1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TRIẾT học

26 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự giống và khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Đề cương ôn tập môn Triết học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 78,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC Câu 1: Trình bày sự giống và khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây? Trả lời Giống nhau: Đều là những tư tưởng, nội dung thể hiện quan niệm của con người về tự nhiên, xã hội và con người. Đều được hình thành và phát triển trên những điều kiện lịch sử tương ứng (điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị) và chính những điều kiện này quy định nội dung của triết học. Đều đề cập đến những nội dung căn bản của triết học như có những quan niệm về thế giới, con người, chính trị xã hội. Khác nhau: Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý, dân số, phương thức sản xuất do đó THPĐ và THPT có những điểm khác biệt nhau: Thứ nhất, THPT là triết học hướng ngoại còn THPĐ là triết học hướng nội. THPĐ do xuất phát từ “thiên nhiên hợp nhất” nên lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – thể hiện tính hướng nội. Ngược lại, THPT lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính hướng ngoại, còn vấn để con người chỉ để giải thích thế giới. Cho nên phương Tây đậm nét về bản thể luận của vũ trụ. Ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây. THPĐ đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ con người với con người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp thống trị cho nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người. THPT lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế xã hội, cái gốc để giải phóng con người. Thứ hai, THPĐ nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên “thiên nhiên hợp nhất” (con người gắn bó với tự nhiên). THPT lại tách con người ra khỏi tự nhiên, coi con người là chủ thể độc lập để nghiên cứu chinh phục tự nhiên. Thứ ba, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở triết học phương Đông không rõ ràng, các tư tưởng duy vật và duy tâm thường đan xen trong hệ thống triết học. Còn triết học phương Tây cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm diễn ra gay gắt suốt các giai đoạn lịch sử. Thứ tư, ở phương Đông triết học ít tồn tại dưới dạng thuần túy mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt là tôn giáo, triết học và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau, triết học chịu sự ảnh hưởng nhiều của tôn giáo. Còn triết học phương Tây thì triết học và tôn giáo tách biệt nhau. Thứ năm, triết học phương Đông phát triển theo lối trầm tích còn triết học phương Tây phát triển theo hướng liên tục, luôn có những trường phái mới trên cơ sở phê phán cái cũ, phủ định cái cũ. Ở Ấn Độ, cũng như Trung Quốc các trường phái có từ thời cổ đại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIIIV trước công nguyên đến thế kỷ 19). Ngược lại, ở phương Tây lại có điểm khác biệt. Ở mỗi giai đoạn. mỗi thời kỳ bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cổ đại bên cạnh trường phái Talet, Heerraclit… đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, chủ nghĩa duy vật ở Anh, Hà Lan, triết học cổ điển Đức. Thứ sáu, khác nhau về hình thức phạm trù: Về bản thể luận:

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC Câu 1: Trình bày sự giống và khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây?

Trả lời

Giống nhau:

- Đều là những tư tưởng, nội dung thể hiện quan niệm củacon người về tự nhiên, xã hội và con người

- Đều được hình thành và phát triển trên những điều kiện lịch

sử tương ứng (điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị) vàchính những điều kiện này quy định nội dung của triết học

- Đều đề cập đến những nội dung căn bản của triết học như

có những quan niệm về thế giới, con người, chính trị - xã hội

Khác nhau:

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồntại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đôngkhác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý, dân số,phương thức sản xuất do đó THPĐ và THPT có những điểm khácbiệt nhau:

- Thứ nhất, THPT là triết học hướng ngoại còn THPĐ là triếthọc hướng nội

THPĐ do xuất phát từ “thiên nhiên hợp nhất” nên lấy conngười làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – thể hiện tính hướngnội Ngược lại, THPT lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới –tính hướng ngoại, còn vấn để con người chỉ để giải thích thế giới.Cho nên phương Tây đậm nét về bản thể luận của vũ trụ

Ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệmkhác phương Tây

THPĐ đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ con người vớicon người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt xã hội củacon người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lậptrường của giai cấp thống trị cho nên nghiên cứu con người khôngphải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người

Trang 2

THPT lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề caocái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng vềmặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế - xã hội, cáigốc để giải phóng con người.

