CHƯƠNG 6 CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CHƯƠNG 6 CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 6 1 Sản phẩm theo quan điểm của marketing 6 1 1 Khái niệm chung về sản phẩm 6 1 2 Ba mức độ sản phẩm 6 1 3 Phân loại sản phẩm 6 2 Các quyết đị.
Trang 1CHƯƠNG 6 : CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
6.1 Sản phẩm theo quan điểm của marketing
6.1.1 Khái niệm chung về sản phẩm
6.1.2 Ba mức độ sản phẩm
6.1.3 Phân loại sản phẩm
6.2 Các quyết định về nhãn hiệu
6.2.1 Nhãn hiệu và các bộ phận cấu thành
6.2.2 Các quyết định liên quan đến nhãn hiệu
6.3 Bao bì sản phẩm
6.4 Quyết định về chủng loại và dạnh mục sản phẩm
6.5 Chu kỳ sống sản phẩm
MỤC ĐÍCH
Sau khi đọc xong chương này, bạn có khả năng:
1
Định nghĩa được sản phẩm và các cách phân loại sản phẩm chủ yếu
2
Nhận thức được ba mức độ của sản phẩm khi sáng tạo ra một mặt hàng;
3
Trình bày được nhãn hiệu là gì, vai trò của nhãn hiệu và các quyết định liên
quan đên nhãn hiệu;
4
Trình bày được bao bì là gì, vai trò của bao bì và các quyết định liên quan
đên bao bì;
5
Nhận thức được khái niệm chủng loại và danh mục sản phẩm cũng như các
chỉ tiêu mô tả danh mục sản phẩm
6
Trình bày được các chiến lược của marketing gắn với chu kỳ sống sản
phẩm
Đề cương chi tiết phần 1:
6.1.1 Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm là phần cốt lõi nhất của một chương trình marketing hỗn
hợp, là vật trao đổi giữa doanh nghiệp và khách hàng Vậy sản phẩm là gì?
Trà xanh “Không độ”, đêm nhạc “Phú Quang”, chuyến viếng thăm
“Bảo tàng dân tộc học”, chiếc xe ô tô bốn chỗ ngồi “Corolla Altis”, dịch vụ
Trang 2giữ hộ vàng của ngân hàng ACB, bình gốm Bát Tràng - tất cả đều là sảnphẩm Khái niệm sản phẩm được phát biểu như sau:
SẢN PHẨM là tất cả những cái, những yếu tố có thể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng Đó có thể là những vật thể hữu hình, dịch vụ, người, mặt bằng, tổ chức và ý tưởng.
Ngay cả trong những vật thể hữu hình thì cũng bao hàm cả các yếu
tố vô hình Trong thực tế sản phẩm được xác định bằng các đơn vị sảnphẩm
ĐƠN VỊ SẢM PHẨM là một chỉnh thể riêng biệt được đặc trưng bằng đơn vị độ lớn, giá cả, vẻ bề ngoài và các thuộc tính khác Ví dụ, bột giặt là sản phẩm, còn gói bột giặt “Suft ngát hương xuân – 600 gam” của công ty Unilever Việt Nam, giá 13.000 đồng là đơn vị sản phẩm (hình 6.1).
Hình 6.1 Bộ t giặt Suft ngát hương xuân
(600 gam) của công ty Unilever Việt
Nam.
