ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO Câu 1 Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại? Câu 2 Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp L[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO
Câu 1: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại?Câu 2: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổđại?
Câu 3: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị C Mac – V Lênin?Câu 4: Những giá trị tư tưởng chính trị Trung Quốc hiện đại bổ sung phát triển chủnghĩa C Mac – V Lênin?
Câu 5: Việc truyền bá học thuyết chính trị C Mac – V Lênin vào Việt Nam?
Câu 6: Quyền lực chính trị là gì? Tại sao nói ở Việt Nam quyền lực chính trị thuộc vềnhân dân?
Câu 7: So sánh NNPQ và NNPQXHCN? (ở Việt Nam)
Câu 8: Phân tích và chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các loại thể chế chính trị ởcác quốc gia?
Câu 9: Cơ sở để Việt Nam lựa chọn thể chế chính trị CH XHCN? Phân tích nhữngđặc trưng của thể chế chính trị Việt Nam?
Câu 10: Phân tích những đặc trưng của thể chế bầu cử ở Việt Nam hiện nay?
Trang 2Câu 1: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại? Ý nghĩa thực tiễn của những giá trị?
Trả lời:
Trung Quốc là 1 qgia pĐông điển hình thời cổ đại Đó là 1 xã hội không cóhình thức sở hữu tư hữu về tư liệu sxuất; sxuất nông nghiệp là chủ yếu; nhà nước xuấthiện sớm trong khi sự phân hóa gcấp chưa chín muồi; nhà nước có tính tập quyền khácao Điểm nổi bật của xhội Trung Quốc cổ đại là các cuộc chiến tranh thôn tính lẫnnhau diễn ra lâu dài, ác liệt Cũng trong thời gian đó, ở TQ xuất hiện nhiều tư tưởngctrị mà đến nay vẫn có ảnh hưởng sâu sắc
* Những trào lưu tư tưởng tiêu biểu:
1 Đạo gia
Lão Tử là người sáng lập ra Đạo gia Đạo gia đại diện cho tầng lớp quý tộc thất thế.Cho nên chủ trương xây dựng 1 xã hội bình yên, thịnh trị
- Lý luận về đạo pháp tự nhiên:
Đạo là phạm trù của đạo pháp tự nhiên Đạo là bản nguyên của tgiới, có trước trờiđất, đạo chứa trong nó những phép tắc cấu tạo, biến đổi, sinh thành và thực hiệnnhững phép tắc đó
Đạo còn chỉ quy luật chung của sự biến hóa của sự vật, vừa có trước sự vật, vừa nằmtrong sự vật Quy luật biến hóa tự thân của sự vật gọi là Đức Đạo đức là một phạmtrù thuộc vũ trụ quan
Từ sự lý giải vũ trụ, Lão Tử đã vận dụng lý giải những vấn đề thuộc con người,những vấn đề chính trị phải tuân theo lẽ tự nhiên
- Tư tưởng chính trị:
+ Quan niệm về xã hội lý tưởng – gắn bó và hòa đồng với thiên nhiên
Lão tử xuất phát từ nguyên lý cho rằng, người theo phép tắc của đất, đất theo phéptắc của trời, trời theo phép tắc của đạo Xhội lý tưởng là 1 “tiểu quốc, quả dân” (nướcnhỏ dân ít)
+ Quan niệm “vô vi nhị trị” – yêu cầu căn bản trong cai trị
Lão Tử cho rằng hãy để cho xhội tự nhiên như vốn có, o can thiệp bằng bất cứ cáchnào, xhội sẽ đc ổn định
Tổng kết cách cai trị trong lsử, Lão Tử khái quát có 4 kiểu cai trị chính sau: 1 Dùng
vô vi, dân sống tự nhiên, yên ổn, cai trị đơn giản.2 Dùng đức, giáo hóa dân, dân nghetheo mà ca ngợi 3 Dùng pháp, dân theo nhưng do sợ hãi mà theo.4.Dùng mưu lừagạt, dân theo vì bị lừa, khi biết sẽ phản đối
Lão Tử chủ trương cai trị bằng vô vi, ca ngợi vua cai trị theo cách vô vi; cai trị vô vi
là o dùng trí tuệ vào việc cai trị, o làm phiền dân và ông đòi hỏi cai trị phải biết mềndẻo, linh hoạt như triết lý cương – nhu
2 Nho gia
* Khổng Tử: Là người sáng lập ra trường phái Nho gia Ông tên Khâu, tự là Trọng
Ni, người nước Lỗ Ông là một thầy giáo và có rẩt nhiều học trò Những điểm chínhtrong hệ tư tưởng của ông phần lớn là do học trò ghi chép và lưu truyền
Ông cho rằng ctrị là chính đạo, đạo của người làm ctrị phải ngay thẳng, phải lấy ctrị
để dẫn dắt nhân dân Để thực hiện lý tưởng ctrị của mình, ông đề ra học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”
Trang 3- Nhân: là phạm trù trung tâm Nó là thước đo, chuẩn mực quyết định thành bại, tốtxấu của ctrị Nội dung của Nhân rất rộng thể hiện ở những nội dung sau: Nhân làthương yêu con người, Nhân là tu thân, sửa mình theo lễ, Nhân là tôn trọng và sửdụng người hiền Như vậy, nội dung của Nhân là nhân đạo, thương yêu con người,coi người như mình, giúp đỡ nhau Để đạt đc Nhân thì cần phải có Lễ.
- Lễ: là những quy định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, được thể hiện trongphong cách sinh hoạt: hành vi, ngôn ngữ
Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi hành động của cá nhân và các tầnglớp trong xã hội
Lễ tạo cho con người biết phân biệt trên dưới, biết thân phận, vai trò, địa vị của mìnhtrong xã hội
Lễ như là luật lệ để mọi người tuân theo
- Chính danh: là danh phận đúng đắn, ngay thẳng Nội dung của chính danh: Xácđịnh thân phận, đẳng cấp, vị trí từng cá nhân, tầng lớp trong xã hội; “Danh” phải phùhợp với “thực”, nội dung phải phù hợp với hình thức, noi đi đôi với làm; đặt cngườivào đúng vị trí và chức năng
Như vậy tư tưởng căn bản của Khổng Tử là Đức trị, tức là dùng đạo đức và luân lý đểđiều chỉnh nhà nước và xã hội Tuy nhiên tư tưởng đó vẫn có một số hạn chế: Thái
độ yếu thế, thụ động, không dám đấu tranh
* Mạnh Tử:
- Thuyết tính thiện: bản tính tự nhiên của cngười là thiện (nhân chi sơ tính bản thiện)
- Quan niệm về vua – tôi – dân: Thiên tử là do mệnh trời trao cho thánh nhân và vậnmệnh trời nhất trí với ý dân
- Quan niệm về quân tử - tiểu nhân: quân tử là hạng người lao tâm, cai trị người vàđược cung phụng; tiểu nhân là hạng người lao lực, bị cai trị và phải cung phụngngười
- Chủ trương vương đạo: ông phản đối “bá đạo”, ông cho rằng ctrị “vương đạo” lànhân chính, lấy dân làm gốc
- Ông đề cao việc cai trị bằng lễ và bằng pháp luật Pluật là có thưởng, có phạt nhưngphải công bằng; coi hình luật là tất yếu song không chỉ xử tội mà còn phải giáo dục,ngăn cấm
- Trong tư tưởng về chính danh, ông bàn về những vấn đề nhận thức với mục đíchphê phán ngụy biện
Trang 4Người sáng lập là Mặc Tử, ông tên thật là Mặc Địch, người nước Lỗ Tư tưởng ctrịcủa ông gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Thuyết yêu thương nhau và cùng có lợi: yêu thương phải trên cơ sở lợi ích; khicngười bảo vệ lợi ích của nhau thì lúc đó mới thực hiện được “kiêm ái”
- Mọi người đều phải lđộng và tiết kiệm: Ông phản đối sự xa hoa, lãng phí; đtranh vìqlợi của tầng lớp bình dân; chống áp bức, bóc lột, đòi hỏi sự bình đẳng
- Thượng hiền và thượng đồng: Tôn trọng người hiền và học tập người trên
- Trên cơ sở tư tưởng kiêm ái ông phản đối chiến tranh
+ Pháp luật là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban hành ra
+ Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua
+ Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền
- “Pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp với nhau làm một trong đó “pháp” là trungtâm
- Quan điểm của ông phủ nhận Nho giáo, lấy đạo đức làm gốc
- Ông cho rằng, Nhà nước cần tới pháp luật, bởi pháp luật là công cụ quan trọng đểđiều chỉnh xã hội
* Những giá trị tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại
- Nhấn mạnh đến yếu tố cngười, đi tìm người đứng đầu, thủ lĩnh ctrị,
- Đi tìm phương thức cai trị Nhấn mạnh đến nhân trị, đức trị, pháp trị…
Những giá trị này có ảnh hưởng lớn đến ctrị tgiới trước đây và cả hiện nay đặcbiệt là những quốc gia ở pĐông trong đó có Việt Nam chúng ta trong quá trình ctaxdựng hệ thống ctrị, tổ chức thực thi qlực ctrị…
Trang 5Câu 2: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp - La
Mã cổ đại?