- Thứ hai, THPĐ nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệgiữa con người với tự nhiên “thiên nhiên hợp nhất” (con người gắn

bó với tự nhiên) THPT lại tách con người ra khỏi tự nhiên, coi conngười là chủ thể độc lập để nghiên cứu chinh phục tự nhiên

- Thứ ba, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm ở triết học phương Đông không rõ ràng, các tưtưởng duy vật và duy tâm thường đan xen trong hệ thống triếthọc Còn triết học phương Tây cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duyvật và duy tâm diễn ra gay gắt suốt các giai đoạn lịch sử

- Thứ tư, ở phương Đông triết học ít tồn tại dưới dạng thuầntúy mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác đặcbiệt là tôn giáo, triết học và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau,triết học chịu sự ảnh hưởng nhiều của tôn giáo Còn triết họcphương Tây thì triết học và tôn giáo tách biệt nhau

- Thứ năm, triết học phương Đông phát triển theo lối trầmtích còn triết học phương Tây phát triển theo hướng liên tục, luôn

có những trường phái mới trên cơ sở phê phán cái cũ, phủ định cáicũ

Ở Ấn Độ, cũng như Trung Quốc các trường phái có từ thời cổđại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII-V trướccông nguyên đến thế kỷ 19)

Ngược lại, ở phương Tây lại có điểm khác biệt Ở mỗi giaiđoạn mỗi thời kỳ bên cạnh các trường phái cũ lại có nhữngtrường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cổ đạibên cạnh trường phái Talet, Heerraclit… đến Đêmôcrit rồi thời đạikhai sáng Pháp, chủ nghĩa duy vật ở Anh, Hà Lan, triết học cổđiển Đức

- Thứ sáu, khác nhau về hình thức phạm trù:

Về bản thể luận:

+ THPT dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vậtchất” THPĐ lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sức, hình, vạn

Trang 3

pháp,… hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ,… Để nói về bảnchất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người

và vũ trụ thì THPT dùng phạm trù khách thể - chủ thể, con ngườivới tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy Còn phươngĐông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần Trong đóhình – thần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất

Nói về tính chất, sự biến đổi của thế giới:

+ THPT dùng thuật ngữ “biện chứng” siêu hình, thuộc tính,vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh cái động là chính Đốivới phương Đông dùng thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch, vôthường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làmgốc

Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trênthế giới thì phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quy luật” Cònphương Đông dùng thuật ngữ “đạo lý” “mệnh” “thần”

- Thứ bảy: khác nhau về phép biện chứng

+ THPĐ là nhịp nhàng, tuần hoàn

+ THPT đi lên không ngừng theo hình xoắn ốc

- Thứ tám: THPĐ gắn với khoa học tự nhiên không rõ rệt cònTHPT gắn với khoa học tự nhiên rõ rệt hơn

Ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau cáckhoa học

Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoahọc độc lập với các môn khoa học mà các khoa học lại thường ẩndấu đằng sau triết học Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa họctồn tại khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phậncủa giáo hội

- Thứ chín: sự phân chia các trường phái triết học cũng khácnhau

Ở phương Đông đan xen các trường phái, các yếu tố duy vật,duy tâm biện chứng, siêu hình không rõ nét

Trang 4

Ở phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõ nét hơn vàcác hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô

sơ đếm duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng

- Thứ mười: tuy cả THPT và THPĐ đều nhằm giải quyết vẫn

đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiên về giải quyếtmặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có liênquan Ngược lại, ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ haicho nên dẫn đến phương pháp tư duy khác nhau

Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nên là tư duy tấtđịnh – tư duy vật lý chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫunhiên xuất hiện

Còn phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụtriết học với những câu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xácnhưng lại hiểu cách nào cũng được

Câu 2: Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại? (Đêmôcrit và Platon).

