Do đó, để nghiên cứu quá trình hình thành và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam thì việc tập trung nghiên cứu về mặt thể chế và mặt thiết chế thông qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Thị Yến
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHĐ HĐBA HĐQT CHXHCN MTTQ TAND VKSND
XHCN
Đại hội đồng Hội đồng Bảo an Hội đồng Quản thác Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Mặt trận tổ quốc
Tòa án nhân dân Viện kiểm sát nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN THEO HIẾN PHÁP 8
1.1 Quyền con người, quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân 8
1.1.1 Quyền con người 8
1.1.2 Quyền công dân 12
1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân 13
1 1.4 Cơ chế bảo vệ quyền con người 17
1.2 Các cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế và khu vực hiện nay 18
1.2.1 Cơ chế Liên hợp quốc 18
1.2.2 Cơ chế nhân quyền khu vực 27
1.2.3 Cơ quan nhân quyền quốc gia 32
1.3 Vai trò của Hiến pháp trên phương diện bảo vệ quyền con người, quyền công dân……… 34
Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH CƠ CHẾ BẢO VỀ CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TỪ HIẾN PHÁP 1946 ĐẾN HIẾN PHÁP 2013 39
2.1 Cơ chế bảo vệ quyền con người trong các bản Hiến pháp từ 1946 đến 1992 39
2.1.1 Hiến pháp 1946 39
2.1.2 Hiến pháp 1959 41
2.1.3 Hiến pháp 1980 45
2.1.4 Hiến pháp 1992 48
Trang 62.2 Các quy định về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân
theo Hiến pháp 2013 51
2.2.1 Đảng Cộng sản Việt Nam 51
2.2.2 Nhà nước 53
2.2.3 Các cơ quan Nhà nước 56
2.2.4 V ai trò chủ thể - Nhân dân và MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội 66
Chương 3: THỰC HIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN THEO HIẾN PHÁP 2013 73
3.1 Thực hiện Hiến pháp 2013 73
3.2 Giải pháp thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 82
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chăm lo đến con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động Nhà nước là những quan điểm cơ bản được thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong những năm gần đây Quyền cơ bản của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; quyền được tôn trọng nhân cách, lương tri và phẩm giá, được xã hội thừa nhận, tôn vinh và pháp luật bảo đảm về quyền sống của một con người
Ngày 2/9/1945, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước toàn thể quốc dân, đồng bào và Nhân dân thế giới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, đều nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người; đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin” Điều đó thể hiện rất rõ ở sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta là phấn đấu đến năm 2020, nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo cơ sở vững chắc để thực hiện đầy đủ quyền con người trên đất nước Việt Nam
Các quyền con người, quyền công dân được bảo vệ, bảo đảm và thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước
và Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền
Trang 8công dân ở Việt Nam là phải được bảo đảm bằng Hiến pháp và phải được các thiết chế Nhà nước bảo vệ một cách hiệu quả, thống nhất, toàn diện và trên thực tế qua các bản Hiến pháp: 1946, 1959, 1980, 1992, đặc biệt là Hiến pháp
2013, quyền con người, quyền công dân đã trở thành một nội dung quan trọng xuyên suốt Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để các cấp, các ngành, các cơ quan dân chính đảng thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân trong chế độ mới và là căn cứ để các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công dân khi có sự xâm phạm
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và
vì Nhân dân Đây là cơ sở lý luận để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, do các quyền con người rất phong phú và những vi phạm quyền cũng rất đa dạng, được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể (Nhà nước, các pháp nhân và cá nhân), chủ thể chủ yếu xâm hại đến quyền con người, quyền công dân lại là các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức trong các cơ quan Nhà nước Nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền, vi phạm đến các quyền lợi của cá nhân Quyền lực Nhà nước, cũng như bất kỳ một loại quyền lực nào khác, đều có khuynh hướng tăng cường hơn nữa, tăng cường vô hạn Do vậy, tự thân nó đã chứa đựng khả năng chuyên quyền Từ đó phát sinh nhu cầu thiết lập một hàng rào pháp lý
để chống lại sự lạm quyền đến từ phía các chủ thể nắm giữa quyền lực Nhà nước
Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã và đang là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu Ở Việt Nam, sau khi Hiến pháp 2013 ra đời đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội và văn hóa Việc Hiến pháp 2013 đã xác định các quyền, trách nhiệm
Trang 9và nghĩa vụ của các thiết chế đặc biệt là các thiết chế Nhà nước trong việc bảo
