1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề Cương Ôn Tập - Môn - Triết Học Cao Học ( full đáp án )

57 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Tập - Môn - Triết Học Cao Học (Full Đáp Án)
Trường học Cần Thơ University
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Đề cương
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 463,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời 15 câu hỏi ôn tập TRIẾT HỌC trong nội dung chương trình cao học Ôn tập triết học – chương trình cao học K15 Cao học kinh tế Cần Thơ Câu 1 Quan điểm CT XH của Nho gia ở Trung Hoa cổ đại Sự khác[.]

Trang 1

Câu 1: Quan điểm CT - XH của Nho gia ở Trung Hoa cổ đại Sự khác nhau trong đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia

1 Quan điểm CT - XH của Nho gia ở Trung Hoa cổ đại

Nho gia là một trong những trường phái triết học chính của Trung Hoa cổ đại Phái Nho gia được Khổng Tử sáng lập, Mạnh Tử phát triển về phía duy tâm tiên nghiệm và Tuân Tử phát triển về phía duy vật

+ Quan điểm CT - XH của Khổng Tử:

Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho, ông được phong là “Chí thánh tiên

sư, Vạn thế sư biểu”, nghĩa là thầy, thánh của muôn đời, muôn nhà

Khổng Tử coi XH là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, trong

đó có các quan hệ như: Vua-tôi, Cha-con, Chồng-vợ, Anh-em, Bạn bè Năm mối quan hệ này về sau được phái Nho gia gọi là Ngũ luân, trong đó 3 mối quan hệ Vua-tôi, Cha-con, Chồng-vợ là những mối quan hệ cơ bản nhất và được gọi là Tam cương

Những phạm trù cơ bản trong thuyết Chính trị - Đạo đức của Khổng Tử là Nhân, Lễ, Nghĩa và Chính danh:

- Nhân: là lòng thương người Người có nhân là người có đạo đức hoàn toàn

Trung và Thứ là hai khía cạnh của Nhân: Trung là tính ngay thẳng với

người, điều mình muốn thì hãy làm cho người; Thứ là lòng vị tha, điều mình không muốn thì đừng làm cho người Trong đạo nhân, hiếu là gốc - hiếu không chỉ thể hiện ở việc phụng dưỡng cha mẹ mà quan trọng nhất là lòng thành kính Khổng Tử nói: “Nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật”

-Lễ: là hình thức thể hiện lòng nhân Lễ bao gồm mối quan hệ rộng lớn, từ

quan hệ thần linh đến quan hệ ứng xử giữa người với người, quan hệ đạo dức, phong tục, tập quán, quan hệ nhà nước, luật pháp … Tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân đức Người quân tử không bao giờ làm trái với lễ

- Nghĩa: là hành vi đạo đức thể hiện đức nhân Người làm việc nghĩa thì hy

sinh lợi ích của mình vì người khác Nghĩa và lợi không thể dung hợp với nhau Khổng Tử nói: “Quân tử biết rõ về nghĩa, tiểu nhân biết rõ về lợi”

- Chính danh: có nghĩa là phải bố trí người ở cương vị phù hợp với năng lực,

người ở cương vị nào thì phải xứng đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận, chức trách của mình “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Nói

và làm không được vượt chính danh:

+ Khổng Tử đề cao người hiền tài với tư tưởng Thượng hiền và khuyên các nhà cai trị nên sử dụng người hiền tài quản lý đất nước và loại bỏ dần những

kẻ bất tài trong bộ máy cai trị

+ Phải thực hiện ba điều: thực túc, binh cường, dân tín

+ Ông khuyên giai cấp thống trị phải thương yêu, tôn trọng chăm lo nhân

Trang 2

dân Đồng thời ông khuyên dân phải an phận, lấy nghèo làm vui, nghèo không oán trách

+ Tuy nhiên những kế sách chính trị của ông chỉ dừng lại ở tính chất cải lương và duy tâm chứ không phải phải bằng cách mạng hiện thực (hạn chế)

2 Sự khác nhau trong đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia

hợp các mối quan hệ giữa

người với người, đó là Ngũ

luân và Tam cương

hòa mâu thuẫn giai cấp,

phản đối đấu tranh Ông

khuyên giai cấp thống trị

phải thương yêu, tôn trọng,

chăm lo cho nhân dân

Đồng thời, ông cũng

khuyên dân phải an phận,

lấy nghèo làm vui, nghèo

mà không oán trách Ông

coi việc oán trách cảnh

nghèo hèn, ưa dùng bạo lực

là mầm mống của loạn Tuy

nhiên những kế sách chính

trị của ông chỉ dừng lại ở

tính chất cải lương và duy

Đường lối chính trị: sử dụng học thuyết “vô vi”,

có nghĩa là sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thần phái, không làm trái với tự nhiên, không can thiệp vào trật tự của tự nhiên, chỉ làm cho dân no bụng, xương cốt mạnh mà lòng

hư tĩnh, khiến cho dân không biết, không muốn

- Không dùng luật pháp, không cần giáo dục nhân,

lễ, nghĩa, trí

- Lão Tử chủ trương hạn chế quyền lực của Nhà nước và hoạt động của dân đến mức tối đa, để cho dân sống chất phác thời nguyên thủy, duy trì tình trạng nước nhỏ, dân ít

Đường lối chính trị: Hàn Phi chủ trương đường lối “pháp trị” Để cai trị XH cần phải có 3 yếu tố

là Pháp, Thuật và Thế:

- Pháp là pháp luật, được công bố cbo mọi người biết, để tuân theo và phải thay đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể vì không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với mọi thời đại

- Thế là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu

- Thuật là phương pháp mưu trí, thủ đoạn trong việc trị dân

Trang 3

tâm chứ không phải phải

bằng cách mạng hiện thực

Câu 2: Bản thể luận và nhân sinh quan của Phật giáo Ấn Độ cổ đại

Phật giáo là một trường phái Triết học Tôn giáo, người sáng lập ra đạo Phật

là Thích ca Mâu ni

Bản thể luận: thể hiện trong 4 nguyên lý:

Ø Vô tạo giả: đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong

thế giới chỉ là dòng biến hoá vô thường, vô định, không do một vị thần nào sáng tạo nên cả Phật giáo cho rằng thế giới tồn tại khách quan, không do thần thánh sáng tạo ra

Ø Vô ngã: có nghĩa là không có linh hồn bất tử, sự vật hiện tượng xung

quanh ta và chính bản thân ta là không có thật mà nó được tạo thành từ các yếu tố mà Phật gọi là Danh và Sắc Danh là tinh thần, Sắc là vật chất Thế giới do các yếu tố vật chất và tinh thần kết hợp lại với nhau tạo nên

Ø Vô thường: có nghĩa là không có gì ổn định, bất biến Phật khẳng định

rằng thế giới khách quan không có gì là vĩnh hằng, bất biến mà cái gì cũng

có quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vong theo luật Nhân - quả mà Phật gọi là Sinh, Trụ, Dị, Diệt, từ sự vật nhỏ nhất cho đến vũ trụ đều tuân thủ luật trên

Ø Nhân quả tương tục: Phật khẳng định rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng

trên đời đều có nguyên nhân của nó Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả, quả lại kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả khác Nhân và quả tạo thành một chuỗi không ngừng nghỉ, Phật gọi là “Nhân quả tương tục

vô gián đoạn"

v Nhân sinh quan: Phật giáo tuy bác bỏ Brahman và atman nhưng lại kế

thừa thuyết luân hồi, nghiệp báo trong đạo Balamôn Thích ca Mâu ni đã đưa

ra thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” để giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi Đây là tư tưởng triết lý nhân sinh quan chủ yếu của đạo Phật “Tứ diệu đế” là bốn chân lý vĩnh hằng, thiêng liêng, cao cả, đúng đắn gồm có: Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế và Đạo đế