Đêmôcrit (460-370TCN) là “một trong những nhà duy vật lớncủa thời kỳ cổ đại chiếm vị trí nổi bật trong triết học duy vật HyLạp cổ đại” Ông đã có quá trình tích lũy kiến thức qua việc đi qua

Trang 5

các nước ở phương Đông, Babilon, là người am hiểu rất nhiều lĩnhvực.

Platon là đại diện cho trường phái duy tâm, ông là người đầutiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh của chủ nghĩa duy tâm kháchquan đối lập với thế giới duy vật Ông là người đã tiến hành đấutranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duy vật đặc biệt là chống lạinhững đại biểu của chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ như Heerraclithay Đêmôcrit

- Về bản thể luận:

+ Đêmôcrit: đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông chorằng khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, là dạng vật chất nhỏnhất, không thể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thế giới, của

sự vật hiện tượng Nguyên tử này không màu, không mùi, không

vị, không nóng, không lạnh, nó không khác nhau về chất, chỉ khácnhau về hình dáng, cấu tạo, về tư thế sắp xếp và các nguyên tửnày luôn vận động trong chân không Các sự vật, hiện tượng khácnhau là do sự liên kết giữa các nguyên tử có hình dáng khácnhau, tư thế khác nhau, cấu tạo khác nhau Các nguyên tử vậnđộng không ngừng và chính sự đa dạng của các nguyên tử tạonên sự đa dạng của thế giới sự vật và sự hình thành của vũ trụ

+ Platon: đứng trên lập trường duy tâm, ông khẳng địnhrằng bản nguyên của thế giới là “thế giới ý niệm”, thế giới ý niệmtồn tại một cách chân thật, vĩnh cửu và bất biến Ông chia thếgiới thành 2 bộ phận đó là thế giới ý niệm và thế giới vật cảmtính Thế giới vật cảm tính là thế giới không chân thật, khôngđúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế giới có sau và là cái bóngcủa thế giới ý niệm

- Về con người:

+ Đêmôcrit bác bỏ quan niệm thần thành sinh ra con người.Ông cho rằng con người xuất hiện trên trái đất là kết quả của sựtiến hóa tự nhiên và linh hồn được cấu tạo từ nguyên tử

+ Platon thì cho rằng con người gồm thể xác và linh hồn tồntại độc lập với nhau Trong đó thể xác được tạo thành từ đất,nước, lửa, không khí còn linh hồn do Thượng đế sáng tạo ra và nó

là bất tử, tồn tại vĩnh hằng

Trang 6

- Vể nhận thức luận:

+ Đêmôcrit chia nhận thức thành 2 dạng: nhận thức cảmtính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là dạng nhận thức

mờ tối, do giác quan đem lại Nhận thức lý tính là dạng nhận thứcthông qua những phán đoán logic, là dạng trí tuệ Ông đã nhậnthấy được mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lýtính và ông chỉ ra phải bằng nhận thức lý tính thì con người mớiphát hiện được nguyên tử tức là nguồn gốc của thế giới

+ Platon cho rằng nhận thức cảm tính có sau nhận thức lýtính nên ông cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn vềthế giới ý niệm có trước vật chất Ông cho rằng nhận thức cảmtính chỉ là sự nhận thức của cái bóng ý niệm, chỉ cho ta nhữngquan niệm, chứ không phải là tri thức chân thực Chỉ có nhận thức

lý tính, tức nhận thức khái niệm mới đạt được tri thức chân thực

- Về chính trị - xã hội:

+ Đêmôcrit đứng trên lập trường của phái chủ nô dân chủ,kịch liệt chống lại phái chủ nô quý tộc Ông ra sức bảo vệ vàtuyên truyền cho chế độ dân chủ của chủ nô trong đó thể hiệnquyền lợi của mình gắn liền với sự phát triển ngày càng mạnh mẽcủa thương mại và công nghiệp Ông đề cao, ca ngợi cổ vũ chotình thân ái, tính ôn hòa lợi ích chung và quyền lợi chung củacông dân tự do Ông cho rằng: “Cái nghèo trong chế độ dân chủcũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ”