Trả lời:
Thời cổ đại ở phương Tây, với những cuộc đấu tranh một mất một còn giữachủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cải cách dânchủ ở các thành bang là đặc trưng cơ bản nổi bật của hệ tư tưởng lúc bấy giờ Việclàm rõ những giá trị phổ biến trong sự phát triển chính trị của nhân loại qua sự pháttriển tư tưởng chính trị phương tây từ cổ đại đến cận đại sẽ có ý nghĩa rất quan trọngtrong tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây Đây là quốc giarộng lớn có khí hậu ôn hòa Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miềnven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee Hy Lạp được chia làm bakhu vực Bắc , Nam và Trung bộ Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi
về khí hậu, đất đai, biển cả và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực
vô giá để cho tư duy bay bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế onglịch sử Hy Lạp cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồsắt Lúc bấy giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩmdồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố Sự phát triển này đã kéo theo phâncông lao động trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi Xuhướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét Sự pháttriển mạnh mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII BC là lực đẩyquan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận
Xã hội Hy Lạp phát triển khá điển hình với phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ
Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phânhóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thànhlao động chân tay và lao động trí óc Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ.Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm Trong đó, Sparte và Athen là hai thànhphố cổ hùng mạnh nhất, nồng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại
Đế quốc La Mã, hay còn gọi là Đế quốc Roma là thời kỳ hậu Cộng hòa củanền văn minh La Mã cổ đại La Mã từng là một đế quốc rộng lớn tồn tại từ khoảngthế kỷ thứ 1 TCN cho đến khoảng thế kỷ thứ 5 hay thế kỷ thứ 6, gồm phần đất nhữngnước vây quanh Địa Trung Hải ngày nay Đế quốc La Mã là sự tiếp nối của Cộng hòa
La Mã và nằm trong giai đoạn cuối cùng của thời cổ điển.[5] Nó được tính từ khiAugustus bắt đầu trị vì từ năm 27 TCN và có nhiều mốc kết thúc khác nhau
Lịch sử La Mã có thể chia làm 2 thời kì lớn: Thời kỳ cộng hòa kéo dài từ thế kỉ
IV TCN đến thế kỉ I SCN và thời kì đế chế kéo dài từ thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ VSCN Sau thời kì hoàng kim, đế chế La Mã rơi vào khủng hoảng Đến năm 395, đếquốc La Mã chia thành hai nửa: Tây Bộ đế quốc và Đông Bộ đế quốc
Ở đỉnh cao, Đế quốc La Mã kiểm soát gần 6.5 triệu km2, tuy rằng những người
kế tục đã từ bỏ phần lớn đất đai mà ông chiếm được[7] Vì sự rộng lớn và bền vữngdài lâu của mình, những thể chế và văn hóa của Đế quốc La Mã có những ảnh hưởngsâu sắc và lâu dài đến sự phát triển của ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, triết học, luật
Trang 6pháp trong những vùng mà nó cai trị, đặc biệt là châu Âu, và nhờ vào chủ nghĩa bànhtrướng của châu Âu, sau này chúng lan ra toàn thế giới hiện đại.
I Giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại
Thời cổ đại mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp - La
Mã Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, các hình thức
DEMOCRITE: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo đức và
do thuộc trường phái duy vật chủ nô dân chủ nên cho rằng tầng lớp bình dân cũng cótài năng, có thể làm được chính trị
SENOPHONE : yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỷ thuật giỏi, phải có sứcthuyết phục cao, người thủ lĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chăm sóccho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức mạnh của mọi người Ông là người đầu tiênđặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như : phải có chuyên môn giỏi, có
uy tín, vì dân…
PLATON: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị, có tínhkhí phù hợp với nhiệm vụ đảm đương Ông xem tiêu chuẩn chính trị là tiêu chuẩn củamọi tiêu chuẩn Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội không được có quyền tưhữu (sở hữu về tài sản) bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm Lực lượng võ sĩ bảo vệ thìkhông được có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽ không thể chiến đấu dũngcảm được Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích cá nhân vì những giátrị chung Tuy có những quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằngmột thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ có ở tầng lớp chủ nô quý tộc
ARISTOTE: xem thủ lĩnh chính trị là người sung túc, là người ở tầng lớp trunglưu không phải giàu cũng không phải nghèo, họ là người phải biết uốn mình theo lớikhuyên của các bên (vì quan điểm của ông theo nhị nguyên luận)
CICÉRON: như là một sự tổng kết về của những tư tưởng về người thủ lĩnhchính trị trước đó Oâng nêu ra rằng người thủ lĩnh chính trị phải có sự thông thái, cótrách nhiệm, có sự cao thượng về phẩm hạnh, phải thống nhất trong minh giữa tàinăng và quyền uy Có uy thế tinh thần, có tinh thần cao thượng, biết hy sinh vì lợi íchchung, bỏ qua các lợi ích tiền bạc không chính đáng Quan niệm của ông đến ngàynay cũng khó có người đạt được, đó là nhà chính trị phải có chính trị, có đạo đức…Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, một số quan điểm nổi bật của cáchọc giả như sau :
HERACLIT: là người thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, có lập trường duy tâm,ông xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không có vấn đề côngbằng hay không công bằng ở đó Công bằng do con người tạo ra xã hội con người làmột trạng thái tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra
có kẻ trí và người ngu cho nên kẻ trí thống trị người ngu là lẽ tự nhiên, kẻ trí là ngườiquí tộc, nô lệ là người ngu Ông cho rằng quyền lực là quy luật vĩnh viễn Không bao
Trang 7giờ trong xã hội lại không có quyền lực Pháp luật nhằm thực hiện tính tất yếu củaquyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một cá nhân là điều tất yếu cho sự thốngnhất Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên, một quý tộc phải được trị giá bằng mộtnghìn dân thường
PLATON: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống trịcủa kẻ trí đối với người ngu Đó là đặc tính của trí tuệ Chỉ có người có trí tuệ mới cóquyền lực Trí tuệ chỉ có ở quý tộc
ARISTOTE: quan niệm quyền lực của xã hội cũng là một trạng thái tự nhiên
Nó xuất phát từ gia đình, quyền của cha đối với con, chồng đối với vợ, anh đối em;xuất phát từ quyền lực đối với xã hội Trong xã hội có nhiều gia đình, gia đình này có
sự xâm hại đối với gia đình khác Do đó mỗi gia đình phải nhượng lại quyền lực củatừng gia đình thành quyền lực chung Người nắm quyền lực chung là nhà nước Vìvậy, quyền lực nhà nước là tự nhiên, pháp luật là những nguyên tắc khách quan, vô
tư, xuất phát vì lợi ích của xã hội, của từng công dân
CICÉRON cho rằng quyền lực nhà nước hình thành trong quá trình lịch sử lâudài Quyền lực bắt nguồn từ bản chất của con người chạy trốn sự cô đơn, tìm cuộcsống của cộng đồng Cho nên quyền lực là của chung chứ không riêng của một ai, dù
đó là người tài giỏi nhất cũng không sinh ra quyền lực được
Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các quan điểm lớn bao gồm :
HÉRODOT : là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và so sánhcác thể chế của nhà nước khác nhau Theo ông có 3 hình thức cơ bản:
+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế cầm quyền của một người-đó là vua Thể chế này
có 2 mặt : Ưu điểm: là thể chế ra đời thường là do những người có công khai quốc,thường là vì lợi ích chung của nhân dân Nó là một bàn tay sắt cần thiết khi chế độdân chủ bị rối loạn Nhược: thể chế này dễ rơi vào sự độc tài, chuyên quyền, dễ bị xunịnh, luôn có xu hướng là lạm dụng quyền lực
+ Thể chế quý tộc: thể chế của một số ít người thông thái và tiêu biểu về phẩm hạnhcủa quốc gia để cầm quyền Ưu: đây chính là chính quyền của những người có trình
độ cao nên mọi công việc, các quyết sách chính trị đều được bàn bạc giữa nhữngngười trí tuệ nên công việc có khoa học, ít sai lầm Nhược: giữa các nhà thông tháilàm việc bên nhau sớm muộn cũng sẽ tiêu diệt lẫn nhau, vì không ai chịu thua ai, cácnhà thông thái đều muốn làm thầy của nhau
+ Thể chế dân chủ: thể chế này là của đông đảo nhân dân nắm quyền và nó đượcthành lập bởi chế độ bỏ phiếu để bầu ra các pháp quan Ưu: các quyết định quyết sáchchính trị đều do tập thể bàn bạc một cách dân chủ Nó có xu hướng công bằng vì lợiích chung, chăm lo cho nhân dân Nhược : số đông người ít học cầm quyền thì khó cókhả năng chống độc tài, chuyên chế, dễ rơi vào tiểu tiết mà quên đi tầm chiến lược,thường thấy những chuyện trước mắt mà không thấy trước những chuyện lâu dài Dễ
bị kẻ xấu kích động lôi kéo Từ đó ông kết luận loại thể chế tốt nhất là thể chế hỗnhợp những ưu của từng thể chế trên
DEMOCRIT: ông ủng hộ chế độ dân chủ cộng hoà chủ nô
SOCRAT: ông là người ủng hộ chế độ chuyên chế độc tài Ông cho rằng dânchủ là sai lầm Dân chủ là chính quyền của người ngu dốt, ông gọi đó là chính quyền
“bình dân”
Trang 8ARISTOTE: ông cho rằng thể chế nhà nước dân chủ là thể chế người giàu,người nghèo không bên nào số lượng tuyệt đối Ông cho rằng mọi thể chế đều cónguy cơ biến chất, thay đổi bằng cuộc cách mạng Ông là người đầu tiên phân loạiquyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp Người đứng đầu nhà nước là giaicấp trung lưu, ông đề cao vai trò của pháp luật đối với việc ổn định xã hội Nhà nước