Khổ đế: Phật cho rằng đời là bể khổ vì vậy ta chỉ dạy các con một điều là

khổ và diệt khổ” và các nỗi khổ của con người thể hiện trong Bát khổ

Nhân đế (Tập đế): Phật giáo giải thích nguyên nhân mọi nỗi khổ của con

người Phật khẳng định rằng tất cả mọi nỗi khổ của con người đều có

nguyên nhân của nó Các nguyên nhân của nỗi khổ được thể hiện qua “Thập nhị nhân duyên” (12 nỗi khổ của con người)

Diệt đế: Phật nói khi con người ta tìm ra được nguyên nhân của nỗi khổ theo

Thập nhị nhân duyên thì Phật khẳng định rằng con người có thể từ bỏ tận

Trang 4

gốc mọi nỗi khổ và chỉ có như thế con người mới đến được cõi Niết bàn Do vậy, Phật cho rằng cái khổ có thể tiêu diệt được

Đạo đế: Phật nói chúng sinh có thể tiêu diệt được nỗi khổ nếu đi theo con

+ Chống lại sự phân biệt đẳng cấp, chủ trương bình đẳng xã hội

+ Triết lý của đạo Phật có ý nghĩa giáo dục rất lớn vì nó khuyên con người khinh ghét những ham muốn dục vọng vật chất tầm thường

+ Đạo Phật có tính nhân đạo cao bởi vì nó khuyên con người suy nghĩ và làm điều thiện, tránh xa điều ác, thương yêu cứu giúp mọi người Không dùng bạo lực trong quan hệ giữa các giáo phái khác nhau cũng như tôn giáo khác nhau

- Nhược điểm:

+ Phật giáo là trường phái duy tâm chủ quan trong quan niệm về XH bởi vì

nó cho rằng nguyên nhân cơ bản của mọi nỗi khổ là do vô minh do đó Phật giáo cho rằng sự sáng suốt, giác ngộ của con người là yếu tố quyết định sự giải thoát con người khỏi cái khổ

+ Chưa nhận thấy được sự đứng yên tương đối của các sự vật hiện tượng + Phật giáo chủ trương giải thoát con người bằng phép tu thân, tích đức tiêu cực, xa lánh cuộc đời mà không mang phong trào cách mạng XH, phủ nhận

sự biến đổi cải tạo XH bằng thực tiễn cách mạng

+ Phật giáo theo trường phái nhận thức luận duy tâm, nhận thức chỉ thực hiện bằng sự tu luyện, thiền định Không thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và tư duy cũng như via trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức

+ Phật giáo cho rằng cuộc đời là giả, ảo, mọi ham muốn đời thường đều là tội lỗi Tuy nhiên, Niết bàn - cái mà Phật cho là thực tại thì hóa ra chỉ là điều

tưởng tượng thuần túy, không có gì làm bằng chứng

Câu 3: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam

Trang 5

tại thiên”

Bên cạnh tư tưởng mệnh trời cũng có tư tưởng đề cao vai trò con người hơn mệnh trời: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”

Có quan điểm coi trọng thời, thế hơn mệnh

Các quan điểm duy vật lẻ tẻ, không thành hệ thống thường xuyên phản kháng lại quan điểm duy tâm:

- Bác bỏ nguồn gốc thần thánh và vai trò quyết định của vua

- Vạch trần thực chất của tệ mê tín bói toán

- Vạch trần sự giả trá của thầy bói, địa lý

2 Quan điểm chính trị-xã hội

+ Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

+ Yêu nước là phẩm chất cao quý nhất, đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần Việt Nam

+ Yêu nước là trách nhiệm của mọi người không phân biệt đẳng cấp, giới tính

+ Tôn kính, thờ cúng những người anh hùng dân tộc, những người có công dựng nước, xây dựng làng xã

+ Khinh ghét những kẻ phản quốc, như Lê Chiêu Thống, Trần ích Tắc

+ Tư tưởng về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

- Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, ngang hàng với Trung quốc

- Tư tưởng tự hào về nguồn gốc dân tộc (Huyền thoại ‘Con rồng, cháu tiên”)

- Chăm lo xây dựng nhà nước độc lập, luôn luôn giữ vững địa vị của một nhà nước độc lập

- Giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, phong tục, tập quán, chống lại âm mưu đồng hóa của Trung quốc (Tư tưởng của Nguyễn Huệ, đánh cho dài tóc,

đánh để răng đen)

+ Vấn đề động lực và phương thức giành và bảo vệ độc lập dân tộc

- Đại đoàn kết toàn dân tộc Truyền thuyết “đồng bào” (cùng một bọc) nói

lên tình đoàn kết dân tộc, không phân biệt chủng tộc của tất cả các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam

- Quan hệ vua-tôi, nhà nước và nhân dân: Vua tôi đồng lòng, quân dân hợp

sức Khoan thứ sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ (Trần Hưng Đạo)

- Toàn dân kháng chiến, trường kỳ kháng chiến, lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn Phát huy vai trò trò của địa thế và các phương tiện đánh giặc, giữ

nước

- Vừa đánh bại ý chí xâm lược, vừa mở đường cho giặc rút khỏi nước ta

Thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẽo, khôn khéo để giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

Trang 6

3 Quan niệm về đạo làm người

+ Chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam

- Thương yêu, giúp đỡ mọi người “Thương người như thể thương thân”

“Chị ngã em nâng” “Miếng khi đói gói khi no” “Lá lành đùm lá rách”

- Tình thương yêu, gắn bó giữa các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam

- Lòng nhân đạo khoan dung đối với những người lầm đường lạc lối đã ăn năn hối cải Đối xử nhân đạo với kẻ thù đã đầu hàng: “Đánh người chạy đi, không đánh người chạy lại”

- Lối sống nặng tình nghĩa, coi trọng đạo lý Hiếu thảo với cha mẹ Thờ cúng

tổ tiên Chăm sóc phần mộ tổ tiên Thương yêu con cháu, ít phân biệt nam

nữ

- Giữ vững lối sống trong sạch:

+ Quan niệm về đạo làm người trong Nho gia, Đạo gia với những khái niệm

“Tam cương”, “Ngũ luân”, Ngũ thường”, “Nhân”

+ Quan niệm đạo đức Phật giáo với lòng “từ bi”, “cứu khổ, cứu nạn” cũng

ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tinh thần của người Việt Nam

Tóm lại tư tưởng triết học Việt Nam là tư tưởng yêu nước, độc lập dân tộc

và chủ quyền quốc gia Tư tưởng này thể hiện ở lòng quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, xây dựng một nhà nước vững mạnh, chăm lo đời sống nhân dân Tư tưởng này còn thể hiện ở lòng tự hào về nguồn gốc dân tộc, tự hào về truyền thống dân tộc, tôn kính những người anh hùng dân tộc, những người có công bảo vệ, xây dựng đất nước, quê hương, khinh ghét những kẻ phản quốc

Ngoài ra, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, tư tưởng về đạo làm người, tư tưởng khoan dung với người lầm đường lạc lối và với kẻ thù đã chịu thất bại

hoặc đầu hàng cũng góp phần làm nên tầm vóc vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Câu 4: Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, biện chứng và siêu hình trong triết học Hy Lạp cổ đại (về bản thể luận, nhận thức luận, quan điểm CT-XH giữa Đêmôcrit và Platon; triết học Hêraclit và phái Elê …)

Trả lời :

-Về bản thể luận:

+ Democrit đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông cho rằng khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, là dạng vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thế giới, của sự vật hiện tượng Nguyên tử này không màu, không mùi, không vị, không nóng, không lạnh, nó không khác nhau về chất, nó chỉ khác nhau về hình dáng, về cấu tạo, về tư thế sắp xếp và các nguyên tử này luôn luôn vận động trong chân không Các sự vật hiện tượng khác nhau là do sự liên kết giữa các nguyên tử có hình dáng khác nhau, tư thế khác nhau, cấu tạo khác nhau Các nguyên tử vận động không

Trang 7

ngừng và chính sự đa dạng của các nguyên tử tạo nên sự đa dạng của thế giới sự vật và sự hình thành của vũ trụ

+ Đối lập với Democrit, Platon đứng trên lập trường duy tâm, ông khẳng

định rằng bản nguyên của thế giới là “thế giới ý niệm”, thế giới ý niệm tồn tại một cách chân thật, vĩnh cửu và bất biến Ông chia thế giới thành hai bộ phận là thế giới ý niệm và thế giới vật cảm tính Thế giới ý niệm là thế giới

có trước và sinh ra thế giới vật cảm tính Thế giới vật cảm tính là thế giới không chân thật, không đúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế giới có sau và

là cái bóng của thế giới ý niệm

- Về con người:

Đêmôcrit bác bỏ quan niệm thần thánh sinh ra con người Ông cho rằng con người xuất hiện trên trái đất là kết quả của sự tiến hóa tự nhiên và linh hồn được cấu tạo từ nguyên tử

Platon thì cho rằng con người gồm thể xác và linh hồn tồn tại độc lập với nhau Trong đó thể xác được tạo thành từ đất, nước, lủa và không khí còn linh hồn do Thượng đế tạo ra và nó là bất tử, tồn tại vĩnh hằng

- Về nhận thức luận:

+ Democrit chia nhận thức thành hai dạng: nhận thức cảm tính và nhận thức

lý tính Nhận thức cảm tính là dạng nhận thức mờ tối, do giác quan đem lại Nhận thức lý tính là dạng nhận thức thông qua những phán đoán logic, là dạng trí tuệ Ông đã thấy được mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính và ông chỉ ra phải bằng nhận thức lý tính thì con người mới phát hiện được nguyên tử tức là nguồn gốc của thế giới

+ Do Platon cho rằng nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính nên ông cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn về thế giới ý niệm có trước vật chất Ông cho rằng nhận thức cảm tính chỉ là sự nhận thức cái bóng của

ý niệm, chỉ cho ta những quan niệm, chứ không phải là tri thức chân thực Chỉ có nhận thức lý tính, tức nhận thức khái niệm mới đạt đến tri thức chân

thực

- Về chính trị:

+ Democrit đứng trên lập trường của phái chủ nô dân chủ, ông vẫn coi chế

độ nô lệ là hợp lý, chống lại đường lối Platon

+ Trong khi đó Platon đưa ra học thuyết về một nhà nước lý tưởng, đó là nhà nước cộng hòa bao gồm 3 đẳng cấp: nhà triết học làm vua, vệ binh bảo vệ đất nước và người lao động sản xuất

- So sánh quan điểm giữa biện chứng và siêu hình trong triết học Hêraclit và phái Elê

Triết học Hêraclit cho rằng khởi nguyên của vũ trụ là lửa và lửa đã sinh ra

vạn vật Ông cũng cho rằng vạn vật không ngừng biến đổi như dòng chảy

Và ông thừa nhận sự tồn tại phổ biến của mâu thuẫn trong sự vật, hiện

Trang 8

tượng Chính nhờ sự đấu tranh giữa các mâu thuẫn đó mới có hiện tượng sự vật này chết đi và sự vật khác ra đời nên vũ trụ thường xuyên biến đổi Ngược lại trường phái Elê lại cho rằng thế giới là một khối chung nhất bất

động không do thần thánh sinh ra

Câu 5: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu Trung cổ (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội)

Trả lời:

Xã hội Tây Âu từ thế kỷ IV - XV là xã hội phong kiến Thiên chúa giáo trở thành tôn giáo chính thống và cùng với thế lực phong kiến trở thành lực lượng thống trị xã hội Triết học trong thời kỳ này chịu sự chi phối và thống trị của tôn giáo và thần học Triết học trở thành tôi tớ của tôn giáo

Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo các nhà triết học giai đoạn này đề cao vai trò niềm tin tôn giáo so với lý trí Chẳng hạn Tômat Đacanh cho rằng đối tượng của triết học là chân lý của lý trí, đối tượng của thần học là chân lý của niềm tin và niềm tin cao hơn lý trí Còn Đơnxcôt lại cho rằng đối tượng của thần học là thượng đế, đối tượng của triết học là tự nhiên Vì vậy các nhà triết học thời kỳ này đã đưa thần học đặt niềm tin lên trên hết, đề cao niềm tin hơn lý trí và khoa học phải phục tùng tôn giáo

Về bản thể luận các nhà triết học cho rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới và quyết định mọi trật tự trong tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tri thức và đạo đức con người Tômat Đacanh cho rằng mọi trật tự trong tự nhiên, từ sự vật không có linh hồn đến con người rồi đến thần thánh và sau cùng là Chúa trời đều do Thượng đế sắp xếp Mọi cái trong tự nhiên và xã hội đều có mục đích

do Thượng đế an bày, mọi đẳng cấp trong xã hội đều do Thượng đế quy định

Về nhận thức áp dụng học thuyết về hình dạng của Arixtôt, ông chia hình dạng thành hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính, trong đó hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính

Về con người và xã hội theo quan điểm thần học các nhà triết học cho rằng con người là thực thể yếu đuối, do Thượng đế tạo ra và có tự do trong giới hạn tiền định của Thượng đế Vì vậy cuộc sống trần gian là tạm bợ, tội lỗi chỉ có cuộc sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia Mục đích của nó là để bảo vệ

quyền lực tối cao của nhà thờ hay của nhà vua, giai cấp thống trị

Câu 6: Những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa duy vật Tây Âu thế kỷ 17-18

Thời kỳ Phục hưng là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản,

là thời kỳ của những cuộc cách mạng tư sản Trong giai đoạn này sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay

Trang 9

gắt hơn Đồng thời đây là thời kỳ phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên có bước tiến nhảy vọt đặc biệt là cơ học Tất cả cái đó làm tiền đề cho sự phát triển triết học với nhiều thành tựu và hạn chế như sau: + Thành tựu:

- Về bản thể luận, các nhà triết học đứng trên lập trường duy vật vô thần,

chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của Nhà thờ Họ khẳng định vật chất, tự nhiên là thực thể duy nhất, Thượng đế cũng chính là giới tự nhiên

"Trong vũ trụ chỉ có một thực thể - cả con người lẫn động vật đó là vật chất" (Đ Diđơrô) Họ cũng thừa nhận vật chất luôn luôn vận động bao gồm cả đứng im hay vận động tương đối Và quá trình vận động do nguyên nhân bên trong của vật chất, từ đó làm tiền thân cho thuyết tiến hóa sau này

- Về con người: Con người là sản phẩm của tự nhiên, là thể thống nhất giữa

cơ thể và ý thức Họ bác bỏ linh hồn bất tử, linh hồn tách rời cơ thể

Đ.Diđơrô quan niệm về linh hồn tách rời cơ thể cũng vô lý như: “có thể nhìn

mà không cần mắt, có thể nghe mà không cần tai….” Theo họ, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục

- Về nhận thức: Các nhà triết học duy vật chia nhận thức thành nhận thức

cảm tính và nhận thức lý tính Trong đó cảm tính là giai đoạn thứ nhất của nhận thức, lý tính là giai đoạn thứ hai nhận thức và giai đoạn kết hợp chúng dùng thực nghiệm khoa học để kiểm tra