vệ quyền con người, quyền công dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Mặc dù cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có cơ quan nhân quyền quốc gia nhưng cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được hình thành từ những năm đầu giành được độc lập Thực tế cho thấy, việc xây dựng thành công cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một quá trình, phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác nhau (chính trị, văn hóa, pháp luật) Do đó, để nghiên cứu quá trình hình thành và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam thì việc tập trung nghiên cứu về mặt thể chế và mặt thiết chế thông qua việc tìm hiểu các nội dung này được ghi nhận như thế nào trong các bản Hiến pháp của Việt Nam là một việc làm rất quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa đối với triển khai thực hiện Hiến pháp 2013
Với lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013” là một yêu cầu khách quan và cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại một số quốc gia cũng như ở Việt Nam Tiêu biểu có thể kể như sau:
- “Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam” của tác giả Vũ Công Giao, Vũ Thu Quyên, đăng trong sách chuyên khảo “Hiến pháp – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011
- "Quyền con người trong thế giới hiện đại" của Viện Thông tin khoa học xã hội, xuất bản tại Hà Nội, năm 1993
- “Thể chế hóa quyền con người” của tác giả Nguyễn Quang Hiển, đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp luật, số 1, 2004
Trang 10-“Mô hình cơ quan nhân quyền ở một số nước và suy nghĩ về cơ chế đảm bảo quyền con người” của tác giả Tường Duy Kiên, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 152 ngày 10/08/2009
- “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” của tác giả Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, năm 2011
- “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2011
Sau khi ban hành Hiến pháp 2013 đã có rất nhiều các bài viết về Hiến pháp và bình luận Hiến pháp, tiêu biểu nhất là cuốn sách “Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013” NXB Công an Nhân dân, năm 2015 Đây là công trình đồ sộ tập hợp 43 chuyên đề có sự tham gia của
52 nhà khoa học, trong đó có rất nhiều chuyên đề liên quan tới đề tài nghiên cứu của luận văn như: “Cơ sở lý luận, thực tiễn và quá trình xây dựng Hiến pháp 2013” của GS.TSKH Đào Trí Úc; “Nội dung các quy định về Quốc hội trong Hiến pháp 2013” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung; “Hiến pháp 2013 với việc thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người tại Việt Nam” của PGS.TS.Chu Hồng Thanh; “Nhà nước pháp quyền Việt Nam: Nhận thức, triển vọng và thách thức nhìn từ Hiến pháp năm 2013” của PGS.TS Vũ Công Giao; “Vị trí vai trò pháp lý của chính phủ theo Hiến pháp 2013” của GS.TS Phạm Hồng Thái.v.v
Các công trình nêu trên đã cung cấp một lượng kiến thức, thông tin lớn
về các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trên thế giới và tại Việt Nam và những nội dung mới của Hiến pháp 2013 Nhiều kiến thức, thông tin trong các công trình này đã được trích dẫn, phân tích, kế thừa, phát triển trong luận văn này Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích một cách toàn diện và chuyên sâu về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công
Trang 11dân theo Hiến pháp 2013, đặc biệt là những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, luận văn “Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013”có nhiều nội dung mới và rất cần thiết để góp phần khỏa lấp khoảng trống tri thức, thông tin về nội dung chuyên đề cần quan tâm
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những đặc điểm cơ bản của cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế, cơ chế bảo vệ quyền con người của các khu vực trên thế giới và tại quốc gia
- Nghiên cứu sự hình thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng của đề tài
- Nội hàm của khái niệm “quyền con người”, “quyền công dân” và các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Trang 12- Phân tích các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhân trong Hiến pháp 2013
- Những biện pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề quyền con người, quyền công dân đặt biệt là cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 là một nội dung rất rộng, liên quan trực tiếp đến nhiều nội dung được hiến định khác, đặc biệt là chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Luận văn này chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhất là: nghiên cứu lịch sử hình thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam và những nội dung nhằm
bổ sung, hoàn thiện cơ chế bảo vệ này trong Hiến pháp 2013 Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng những quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới, phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về về quyền con người; pháp luật quốc tế về quyền con người