Song do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cậpđến dân chủ của chủ nô, của công dân tự do Ông coi chế độ nô lệ

là hợp đạo lý, cần sử dụng nô lệ như các bộ phân của thân thể.Người nô lệ cần phải biết tuân theo người chủ nô

Ông đề cao nhà nước, chính nhà nước đóng vai trò duy trìtrật tự và điều hành xã hội Theo ông cần phải trừng trị nghiêmkhắc những kẻ vi phạm pháp luatajn hay chuẩn mực đạo đức nào

đó Phương châm của Đêmôcrit là thà sống nghèo khổ còn hơn làgiàu có nhưng mất tự do dân chủ Mục tiêu của con người là sốnghạnh phúc nhưng hạnh phúc không đơn thuần chỉ là giàu có Ôngkhẳng định hạnh phúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự

do Chỉ có người biết bằng lòng với sự hưởng lạc vừa phải thì mớiđược hạnh phúc

Trang 7

+ Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trênlập trường của phải chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chủ tiến

bộ của xã hội Ông cho rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ýchí và cảm tính trong xã hội có các hạng người tương ứng với các

bộ phận của linh hồn Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ

có được ở những nhà triết học, các nhà thông thái; ý chí là cơ sởcủa các đức tính can đảm Nó thể hiện ở trong những người lính,những chiến bình Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng.Đức tính này thường ở những người dân tự do, những người thợthủ công, Platon đặc biệt miệt thị nô lệ Theo ông nô lệ khôngphải là người là chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức

Platon chủ trương duy trì các hạng người trong xã hội, cũng

có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người Nhà nước rađời là để đáp ứng những nhu cầu đó Theo Platon hình thức cộnghòa là “Nhà nước lý tưởng” Trong đó quyền thống trị tuyệt đốithuộc về tầng lớp chủ nô quý tộc Nhà nước, đó là hiện thân của

cả ba đức tính đó là thông thái, can đảm và thận trọng Trong

“Nhà nước lý tưởng” ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vàođặc trưng đạo đức Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, cácnhà thông thái giữ vai trò lãnh đạo xã hội; đẳng cấp thứ hai làquân nhân có trách nhiệm bảo vệ “Nhà nước lý tưởng”; đẳng cấpthứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự dokhác làm ra sản phẩm nuôi sống Nhà nước

=> Như vậy, chúng ta thấy ngay từ khi ra đời Triết học HyLạp cổ đại đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa chủ nghĩa duyvật và chủ nghĩa duy tâm mà đại biểu tiêu biểu nhất là Đêmôcritcủa phái duy vật và Platon của phái duy tâm Có thể thấy rằngngay từ thời cổ đại nhận thức của con người tuy còn nhiều hạnchế song giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đã hìnhthành nên cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hòa được vềmọi mặt trong xã hội

Câu 3: Giá trị và hạn chế của triết học cổ điển Đức Vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời của triết học Mác?

Trả lời

Giới thiệu qua về THCĐ Đức:

Trang 8

Triết học cổ điển Đức ra đời ở nước Đức vào cuối thể kỉ 18đầu thế kỉ 19 Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trongnhững điều kiện của chế độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sựbảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ đó

Cuối thể kí 18, cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnhhưởng mạnh mẽ đến nước Đức Còn nước Đức vẫn đang trong tìnhtrạng hết sức lạc hậu cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội; là mộtnước quân chủ phong kiến với tình trạng cát cứ phân quyền

Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giaicấp tư sản Đức cối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, thể hiệnnguyện vọng đấu tranh cho một trật tự xã hội mới ở nước Đức,mong muốn sự phồn thịnh và thống nhất đất nước Nhưng tínhcách mạng và khoa học về tư tưởng ấy mâu thuẫn với sự bảo thủ,cải lương về lập trường chính trị - xã hội

Giá trị của THCĐ Đức:

- Vượt qua tình trạng nước Đức bằng nỗ lực trí tuệ của mìnhcác triết gia đã để lại cho hậu thế một kho tàng, một hệ thốngnhững học thuyết triết học vô cùng phong phú, sâu sắc bao quáttoàn bộ các lĩnh vực tri thức