- Về chính trị-xã hội: Họ chống lại tư tưởng và trật tự phong kiến, tuyên

truyền tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản Họ đề cao hình thức nhà nước dân chủ; chống quyền lực phong kiến và Nhà thờ

- Về vấn đề tôn giáo, họ vạch trần bản chất tôn giáo và tính chất phản động,

phản tiến bộ của nó Theo Hôpxơ nguồn gốc của tôn giáo là sự sợ hãi và ngu dốt của quần chúng Theo họ, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo

+ Hạn chế:

- Về bản thể luận: do chịu ảnh hưởng của cơ học Newtơn nên thế giới quan

của họ nhìn chung là siêu hình và máy móc Họ chỉ nhìn nhận vận động ở hình thức vận động cơ giới

- Về con người: họ chưa thoát khỏi cách nhìn máy móc về con người, coi

con ngưới như một cái máy, lấy quy luật cơ học hay lấy yếu tố bản năng để giái thích bản chất con người

- Về nhận thức: các nhà triết học duy vật đề cao vai trò nhận thức cảm tính,

của tư duy và thực nghiệm khoa học, chưa nhận thức được tầm quan trọng của thực tiễn, mối liên hệ giữa nhận thức và thực tiễn

- Về chính trị-xã hội: họ cho rằng nhà nước là do sự thỏa thuận giữa các tầng

lớp nhân dân lập ra Họ chưa nhận ra được bản chất của nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị

Trang 10

- Về tôn giáo: họ chỉ thấy nguồn gốc nhận thức, chưa thấy được nguồn gốc

xã hội của tôn giáo Vì vậy họ chủ trương xóa bỏ tôn giáo bằng cách giáo

dục quần chúng và tiêu diệt giới tu hành

7.Thích ca Mâu ni - Bản thể luận và nhân sinh quan của Phật giáo Ấn

Độ cổ đại

Phật giáo là một trường phái Triết học tôn giáo, người sáng lập ra đạo Phật là Thích ca Mâu ni Thích ca mâu ni tên thật là Siddharha, con trai đầu của vua Suddhodana Năm 29 tuổi ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi

tu luyện tìm con đường diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh Ông đã “ngộ đạo”, tìm ra chân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên.”

+ Bản thể luận

Thể hiện trong 4 nguyên lý cơ bản:

• Vô tạo giả: Phật giáo khẳng định thế giới tự tồn tại, tự sinh thành, ko có đấng sang tạo thế giới, phủ định sự sang tạo ra TG của Brahman=> dị giáo

• Vô ngã: không có linh hồn bất tử, sự vật hiện tượng xung quanh

ta và chính bản thân ta là không có thật mà nó được tạo thành từ các yếu tố mà Phật gọi là Danh và Sắc Danh là tinh thần, Sắc là vật chất Thế giới do các yếu tố vật chất và tinh thần kết hợp lại với nhau tạo nên

• Vô thường: không có gì ổn định, bất biến Cái gì cũng có quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vong theo luật nhân quả mà Phật gọi là Sinh, Trụ, Dị, Diệt

• Nhân quả tương tục: Nhân quả là luật phổ biến của mọi sự sinh thành Nó bao trùm mọi sự vật hiện tượng Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả, quả kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả khác Nhân và quả tạo thành một chuỗi không ngừng nghỉ, Phật gọi là “Nhân quả tương tục vô gián đoạn”

• Nhân sinh quan:

Phật giáo tuy bác bỏ Brahman nhưng lại kế thừa thuyết luân hồi, nghiệp báo trong đạo Balamon Thích ca Mâu ni đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” để giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi

Trang 11

• Khổ đế: Phật cho rằng đời là bể khổ vì vậy ta chỉ dạy các con một điều là khổ và diệt khổ Các nỗi khổ của con người thể hiện trong Bát khổ: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly (yêu nhau mà chia lìa), cầu bất đắc (cầu mà không được), oán tắng hội (ghét mà gặp),ngũ thụ

ẩn

• Nhân đế (Tập đế): Phát giáo chỉ ra 12 nguyên nhân dẫn tới bể khổ - 1.Vô minh, 2 Hành, 3.Thức, 4.Danh sắc, 5.Lục nhập, 6.Xúc, 7.Thụ, 8.Ái, 9.Thủ, 10.Hữu, 11.Sinh, 12.Lão, tử - được tóm tắt như sau: do ko nhận thức được cái tôi, có mà ko, ko mà có; ko nhận thức được việc vô thường, vô định của vạn vật Vì vậy con người muốn cái tồn tại mãi Từ đó sinh lòng khát ái, tham sủng đi tới hành vi chiếm đoạt cho sự tồn tại của cái tôi Kết quả đưa con người vào nghiệp chướng, do đó rơi vào bể khổ, trầm luân không thoát ra được

• Diệt đế: Đạo phật khẳng định con người có khả năng tiêu diệt nguyên nhân gây ra bể khổ và chỉ có như thế con người mới đến được cõi Niết bàn

• Đạo đế: Phật nói chúng sinh có thể tiêu diệt được nỗi khổ nếu đi theo con đường “Bát chính đạo”: Chính kiến (hiểu biết đúng đắn), chính tư duy (), chính ngữ (lời nói chân chính), chính mệnh (nuôi mạng sống của mình = những nghề chân chính), chính nghiệp (hoạt động thân thể một cách chân chính), chính niệm (nhớ những điều chân chính), chính tinh tiến (siêng năng làm những việc chân chính), chính định (chú tâm một cách chân chính)

• Nhận xét:

• Ưu điểm:

• Là trường phái triết học vô thần mặc dù không triệt để, có yếu

tố duy vật biện chứng, thừa nhận có sự vận động tuyệt đối của các sự vật hiện tượng

• Chống lại sự phân biệt đẳng cấp, chủ trương bình đẳng xã hội

• Có ý nghĩa giáo dục lớn vì nó khuyên con người khinh ghét những ham muốn dục vọng vật chất tầm thường

Trang 12

• Đạo phật có tính nhân đạo cao vì nó khuyên con người suy nghĩ

và làm điều thiện, tránh xa điều ác, thương yêu cứu giúp mọi người, ko dùng bạo lực

• Nhược điểm:

• Phật giáo là trường phái duy tâm chủ quan trong quan niệm về

XH vì nó cho rằng nguyên nhân cơ bản của mọi nỗi khổ là do

vô minh do đó Phật giáo cho rằng sự sáng suốt, giác ngộ của con người là yếu tố quyết định sự giải thoát con người khỏi cái khổ

• Chưa nhận thấy được sự đứng yên tương đối giữa các sự vật hiện tượng

• Phật giáo chủ trương giải thoát con người bằng phép tu thân, tích đức tiêu cực, xa lánh cuộc đời mà ko mang phong trào cách mạng XH, phủ nhận sự biến đổi cải tạo XH = thực tiễn cách mạng

• Phật giáo theo trường phái nhận thức luận duy tâm, nhận thức chỉ thực hiện = sự tu luyện, thiền đinh Không thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và tư duy cũng như vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức

• Phát giáo cho rằng cuộc đời là giả, ảo tuy nhiên Niết bàn-cái mà Phật cho là thực tại thì hóa ra chỉ là điều tưởng tượng thuần túy,

• Tư tưởng về vạn vật: cho rằng mọi hiện hữu đều biến dịch Nguồn gốc của biến dịch là do sự tương tác của 2 mặt âm,

Trang 13

dương trong thái cực (Đây là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát)

• Tư tưởng về thiên mệnh: Khổng Tử cho rằng trời là mạnh

mẽ, lưu hành khắp vũ trụ và định phép sống cho vạn vật Ông gọi đó là thiên mệnh Song Khổng tử lưu ý mọi người rằng: trước mọi việc phải biết cố gắng hết sức Sau đó thành hay bại mới do thiên mệnh quyết định

