giật mình chuyển tâm trạng Sự tương phản giữa cuộc sống tạo vật luôn sóng đôi, rạo rực yêu đương với cảnh ngộ người vợ trẻ đơn chiếc càng khắc sâu thêm nỗi cay đắng vì mỏi mòn chờ đợi Người chinh phụ ý thức rõ ràng cuộc sống một thân của mình là trái với tự nhiên Thực tế phũ phàng, cay nghiệt càng khơi dậy khát khao cuộc sống lứa đôi trong yêu đương Ở chinh phụ ngâm, buồn hay vui đều có ý nghĩa khắc họa nỗi khát khao hạnh phúc, niềm yêu thương thường trực, mãnh liệt cùng những điểm ẩn dấu sâu kín trong tâm trạng người đàn bà "chăn gối đơn chiếc" Một giải pháp tâm lí nhanh chóng được hiện ra để làm vơi bớt nỗi buồn nhớ chồng, người chinh phụ đã gửi lòng mình theo ngọn gió đông Trong tâm tư nằng nới với chồng nỗi nhớ thương vô hạn của người vợ chung thủy

- Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…

Trang 8

Nằm thầm bộc bạch, không giấu chồng sự trễ nải trong sinh hoạt của mình "hương gượng đốt, gương gượng soi, biếng cầm kim, mặt biếng tô, miệng biếng nói…" Chinh phụ mong được chồng hiểu rằng, sự vắng mặt của chàng làm đảo lộn tất

cả, làm mọi điều trở nên không có ý nghĩa Nhưng ngay trong mong muốn "tỏ lòng" ấy, niềm hi vọng đã thấm đẫm cảm giác thất vọng "Non yên dù chăng tới miền" và "Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu" Sự nghiệt ngã của cuộc sóng thực tại và chiến tranh đã làm cho mọi ý tưởng, khát vọng của con người không thể thực hiện

Từ nhớ nhung đến hi vọng đợi chờ, từ lo lắng đến oán trách hờn giận, từ chán nản đến nhớ thương mong ước… Nàng cứ quẩn quanh với bao nỗi niềm chất đầy, triền miên tưởng không thể dứt Nỗi khao khát hạnh phúc đã khiến người thiếu phụ đắm chìm trong suy tưởng mường tượng ra ngày chồng trở về rạng

vẻ hiển vinh dưới bóng cờ, trong tiếng nhạc khải hoàn Nàng hình dung những việc sẽ làm: trang điểm dung nhan, chốc chén rượu mừng, đọc từng câu thơ sầu… kể trước sau về niềm thương, nỗi nhớ về chuỗi ngày cô đơn Rồi vợ chồng chung hưởng hạnh phúc Tác phẩm Chinh phụ ngâm khsuc kết thúc với giác mơ đoàn tụ, thật đẹp và cảm động Nhưng ước nguyện cho một mai sum vầy đoàn tụ ấy của nàng thật mỏng manh, ảo tưởng, dù nằng từng nguyện ước:

Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung…

Sự thật là, tuổi trẻ, nhan sắc, hạnh phúc và sức sống của nàng đang bị thời gian tàn phá Bi kịch nội tâm đã kết thành khối sầu không thể tiêu tan ở chinh phụ ngâm khúc, khát vọng hạnh phúc lứa đôi đã gắn với nỗi niềm hoài nghi giá trị công danh phong kiến và oán ghét chiến tranh Nội dung tác phẩm

đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn và sâu sắc 1.5.2 Nghệ thuật của Chinh phụ ngâm:

Nhiều nhà nghiên cứu đều ghi nhận "bản diễn nôm hiện hành vượt trội so với nguyên tác trước hết ở bản sắc trữ tình phong phú", với việc sử dụng thể thơ STLB và ngôn ngữ dân tộc Mỗi khổ thơ STLB trong chinh phụ ngâm khúc cũng gieo

Trang 9

vần sáu Chuyển khổ thơ, câu thất, hiệp vần ở âm tiết thứ năm

và cả âm tiết thứ ba

"Khói mù nghi ngút ngàn khơi, Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Lũng Tây chảy nước dường uốn khúc, Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu

Ngàn không chen chúc khóm lau, Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về

Trông bốn bề chân trời mặt đất…"