có chức năng bảo đảm cho xã hội được sống hạnh phúc Ông quan niệm công bằngrất tiến bộ, phân phối công bằng có nghĩa là người đáng được hưởng nhiều hơn thìđược nhiều hơn, người đáng được hưởng ít hơn thì được ít hơn Ông cũng đề cập đếnvấn đề hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội và cho rằng đạo đức phải phục
vụ cho pháp luật
POLYBE : kế thừa tư tưởng trước đó vào thể chế nhà nước, ông cho rằng thểchế nhà nước là phải kết hợp những ưu điểm các thể chế chứ không theo một tiêu chíthuần túy nào bởi vì trong thuần túy đã chức đựng mầm mống sự yếu kém khi pháthuy tối đa sẽ bộc lộ yếu kém
II Giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của các thời đại lịch sử Tây, chúng ta khôngđược quên tính giai cấp của nó, mặt khác không vì thế mà phủ nhận toàn bộ nội dung,tri thức khách quan trong các học thuyết chính trị mà phải biết chọn lọc, rút ra nhữngcái giá trị để kế thừa, làm giàu tri thức của mình, kể cả đối với tư tưởng chính trị tưsản hiện đại
Qua những giá trị tư tưởng chính trị Phương Tây đã trình bày, chúng ta nhậnthấy rằng bất cứ hệ thống chính trị nào, nhà nước cũng mang bản chất giai cấp, nhưngđồng thời phải thực hiện chức năng xã hội Mặt khác, hệ thống chính trị nào, nhànước nào mà quyền lực thuộc về nhân dân lao động thì đó là xu hướng tiến bộ Nhànước pháp quyền là một thành tựu của văn minh chính trị cần phải được ứng dụng
Hệ thống chính trị cần phải có cơ chế tự điều chỉnh và cơ chế cân bằng kiểm soátquyền lực để thích ứng với điều kiện thay đổi và cần phát huy sáng tạo cá nhân
Trên đây là những vấn đề cơ bản của các học thuyết chính trị thường đề cậpđến và cũng là những bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần xét đến trong quá trìnhxây dựng hệ thống chính trị của đất nước hiện nay
Ở Việt Nam ta, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị phương Đông nêngắn liền với đạo đức (Nho giáo, Phật giáo), ý thức tuân thủ pháp luật của công dânchưa cao Việc vận dụng những tri thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộicông dân vào công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước phápquyền XHCN là rất cần thiết và bổ ích Đó chính là quan điểm kết hợp hài hoà nhữnggiá trị đạo đức tiến bộ của nhân loại với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
- Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, để tiếp tục hoàn thiện nhà nước, pháthuy dân chủ và tăng cường pháp chế XHCN, phải xây dựng nhà nước CH XHCN VNthực sự là trụ cột của hệ thống chính trị và là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làmchủ của nhân dân Đó là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, nhà nước tadưa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọngcủa nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (khôngphân quyền) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ,
Trang 9công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật Cán bộ,công chức nhà nước phải là đầy tớ trung thành của dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở việc đề ra đường lối, chủ trương
và các chính sách định hướng cho sự phát triển trong từng thời kì, lãnh đạo nhà nướcđịnh ra và thực thi hiến pháp và pháp luật Các cơ quan nhà nước phải liên hệ chặtchẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến nhân dân; phát huy vai trò và tráchnhiệm của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việctham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát và bảo vệ nhà nước
- Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực và được thể chế hoábằng pháp luật, được hòan thiện trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng caodân trí Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thực sự tham gia quản lí xã hội thảo luận
và quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến lợi ích đông đảo của nhân dân.Phát huy dân chủ kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lí xã hộibằng pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho toàn dân tuyên tuyền, giáodục pháp luật gắn với trách nhiệm, lợi ích và nghĩa vụ của công dân, tôn trọng và giữvững kỷ luật, kỉ cương, trật tự xã hội
- Những nhà thủ lĩnh chính trị hoặc Cán bộ Đảng viên, ở bất cứ cương vị nào đềuphải chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luậtcủa nhà nước Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện coi thường và buông lỏng kỷluật Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các cấp thật
sự vững vàng và kiên định về chính trị gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lói sống,
có trí tuệ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân.Đảng và nhà nước có cơ chế và chính sách phát hiện tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện,đào tạo và bồi dưỡng, trọng dụng những người có đức, có tài ở trong và ngoài Đảng
Tóm lại: việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN thực sự vững mạnhđồng thời nâng cao hiệu quả và chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã trởmột đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp cách mạng củadân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà nước pháp quyền đủ mạnh mới có thể bảo vệ vàphát huy những thành quả trong quá trình đổi mới về mọi mặt (chính trị, kinh tế,vănhoá, quan hệ quốc tế…), mới có đủ khả năng giải quyết vấn đề mới nảy sinh do mặttrái của cơ chế thị trường, của kinh tế nhiều thành phần mang lại, và mới có khả năngđương đầu và đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực chống đối đangráo riết tiến hành Để làm được điều đó nhà nước phải thực hiện đồng thời các giảipháp sau :
- Tiến hành cải cách, hoàn thiện các cơ quan lập pháp, hành pháp vàtư pháp mà trướcmắt là cải cách một bước nền hành chính
- Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng đòi hỏi quản lí đất nước vớikinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốctế
- Thể chế hoá nền dân chủ của nhân dân thành pháp luật, thành cơ chế, thành chínhsách, làm cho dân chủ đi liền với kỷ cương trật tự, dân chủ và chuyên chính khôngtách rời nhau
Nếu quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt những phương hướng nêu trên nhà nướcpháp quyền XHCNVN sẽ được thiết định vững chắc và ngày càng phát triển
Trang 11Câu 3: Nội dung và những giá trị trong lịch sử tư tưởng ctrị của Mác- Lê nin và
ý nghĩa thực tiễn của những giá trị đó?
Trả lời:
Ncứu tư tưởng Mác lê nin cần vạch ra những nội dung cơ bản; những giá trịcủa những di sản tư tưởng mà các nhà kinh điển để lại; những kinh nghiệm, nhữngbài học từ thực tiễn hoạt động ctrị của các nhà sáng lập chủ nghĩa xhội khhọc; nhữngvấn đề có tính nguyên tắc của việc thực hành ctrị mácxit
Chủ nghĩa mác đặc biệt là TH duy vật lsử đã đóng góp cho TH những tư tưởngrất có giá trị, giải quyết những vấn đề rất cơ bản của lý luận về chính trị, trước hết làvấn đề nguồn gốc, bản chất, quy luật của ctrị
Bản chất nguồn gốc của ctrị: Người PTây nói chung và các nhà tư tưởng ctrịpTây nói riêng trong suốt thời kỳ cổ đại và cả thời trung và cận đại sau này luôn cốgắng đi tìm một hình thức cai trị, hình thức chính phủ, hình thức nhà nước hợp lýnhất
Ncứu về ctrị chủ nghĩa mác lê nin đã kế thừa quan điểm của những người đitrước trong việc khẳng định chính trị nghĩa là công việc của nhà nước Lê nin viết:
"ctrị là sự tham gia vào những công việc của nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhànước, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhànước" Song, khi đi sâu nghiên cứu chính trị trên quan điểm duy vật biện chứng,mác, ăng ghen, lê nin thấy rằng đằng sau những hoạt động của nhà nước, những hoạtđộng tham gia vào công việc của nhà nước là vấn đề quyền lực và suy cho cùng làvấn đề lợi ích của các tập đoàn người đông đảo trong xã hội, những tập đoàn người
có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định, trong quan hệ với
tư liệu sản xuất xã hội, trong việc tổ chức và quản lý nền sản xuất xã hội và do đókhác nhau trong mức độ hưởng thụ từ sự phân phối của cải và phương thức sống.Những tập đoàn đó gọi là gcấp do đó phải quan niệm ctrị một cách rộng rãi hơn,phản ánh đúng thực chất hơn là qhệ giữa các giai cấp, là đtranh gcấp trong vấn đềqlực và suy cho cùng là vấn đề về lợi ích ktế Mác, ăng ghen cho rằng: cuộc đấu tranhgiữa gcấp với gcấp là cuộc đấu tranh ctrị, còn lê nin viết : mọi cuộc đtranh gcấp đều
là đtranh ctrị
Theo qđiểm của duy vật bchứng của CN Mác, ctrị là hiện tượng có tính lsử,xuất hiện trên nền tảng ptriển của xhội loài người, mà cụ thể là trên cơ sở trình độsxuất của cngười, gắn liền với sự xuất hiện của gcấp, nhà nước và đồng thời cũngđánh dấu gđoạn văn minh của cngười Tới lúc nào đó, trên cơ sở của sự ptriển rất caocủa cngười sẽ o còn gcấp nữa và cũng o còn ctrị nữa Điều đó khác xa về quan điểmduy tâm, thần bí về ctrị của nhiều nhà tư tưởng ctrị trước kia, những người coi ctrị là
1 phạm trù vĩnh viễn của xã hội loài người và hoạt động ctrị là thiên chức, là đặcquyền của một tầng lớp, hay của những cá nhân ưu tú xã hội
* Việc vạch ra sự thật về bản chất, nguồn gốc của ctrị là đóng góp to lớn của tưtưởng ctrị Mác- lê nin vì nó đem lại cái nhìn khhọc, kquan về ctrị Sở dĩ mác và lê nin
đã vạch ra bản chất của sự thật của ctrị vì các ông đứng trên qđiểm TH duy vật lsử,qđiểm luôn thấy rõ cơ sở ktế, nguồn gốc ktế, sự thay đổi của phương thức sản xuất lànguồn gốc và cơ sở ctrị
Việc vạch ra bản chất thật sự của ctrị không chỉ có ý nghĩa về nhận thức lsử mà
Trang 12mình Đó là chiếm lấy nhà nước, tự tổ chức nên một hình thức cai trị phù hợp với qlợichính đáng của mình, phù hợp với sự ptriển của tđộ sxuất của loài người.