- Tinh thần nhân văn của nền triết học này:

+ Triết học cổ điển Đức đặc biệt đề cao con người, vai tròtích cực của hoạt động con người, coi con người là nền tảng vàđiểm xuất phát mọi vấn đề của triết học Con người là chủ thểhoạt động sống động đó, con người có thể làm chủ được giới tựnhiên cho nên triết học phải phục vụ cho con người, giúp conngười có cuộc sống hạnh phúc hơn

VD: Triết học của Cantơ tràn đầy tinh thần nhân đạo với mụcđích giúp con người giải quyết những băn khoăn chung, đưa conngười đến tự do, hạnh phúc Theo ông, nhiệm vụ hàng đầu củatriết học là phải xác định bản chất của con người, giải quyếtnhững vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của conngười, cụ thể là trả lời cho ba câu hỏi mà ai cũng băn khoăn: 1.Tôi có thể biết gì? 2 Tôi cần phải làm gì? 3 Tôi có thể hy vọng gì?

Triết học của Phơbach mang tính chất nhân bản sâu sắc Ôngcho rằng triết học phải trở thành triết học về con người Phơbach

Trang 9

lấy con người sống, con người có cảm giác làm điểm xuất phátcho học thuyết triết học của mình Theo ông, con người là mộtthực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước

mơ và xét theo bản chất của nó là tình yêu thương Tinh thầnnhân văn này của ông đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiếnnước Đức – nơi mà không đề cao vai trò của con người cho ta thấyông rất đề cao quyền con người, đòi hỏi quyền con người

+ Các nhà triết học cổ điển Đức đã phát hiện, xây dựng phépbiện chứng thành một hệ thống lý luận có tính cách mạng: pháhủy cái cũ để dẫn đến sự ra đời của cái mới

Ví dụ: phép biện chứng của Hêghen đã khắc phục được hạnchế của phép siêu hình trước đó, vượt qua tính chất phỏng đoánnhững tư tưởng biện chứng tự phát, sơ khai thời kỳ cổ đại Hêghen

dã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là ngườiđầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dướidạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động và biến đổi khôngngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâmcủa mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất,lượng, phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy luật

“lượng đổi dẫn đến chất đổỉ và ngược lại”, “phủ dịnh của phủđịnh” và “quy luật mâu thuẫn”

+ Triết học cổ điển Đức đã có một học thuyết duy vật đạt tớitrình độ cao nhất trong chủ nghĩa duy vật trước Mác đó chính làhọc thuyết của Phơbach Học thuyết của Phơbach là suối lửa dẫnMác-Awngghen đến lập trường duy vật từ bỏ lập trường duy tâm.Ông đã có công lớn trong việc phê phán triết học Heeghen cũngnhư chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị tríxứng đáng của triết học duy vật

Phơbach chứng minh rằng thế giới là vật chất, giới tự nhiêntồn tại ngoài con người không phụ thuộc vào ý thức của conngười, là cơ sở sinh sống của con người Giới tự nhiên tự nó tồn tạikhông do ai sáng tạo ra, nó vận động nhờ những cơ sở bên trong

nó Ông cũng chỉ ra tính khách quan của không gian và thời gian

mà trong đó sự vật tồn tại

+ Các triết gia đã có những tư tưởng được coi là mầm mốngcủa chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trang 10

Phơbach cho rằng ”người ở trong túp lều tranh suy nghĩ khácngười ở trong cung điện”.