6.1.2 Ba mức độ của sản phẩm
Khi sáng tạo ra một mặt hàng, sản phẩm cần được nhận thức theo bamức độ có những chức năng marketing khác nhau (xem hình 6.2)
Trang 3Sản phẩm cốt lõi
Sản phẩm cụ thể Sản phẩm hoàn chỉnh
Chất luợng
Kiểu dáng
Nhãn hiệu
Thuộc tính Bao bì
Giao hàng
Dịch vụ sau khi bán
Bảo hành
Lắp đặt
Lợi ích cơ bản của sản phẩm
Theo những người làm marketing, đõy là bộ phận quan trọng nhấtcủa hàng hoỏ, quyết định khả năng thoả món nhu cầu, ước muốn của khỏchhàng
6.1.2.2 Sản phẩm hiện thực
Những người nghiờn cứu cũn phải biến sản phẩm ý tưởng thành sảnphẩm hiện thực Đú là những yếu tố phản ỏnh sự cú mặt trờn thực tế của sảnphẩm Sản phẩm hiện thực cú thể cú năm đặc tớnh: chất lượng, cỏc thuộctớnh, kiểu dỏng, nhón hiệu, bao bỡ
Trong thực tế, khi tỡm mua những lợi ớch cơ bản, khỏch hàng phảidựa vào cỏc đặc tớnh này vỡ sản phẩm theo ý tưởng khú diễn tả Vỡ vậy, sản
Trang 4phẩm hiện thực là một bộ phận của sản phẩm để giúp khách hàng nhận biếtđược sản phẩm, phân biệt chúng với sản phẩm khác.
6.1.2.3 Sản phẩm bổ sung
Sản phẩm bổ sung là lợi ích và giá trị phụ thêm mà người cung ứngcung cấp cho người mua Đó chính là bộ phận hỗ trợ cho tiêu thụ để làm giatăng lợi ích, tăng khả năng thoả mãn nhu cầu khách hàng và để tìm kiếm lợithế cạnh tranh, thu hút khách hàng
Đó là những yếu tố như: giao hàng, vận chuyển hàng hoá tới nhà,tính tiện lợi cho việc lắp đặt, các dịch vụ sau khi bán hàng, những điều kiệnbảo hành, điều kiện hình thức tín dụng… Chính nhờ những yếu tố này đãtạo ra sự đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau trong nhận thức của kháchhàng về mặt hàng hay nhãn hiệu cụ thể
Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng một lợi ích phụ thêm ngày hôm nay cóthể sẽ bị đối thủ cạnh tranh sao chép và không còn tác dụng làm cho kháchhàng ngạc nhiên và thích thú Vì vậy, để luôn luôn thu hút được kháchhàng đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng của những người làm marketing
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu ba cấp độ cấu thành sản phẩm cóthể gợi ý cho những người làm marketing một số suy nghĩ về chiến lượcmarketing khi thiết kế một sản phẩm đáp ứng thị trường mục tiêu và tìmkiếm lợi thế cạnh tranh trên thị trường Từ đó có thể thiết kế những sảnphẩm phù hợp với từng loại khách hàng
6.1.3 Phân loại sản phẩm
Tuỳ thuộc vào loại sản phẩm, hàng hoá khác nhau mà hoạt động vàchiến marketing cũng khác nhau Điều đó có nghĩa là muốn có chiến lượcmarketing phù hợp và hoạt động marketing hiệu quả, các nhà quản trịmarketing cần phải biết hàng hoá mà doanh nghiệp đang kinh doanh thuộcloại nào Trong hoạt động marketing, các cách phân loại có ý nghĩa là:
6.1.3.1 Phân loại theo thời hạn sử dụng và hình thức tồn tại
Theo cách nay, thế giới hàng hoá có thể chia ra thành:
- Sản phẩm lâu bền: là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều
lần Ví dụ như ti vi, tủ lạnh… Để tiêu thụ các sản phẩm loại này cần đầu tưnhiều vào bán hàng cá nhân và các dịch vụ bán hàng
- Sản phẩm sử dụng ngắn hạn: là những vật phẩm được sử dụng một
lần hay một vài lần ví dụ như diêm, xà bông…
Trang 5- Dịch vụ: là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, lợi ích
hay sự thoả mãn Dịch vụ có tính chất vô hình, không chia cắt được, khônglưu trữ được và có tính đồng bộ thấp Do vậy, kiểm soát chất lượng uy tíncủa nhà cung cấp là yếu tố hàng đầu khi bán dịch vụ
6.1.3.2 Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng
- Sản phẩm sử dụng thường ngày: đó là sản phẩm mà người tiêu
dùng mua cho việc sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt Ví dụ như thuốc