Quy luật của ctrị: CN Mác đã vạch ra hai loại quy luật Loại thứ nhất là qluậttrong mối qhệ giữa ctrị với các mặt hoạt động khác của xã hội loài người Trong mốiqhệ qua lại đó, có khi ctrị bị chi phối, bị quy định, bị phụ thuộc, chẳng hạn suy chocùng chính trị bị quy định bởi ktế Nhưng trong qhệ khác ctrị lại giữ địa vị chi phối,quyết định, chẳng hạn, trong qhệ với quân sự, với ngoại giao Nhưng qtrọng hơn, CNMác đã vạch ra quy luật, tức là những cái tất yếu có tính phổ biến của cuộc đấu tranhchính trị, với nghĩa là đấu tranh giành, giữ, thực thi quyền lực giữa các giai cấp, cáctầng lớp xã hội khác nhau.Trong lvực này mác, Ăngghen và Lê Nin nêu lên các tưtưởng rất quan trọng sau đây:
Qlực ctrị tất yếu thuộc về gcấp, tầng lớp xã hội đại biểu cho phương thức sxuấttiên tiên của xhội, đại biểu cho xu hướng tiến bộ của sxuất và do đó đại biểu cho lợiích chung xhội
Mác - Lê nin cũng vạch ra rằng tính tất yếu o có nghĩa là 1 gcấp, 1 lực lượngtiến bộ về ktế sẽ tự nhiên có qlực về ctrị, nói cách khác, là ngồi chờ quyền thống trịđến với mình Ngược lại lsử chứng minh rằng 1 gcấp, 1 lực lượng dù trở nên lạc hậuphản động đến mấy cũng o bao giờ tự nhường quyền thống trị của mình Do đó cầnphải đtranh để giành quyền thống trị đó
Việc đấu tranh giành quyền thống trị tất yếu phải giành lấy nhà nước Nhànước là tổ chức bạo lực của giai cấp này chống lại giai cấp kia, là hình thức hoànchỉnh nhất của quyền lực
Việc giành lấy nhà nước tất yếu cần tới bạo lực Mác, ăngghen, lê nin chứngminh rằng trong lsử loài người các gcấp nắm được quyền thống trị đều cần đến bạolực với tư cách là dùng sức mạnh để cưỡng chế Việc giành và giữ qlực ctrị tất yếucần tới mối liên minh chặt chẽ với các tầng lớp lao động đông đảo trong xã hội
Các nhà kinh điển của CN Mác- Lê Nin khẳng định: o một gcấp nào có thểđtranh tlợi và giành được chính quyền nnước mà o cần tới mối liên minh này Ngay
cả gcấp tư sản ở các nước Châu âu trong cuộc đtranh giành qlực ctrị với gcấp pkiếnquý tộc cũng cần tới sự ủng hộ và liên minh của gcấp nông dân và gcấp công nhân
Giữ và thực thi qlực ctrị luôn bao hàm 2 mặt: chuyên chính và dân chủ vì lợiích gcấp Giữ qlực ctrị cần thiết phải củng cố chế độ sở hữu nền tảng của phươngthức sxuất và của gcấp đang nắm qlực ctrị
Ý nghĩa thực tiễn:
Có thể nói những kết luận trên là những đúc kết mà trước Mác không một nhà
tư tưởng ctrị nào nêu lên được Và đó chính là đóng góp to lớn của CN Mác Lê Ninvào kho tảng tư tưởng ctrị của nhân loại Ý nghĩa của việc đúc kết đó là không chỉvạch ra quy luật của lsử mà còn là ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn Đó là căn cứ lýluận để dựa vào đó Mác, ăng ghen, lê nin chỉ ra cho gcấp công nhân thấy rõ mục tiêu
và biện pháp đạt đến mục tiêu ctrị của mình, đồng thời đtranh chống lại những qđiểm
có tính cơ hội của một số phần tử trong phong trào công nhân châu âu Theo các ông,gcấp công nhân phải nhận rõ sứ mệnh lsử của mình và biết thực hiện sứ mệnh đóbằng cách:
Tổ chức ra một đội tiền phong của giai cấp, tức là đảng cộng sản, một đảng ctrịkiểu mới để dẫn dắt toàn thể giai cấp công nhân trong cuộc đtranh lật đổ ách tư bản
Trang 13Liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh giành chínhquyền và giữ vững chính quyền.
Khi thời cơ đến phải dùng bạo lực lật đổ nhà nước của gcấp tư sản và tự tổchức ra 1 nnước kiểu mới của mình
Thực hiện dân chủ và chuyên chính vì lợi ích của gcấp công nhân và nhân dânlao động
Dùng qlực nhà nước để củng cố và ptriển cơ sở ktế, chế độ sở hữu chung củanhân dân lao động làm nền tảng cho qlực ctrị
Phát triển sách lược và nghệ thuật ctrị, xây dựng đội ngũ những nhà ctrị củagcấp công nhân có trình độ trí tuệ và nhân đạo
Thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc đi đôi với bảo vệ tổquốc xã hội chủ nghĩa
Thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo đúng đắn
Thực hiện CN quốc tế vô sản
Với những kết luận như thế, lê nin đã lđạo đảng Bôn sê vích Nga và gcấp côngnhân Nga làm cuộc cách mạng tháng mười (năm 1917) thành công và xây dựng nênnhà nước công nông đầu tiên trên tgiới, tiến lên xây dựng XHCN Tuân theo nhữngqđiểm ctrị đó của CN mác- lê nin, Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch HồChí Minh đã lđạo cách mạng Việt Nam thắng lợi Thực tiễn đó đã chứng tỏ lý luậnctrị của Mác, ăng ghen và lê nin là đúng đắn
Trang 14Câu 4: Những giá trị tư tưởng chính trị Trung Quốc hiện đại bổ sung, ptriển CN Mác – Lê nin?
Trả lời:
Đảng cộng sản Trung Quốc thành lập tháng 7 năm 1921 là đội tiền phong củagcấp cnhân TQ, đồng thời là đội tiền phong của ndân TQ và dân tộc Trung Hoa, lànòng cốt lđạo sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc TQ, đại diện yêu cầu ptriểnsức sxuất tiên tiến của TQ, đại diện phương hướng ptriển văn hóa tiên tiến của TQ,đại diện lợi ích căn bản của đông đảo ndân ở TQ Lý tưởng tối cao và mục tiêu cuốicùng của Đảng cộng sản TQ là thực hiện CN cộng sản Điều lệ Đảng quy định: Đảngcộng sản TQ lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận ĐặngTiểu Bình và tư trưởng Ba đại diện quan trọng làm kim chỉ nam hành động của mình
Từ năm 1921 đến năm 1949, Đảng cộng sản TQ lđạo ndân TQ tiến hành đtranhgian khổ, lật đổ ách thống trị của CN đế quốc, CN phong kiến và CN tư bản quanliêu Sau khi thành lập nước Trung Hoa mới, Đảng cộng sản TQ lđạo ndân các dântộc cả nước giữ gìn độc lập và an ninh qgia, thực hiện chuyển biến thành công xhội
TQ từ CN dân chủ mới sang chủ nghĩa xhội, triển khai công cuộc xây dựng xhội chủnghĩa có kế hoạch và quy mô lớn, khiến sự nghiệp ktế và vhóa ở TQ được ptriển tolớn chưa từng có trong lsử Sau khi hoàn thành cơ bản cải tạo chủ nghĩa xhội đối vớichế độ tư hữu tư liệu sxuất, vì thiếu kinh nghiệm, Đảng cộng sản TQ có những sailầm trong qtrình lđạo sự nghiệp xây dựng CN xã hội; Từ năm 1966 đến 1976, xảy raĐại cách mạng vhóa, 1 sai lầm mang tính toàn cục diễn ra trong thời gian dài Tháng
10 năm 1976 , Đại cách mạng văn hóa kết thúc, TQ bước vào thời kỳ ptriển mớitrong lsử
Sau hội nghị toàn thể lần thứ 3 khóa 11 Đảng cộng sản Trung Quốc triệu tậpcuối năm 1978, thực hiện bước ngoặc vĩ đại có ý nghĩa sâu xa kể từ ngày nước TrungHoa mới thành lập Từ năm 1979, Đảng cộng sản Trung Quốc thực thi chính sách cảicách mở cửa do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề xướng Sau khi thi hành cải cách mởcửa, nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Trung Quốc thu được thành tựu khiến
cả thế giới quan tâm, diện mạo đất nước biến đổi long trời lở đất, là thời kỳ tình hìnhtốt nhất kể từ ngày thành lập nước Trung Hoa mới, cũng là thời kỳ nhân dân được lợinhiều nhất Đảng cộng sản Trung Quốc chủ trương tích cực phát triển quan hệ đốingoại, phấn đấu tạo môi trường quốc tế có lợi cho công cuộc cải cách mở cửa và xâydựng hiện đại hóa ở Trung Quốc
Phát triển chủ nghĩa Mác – Lê nin, Trung Quốc hiện nay theo đuổi hai vấn đề
lý luận lớn là: “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” và “quan điểm phát triển khoahọc” Nội dung cơ bản của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc đã được xây dựngbởi thế hệ lãnh đạo thứ hai mà hạt nhân là Đặng Tiểu Bình - người “đã có câu trả lờimột cách khoa học về một loạt vấn đề cơ bản trong xây dựng chủ nghĩa xã hội đặcsắc Trung Quốc, đã khai sáng thành công chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”.Đồng thời đó vẫn là nhiệm vụ lâu dài, gắn với thực tiễn và điều kiện lịch sử mới
Hệ thống lý luận xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc bao gồm lý luận ĐặngTiểu Bình, tư tưởng “ba đại diện”, quan điểm phát triển khoa học, cùng với phát triểnchủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông Bố cục tổng thể là 5 nội dungtrong một thể thống nhất (ngũ vị nhất thể), nhiệm vụ chung là thực hiện hiện đại hóaXHCN và phục hưng dân tộc Trung Hoa; về nguyên tắc vừa căn cứ theo đặc sắc rõ
Trang 15nét của Trung Quốc mà điều kiện thời đại quy định; giải đáp một cách hệ thống vấn
đề cơ bản là một nước lớn phương Đông, có dân số đông, nền tảng trọng yếu xâydựng chủ nghĩa xã hội kiểu nào, như thế nào.Và 6 yêu cầu cơ bản: Kiên trì địa vị chủthể của nhân dân; giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội; bảo đảm công bằngchính nghĩa; đi theo con đường cùng giàu có; thúc đẩy xã hội hài hòa; sự lãnh đạocủa Đảng