• Như vậy, trong thế giới quan của Khổng Tử chứa đựng mâu thuẫn Một mặt, ông khẳng định trời là bậc nhất, mặt khác ông lại khẳng định sức mạnh của con người, thể hiện lập trường Nhị nguyên, dao động lập trường duy vật và duy tâm Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn của xã hội cũ lúc bấy giờ Đó là mâu thuẫn của khuynh hướng muốn thay đổi xã hội với khuynh hướng muốn bảo tồn xã hội cũ

• Nhân sinh quan của Khổng Tử

Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề

“tri thức luận” (tri thức do đâu mà có) Theo ông, tri thức có 2 loại

là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu” (học cũng không biết) Nghĩa là ông đã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có trước trước sự nhận thức của con người Nếu chịu khó học thì có thể vươn tới thượng trí, còn ko học thì rơi xuống hạ ngu

Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội: Khổng Tử coi XH là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, trong có có các quan hệ như: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn bè (Ngũ luân) Trong đó mối quan hệ vua tôi, chồng vợ, cha con là những mối quan hệ cơ bản nhất và được gọi là tam cương Những phạm trù cơ bản trong thuyết Chính trị - Đạo đức của Khổng Tử là Nhân,

Lễ, Nghĩa và Chính danh:

• Nhân: là lòng thương người Người có nhân là người có đạo đức hoàn toàn Trung và Thứ là 2 khía cạnh của Nhân: Trung là tính ngay thẳng với người, điều mình muốn thì hãy làm cho người; Thứ là lòng vị tha, điều mình không muốn thì đừng làm cho người Trong đạo nhân, hiếu là gốc-hiếu ko chỉ thể hiện ở việc phụng dưỡng cha mẹ mà quan trọng nhất

là lòng thành kính

Trang 14

• Lễ: là hình thức thể hiện lòng nhân Lễ bao gốm mối quan

hệ rộng lớn, từ quan hệ thần linh đến quan hệ ứng xử giữa người với người, quan hệ đạo đức, phong tục, tập quán, quan

hệ nhà nước, luật pháp… Tuân theo lễ là 1 đk để thực hiện nhân đức Người quân tử ko bao giờ làm trái với lễ

• Nghĩa: Là hình vi đạo đức thể hiện đức nhân Người làm việc nghĩa thi hy sinh lợi ích của mình vì người khác Nghĩa

và lợi không thể dung hợp với nhau

• Thuyết “Chính danh”: Phải bố trí người ở cương vị phù hợp với năng lực, người ở cương vị nào thì phải xứng đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận, chức trách của mình Nếu danh, phận phù hợp với nhau thì XH thịnh trị và ngược lại => Quan điểm chính danh thể hiện một vấn đề đúng trong xã hội có giai cấp nhưng Khổng Tử không thấy được

sự vận động, biến đổi của kinh tế (cơ sở hạ tầng) sẽ tác động đến kiến trúc thượng tầng, làm biến đổi các quan hệ xã hội vốn có trong xã hội của cơ chế cũ

• Học thuyết Giáo dục:

Mục tiêu: Đào tạo ra con người toàn diện; đạo tạo ra con người có ích cho XH; đào tạo ra con người có khả năng nắm bắt được chân lý

Phương pháp:Thiết lập quan hệ đồng cảm giữa người dạy và người học; đưa người học vào khuôn mẫu; đưa thông tin vào người học và phát hiện những xung đột trong người học Giúp người học điều chỉnh xung đột đó, bằng cách đó giúp người học tự tìm ra chân lý

• Khổng tử đề cao người hiền tài với tư tưởng Thượng hiền, khuyên các nhà cai trị nên sử dụng người hiền tài quản lý đất nước và loại bỏ dần những kẻ bất tài trong bộ máy cai trị

• Ông khuyên giai cấp thống trị phải yêu thương, tôn trọng, chăm lo nhân dân Đồng thời khuyên dân phải an phận, lấy nghèo làm vui, nghèo không oán trách

Trang 15

• Ưu điểm: Dùng nhân để giáo hóa con người, cải biến xã hội là biể hiện tích cực, nhân bản của Khổng Tử Hạn chế: Do ko hiểu

rõ nguyên nhân sâu xa của các sự kiện lịch sử và bị những quyền lợi giai cấp quy định nên phương pháp cải biên con người, xã hội của ông chỉ dừng lại ở tính chất cải lương và duy tâm chứ không phải bằng cách mạng hiện thực

Triết học của Khổng Tử luôn chứa đựng những mâu thuẫn, giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vât, vô thần với các yếu tố duy tâm; giữa những tư tưởng tiến bộ với các quan điểm bảo thủ thể hiện tâm trạng giằng xé của ông trước biến chuyển của thời đại

Đạo là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”, Đạo và hiện hữu ko tách rời nhau Đạo là bản chất của mọi hiện hữu Hiện hữu là cái thể hiên ra bên ngoài của Đạo Bởi vậy có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại

“Đạo” là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu Cơ chế đó là “đạo phát tự nhiên”

• KL: Tư tưởng về Đạo của Lão Tử đã đạt đến 1 trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa bậc cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của

nó Như vậy phần nào làm lu mờ vai trò của thần thánh, của lực lượng siêu nhiên nhưng còn mang tính trực quan, ước đoán, chưa có chứng minh, chưa có luận điểm thuyết phục

Trang 16

• Phép biện chứng của Lão Tử:

Lão Tử khẳng định mọi hiện hữu đều biến dịch Sự biến dịch của hiện hữu tuân theo luật quân bình và phản phục (QL quân bình luôn giữ cho vạn vật thăng bằng theo một trật tự điều hòa tự nhiên,

ko có cái gì thái quá, bất cập, cái gì khuyết sẽ được tìm đầy, cái gì cong sẽ thẳng, cái gì cũ sẽ lại mới, cái gì ít sẽ được nhiều, cái nhiều sẽ mất; QL phản phục là sự phát triển cực điểm thì quay lại phương hướng cũ)

Lão Tử khẳng định về sự tồn tại phổ biến của mâu thuẫn, và khẳng định sự dung hòa của những mặt đối lập là trạng thái lý tưởng của mâu thuẫn => ko bao hàm tư tưởng về sự phát triển

• Tư tưởng về con người & tư tưởng về nhận thức

• Tư tưởng về nhận thức: Lão Tử phủ nhận việc nhận thức của con người bắt nguồn từ kinh nghiệm cảm giác Ông đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh việc nhiên cứu sự vật hiện tượng => Phủ định tri thức một cách cực đoan Đó là thuyết tiên nghiệm duy tâm dựa vào nội quan

• Tư tưởng về con người: Đạo sinh ra con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ trời, đất, con người và vạn vật trong

vũ trụ Khuyên con người sống và hoạt động theo lẽ tự nhiên, ko làm trái với bản tính tự nhiên

• Học thuyết vô vi (Quan điểm CT-XH)

Vô vi: Hành động theo đúng bản tính tự nhiên của vật trong quan

hệ với vật thì bảo tồn bản chất tự nhiên của mình và vật.Vô vi ko phải là cái thụ động, bất động hay ko hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”

Vận dụng thuyết Vô vi vào đời sống XH: Lão tử xây dựng phép

“vô vị trị” Lão tử cho rằng mọi xung trong XH là do hữu vi sinh

ra Nếu biết thực hiện chủ thuyết vô vi thì XH sẽ yên ổn

Trang 17

• Hạn chế: Ông cho rằng “cái hình ảnh lớn nhất” là “hình thái ko có hình thái, là hình ảnh ko có thực chất”, muốn hiểu được nó phải vượt qua sự đối lập giữa chủ quan và khách quan để nhận thức, ko thể nhận thức qua khái niệm được mà phải bẳng phương pháp tưởng tượng trực giác, ông phủ nhận cực đoan chân lý tương đối trong quá trình nhận thức, ông hiểu máy móc cực đoan về tính quy định lẫn nhau giữa các sự vật và ko nhận thấy được tính biến chứng khuynh hướng phát trình trong quá trình đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt của sự vật, ông phủ định tri thức một cách cực đoan

là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy và mức độ của những cái đang lụi tàn.”