lá, báo chí, xà bông, kẹo ngậm Đối với sản phẩm loại này, vì được sử dụng
và mua sắm thường xuyên nên nó là nhu cầu thiết yếu, khách hàng am hiểu
về sản phẩm và thị trường của chúng
- Sản phẩm mua ngẫu hứng: đó là những hàng hoá được mua không
có kế hoạch trước và khách hàng cũng không chủ định tìm mua Đối vớisản phẩm loại này khi gặp cộng với khả năng thuyết phục của người bán,khách hàng mới nảy ra ý định mua
- Sản phẩm mua khẩn cấp: đó là những hàng hoá được mua khi xuất
hiện nhu cầu cấp bách vì một lý do bất thường nào đó Việc mua sản phẩmnày không suy tính nhiều
- Sản phẩm mua có lựa chọn: đó là những sản phẩm mà việc mua
diễn ra lâu hơn, đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh,cân nhắc về công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng
- Sản phẩm cho các nhu cầu đặc thù: đó là những sản phẩm có tính
chất đặc biệt hay sản phẩm đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêmsức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn
- Sản phẩm cho các nhu cầu thụ động: đó là những sản phẩm mà
người tiêu dùng không hay biết và thường cũng không nghĩ đến việc muachúng Trường hợp này thường là những sản phẩm không liên quan trựctiếp, tích cực đến nhu cầu cuộc sống hàng ngày như bảo hiểm, sách báchkhoa toàn thư, đất mai táng…
6.1.3.3 Phân loại hàng tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là những hàng hoá được mua bởi các doanh nghiệphay tổ chức Chúng cũng bao gồm nhiều loại, có vai trò và mức độ tham giakhác nhau vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức đó Người
ta chia chúng ra thành các loại sau:
- Vật tư và chi tiết: đó là những hàng hoá được sử dụng thường
Trang 6xuyên và toàn bộ vào cấu thành hàng hoá được sản xuất ra bởi nhà sản xuất.
Thuộc nhóm này có rất nhiều mặt hàng khác nhau: có loại có nguồn
gốc từ nông nghiệp, từ trong thiên nhiên hoặc vật liệu đã qua chế biến
- Tài sản cố định: đó là những hàng hoá tham gia toàn bộ, nhiều lần
vào quá trình sản xuất và giá trị của chúng được dịch chuyển dần vào giá trị
hàng hoá do doanh nghiệp sử dụng chúng tạo ra Ví dụ như máy móc dập
khuôn kim loại, máy ủi, cần cẩu, hệ thống điều hành điện tử, xe tải…
- Vật tư phụ và dịch vụ: đó là những hàng hoá để hỗ trợ cho quá trình
kinh doanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp
6.2 Các quyết định về nhãn hiệu
6.2.1 Một số khái niệm về nhãn hiệu
NHÃN HIỆU sản phẩm là tên gọi, thuật
ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa
chúng, được dùng để xác nhận hàng hoá hay
dịch vụ của một người bán hay một nhóm người
bán và để phân biệt chúng với hàng hoá và dịch
vụ của các đối thủ cạnh tranh.
TÊN NHÃN HIỆU là phần đọc được của
nhãn hiệu, như Vinamilk, Trung Nguyên (hình
6.3), Toyota, Sony, Nation, Hitachi, Honda,
Halida, CocaCola, Mercedes-Benz …
Hình 6.3: Café Trung Nguyên đứng trong top 10 Sao Vàng Đ
DẤU HIỆU CỦA NHÃN HIỆU bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu
sắc hay kiểu chữ đặc thù… Đó là bộ phận của nhãn hiệu mà người ta có
thể nhận biết được, nhưng không thể đọc được, ví dụ như hình con thỏ là
biểu tượng của Playboy, hình con Voi là của bia Halida, hình 2 vòng elip là
của Toyota (hình 6.4), hình ngôi sao 3 cánh là của hãng ôtô
Mercedes-Benz (hình 6.5) hay màu đỏ đặc trưng với kiểu chữ nghiêng 45 độ của
Coca-Cola…
DẤU HIỆU CỦA HÀNG HÓA là toàn bộ nhãn hiệu hay một bộ phận của
nó được đăng ký tại cơ quan quản lý nhãn hiệu và do đó được bảo vệ về mặt pháp
lý
Trang 7Hình 6.4: Biểu tượng toàn cầu hiện
nay của Toyota
Hình 6.5: Biểu tượng hình ngôi sao 3 cánh ngày nay của Mercedes-Benz.