Quan điểm phát triển khoa học là di sản kết hợp giữa chủ nghĩa Mác với thựctiễn của Trung Quốc và đặc trưng của thời đại; là sự thể hiện tập trung về thế giớiquan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác về sự phát triển; đưa ra câu trả lời mớikhoa học về các vấn đề lớn như thực hiện phát triển ra sao, phát triển thế nào trongtình hình mới, nâng nhận thức về quy luật của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốclên một tầm cao mới; mở ra chân trời mới phát triển Chủ nghĩa Mác ở nước TrungQuốc đương đại
Quan điểm phát triển khoa học là thành quả mới nhất trong hệ thống lý luận vềchủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, “là vũ khí tư tưởng mạnh mẽ” Đi sâu quántriệt thực tiễn thực hiện quan điểm phát triển khoa học là có ý nghĩa hiện thực to lớn
và ý nghĩa lịch sử sâu xa đối với việc kiên trì phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắcTrung Quốc
Với những tư tưởng lý luận sắc bén cùng với sự phát triển có kế thừa chủ nghĩaMác – Lê nin, trong 10 năm, kinh tế Trung Quốc từ vị trí thứ 6 đã vươn lên đứng vịtrí thứ 2 thế giới
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Trung Quốc đang phải đối mặt với cácthách thức lớn như nạn tham nhũng của các quan chức, khoảng cách giàu nghèo ngàycàng lớn, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường Nền kinh tế Trung Quốc cũngtăng trưởng chậm lại và tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng là những điềuđáng lo ngại
Một thách thức nữa là chính phủ và quân đội Trung Quốc phải ngăn chặn sựchia rẽ trong xã hội, vì ai cũng biết các triều đại ở Trung Quốc sụp đổ một cách có hệthống trong quá khứ đều do sự đoàn kết lỏng lẻo ở trong nước Hiện nay, tính đoànkết ấy cũng đang rất mờ nhạt ở Trung Quốc Có một tầng lớp nhỏ người giàu, thậmchí rất giàu, cộng thêm một tầng lớp trung lưu, và phần còn lại của đất nước là nghèokhó, thậm chí vô cùng nghèo Đây là một thách thức cần phải giải quyết nhưng sẽ rấtkhó khăn
Chưa hết, còn có một thách thức nữa là cải thiện hình ảnh Trung Quốc trêntrường quốc tế Vào lúc này, Trung Quốc vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong nhiềulĩnh vực, như nhân quyền, sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, quy tắc kinh tế Đặcbiệt, Trung Quốc đang có liên quan với nhiều cuộc xung đột lãnh thổ, trong đó đaphần các tranh chấp chủ quyền biển đảo Trong các cuộc tranh chấp này, Trung Quốc
bị coi là có thái độ ngạo mạn, hung hăng nước lớn thay vì đối thoại Tất cả nhữngđiều đó phải được giải quyết tốt để Trung Quốc thực sự được nhìn nhận như mộtcường quốc
Trang 16Câu 5: Việc truyền bá học thuyết chính trị C Mac – V Lênin vào Việt Nam? Trả lời:
Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc
đã xúc tiến hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin vềnước Việc truyền bá của Người diễn ra liên tục từ năm 1921 đến năm 1930, khiĐảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu sự chiến thắng bước đầu của tư tưởngcộng sản chủ nghĩa trong lịch sử tư tưởng nước ta
Có thể phân chia quá trình đó thành ba chặng,tương ứng với ba thời kỳ hoạtđộng của Nguyễn Ái Quốc trên bốn địa bàn khác nhau: chặng (thời kỳ) Pari, chặng(thời kỳ) Mátxcơva và chặng (thời kỳ) Quảng Châu - Đông Bắc Xiêm Ở mỗi chặng,tuỳ vào điều kiện lịch sử cụ thể mà Nguyễn Ái Quốc sử dụng các phương tiện truyền
bá khác nhau, đề ra những nội dung truyền bá chủ yếu khác nhau và do đó mục đíchđạt tới cũng khác nhau Các chặng đó được đặt trong một quá trình kế tiếp nhau vềmặt thời gian nên có liên quan mật thiết với nhau, chặng trước là tiền đề của chặngsau và chặng sau là kết quả của chặng trước đó
I Thời kỳ Pari - Sự khởi đầu của quá trình
Thời gian hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp bao gồm thời kỳ tìmđường và thời kỳ hoạt động truyền bá tư tưởng cứu nước Như vậy, hoạt động truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc chỉ là một giai đoạn trong toàn bộthời gian Người sống và hoạt động trên đất Pháp Nghiên cứu những tác phẩm củaNguyễn Ái Quốc trên đất Pháp, chúng tôi coi bài Đông Dương đăng trên La RevueCommuniste (Tạp chí Cộng sản) số 14 (4-1921) và số 15 (5-1921)1, là mốc mở đầucho quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam của Người Trong bàiviết đó, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đã trình bày những điều kiện thuận lợi của châu
Á nói chung và Đông Dương nói riêng cho việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Về điều kiện chính trị - xã hội, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: ''châu Á đauthương'', trừ Nhật Bản là nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, đang bịchủ nghĩa đế quốc xâu xé Chính sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân về mặtkhách quan đã chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa xã hội nảy nở và phát triển
Đó là giai cấp công nhân - cơ sở xã hội của chủ nghĩa Mác và là người đào huyệtchôn chủ nghĩa tư bản - ra đời và lớn mạnh cùng với quá trình khai thác của bọn thựcdân ở các thuộc địa, trái với ý muốn chủ quan của chúng Đó là sự xuất hiện của cácphong trào giải phóng dân tộc mà những người lãnh đạo các phong trào đó sẽ dần dầnhướng tới học thuyết cách mạng nhất, khoa học nhất của thời đại
Về điều kiện lịch sử, Nguyễn Ái Quốc đã nói đến chế độ tĩnh điền Một điềuđáng lưu ý trong phần phân tích những điều kiện lịch sử ''cho phép chủ nghĩa cộngsản thích nghi dễ dàng ở châu Á'' Người có đề cập đến chế độ công điền tồn tại tronglàng xã Việt Nam với những luật lệ riêng của nó Người viết: ''Về quyền sở hữu cánhân - luật lệ của người Việt Nam cấm mua bán chung về đất đai Hơn nữa một phần
tư đất cày cấy buộc phải để làm của công Cứ ba năm một lần người ta chia lạikhoảng đất đó Mỗi một người dân trong xã được nhận một phần đất công Điều nàytuy không ngăn cản một số người trở nên giàu có vì còn ba phần tư đất vẫn mua bánđược, nhưng như thế vẫn có thể còn nhiều người không bị rơi vào cảnh nghèo đói''
Dựa vào những bằng chứng rút tỉa từ trong lịch sử châu Á và Đông Dương,Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra lời giải đáp chắc chắn cho câu hỏi: ''Chế độ cộng sản có
Trang 17thể áp dụng ở châu Á nói chung và ở Đông Dương được không?'' là ''Chúng tôi khẳngđịnh là có'' Như vậy, nếu như trong lời phát biểu tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốcmới kêu gọi ''Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộcđịa''7 thì đến những bài đăng trên La Revue Communiste năm 1921 Người đã chỉ ramột cách cụ thể và minh xác những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá tư tưởng
xã hội chủ nghĩa ở châu Á và Đông Dương Đó chính là sự khởi đầu cho quá trìnhtruyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc tiến hành mộtcách kiên trì, có phuơng pháp trong nhiều năm sau đó
Trên nền tảng đó, Nguyễn Ái Quốc tiến hành những cuộc vận động trong độingũ những người cộng sản Pháp và những nhà yêu nước của các dân tộc thuộc địasống ở Pari ủng hộ phương hướng hoạt động của mình
Ở hướng đầu, Nguyễn Ái Quốc đã chính thức đặt vấn đề đó một cách côngkhai tại Đại hội I Đảng Cộng sản Pháp họp ở Mácxây Trong Dự thảo báo cáo củaTiểu ban Đông Dương trong Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp,Nguyễn Ái Quốc đã viết: ''Công tác tuyên truyền cách mạng và chống quân phiệt cầnđược tiến hành dưới sự lãnh đạo và đôn đốc của Đảng, trong tất cả các thuộc địa củaPháp và xứ gọi là bảo hộ
Công tác tuyên truyền này thực hiện:
Xét theo chương trình và Điều lệ của nó, Hội liên hiệp thuộc địa là hình thứcliên minh của các dân tộc bị áp bức lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử đấu tranh giảiphóng dân tộc và là một hình thức có một không hai ra đời tại trung tâm của chínhnước đế quốc đang thống trị họ Hình thức đó chỉ ra đời sau năm 1920, tức là sau khiQuốc tế Cộng sản có những văn kiện về các vấn đề dân tộc và thuộc địa theo khẩuhiệu chiến lược của V.I.Lênin Sự ra đời của tổ chức mang tính chất mặt trận sơ khainày là kết quả của những cuộc vận động tích cực của Nguyễn Ái Quốc, của sự đồngtình ủng hộ của những người mácxít chân chính Pháp và cũng là sản phẩm của thờiđại Lênin
Trong hai năm đầu Hội mới tập hợp 120 hội viên, sau tăng lên 300 hội viên lànhũng người dân thuộc địa đang sinh sống trên đất Pháp, từ Bắc Phi, Đông Dươngđến Máctinich, Guyan Mặc dù số hội viên chưa nhiều nhưng cũng đủ đại điện chohầu hết các dân tộc, các màu da bị thực dân Pháp thống trị trên ba đại lục lớn - châu
Á, châu Phi và Mỹ Latinh
Trang 18Một trong những hoạt động tiêu biểu nhất của Hội Liên hiệp thuộc địa là xuấtbản tờ báo Le Paria làm cơ quan ngôn luận của mình.