Đây là lối hiệp vần chủ yếu của thơ STLB thế kỉ XVI, XVII Hiện tượng này xuất hiện ở Chinh phụ ngâm khúc tới 14 lần Đó

là nét đặc biệt so với nhiều ngâm khúc khác Tính chất chu kì của STLB đã được sử dụng thành công, linh hoạt, tạo nên sự mới mẻ của giọng điệu

Ngoài việc bộc lộ trực tiếp tâm trạng của nhân vật trữ tình bằng hệ thống từ biểu thị nỗi đau buồn sầu nhớ Khúc ngâm còn miêu tả nội tâm người chinh phụ qua vẻ bề ngoài và cuộc sống sinh hoạt với sự đối chiếu trên nhiều bình diện như quá khứ/hiện tại, thực/mơ, tình/cảnh… Đặc biệt thiên nhiên trong chinh phụ ngâm sinh động có nét gợi cảm lớn Cảnh vật nhuốm màu tâm trạng là phương tiện hiệu quả biểu đạt nhiều trạng thái tâm lí, tình cảm nhân vật trữ tình, đưa nghệ thuạt khắc họa tâm trạng nhân vật đạt trình độ sâu sắc

Về ngôn ngữ, bản diễn Nôm đã được lược bỏ bớt những điển tích cầu kì, nặng nề gắn với những chuyện cũ tên xưa nhưng vẫn giữ được ý của nguyên tác; đồng thời sử dụng thành công những giá trị đặc sắc và khả năng dồi dào của tiếng Việt (với hệ thống từ tượng hình, tượng thanh, từ láy…) để tả tình, tả cảnh, viết về ngâm khúc vừa uyển chuyển vừa sâu sắc thấm thía về dòng nội tâm triền miên trong sầu đau của người chinh phụ 1.6 Đặc trưng thể loại Ngâm khúc:

1.6.1 Ngâm khúc ra đời đánh dấu khuynh hướng mới của văn học trung đại VN, đi sâu khai thác thế giới nội tâm của con người với những cung bậc cảm xúc khác nhau:

Trang 10

- Tính tự tình là một trong những đặc trưng nổi bật của thể loại ngâm khúc Tự tình là kể lể nổi lòng, tình cảm thông qua thông

tư, cảm xúc và hành động của nhân vật (trữ tình+từ sự)

- Nhân vật kiểu nhân vật độc thoại (tự bộc lộ, phổ diễn tâm trạng của mình thông qua độc thoại nội tâm)

-Kết cấu:Theo dòng cảm xúc nhân vật quá khứ-hiện tại-tương lai Sự đồng điệu của ba thời đặt trong hệ soi chiếu lấy nhau lấy hiện đại làm trung tâm Trong tương quan ba thời, mối quan hệ giữa quá khứ hiện tại được cập nhật nhiều hơn

- Cảm hứng chủ đạo, cảm hứng "tự thương" than vãn, tự than vãn trách phận

- Giọng điệu than vãn, trần tình, kể lể, giãi bày sắc thái buồn thương ai oán

1.6.2 Đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, Ngâm khúc đánh dấu sự xuất hiện của những con người cá nhân đòi hỏi quyền hạnh phúc trong văn học

- Nhân vật luôn xuất hiện ở thời điểm hạnh phúc đã mất, hiện tượng các nhân vật phản ánh bi kịch của số phận con người Bi kịch hồng nhan bạc mệnh, tài sắc tương đồ Bi kịch cuộc đời ngắn ngủi vô thường

- Tiếng nói trữ tình chủ đạo không chỉ là kể lể, than thở cho số phận bi thương của con người mà còn là tiếng nói khát vọng hạnh phúc trần thế

1.6.3 Ngôn ngữ

- Với ngâm khúc, Tiếng Việt được khẳng định khả năng to lớn trong việc đặt thế giới tâm hồn người Việt với mọi cung bậc cảm xúc trong đời sống nội tâm của con người đều được ngâm khúc biểu đạt bằng hệ thống âm thanh, màu sắc, nhạc điệu phong phú

- Ngôn ngữ phong phú đa dạng tinh tế giàu sức biểu cảm khi được diễn tả các cung bậc cảm xúc trong thế giới nội tâm con người Ngôn ngữ sống động, gợi cảm khi miêu tả thiên nhiên, ngoại hình, ngoại vật

Ngày đăng: 18/05/2023, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w