6.2.2 Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu
Việc chào bán sản phẩm với tính cách là hàng đặc hiệu có thể làm tăng giátrị của nó cho nên các quyết về nhãn hiệu là một mặt rất quan trọng trongchính sách sản phẩm Các quyết định đó bao gồm:
- Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?
Ngày nay, hầu hết
sản phẩm nào khi đưa thị
trường đều có nhãn hiệu
Thậm chí, các sản phẩm
nông sản cũng có nhãn hiệu
của riêng mình Những cái
tên như cà phê Trung
Nguyên, quả sấy khô
Vinamit (hình 6.6), thanh
long Hoàng Hậu, sầu riêng
Cái Mơn, nhãn lồng Hưng
Yên, bưởi Năm Roi… đã
dần trở nên quen thuộc với
người dân Việt Nam và sẵn
sàng để hội nhập
Hình 6.6: Vinamit, nhãn hiệu hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực nông sản thực phẩm khô và trái cây sấy Mức tăng trưởng 35% được giữ vững trong 5 năm gần đây với tỷ trọng xuất khẩu chiếm 60% doanh số
Việc gắn nhãn cho hàng hoá có ưu điểm là thể hiện được lòng tin củakhách hàng đối với nhà sản xuất khi họ dám khẳng định sự hiện diện củamình trên thị trường qua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lựa chọn của khách
Trang 8hàng và đặc biệt ở nước ta hiện nay, nó làm cơ sở cho việc quản lý chốnglàm hàng giả.
- Ai là người chủ nhãn hiệu hàng hoá? Người chủ nhãn hiệu hàng
hoá là người chịu trách nhiệm chính về nhãn hiệu được lựa chọn Có thể cócác phương án sau để trả lời cho câu hỏi này
Thứ nhất là, tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của chínhnhà sản xuất Các doanh nghiệp IBM, đã bán tất cả những thứ họ sản xuấtdưới tên hiệu của mình Thông thường, tất cả các doanh nghiệp đều muốntheo đuổi phương án này song vì một số lý do họ buộc phải chọn cácphương án khác
Thứ hai là tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của nhà trunggian Thực tế cho thấy, các sản phẩm nông sản, thủ công mỹ nghệ của ViệtNam thường xuất khẩu qua các trung gian và đặc biệt phải mang nhãn máccủa họ nên phải chấp nhận mức giá thấp
Thứ ba là nhà sản xuất bán một phần sản phẩm dưới nhãn hiệu của chínhmình, số còn lại mang nhãn hiệu của nhà trung gian
Công ty cổ phẩn May 10 là doanh
nghiệp tiêu biểu ở Việt Nam chọn
phương án này Với 8000 lao
động, mỗi năm sản xuất trên 20
triệu sản phẩm chất lượng cao các
loại, May 10 đã xuất khẩu 80%
sản phẩm sang các thị trường Mỹ,
Đức, Nhật Bản, Hồng Kông,…
dưới nhiều nhãn hiệu của các đối
tác như GAP, DKNY, Pierre
Cardin, Guy Laroche, Maxim,
Jacquest Britt, Seiden Sticker,
Dornbush, C&A, Camel,
Arrow… Còn 20% sản phẩm
được tiêu thụ dưới nhãn hiệu của
May 10 như Pharaon, Bigman,
Chambray, Freeland, Cleopatre,
PrettyWoman, JackHot, MM
Teen,
Hình 6.7: May 10 “Đẳng cấp luôn được
khẳng định”
Trang 9- Quyết định về chất lượng của sản phẩm được gắn nhãn hiệu Nhãn
hiệu được dùng để khẳng định sự hiện diện của sản phẩm trên thị trường
nhưng sự tồn tại của nó có vững chắc hay không lại phụ thuộc vào mức độ
chất lượng của sản phẩm Theo quan niệm của marketing, chất lượng của
sản phẩm phải do khách hàng đánh giá và thừa nhận Vì vậy, các nhà sản
xuất phải luôn luôn phát triển khái niệm chất lượng sản phẩm theo quan
niệm của khách hàng mục tiêu chứ không phải theo suy đoán chủ quan của
nhà sản xuất
- Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào?