Ý thức được mức độ ảnh hưởng không lớn của tờ Le Paria (vì bằng tiếng Pháp)nên Nguyễn Ái Quốc vận động Hội những người yêu nước Việt Nam ra báo ViệtNam hồn
Nhưng rồi do yêu cầu công tác, Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô nên dự định đókhông thực hiện được.15Ngoài báo chí, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng những hìnhthức khác như diễn thuyết, viết kịch để truyền bá tư tưởng cách mạng của mình.Những hoạt động này của Người thường tập trung ở Câu lạc bộ ngoại ô Phôbua doLêô Pôndét, một trí thức tiến bộ tổ chức và lãnh đạo
II- Thời kỳ Mátxcơva - Phác thảo những nét lớn về chiến lược của cách mạng Việt Nam
Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), trong phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế đã xuất hiện một khuynh hướng mới, đó là chú ý đến các thuộc địa
mà thời đó đang được hợp lại trong một khái niệm chung có tính chất địa lý làphương Đông V.I.Lênin, người đầu tiên khai mở khuynh hướng đó, trong một loạtbài viết từ năm 1912 đến tác phẩm trứ danh Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùngcủa chủ nghĩa tư bản (1916), đã đề cập tới vai trò quan trọng của phương Đông trongtiến trình cách mạng thế giới Cũng trong tác phẩm đó, Người xác định mối quan hệgiữa cuộc đấu tranh chống đế quốc nhằm giải phóng dân tộc ở các thuộc địa với cuộccách mạng vô sản của giai cấp công nhân ở chính quốc Sau Cách mạng Tháng Mười,V.I.Lê nin đã đi đến kết luận rằng vận mệnh của cách mạng thế giới phụ thuộc vào sựphát triển cách mạng ở phương Đông Những tư tưởng của V.I Lênin được nhữngngười mácxít chân chính thế giới thừa nhận và góp phần hình thành hướng hoạt độngtrong phong trào cộng sản quốc tế Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiếnlược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hàngloạt hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào yêu nước
ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản Một trong những nỗ lực theo hướng đó
là việc Quốc tế Cộng sản thành lập những trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênincho các nước phương Đông như Mátxcơva, Tasken - Bacu, Ircut - Quảng Châu Với
sự hoạt động tích cực của các trung tâm đó, một đội ngũ những chiến sĩ cộng sản củacác nước thuộc địa và phụ thuộc được đào tạo, các Đảng Cộng sản ở một số nướcphương Đông được thành lập Rõ ràng, khuynh hướng mới trong phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế đã tạo nên một yếu tố cực kỳ quan trọng để thúc đẩy việctruyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở khu vực này: Đông Dương được đặt trong bốicảnh đó thì công việc của Nguyễn Ái Quốc đang theo đuổi sẽ có thêm bước phát triểnmới về chất
Đối với Đông Dương, một địa bàn xung yếu ở Đông Nam Á, Quốc tế Cộng sản
đã có sự quan tâm khá sớm, trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Viễn Đôngsau khi thành lập đã vạch kế hoạch tuyên truyền ở Thượng Hải, Sài Gòn, Xinhgapo
Cuộc gặp gỡ đó dẫn tới ba tháng sau xuất hiện một văn kiện lịch sử quan trọngbằng tiếng Việt của Quốc tế Cộng sản gửi nhân dân ta Vì tầm quan trọng của vănkiện này, chúng tôi xin chép toàn văn:
“Quốc tế lao nông hội kính cáo
Nhời hô của hội ''Quốc tế Cộng sản''
Trang 19Mạc Tư Khoa, 27-1-1924.
Vừa năm năm qua, ở kinh đô nước Nga là một nước thật là dân chủ (ở trầngian chưa bao giờ có nước thế) có lập một hội để hợp tất cả bao nhiêu người làm ăn.Hội ấy gọi là “Internationale Communlstel” Nhờ mấy người cầm đầu anh hùng mớidựng lên thì Hội ấy bây giờ mạnh lắm, để giúp hàng triệu, hàng muôn mấy người làm
ăn ngũ phương, nhất là nông dân khốn khổ thuộc về thuộc địa như An Nam ta vậy.Hội mới mất ông Lênin làm chủ can đảm, khôn ngoan và rất tử tế Nhưng mà Hội vẫn
cứ chắc thế nào cũng cứ đỡ đầu cho đến nơi Khắp cả trần gian, đâu đâu nghe thấytiếng Hội, trông thấy cờ đỏ hồng của Hội thì run, thì giật mình giật mẩy Thời mìnhthắng trận gần đến! Anh em ơi! Anh em ơi! Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại!''39
Văn kiện này do Nguyễn Ái Quốc viết, gửi về in ở Toà soạn báo L’Humanitévới 3.500 bản Nó được bí mật gửi về Đông Dương
Như vậy, văn kiện đầu tiên của Quốc tế Cộng sản gửi nhân dân ta đã đến đượcđịa chỉ cần thiết Sự kiện đó minh chứng rõ ràng con đường đưa chủ nghĩa Mác -Lênin từ Mátxcơva, từ Quốc tế Cộng sản đã được khai thông Người khai mở conđường đó chính là Nguyễn Ái Quốc
Tiếp đó, vào dịp kỷ niệm ngày chống chiến tranh đế quốc 1-8-1924, với sựgiúp sức của Nguyễn Ái Quốc, Quốc tế Cộng sản công bố một lời kêu gọi bằng tiếngViệt
Sự thay đổi môi trường sống đã tạo cho hoạt động cách mạng của Nguyễn ÁiQuốc có thêm nhiều điều kiện thuận lợi Ngoài những điều kiện tối ưu cho con ngườicủa một đất nước tự do thật sự, Mátxcơva lúc này còn là trung tâm của phong tràocách mạng thế giới, nơi đóng trụ sở của Quốc tế Cộng sản, Bộ Tổng tham mưu củanhững người cộng sản thế giới, và có khối lượng thông tin đồ sộ Trong môi trườngmới mà lúc đó trên thế giới không nơi nào có được, hoạt động cách mạng củaNguyễn Ái Quốc như được tăng thêm sức, được chắp thêm cánh Các mối quan hệgiao tiếp của Nguyễn Ái Quốc được mở rộng thêm ra Nếu như ở Pháp, Người quan
hệ với những người mácxít Pháp, với những chiến sĩ chống thực dân đế quốc thuộccác thuộc địa Pháp không thôi, thì ở Mátxcơva mối giao tiếp của Người chẳng nhữnggia tăng về số lượng mà cả chất lượng nữa Tại đây Người có thể trò chuyện, trao đổikinh nghiệm với những lãnh tụ nổi tiếng trong phong trào cộng sản và công nhânquốc tế, với các chiến sĩ chống đế quốc thực dân trên mọi miền của thế giới và đượchọc tập, nghiền ngẫm, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học
Trong môi trường mới đó, Người hoàn thiện thế giới quan mácxít của mình.Tất cả những cái đó tạo thành nền tảng để trên đó Nguyễn Ái Quốc triển khai hoạtđộng tuyên truyền của mình với nhiều hình thức phong phú hơn và có chất lượnghơn, sâu sắc hơn
Trong hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở thời kỳ này, Nguyễn ÁiQuốc sử dụng nhiều phương tiện thông tin khác nhau Trước hết phải kể đến phươngtiện báo chí Ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục duy trì quan hệ với báo chí cánh
tả Pháp Bắt đầu tháng 9-1923 đã xuất hiện bài viết của Người trên các tờ báoL’Humanité và La Vie òuvrière Với tờ Le Paria khi còn ở Pháp, Người là chủ nhiệm,chủ bút, thì khi tới địa điểm mới Người như là phóng viên thường trú của bản báo ởMátxcơva Trên cương vị đó, Người đã viết cho tờ báo những bài viết chứa đựng
Trang 20đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa Bắt đầu từ số 18, tháng 9-1923, Le Pariađăng những bài của Nguyễn Ái Quốc về Quốc tế Cộng sản, về Đại hội lần thứ I Quốc
tế Nông dân, về trường Đại học Phương Đông, về nước Nga Xôviết
Đồng thời với việc hoàn thành nhiệm vụ của một phóng viên thường trú ởMátxcơva cho các tờ báo cánh tả của Pháp, Nguyễn Ái Quốc đặt quan hệ với những
ấn phẩm định kỳ của Quốc tế Cộng sản như Tạp chí Correspondance Internationale(Thông tin quốc tế) bằng các thứ tiếng như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức; củaQuốc tế Nông dân như Tạp chí Quốc tế Nông dân, với báo chí của Đảng Cộng sảnLiên Xô như tờ Sự thật, Người nông dân Bacu Ở mức độ nào đó, bài vở của Nguyễn
Ái Quốc trên các ấn phẩm định kỳ thời kỳ này phong phú hơn về mặt số lượng, vàtrên những ấn phẩm có tính phổ biến rộng rãi hơn
Ngoài báo chí, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sử dụng các phương tiện thông tinmới chưa có trước đó như truyền đơn, sách báo, diễn đàn
Ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc dành một phần thời gian cho những công trìnhdài hơn Đó là những cuốn sách mang tầm vóc tư tưởng lớn Từ những tài liệu sưutầm, tập hợp từ nhiều năm, Người đã hoàn thành công việc biên soạn cuốn Bản ánchế độ thực dân Pháp bằng tiếng Pháp
Tác phẩm được gửi về in tại Pháp vào năm 1925 Trong lần xuất bản đầu, tácphẩm gồm 12 chương, phụ lục và bài mở đầu của Nguyễn Thế Truyền, lúc đó là đảngviên Đảng Cộng sản Pháp, đang công tác trong Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng ởPari Trong thời gian học ở trường Đại học Phương Đông, Nguyễn Ái Quốc cùng vớimột số sinh viên Trung Quốc viết cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc Tácphẩm này được Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản năm 1924 Cũng vào khoảngthời gian này, Nhà xuất bản Tiếng còi ấn hành cuốn Chủng tộc da đen của Nguyễn ÁiQuốc Nội dung hai cuốn sách đó tập trung lên án chế độ xấu xa, tàn ác của chủ nghĩa
đế quốc và tình trạng đau khổ của các nước thuộc địa Điều đáng tiếc là cuốn Chủngtộc da đen đến nay chúng ta chưa tìm thấy