Lửa là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới “thế giới chỉ là một ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt ngày đêm”, theo ông các hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, các mùa ko phải là hiện tượng thần bí mà là những trạng thái khác nhau của lửa “Cái chết của lửa chỉ là sự ra đời của không khí, cái chết của không khí chỉ là sự ra đời của nước Nước sinh ra từ cái chết của đất, không khi sinh ra từ cái chết của nước, lửa sinh ra từ cái chết của không khí” => Trong quan niệm về lửa của Heraclit cho thấy tính thống nhất của thế giới, quan niệm đòi hỏi phải giải thích các hiện tượng một cách khách quan, tức là dựa vào tự nhiên để giải thích (Lenin cho rằng

Trang 18

đó là 1 sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng) Tuy nhiên, trong quan điểm về lửa của Heraclit còn mang tính vật hoạt luận, ông ko nhìn thấy có sự phát triển từ thấp đến cao trong cái “dòng chảy” và sự biến đổi phổ biến liên tục của vạn vật trong vũ trụ

Thế giới vận động theo trật tự mà ông gọi là logos: logos khách quan và logos chủ quan quan hệ với nhau như là quan hệ giữa khách thể mà nhận thức Sự phù hợp với logos khách quan là tiêu chuẩn để đánh giá tư duy con người Đây là một đóng góp có giá trị

• Tư tưởng biện chứng

• Tư tưởng về sự vận động: Heraclit khẳng định mọi sự vật hiện tượng đề nằm trong quá trình vận động ko ngừng “ko ai có thể tắm 2 lần trên cùng một dòng sông.”

Quan niệm về vận động của ông có nọi dung cốt lõi là tư tưởng về

sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Thứ nhất, thống nhất là sự đồng nhất của cái đa dạng và là sự hài hòa giữa các mặt đối lập Đồng nhất được xem là giới hạn theo nghĩa cũng tồn tại trong một tương quan để so sánh, nếu thiếu thì

ko còn sự so sánh nữa như là ko thế quý sức khỏe khi ko biết mặt đối lập của nó là bệnh tật

Tính chất của sự đồng nhất là tương đối Bản chất của sự vật chỉ có thể được xác định trong mối liên hệ với các sự vật khác Nhưng ở những tương quan khác nhau sẽ cho những kết quả so sánh khác nhau “Con khỉ đẹp nhất trong loài khỉ cũng ko thể so sánh với con người Con người sáng suốt nhất so với Thượng đế cũng chỉ là con khỉ xét về trí tuệ, sắc đẹp”

Thứ hai, mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua các trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với

nó “Cùng một thứ ở trong ta như sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, vì sau khi biến đổi cái này trở thành cái kia và ngược lại”

Trang 19

Thứ ba, đấu tranh của các mặt đối lập ko chỉ là sự đối lập mà còn

là sự thống giữa các mặt đối lập, là điều kiện của tồn tại Ông khẳng định đấu tranh sẽ tạo ra một trật tự hài hòa về sự thống nhất Theo ông, cái vốn có ở trong hài hòa là đấu tranh và đó là điều kiện để hài hòa Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đó ko có sự thống nhất Đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái hiện hữu, là khởi nguyên sáng tạo của sự sống và sự tồn tại Vì vậy đấu tranh là phổ biến tất yếu

Heraclit khẳng định về sự tồn tại phổ biến của mâu thuẫn và khẳng định trong mọi sự đồng nhất đều tồn tại sự khác biệt Ông cũng đưa ra tư tưởng về phân đôi cái thống nhất và nhận thức từng bộ phận của mâu thuẫn Ông khẳng định về sự đấu tranh của các mặt đối lập và sự chuyển hóa của chúng Ông đi đến nhận định đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực của sự vận động phát triển

• Nhận thức luận

Heraclit khẳng định: quá trình nhận thức được bắt đầu từ nhận thức cảm tính song ông ko tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính mà ông cho rằng: tri giác của con người dễ bị đánh lừa bởi tự nhiên thích giấu mình Do đó, để nhận thức được bản chất đích thực của tự nhiên thì cần phải có tư duy Ông chia nhận thức thành 2 cấp độ là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính chỉ là sự tiếp cận với logos nhưng ko chắc chắn Nhận thức lý tính là con đường đạt tới chân lý nên ông đề cao

• Quan điểm về xã hội (xã hội luận)

Heraclit đứng trên lập trường của tầng lớp chủ nô và bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ

• Về nhân bản học: Ông coi con người là sự thống nhất cả 2 mặt đối lập ẩm ướt và lửa Linh hồn của con người là biểu hiện của lửa Lửa đưa con người đến điều thiện, làm cho con người trở nên hoàn hảo, lửa là thôi thúc ở trong tim để ngăn ngừa những cám dỗ vì chống lại khoái cảm còn khó hơn chống lại sự giận dữ

Trang 20

Theo ông hạnh phúc ko phải là sự hưởng lạc về mặt thể xác thỏa mãn dục vọng mà ở chỗ phải biết vượt lên trên mình, biết nói, biết suy nghĩ, hành động theo logos

• K/n “cái trống rỗng” (cái ko tồn tại): là cái vô hình, ko xác định và

vô tận Nó ko ảnh hưởng gì đến cái tồn tại ở trong nó Nhờ đó mà cái tồn tại vận động được

• k/n nguyên tử: Nguyên tử là cái thuộc về cái tồn tại mà trong nó ko chứa đựng 1 sự trống rỗng bất kỳ nào để có thể phân chia ra nhỏ hơn nữa

Các t/c của nguyên tử:

• Nguyên tử là phần tử nhỏ bé nhất mà ko thể phân chia ra nhỏ hơn nữa

• Các nguyên tử là đồng chất Chúng chỉ khác biệt về hình thức, kích thước, vị trí và tư thế

• Các nguyên tử kết hợp lại với nhau tạo ra sự vật Sự vật được tạo ra bởi sự hợp nhất của các nguyên tử mà thành Sự hợp nhất của các nguyên tử ko tùy tiện mà có những qui tắc xác định

• Các sự vật khác nhau bởi hình thức, vị trí và tư thế của các nguyên tử hợp thành

• Các nguyên tử nằm trong quá trình vận động ko ngừng Chúng vận động theo những chiều trái ngược nhau Do đó chúng sẽ va chạm vào nhau để tạo ra những cơn lốc nguyên tử và từ những cơn lốc đố để hình thành ra thế giới và có vô số thế giới được hình thành theo cách đó

Trang 21

Ông phỏng đoán rằng, vận động ko tách rời vật chất Vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, ko có điểm kết thúc Ông nêu ra khái niệm ko gian Theo ông, lo gian là khoảng chân ko rộng lớn, trong đó những nguyên tử vận động vĩnh viễn Ko gian là những khoảng trống giữa các vật thể, nhờ đó các vật thể có thể

tụ lại hoặc giãn ra Xuất phát từ học thuyết nguyên tử, ông cho rằng ko gian là gián đoạn và có thể phân chia vô tận

Đặc điểm nổi bật của CN duy vật Đemocrite là quyết định luận (thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả và tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên) nhằm chống lại mục đích luận (là quan điểm duy tâm cho rằng cái thống trị trong tự nhiên ko phải là tính nhân quả mà là có tính mục đích)