Hêghen giải thích sự ra đời của nhà nước từ mâu thuẫn xãhội Điều này đã khắc phục những quan niệm chưa rõ ràng về nhànước trước đó Ông cũng cho rằng xã hội loài người vận động nhưthế nào thì nó sẽ diễn ra như thế

Hạn chế của triết học cổ điển Đức:

+ Tính chất duy tâm thần bí của hệ thống triết học: đề caosức mạnh trí tuệ của con người, thần thánh hóa con người đếnmức coi con người là chúa tể của tự nhiên, bản thân giới tự nhiêncũng chỉ là kết quả hoạt động của con người (trong triết học củaCantơ), ý thức con người đã được thần thánh hóa biến thành lựclượng siêu tự nhiên chi phối toàn vũ trụ (trong triết học Heeghen),tình yêu con người trở thành công cụ, phương tiện giải phóng(trong triết học Phơbach) Đây là mộ trong những nguyên nhânlàm cho triết học cổ điển Đức có tính duy tâm hơn Hơn nữa, triếthọc cổ điển Đức không phản ánh trực tiếp hiện thực của mình, cácnguyên lý triết học là kết quả suy lý chủ quan thuần túy Nhữngđiều đó đẩy triết học cổ điển Đức rơi vào lập trường duy tâm

+ Tính chất cải lương, không tưởng, ảo tưởng trong nhữngquan điểm về triết học Triết học cổ điển Đức là thế giới quan củagiai cấp tư sản Đức, giai cấp tư sản do sự yếu ớt về kinh tế, chínhtrị, tổ chức không đủ sức làm cách mạng lật đổ chế độ thống trị

để thành lập lên nhà nước mới do vậy đã bắt tay với giai cấpphong kiến Từ đó, dẫn đến những tư tưởng cải lương, khôngtưởng trong lĩnh vực xã hội

VD: Cantơ kêu gọi tất cả các dân tộc hãy thiết lập mối quan

hệ hòa bình, hữu nghị Các quốc gia hãy xây dựng một ”liênbang” tất cả các dân tộc trên hành tinh, trong khi vẫn đảm bảocho các dân tộc độc lập về chính trị

Phơbach cho rằng để xã hội phát triển tốt đẹp thì phải pháttriển tôn giáo tốt đẹp Ông đã chủ trương đề xuất xây dựng tôngiáo tình yêu: ”lấy tình yêu giữa người – người để làm cơ sở giảiquyết tất cả các mối quan hệ khác”

+ Tính chất duy tâm trong quan điểm về lịch sử, về xã hội

Trang 11

- Vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời của triếthọc Mác:

+ Triết học cổ điển Đức, đặc biệt với các tác phẩm của hainhà triết học tiêu biểu Heeghen và Phơbach là nguồn gốc lý luậntrực tiếp của triết học Mác

Mác và Awngghen đã đánh giá cao tư tưởng biện chứng củatriết học Heeghen Mác cho rằng ở Heeghen biện chứng bị lộn đầuxuống đất, chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được hạt nhân hợp lýcủa nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí

Mác đã dựa vào truyền thống của CNDV mà trực tiếp làCNDV của Phơbach đồng thời đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ,khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của nó Từ đóMác và Awngghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong

đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhaumột cách hữu cơ là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thứcmới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học

Câu 4: Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong lịch

sử triết học do Mác –Ăngghen thực hiện?

Trả lời

Triết học Mác là sự kế thừa có phê phán và chọn lọc những

tư tưởng triết học của nhân loại trong lịch sử Đồng thời sự ra đờicủa triết học Mác – Leenin là một bước ngoặt vĩ đại trong sự pháttriển tư tưởng triết học của nhân loại Triết học Mác có những cáimới về chất so với các hệ thống triết học trước đó:

* Thực chất:

- Mác và Aawngghen phát triển chủ nghĩa duy vật lên hìnhthức cao của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phát triểnphép biện chứng lên hình thức cao của nó là phép biện chứng duyvật

+ Trước Mác, chủ nghĩa duy vật vẫn còn mang tính chất siêuhình, máy móc Nó chưa được đưa được quan điểm phát triển vàotrong lý luận của nó; nó lấy quy luật cơ học để giải thích sự vậnđộng của thế giới, dùng quy luật cơ học và quy luật sinh học đểgiải thích bản chất của con người