Có thể có bốn cách đặt tên cho nhãn hiệu là:
Thứ nhất, tên nhãn hiệu riêng biệt cho từng sản phẩm Công ty Unilever
Việt Nam (bột giặt Omo, Viso, Suft, dầu gội đầu Dove, trà Lipton, kem đánh răng
P/S…); tập đoàn Trung nguyên (cà phê hòa tan G7 (hình 6.8), cà phê 777, cà phê
hòa tan Passiona, cà phê Chồn Legendee (hình 6.9)…) theo chiến lược này
Hình 6.8 Cà phê G7 hòa tan đen nhanh
chóng, tiện lợi dành cho những người không
có thời gian.
Hình 6.9 Cà phê Chồn Legendee đặc biệt
của Trung Nguyên
Thứ hai, tên nhãn hiệu chung cho tất cả các sản phẩm Công ty
Philip, Sony, Samsung, Electrolux… đang theo đuổi chính sách này.
Thứ ba, tên thương mại của doanh nghiệp đi kèm với tên riêng của
sản phẩm Công ty Nestle Việt Nam đã ủng hộ chính sách này (hình 6.10)
Hình 6.10 Sản phẩm Nescafe và trà chanh Nestea của Nestle.
Trang 10Tên nhãn hiệu tập thể cho các họ hàng hóa
Nhưng dù lựa chọn cách nào, khi đặt tên cho nhãn hiệu hàng hoácũng phải đảm bảo các yêu cầu:
- Phải hàm ý về lợi ích và chất lượng của hàng hoá
- Phải dễ đọc, dễ nhận biết và dễ nhớ
- Phải khác biệt hẳn với tên khác
- Phải dễ dàng dịch được sang tiếng nước ngoài
- Có thể đăng kí và được pháp luật bảo vệ
Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không? Mở
rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu là việc sử dụng một tên nhãn hiệuthành công gắn cho một mặt hàng cải tiến hay một hàng hoá mới để đưachúng ra thị trường Việc làm này có ưu điểm là tiết kiệm được chi phí đểtuyên truyền quảng cáo so với đặt tên nhãn hiệu khác cho sản phẩm mới vàsản phẩm cải tiến, đồng thời đảm bảo cho hàng hoá được khách hàng nhậnbiết nhanh hơn thông qua nhãn hiệu đã quen thuộc Nhưng nếu như sảnphẩm mới không được ưa thích thì lại có thể làm giảm uy tín của bản thânnhãn hiệu đó cho tất cả các hàng hoá
Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm có những đặc tính khác nhau của cùng một mặt hàng?