• Giai đoạn nhận thức chân lý : là giai đoạn con người sử dụng tư duy thông qua các phán đoán logic để nhận thức bản chất của đối tượng nhận thức Chỉ ở giai đoạn nhận thức chân lý con người mới nắm bắt được bản nguyên của TG là nguyên tử

Nét đặc sắc trong triết học duy vật Đêmôcrit là chủ nghĩa vô thần Ông cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người bất lực trước những hiện tượng khủng khiếp của tự nhiên Theo ông thần thánh chỉ là sự nhân cách hóa những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người

Trang 22

Được thể hiện thông qua học thuyết ý niệm

Platon chia thế giới ra thành 2 TG : TG ý niệm & TG vật chất cảm biết

• TG ý niệm : là TG hoàn toàn chân thực, TG vĩnh viễn và vĩnh hằng, và là cơ sở, nền tảng để hình thành các sự vật cảm biết

• TG các vật cảm biết : là TG chân thực bởi các sự vật cảm biết ko ngừng biến đổi TG các vật cảm biết được hình thành

từ TG ý niệm

Để giải thích sự hình thành TG các vật cảm biết từ TG ý niệm, platon đưa ra 4 k/n sau đây : ý niệm, v/c, sự vật cảm biết, các quan hệ toán học

Ý niệm in hình mình vào vât chất, tuân theo các quan hệ toán học Từ đó sinh ra các vật cảm biết Như vậy các vật cảm biết là sản phẩm của ý niệm tác động vào vật chất Nó chỉ là cái bóng của ý niệm vì vậy nó ko thể chân thực như nguyên mẫu ý niệm của nó

• Kết luận : Với những tinh thần trình bày trong học thuyết ý niệm, platon thể hiện ra là 1 nhà duy tâm điển hình

Trang 23

Cũng chính trong học thuyết ý niệm, platon đã có công lao lớn đóng góp cho sự phát triển của tư duy Ông đã nâng tư duy ẩn dụ phổ biến lúc bấy giờ thành tư duy khái niệm Như vậy khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, Platon cho rằng ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân,

là bản chất của sự vật Còn sự vật chỉ là cái có sau, là cái bắt chước, cái mô phỏng, là bản sao của ý niệm

Platon đã quan niệm 1 cách duy tâm, thần bí về linh hồn Theo ông, thể xác của con người được cấu tạo từ đất, nước, lửa và ko khí, nó chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn Linh hồn của con người là sản phẩm của linh hôn vũ trụ được Thượng đế tạo ra từ lâu Sau khi được tạo ra, mỗi linh hồn trú ngụ ở một vì sao trên trời, sau đó dùng cánh bay xuống trần gian và nhập vào thể xác con người Khi nhập vào thể xác con người thì nó quên hết mọi quá khứ, do đó nhận thức của con người chỉ là sự hồi tưởng lại những gì về linh hồn đã có nhưng bị lãng quên

• Nhận thức luận

Platon khẳng định tri thức có trước sự vật Ông cho rằng nhận thức ko phải là sự phản ánh khách quan của bộ óc mà chỉ là quá trình linh hồn hồi tưởng lại quá khứ của mình khi còn tồn tại trong thế giới ý niệm Và để thực hiện sự hồi tưởng này thì linh hồn sư dụng phương pháp đàm thoại trực tiếp

• Quan điểm về xã hội

Ông đưa ra tư tưởng về nhà nước lý tưởng Mô hình Nhà nước

lý tưởng với 3 giai tầng cấu thành sau :

• Giai tầng 1 : bao gồm các nhà triết học, các nhà thông thái Họ có nhiệm vụ quản lý, điều hành xã hội

• Giai tầng 2 : Các vệ binh có nhiệm vụ duy trì, trật tự xã hội và thực hiện các cuộc chiến tranh

Trang 24

• Giai tầng 3 : Những người nông dân, thợ thủ công, tiểu thương… có nhiệm vụ tạo ra của cải cho sự tồn tại của vũ trụ

Platon cho rằng sự vinh quang của Nhà nước phụ thuộc vào sự thông thái và mức độ duy trì các chuẩn mực xã hôi Để xác lập được công bằng trong xã hội thì phải xóa bỏ được sở hữu và gia đình

• Quan điểm trên của Platon chứa đựng nhiều mâu thuẫn Một mặt ông muốn xóa bỏ tư hữu, một mặt ông lại chủ trương duy trì sự bất bình đẳng giữa các hạng người Nhà nước mà ông coi là lý tưởng, thực chất chỉ là sự biện hộ cho giai cấp chủ nô quý tộc Nó chỉ là lý tưởng hóa chế độ đẳng của của

Ai cập vào Aiten mà thôi

• Sai lầm của Platon : ông tách rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến cái chung (khái niệm) thành cái riêng bên cạnh thế giới cảm tính, quyết định thế giới cảm tính Ông biến những khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức thành một thế giới riêng biệt, siêu cảm giác, tồn tại 1 cách độc lập với những sự vật được phản ánh Như vậy : 1

là, thế giới của các ý niệm (khái niệm) là tồn tại tối cao, còn thế giới các sự vật cảm tính chỉ là một tồn tại cấp thấp 2 là, nếu TG các ý niệm độc lập và tách rời thế giới của các sự vật cảm tính, thì các khái niệm, phạm trù chẳng có vai trò gì đối với nhận thức cả 3 là, nếu cho rằng TG của các ý niệm

là độc lập đối với các sự vật, nhưng các sự vật lại là cái bóng, là bản sao của ý niệm, thì rõ ràng là tự mâu thuẫn với mình, vì như thế là chúng có chỗ tương đồng

13.Arixtot

• Học thuyết về tồn tại

Arixtot cho rằng mọi tồn tại đề được hình thành từ 4 nguyên nhân : nguyên nhân hình dạng, nguyên nhân vật chất, nguyên

Trang 25

nhân vận động, nguyên nhân mục đích Trong 4 nguyên nhân trên quy định sự sinh thành và tồn tại thì nguyên nhân hình dạng được coi là quan trọng nhất Ông cho rằng vật chất và thiếu hình dạng thì chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng

• Khi đưa ra nguyên nhân mục đích vào mọi sự sinh thành, ông đã đưa cả thế giới vào cuộc vận động có mục đích Ông

ko phân biệt sự khác nhau giữa xã hội và tự nhiên Việc khẳng định nguyên nhân hình dạng là quan trọng nhất trong sinh thành tồn tại thì ông thể hiện sự dao động của mình giữa lập trường duy vật và duy tâm

• Học thuyết về giới tự nhiên

Ông khẳng định toàn bộ thế giới với các sự vật tồn tại trong nó đều mang một bản chất : vật chất ko ngừng vận động Ông khẳng định bản chất ko tồn tại bên ngoài sự vật và khẳng định vận động vật chất là vĩnh viễn và ko thể bị tiêu diệt Tuy nhiên, khi đi tìm nguồn gốc của sự vận động, ông lại thể hiện sự dao động của mình Ông coi thánh thần là nguồn gốc cuối cùng của

sự vận động

• Nhận thức luận

Arixtot cho rằng TG tồn tại khách quan và là đối tượng của nhận thức Ông chia quá trình nhận thức ra thành 2 giai đoạn : giai đoạn nhận thức cảm tính & giai đoạn nhận thức lý tính Đồng thời ông cũng chỉ ra mối quan hệ giữa chúng :theo ông, quá trình nhận thức được bắt đầu từ giai đoạn nhận thức cảm tính Giai đoạn này đem lại cho chủ thể nhận thức các tài liệu cảm tính về đối tượng nhận thức Những tài liệu này sẽ được phân tích ở giai đoạn nhận thức lý tính = cách trừu tượng hóa, khái quát hóa để tìm ra bản chất của đối tượng nhận thức Tuy nhiên, ông cho rằng mục đích của mọi quá trình nhận thức là nhận thức hình dạng phổ biến của mọi quá trình tồn tại