Trang 12

+ Còn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao là phép biệnchứng Heeghen thì lại là duy tâm, tức ông đã xuất phát từ quyluật vận động, phát triển của một ts niệm tuyệt đối nào đó củathế giới để giải thích tất cả những gì đang tồn tại Cho nên phépbiện chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm, ngược đầu

và đóng khung trong một kết cấu tư biện, gượng gạo Trên cơ sở

kế thừa có phê phán và chọn lọc những thành tựu mà các nhàduy vật đã đạt được cũng như kế thừa hạt nhân hợp lý trong phépbiện chứng của Heeghen, Mác và Awngghen đã sáng lập ra chủnghĩa duy vật biện chứng vầ phép biện chứng duy vật Từ khi triếthọc Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng được kếthợp với nhau thành một thể thống nhất

+ Việc sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiệnquan trọng nhất của bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển tưtưởng triết học của nhân loại

- Chủ nghĩa duy vật lịch sử là khoa học nghiên cứu nhữngquy luật chung nhất, phổ biến nhất của xã hội loài người

Trước Mác, các nhà triết học nếu có duy vật thì là duy vật về

tự nhiên nhưngd uy tâm về xã hội, Họ đều cho rằng tinh thần, tưtưởng (ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ýthức chủ quan của con người) là yếu tố quyết định trong lịch sử

Họ không thấy được vai trò quyết định của hoạt động sản xuấtvật chất, của đời sống vật chất

Mác và Awngghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biệnchứng vào nghiên cứu đời sống xã hội Triết học Mác coi xã hộinhư một cơ thể sống, một cấu trúc phức tạp bao gồm những cánhân, gia đình, giai cấp, dân tộc với vô số những mối quan hệ xãhội chằng chịt được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn của

họ Triết học Mác coi sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại vàphát triển của xã hội; vạch ra những quy luật khách quan của sựphát triển xã hội không phụ thuộc ý muốn chủ quan của conngười; lấy cơ sở hạ tầng để giải thích kiến trúc thượng tầng, lấytồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội Chính vì thế, triết họcMác là chủ nghĩa duy vật cân đối, hoàn chỉnh và triệt để; nó baoquát cả tự nhiên, xã hội và tư duy

- Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơbản của triết học Mác – Leenin

Trang 13

+ Triết học Mác – Leenin không chỉ giải thích thế giới mà vấn

đề quan trọng là cải tạo thế giới Trước Mác, người ta chưa xác lậpđược mối quan hệ gắn bó với nhau giữa lý luận và thực tiễn Lýluận nhiều khi chỉ là sản phẩm của tư duy thuần túy, chỉ là kếtquả của sự suy lý tư biện của các nhà lý luận Người ta chưa chỉ rađược một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt cái đúng và cái saitrong lý luận Lý luận càng cao siêu, càng xa rời thự tế thì càngđược đánh giá cao Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác vàAngghen vạch ra một cách đầy đủ và chính xác vai trò của hoạtđộng thực tiễn với tính cách là hoạt động vật chất cải tạo tự nhiên

và xã hội đối với quá trình nhận thức, khẳng định rằng thực tiễn là

cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức, tiêu chuẩn của chân lý

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bảncủa triết học Mác – Leenin

- Triết học Mác – Leenin có sự thống nhất giữa tính cáchmạng và tính khoa học

Với sự ra đời của triết học Mác – Leenin, giai cấp vô sản vànhân dân lao động có một lý tưởng triết học khoa học để giảithích đúng đắn các hiện tượng tự nhiên và xã hội Triết học Mác –Leenin còn là vũ khí lý luận cách mạng của giai cấp vô sản vànhân dân lao động để đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất công, xâydựng xã hội không có giai cấp, không có người bóc lột người.Những quan điểm trong triết học Mác – Leenin, nhất là quan điểm

về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không phải là nhữnghoài bão chủ quan của loài người, mà trái lại chúng có cơ sở khoahọc vững chắc, dựa trên sự nghiên cứu nghiêm túc và logic chặtchẽ của triết học và các khoa học xã hội

- Triết học đã đem lại một quan niệm đúng đắn về đối tượng

Ngày đăng: 05/05/2023, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w