Thời gian hoạt động ở Mátxcơva cũng là thời gian Nguyễn Ái Quốc tham dựnhiều hội nghị quốc tế lớn Người tham gia Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân họp
từ ngày 12 đến ngày 15-10-1923 Tại phiên họp chiều 13-10-1923, Người đọc thamluận xác định vai trò cách mạng của nông dân ở các thuộc địa trong công cuộc giảiphóng ách áp bức thực dân Tiếp đó, Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản họp
từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 Người đã tham luận nhiều lần về vấn đề dân tộc vàthuộc địa Sau đó, Người tham dự Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội IV Quốc
tế Thanh niên, v.v Tại diễn đàn các đại hội đó, Người đã nói lên tiếng nói của nhândân thuộc địa, bảo vệ những luận điểm đúng đắn của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc vàthuộc địa, và tuyên truyền những tư tưởng cách mạng của mình trên lập trườngmácxít Những lời phát biểu của Người đã để lại những ấn tượng đẹp đẽ trong lòngcác đại biểu, đặc biệt là những đại biểu từ các nước thuộc địa và phụ thuộc Á, Phi,
Mỹ Latinh
Nghiên cứu những tác phẩm, những bài viết và những lời phát biểu củaNguyễn Ái Quốc thời kỳ này, ta bắt gặp một đề tài quen thuộc: đó là tiếp tục tố cáotội ác của chủ nghĩa thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng đối vớinhân dân các nước thuộc địa, đối với nhân dân Việt Nam Sự khác nhau trong chủ đềnày ở hai thời kỳ là ở chỗ, nếu như ở Pari vấn đề được đặt ra trong từng bài rải rác thì
Trang 21ở Mátxcơva vấn đề được tập trung lại trong những tác phẩm lớn Như vậy, mức độ tốcáo tập trung hơn, toàn diện hơn Về đối tượng tố cáo, Nguyễn Ái Quốc dồn đònmạnh nhất vào chế độ thực dân Pháp trên lãnh thổ hải ngoại rộng lớn Ngoài ra, ngòibút của Người cũng đã hướng tới đế quốc Anh, một cường quốc tư bản có nhiềuthuộc địa nhất thời đó, cả đế quốc Đức, Nhật Bản trong âm mưu thôn tính và nô dịchTrung Quốc, Triều Tiên và tệ phân biệt chủng tộc của đế quốc Mỹ Rõ ràng, diện tốcáo của Nguyễn Ái Quốc rộng hơn, không chỉ đối với các dân tộc bị buộc làm thuộcđịa mà cả đối với những người da đen sống trên đất Mỹ, một khía cạnh chưa mấy aibiết tới của nền văn minh Mỹ, có thể nói, ách áp bức của đế quốc thực dân ''không từmột chủng tộc nào''.
Ngoài đề tài quen thuộc đó ra, ở thời kỳ này Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu nêu
ra những vấn đề mới mẻ trước đó chưa từng có Với chủ đích rõ ràng là hướng cuộcđấu tranh giải phóng của dân tộc ta tới Quốc tế Cộng sản, tới Cách mạng Tháng MườiNga
Trước hết, Nguyễn Ái Quốc cung cấp cho nhân dân ta những hiểu biết, nhữngthông tin về một tổ chức chính trị quốc tế kiên quyết bênh vực quyền lợi của các dântộc thuộc địa, đó là Quốc tế Cộng sản, đứng đầu là V.I.Lênin Ngoài hai văn kiệnbằng tiếng việt của Quốc tế Cộng sản đã giới thiệu ở trên, Nguyễn Ái Quốc tiếp tụcgiới thiệu những văn kiện quan trọng khác của Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quầnchúng của nó Trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, ở chương Nô lệ thức tỉnh,Người đưa vào những văn kiện quan trọng đối với các thuộc địa như Tuyên ngôn củaBan Chấp hành Đệ tam Quốc tế, phần liên quan tới nhân dân các thuộc địa Hiệu triệucủa Quốc tế Nông dân gửi nông dân lao động các thuộc địa; Tổ chức Công đoàn ởthuộc địa Mục đích của tác giả là làm cho độc giả hiểu rằng trên thế giới này cónhững tổ chức đang quan tâm đến vận mệnh của nhân dân thuộc địa, thông cảm vớicuộc sống cực khổ của họ và kêu gọi họ tổ chức lại theo những tổ chức thích hợp đểhoàn thành sự nghiệp giải phóng của mình Muốn cho cuộc đấu tranh đầy gian khổ,khó khăn đó đi đến thắng lợi cuối cùng thì không còn con đường nào khác ngoài conđường ''đoàn kết nhau lại
Trên diễn đàn Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị vớicác đảng trên thế giới: ''Gửi những người bản xứ vào Trường đại học cộng sản củanhững người lao động phương Đông ở Mátxcơva”49
Theo đề nghị của Người, Đảng Cộng sản Pháp bắt đầu từ năm 1925 đã cửnhững thanh niên yêu nước Việt Nam sang học tại trường quốc tế đó Mở đầu làNguyễn Thế Rục, Nguyễn Thế Vinh nhập trường vào năm 1925 Từ đó khai thôngcon đường cho thanh niên yêu nước Việt Nam từ nước Pháp sang Mátxcơva theo họctrường Đại học Phương Đông Con số đó về sau tăng lên hàng chục Sau này khi vềQuảng Châu, Người lại tiếp tục giới thiệu thanh niên yêu nước Việt Nam từ TrungQuốc đến nhập trường Như vậy, trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sảntrở thành một lò đào tạo những chiến sĩ tuyên truyền, những cổ động viên cho phongtrào cách mạng theo khuynh hướng vô sản ở nước ta
Để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi phải có một giai cấpcông nhân giác ngộ, có tổ chức, được vũ trang bằng học thuyết cách mạng nhất- chủnghĩa Mác- Lênin Có lẽ, thời gian sống ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc mới có ý thức
Trang 22được thể hiện rõ trong một loạt bài viết của Người như Phong trào công nhân, NhậtBản (11-1923), Phong trào công nhân ở Thổ Nhĩ Kỳ (1-1924), Phong trào công nhân
ở Viễn Đông (1-1924) và trong chương Nô lệ thức tỉnh của cuốn Bản án chế độ thựcdân Pháp.Trong các tác phẩm đó, Người đề cập đến phong trào cách mạng của côngnhân, các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ
Kỳ, Đông Dương, v.v Với công nhân Trung Quốc, Người đã nhận định: “Chỉ sauchiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chứcmột cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đìnhcông Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chứccủa họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa Hiện nay những ngườithủy thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự màbọn tư bản buộc phải coi trọng''51 Với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhânnước ta, Người đã biểu dương
Từ đó Người đi tới khẳng định: ''Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân làgiai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợicuối cùng”
Giai cấp công nhân thực sự có một sứ mệnh lịch sử to lớn vì nó đại diện chomột phương thức sản xuất tiên tiến Nhưng ở các nước thuộc địa có một thực tế lịch
sử không thể chối cãi được là: số lượng của giai cấp công nhân chiếm một tỷ lệ thấptrong nhân dân, trong khi đó nông dân chiếm tới 95% dân số Ở Việt Nam, tình hìnhcũng tương tự, người nông dân chúng ta ''bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làmphá sản Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ laodịch Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hoá
và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tênđao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói''54 Phải sống tronghoàn cảnh cùng cực đó nên người nông dân nói chung và người nông dân Việt Namnói riêng chẳng những sớm có ý thức giai cấp, mà hình thành ở họ ý thức dân tộcmạnh mẽ Vì thế, ở thuộc địa thực chất vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân Nguyễn ÁiQuốc, từ thực tế lịch sử của đất nước và những nước cùng cảnh ngộ, đã nhận ra vaitrò cách mạng của nông dân trong công cuộc giải phóng dân tộc: ''Trong tất cả cácthuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao Sự nổidậy của nông dân bản xứ đã chín muồi Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổidậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu''55 Mặt khác, Người cũng đã nhận thấytính chất vô vọng của các cuộc nổi dậy đó: ''Chỉ với lực lượng riêng của chính mình,nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ Không thểchiếm được bộ máy nhà nước và giữ được bộ máy đó''56 Từ đó, Người đi đến kếtluận là: để thực hiện được khẩu hiệu ''Tất cả ruộng đất về tay nông dân'', một ước mơngàn đời của họ, nông dân nhất thiết phải tự nguyện đi với giai cấp công nhân và kếtthành một khối Chỉ bằng cách đó nông dân mới phát huy đầy đủ sức mạnh về sốlượng của mình Và trong cuộc cách mạng ấy công nhân và nông dân là động lực củacách mạng
Những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ Mátxcơva đến được với nhândân ta đã tạo ra một xung lực mới, một chất men mới kích thích phong trào yêu nướcđang khởi sắc trên cả nước, chuẩn bị những điều kiện thuận lợi cho thời kỳ tiếp sau
đó - thời kỳ Quảng Châu - vùng Đông Bắc Xiêm
Trang 23III- THỜI KỲ QUẢNG CHÂU – VÙNG ĐÔNG BẮC XIÊM - BẮT TAY XÂY DỰNG TỔ CHỨC CÁCH MẠNG
1 Xây dựng tổ chức
Trong một buổi tiếp thân mật Nguyễn Ái Quốc, đồng chí D.Z Manuinxki60,
Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã thông báo quyết định của Quốc tế Cộngsản cử Người tới Quảng Châu công tác nhằm xúc tiến mọi điều kiện để xây dựng một