• Logic học và phép biện chứng

Trang 26

• Logic học : Arixtot là cha đẻ của logic học hình thức Ông hiểu logic học là KH về chứng minh Ông xây dựng các công thức chứng minh Đồng thời, ông nghiên cứu các QL cơ bản của logic học hình thức : QL đồng nhất khái niệm, QL cấm mâu thuẫn, QL loại trừ cái thứ 3

• Phép biện chứng : ngoài tư tưởng về sự vận động thì Arixtot đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa cái chung & cái riêng Ông khẳng định cái chung tồn tại ko tách rời cái riêng Từ mqh biện chứng giữa cái chung & cái riêng ông phê phán học thuyết ý niệm của Platon Ông chỉ ra sai lầm của Platon trong học thuyết ý niệm của Platon là ở chỗ Platon đã tách cái chung (ý niệm) ra khỏi cái riêng (sự vật cảm biết)

• Học thuyết xã hội

Tư tưởng về Nhà nước : Ông cho rằng Nhà nước là hình thức giao tiếp cao nhất của con người Xét về mặt bản chất con người phải thuộc về Nhà nước Nhà nước chỉ ra đời khi có sự giao tiếp về lợi ích

Giá trị lớn nhất trong học thuyết XH của Arixtot là ông giải thích hiện tượng công = trên cơ sở yếu tố kinh tế Ông cho rằng, công = XH trước hết được thể hiện ở công = trong trao đổi Và

để trao đổi công = thì trong trao đổi phải hình thành 1 thước đo chung tức cái thể hiện giá trị của sp Như vậy, khi lập luận về công bằng, ông là người đầu tiên trình bày hình thái giá trị của hàng hóa

Trang 27

15.Luvich Phoi ơ bắc ( Triết học nhân bản)

Phoi ơ bắc là nhà duy vật chủ nghĩa hàng đầu vào những năm 40 của thế kỉ XIX, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức và là giai cấp tư sản dân chủ Đức Ông đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Heghen cũng như chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật

Trong những tác phẩm đầu tiên, Phoi ơ bắc còn là người theo phái Heghen trẻ, ông từng nghe bài giảng của Heghen trong trường đại học Béc-lin Nhưng từ năm 1836 trở đi ông đã công kích thần học Với tác phẩm Phê phán triết học(1839), ông đã xác lập lập trường duy vật của mình Một loạt các tác phẩm sau đó như bản chất của đạo Thiên chúa, luận cương sơ bộ về cải cách triết học, cơ sở triết học của tương lai, bản chất của tôn giáo…của Phoi ơ bắc đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII- XVIII và đã làm phong phú, sinh động thêm cho thế giới quan duy vật

I, Những quan điểm tự nhiên duy vật của Phoi ơ bắc

Khi hướng vào chủ nghĩa duy vật Heghen, Phoi ơ bắc đã phục hồi và tổng hợp lại những quan điểm duy vật thời kì này như thế giới này là vật chất, vật chất tồn tại khách quan, tự thân vận động, vĩnh viễn trong không gian thời gian, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người…

Nhấn mạnh tính khách quan của qui luật tự nhiên và sự tương tác giữa các hiện tượng trong giới tự nhiên ”không phải giác tánh đem lại qui luật của

nó hoặc cho tồn tại, buộc cho giới tự nhiên mà những qui luật của hiện tượng cũng là những qui luật của tư duy khi nó phản ánh vào trong bộ óc con người Trong tự nhiên mọi vật đều nằm trong sự tác động lẫn nhau, đều tương đối và là nhân quả của nhau”

Để khẳng định quan điểm duy vật của mình ông đã phê phán nhiều quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo khi nhiều học thuyết này đưa

ra quan điểm là ý niệm tuyệt đối (thượng đế) tạo ra sự sống Phoi ơ bắc :

“nếu như ngày nay giới tự nhiên không tạo ra sự sống bằng con đường sản sinh tự phát thì như thế không có nghĩa là trước kia nó đã không làm được việc ấy có nhiều lý do chắc chắn là trái đất đã biểu thị sức mạnh sinh sản

thời kì biến thiên lớn về địa chất” Tuy nhiên, nhiều quan điểm duy vật về giới tự nhiên của Phoi ơ bắc không vượt lên cao hơn các nhà triết học duy vật thời kì khai sáng Tây Âu và nhiều quan điểm của ông còn mang nặng tính trực quan siêu hình như: ông chỉ thấy 1 chiều tính quy định của quy luật khách quan đối với con người mà không thấy sự tác động trở lại của ý thức con người và khách quan

II, Những quan điểm triết học về nhân bản của Phoi ơ bắc

Khi vạch ra sự tiến hóa của tư tưởng triết học của bản thân mình Phoi ơ bắc đã nói rằng tư tưởng đầu tiên của ông là thượng đế nhưng rồi ông hiểu

Trang 28

ngay rằng ông nhầm, tư tưởng của ông là lý chí- chúa tể của vạn vật trong thế giới(Heghen), tư tưởng triết học thứ 3 là triết học con người coi con người là đối tượng của triết học gọi là triết học nhân bản

Triết học nhân bản kết hợp với khoa học tự nhiên chứ không phải là kết hợp với thần học, duy tâm, nhị nguyên Thế nên ông phê phán chủ nghĩa duy vật khi phê phán vào con người Chủ nghĩa duy tâm đã tách con người

ra làm đôi tinh thàn và thể xác sau đó lại đem tư duy thành sức mạnh linh thiêng tạo nên toàn bộ thế giới Khi tách ra như vậy chủ nghãi duy tâm tạo ra xung đột giữa linh hồn và thể xác và đồng nhất linh hồn với thể xác để làm bản chất con người, phái nhị nguyên Phoi ơ bắc phê phán tính nửa vời của

nó Ông cho rằng triết học nhân bản của ông xóa bỏ sự tách biệt giữa tinh thần và thân thể bản chất con người là sự thống nhất giữa tinh thần với thân thể mối quan hệ giữa tồn tại với tư duy thực chất là vấn đề bản chất con nguwoif vì chỉ có con người mới có tư duy mà thôi vì vậy triết học phải trở thành nhân bản học- học thuyết về con người

Tiếp đó ông đã phân biệt TH và sinh lý học trong vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại với tư duy, sự khác nhau là trong sinh lý học nghiên cứu mqhe này với quá trình vật chất diễn ra cơ thể người còn trong triết học nghiên cứu mqh giữa tư suy với thế giới khách quan nói chung mà con người là 1

cá nhân mà ông đã bỏ qua mọi hoạt động sống của con người

Phương pháp nhân bản học là đem qui cái siêu nhiên về cái tự nhiên( coi chúa là giới tự nhiên), qui cái mơ mộng thành cái hiện thực, siêu cảm giác về cảm giác(tôn giáo về tình yêu) coi ý thức XH là cảm giác khi yêu khi đau khổ Triết học nhân bản tuy có nhiều yếu tố duy vật nhưng còn hạn chế: thể hiện 1 quan điểm thiển cận không đầy đủ về triết học nói chung và chủ nghĩa duy vật nói riêng đó là quan niệm cho rằng đối tượng của triết học chỉ

là 1 sự giải thích theo cách duy vật sự thống nhất khách thể với chủ thể giữa cái tôi và không tôi, triết học nhân bản Phoi ơ bắc chỉ được nghiên cứu theo

1 chiều, tức là nghiên cứu con người về mặt sinh học mà không nghiên cứu con người về mặt Xh, lịch sử

III, Những quan điểm phê phán chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo

1, Phê phán chủ nghĩa duy tâm

Ngày đăng: 23/03/2023, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w