Trường hợp sử dụng nhiều nhãn hiệu có các ưu điểm sau:
- Tạo cho nhà sản xuất khả năng nhận thêm mặt bằng trong gianhàng của các trung gian
- Khi khách hàng không trung thành tuyệt đối với bất kỳ mộtnhãn hiệu nào thì trường hợp tung ra nhiều nhãn hiệu đã tạođiều kiện cho khách hàng một khoảng lựa chọn rộng lớn hơn
- Kích thích tính sáng tạo và nâng cao hiệu suất công tác củacác nhân viên trong đơn vị
- Mỗi nhãn hiệu có thể thu hút một nhóm khách hàng riêng.Câu hỏi và bài tập tình huống:
1 Trình bày định nghĩa sản phẩm trong marketing Hãy cho biết thế nào
là một sản phẩm hoàn hảo theo quan niệm của marketing Cho ví dụminh họa
2 Ba mức độ của sản phẩm là gì? Nó có ý nghĩa gì đối với những ngườilàm marketing?
Trang 113 Nhãn hiệu là gì? Nhãn hiệu có vai trò gì đối với hoạt động marketingcủa doanh nghiệp? Khi đặt tên nhãn hiệu cần chú ý những vấn đề gì?
Bài tập tình huống:
Thành lập năm 1982, sau gần ¼ thế kỷ trưởng thành và pháttriển Công ty Biti’s đã có những đóng góp không nhỏ trong sựnghiệp phát triển kinh tế của đất nước Hiện nay, Biti’s có đến 4.500đại lý trên toàn quốc cùng với hệ thống văn phòng đại diện,showroom giới thiệu sản phẩm trên 40 quốc gia trên thế giới
Với Slogan “ Nâng niu bàn chân Việt”, Biti’s không chỉ là mộtthương hiệu lớn của Việt Nam mà còn là một niềm tự hào của ngườiViệt trong quá trình đất nước hội nhập với nền kinh tế thế giới
Trong thời điểm ngành da giày Việt Nam đang phải đối mặtmặt với việc áp thuế của EU, không ít DN gặp khó khăn do thịtrường truyền thống đã mất, thị trường nội địa đang bị chiến lĩnh bởigiày da Trung Quốc, thị trường mới chưa kịp khai phá thì Biti’s hầunhư không bị ảnh hưởng nhiều Có được quá trình đó, trước hết phảinhờ công ty đã chú trọng đầu tư xây dựng thương hiệu và phát triển
hệ thống phân phối rộng khắp các vùng miền không chỉ ở Việt Nam
mà thị trường quốc tế Đưa thương hiệu Biti’s trở thành một trongnhững thương hiệu hàng tiêu dùng Việt Nam được biết đến nhiềunhất hiện nay trên thị trường nội địa
Thị trường bán lẻ Việt Nam đang được các nhà đầu tư trên thếgiới đánh giá cao, chắc chắn, khi chúng ta chính thức ra nhập WTO,việc phải cạnh tranh gắt gao trong lĩnh vực này là không tránh khỏi.Đứng trước thách thức đó, Biti’s đã xây dựng chiến lược phát triểntoàn diện, trogn đó chú trọng nâng cao thương hiệu Biti’s trong lĩnhvực da giày Tiếp tục đẩy mạnh công tác tiếp thị ở cả thị trường trongnước và ngoài nước, đặc biệt khai thác triệt cơ hội phát triển kinhdoanh tại thị trường các nước lân cận Việt Nam, khu vực Đông Nam
Á, Châu Á, chú trọng thị trường Trung Quốc và Campuchia nhằmnâng cao tỷ trọng xuất khẩu mang thương hiệu Biti’s đạt 50% vàonăm 2010 Đặc biệt, với việc nâng cấp hệ thống phân phối hiện cócủa Biti’s bằng cách xây dựng các Trung tâm Tiếp thị và Kinh doanhtrên toàn quốc, Cty sẽ tiếp tục gia tăng sức cạnh tranh về thương hiệukhi Việt Nam chính thức hội nhập khu vực và thế giới Ông ĐặngXuân Thơ Phó phòng Kinh doanh tiếp thị Biti’s miền Bắc cho biết: “Hiện