tổ chức cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng ở các nước ĐôngNam Á Từ đó, Người tích cực chuẩn bị cho chuyến đi công tác xa - xích gần lại quêhương Hồi đó, Quảng Châu là trung tâm cách mạng của đất nước Trung Hoa rộnglớn Người dân ở đây đang sống trong bầu không khí của ngày hội cách mạng: ''Thậtkhó mà miêu tả Quảng Châu trong những ngày đó Ở đây có cái gì tựa như năm 1917không bao giờ quên ở nước Nga vậy Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loàingười còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ vàsung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đườngphố và quảng trường''61 Quảng Châu còn là nơi hội tụ của nhiều thế hệ những ngườiyêu nước Việt Nam từ lớp cách mạng đàn anh như Phan Bội Châu, Nguyễn ThượngHiền, với các đồng chí của ông và lớp thanh niên trí thức yêu nước mới xuất dươngsang sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tập hợp lại trong một tổ chức yêu nước - Tâmtâm xã
Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc xây dựng tổ chức cách mạng tuần tự theotừng bước - từ tiếp xúc tìm hiểu những người yêu nước Việt Nam đang hoạt động ởmiền Nam Trung Quốc đến việc thành lập một nhóm bí mật là Cộng sản đoàn làm hạtnhân, cuối cùng là thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đặt nó trongmối liên hệ với cách mạng Đông Nam Á, tức là thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc
bị áp bức Sau đây là mấy nét đại cương về các bước đi đó:
Sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu và nắm trong tay bản danh sách gồm 14đồng chí thân cận của Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đi tới một quyết định thíchhợp nhất lúc đó là mở ngay một lớp huấn luyện về phương pháp tổ chức để tìm hiểumột cách tích cực những người được giới thiệu: Sau lớp huấn luyện đầu tiên, Nguyễn
Ái Quốc lựa chọn những thanh niên tích cực, được thử thách qua huấn luyện và côngtác lập ra một nhóm bí mật, tức là Cộng sản đoàn làm hạt nhân cho một tổ chức rộnglớn hơn sau đó Nhóm bí mật, tức Cộng sản đoàn, được thành lập vào tháng 2-1925
Tiếp đó, trong báo cáo gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đề ngày
19-2-1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết trong phần Công tác đã làm được như sau: ''Chúng tôi
đã lập một nhóm bí mật gồm chín hội viên, trong đó có:
2 người đã được phái về nước
3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên)
1 người đã đi công cán quân sự (cho Quốc dân Đảng)
Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản”
Nhóm bí mật gồm 9 hội viên đó chính là Cộng sản đoàn trong đó có các đồng chí:
Trang 24- Lê Quảng Đạt
- Lâm Đức Thụ
Nhóm Cộng sản đoàn đóng vai trò hạt nhân của một tổ chức rộng hơn sẽ đượclập mấy tháng sau đó Nhóm này được phát triển trong suốt thời gian mà Nguyễn ÁiQuốc trực tiếp chỉ đạo, tức là tháng 4-1927 Trong lớp huấn luyện thanh niên từ trongnước sang, sau khi học xong đã kết nạp tất cả vàoHội Việt Nam Cách mạng Thanhniên, nhưng chỉ chọn 5 người vững vàng nhất kết nạp vào Cộng sản đoàn là các đồngchí: Trần Phú, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng, Nguyễn NgọcBa
Bước tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc thành lập một tổ chức có tính chất quầnchúng rộng lớn hơn nhằm tập hợp các phần tử thanh niên yêu nước trong và ngoàinước Tháng 6-1925, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời Tổ chức này đãcông bố Chương trình và Điều lệ Sau đây là đoạn đầu của bản Điều lệ thứ nhất của
tổ chức cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc sáng lập và là lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một tổ chứccách mạng thích hợp, vừa tầm với điều kiện lịch sử cụ thể nước ta lúc đó - là một chủđích, một hướng sáng tạo, khác với những mô hình thành lập Đảng Cộng sản ở cácnước trong vùng Thực chất toàn bộ công việc mà Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành là tổchức lực lượng truyền bá tư tưởng cách mạng mới trong một tổ chức cách mạng thíchhợp là sự chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đảng mácxít trong tương lai Nguyễn Ái Quốc
đã thành công theo hướng đó Toàn bộ sự vận động của Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên từ tháng 6-1925 đến tháng 5-1929 đã minh chứng về sự đúng đắn đó
2 Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin thông qua tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Sau khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời, với tư cách là người sánglập và lãnh tụ, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra cho Hội một kế hoạch hoạt động cụ thể
Thời kỳ Quảng Châu khác với những thời kỳ trước không chỉ ở khoảng cáchkhông gian (địa lý), mà chính ở những điều kiện mới về chất mà kết quả hoạt độngcủa hai thời kỳ trước và điều kiện lịch sử Trung Quốc lúc đó tạo ra Và cũng chínhhoàn cảnh mới ấy đã quy định những phương tiện hoạt động ở thời kỳ này Do vậy,Nguyễn Ái Quốc không dừng lại ở những phương tiện đã dùng như sách báo mà đãdùng nhiều phương tiện tuyên truyền phong phú và có hiệu quả như thành lập tổ chứccách mạng, và mở các lớp huấn luyện mà thực chất là tạo ra những phương tiện tuyêntruyền sống.Ở phần này, chúng tôi chủ yếu khảo sát các phương tiện tuyên truyền vềmặt hình thức, còn về mặt nội dung tuyên truyền được dành một phần riêng tiếp theophần này
+ Xuất bản sách báo
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã xuất bảnngay báo Thanh niênlàm phương tiện tuyên truyền mục đích, tôn chỉ và chủ trươngcủa Hội, hướng dẫn hoạt động cách mạng cho mỗi hội viên
Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,
ra số đầu tiên vào ngày 21-6-1925 tại Quảng Châu
Trang 25Ngoài báo chí, Tổng bộ còn cho xuất bản sách giới thiệu về chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên,v.v Đáng kể nhất trongloạt sách nhỏ xuất bản tại Quảng Châu là cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn ÁiQuốc, Đường cách mệnh do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị ápbức xuất bản đầu năm 1927
+ Huấn luyện những người tuyên truyền, những người tổ chức Nguyễn Ái Quốc đãtiến hành công việc này ngay sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu và các hội viên củaTâm tâm xã
Theo Đanien Hémery, có 47 người Việt Nam sang học tại Trường PhươngĐông ở Mátxcơva, nhưng theo Tiến sĩ sử học Alanh Rútxiô thì ''Sở mật thám Phápthống kê từ năm 1923 đến năm 1931 đã có 75 người Việt Nam đi học những trườngđó'' Như vậy, trường Đại học Phương Đông đã đào tạo cho cách mạng Việt Namhàng chục cán bộ Một số học sinh Việt Nam tốt nghiệp trường này đã trở thànhnhững nhà lãnh đạo nổi tiếng của Quốc tế Cộng sản và của Đảng Cộng sản Việt Namsau này như Nguyễn Ái Quốc - công tác nhiều năm trong Ban phương Đông Quốc tếcộng sản; Lê Hồng Phong - Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1935,Trần Phú - Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và nhiều nhà lý luậnxuất sắc khác của Đảng
Ngoài việc đào tạo và gửi đi đào tạo cán bộ chính trị, Nguyễn Ái Quốc cònchọn thanh niên yêu nước Việt Nam có khả năng về quân sự đi học Trường Quânchính Hoàng Phố Việc Nguyễn Ái Quốc gửi thanh niên vào học Trường Hoàng Phố
có nghĩa là vấn đề bạo lực vũ trang trong một cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa
đã được đặt ra và được chuẩn bị rất sớm
3 Những tư tưởng chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc được truyền bá về nước
+ Quan niệm về cách mạng
Một trong những đóng góp quan trọng của Nguyễn Ái Quốc vào việc phát triển
tư tưởng – chính trị là việc giải thích, trình bày quan niệm ''cách mạng'' theo quanđiểm Mác - Lênin
+ Về Đảng cách mạng, Đảng Cộng sản
Tư tưởng xuyên suốt trong di sản lý luận của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này làthực dân Pháp dùng chính sách ''chia để trị'' nên những người cách mạng trước hếtphải đoàn kết mới thực hiện được sự nghiệp to lớn và khó khăn của mình Tư tưởng
đó được toát lên trong bài đăng trên báo Thanh niên,số 1, ra ngày 21-6-1925 như làmột tuyên ngôn: ''Sự nghiệp cách mạng lớn lắm Những người cách mạng phải đoànkết với nhau để thực hiện sự nghiệp đó Người mình đã làm việc cách mạng nhiềunăm rồi mà chưa thành công trước hết bởi vì thiếu đoàn kết với nhau''
4 Vùng Đông Bắc Xiêm - sự tiếp nối thời kỳ Quảng Châu bị ngắt quãng
Tại Quảng Châu, các hoạt động đang trên đà tiến triển tốt thì tháng 4-1927Tưởng Giới Thạch phản bội, bất ngờ tấn công Đảng Cộng sản Trung Quốc, thủ tiêunhững thành quả đã giành được trong cao trào cách mạng tháng năm 1925-1927.Trong cuộc phản kích đó, bọn phản cách mạng không chỉ khủng bố Đảng Cộng sảnTrung Quốc mà còn khủng bố cả những nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ởđấy Các cơ sở hoạt động và huấn luyện của những người yêu nước Việt Nam bị giảitán Rõ ràng, sự biến tháng 4-1927 đã làm cho những nhà cách mạng Việt Nam