nay, chúng tôi đang chú trọng nâng cao thương hiệu Biti’s trênthị trường nội địa với xây dựng các Trung tâm tiếp thị và giới thiệusản phẩm của Biti’s trại các thành phố lớn trên toàn quốc Kháchhàng đến với trung tâm không chỉ được tiếp cận với những mẫu mãmới nhất của Biti’s mà còn nhận được sự phục vụ tốt nhất và chuyênnghiệp nhất Đặc biệt, các dịch vụ chăm sóc khách hàng như cácchương trình khuyễn mãi, tư vấn hỗ trợ khách hàng sẽ được thực hiệntới tận mỗi khách hàng của Biti’s Biti’s đang hướng tới việc đầu tư
Trang 12xây dựng các trung tâm phân phối theo hướng chuyên nghiệp và caocấp hơn” Các Trung tâm Tiếp thị và Kinh doanh của Biti’s sẽ đượcxây dựng theo đúng các form chung trên toàn quốc, nhằm hướng tớiviệc nâng cao tính chuyên nghiệp trong phân phối sản phẩm của công
ty Đặc biệt, với việc nâng cao sự nhận biết và tình cảm của ngườitiêu dùng, Biti’s đang gián tiếp hỗ trợ các đại lý của mình trong khâutiếp thị sản phẩm và mặt khác cũng giúp khách hàng nhận được chế
độ chăm sóc tốt nhất
Không dừng lại ở việc sản xuất kinh doanh giày dép, Biti’sđang mở rộng hướng đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác theo hướngphát triển thành tập đoàn đa ngành Và trước mắt là các hoạt độngxúc tiến đầu tư, thương mại, xây dựng, kinh doanh địa ốc Một trungtâm thương mại cửa khẩu do Biti’s đầu tư với kinh phí 10 triệu USD
đã mọc lên tại Lào Cai Tiếp tục mở rộng đầu tư 30 ha Đồi con gáiSâp, 4.2 ha khu Thương mại Kinh Thành, 2 ha Khu dân cư mới tạitỉnh Lào Cai với tổng số vốn đầu tư giai đoạn 2 dự kiến khoảng 20triệu USD Triển khai đầu tư giai đoạn 2 xây dựng trung tâm Thươngmại Biti’s miền Bắc ( Hà Tây) với số vốn 10 triệu USD, quy mô 20tầng… Biti’s cũng đang triển khai đầu tư dự án khu thương mại – dân
cư tại Long Thành ( Đồng Nai) với diện tích 80.000 m2 vốn đầu tư
250 tỷ đồng; đồng thời đầu 300 tỷ đồng xây dựng một khu dân cư tạiBình Chánh cho người có thu nhập thấp với diện tích 18.000
m2….Gần đây Biti’s còn mở rộng hoạt động bằng việc hợp tác vớiTrung Quốc hình thành một liên doanh chuyên về tư vấn thiết kế xâydựng Hiện tại (2006), Biti’s có 9.000 lao động và đang tiếp tục mởrộng hoạt động theo hướng kinh doanh đa ngành nghề Mở rộng cáchoạt động sản xuất, đa dạng ngành nghề, Biti’s đang khẳng định họkhông chỉ có thế mạng về giày dép
Hãy:
1 Nêu và phân tích chiến lược mà Biti’s đang áp dụng
2 Điều gì đã làm nên thành công cho thương hiệu Biti’s trong lĩnh vực giày dép? Bạn có nhận thấy điều gì “ không ổn” khi lĩnh vực này càng trở nên phát triển hay không?
3 Với thực trạng phát triển hiện tại, để thành công Biti’s cần chú trọng những vẫn đề gì?
Bài tập tình huống
S- Fone và cột mốc 2 triệu thuê bao
Thời gian tới, S- Fone tiếp tục tập trung khai thác và phổ biến các tiện ích hiện đại trên nên công nghệ CDMA theo chuẩn 3G Chỉ hơn 2 triệu thuê bao tích lũy sau gần 4 năm hoạt động, phải chăng S- Fone còn đang “lò dò” trên con đường phát triển thuê bao?
VnEconomy vừa có cuộc trao đổi với ông Hồ Hồng Sơn, Giám đốc