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, tiếp cận lịch sử và phương pháp so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên phân tích một cách toàn diện, hệ thống
về sự hình thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong suốt quá trình lập hiến ở Việt Nam Đặc biệt, sau khi nghiên cứu cơ chế này trong Hiến pháp 2013, luận văn đã chỉ ra được những tiến bộ cũng như những hạn
Trang 13chế trong việc áp dụng cơ chế này vào thực tế Quan trọng hơn nữa, luận văn
đã đánh giá được tính hiệu quả của cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cơ chế nảy trong quá trình đưa Hiến pháp 2013 vào cuộc sống – đây là điều mà các công trình nghiên cứu hiện này chưa đề cập cụ thể
7 Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp
Chương 2: Sự hình thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013
Chương 3: Thực hiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CONNGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN THEO HIẾN PHÁP
1.1 Quyền con người, quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân
1.1.1 Quyền con người
Giai cấp tư sản là lực lượng nêu cao ngọn cờ nhân quyền với các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của Nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789 Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người, nội dung các quyền con người tiếp tục phát triển Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa triết học
"kinh điển" nào về quyền con người Hiến pháp 1791 của Pháp viết quyền con người - đó là “quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức" Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: “quyền con người - đó là các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"
Xét một cách khái quát, các quan điểm quyền con người thường chỉ ra những khía cạnh chính sau:
Khía cạnh thứ nhất: Căn cứ vào nhu cầu bản năng của con người, nhu
cầu cơ bản nhất của con người thực thể để đưa ra khái niệm nhân quyền và giải thích những tiêu chuẩn nhân quyền như là một giá trị cơ bản, tự nhiên, vì nhân quyền là sản vật vốn có của tự nhiên, là thiên phú bẩm sinh, là đặc quyền tự nhiên Giá trị của quan niệm này vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến khái niệm nhân quyền ngày nay:
Trang 15Một là, quan niệm về quyền con người theo thuyết tự nhiên đương đại
vẫn có xu hướng tuyệt đối hóa giá trị tự nhiên, cho rằng có con người thì đương nhiên phải có quyền con người, bản thân con người cũng là sản vật của
tự nhiên sinh ra và quyền con người là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người như chính bản thân con người vậy
Hai là, quan niệm về giá trị tự nhiên của quyền con người trở nên phức
tạp trước sự phát triển của công nghệ hiện đại Nhiều nhà nhân quyền học cho rằng việc chế tạo ra con người nhân tạo, phẫu thuật ghép đầu, thay tim, thay đổi giới tính…đã phá hủy sự phát triển tự nhiên của con người
Ba là, thuyết tự nhiên về quyền con người trong xã hội hiện đại đang
đứng trước những tranh luận lớn Ví dụ như, nếu thuyết tự nhiên về quyền con người ở thế kỷ XVII, XVIII phấn đấu cho quyền sống thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người thì ngày nay lại bàn đến quyền con người trước cái chết Có ý kiến cho rằng trong trạng thái chết lâm sàng, công dân vẫn là chủ thể của pháp luật có quyền đòi hỏi cán bộ y tế giúp đỡ về mặt y học…
Bốn là, trong xã hội hiện đại, với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã
hội và năng suất lao động, cùng với sự xuất hiện của hình thức sở hữu mới như sở hữu thông tin, sở hữu trí tuệ…là sự tăng lên về các phương tiện vật chất và tiện nghi sinh hoạt…thuyết tự nhiên về quyền con người chuyển dần
từ sắc thái trừu tượng về bản chất tự nhiên về quyền con người sang việc áp dụng các hình thức, thiết chế cụ thể về quyền tự nhiên của con người
Khía cạnh thứ hai: Trong khái niệm nhân quyền hiện đại có xu hướng đề
cao cá nhân, tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân Nhân quyền là quyền của con người độc lập, tự mình bao bọc mình Nhân quyền chính là giới hạn để phân
ly giữa người với người, là tiêu chuẩn để xác định tư cách con người so với người khác Thuyết cá nhân về quyền con người đề cao chủ nghĩa vị kỷ, nhấn mạnh quyền con người tự mình bao bọc mình thoát khỏi sự rằng buộc của xã hội
Trang 16Khía cạnh thứ ba: Nhấn mạnh nội dung đạo đức trong khái niệm quyền
con người Quyền con người là quyền đạo đức, chỉ là quyền đạo đức Macfarlane (Anh) định nghĩa quyền con người là quyền đạo đức thuộc về mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà Sở dĩ người đàn ông và người đàn bà có cái quyền đó vì họ là người có đạo đức Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, quyền tự nhiên được coi như tiêu biểu cho đạo đức Cần nhấn mạnh quyền con người là đạo đức không phải chỉ do đòi hỏi của truyền thống lịch sử văn minh nhân loại mà còn do cấu trúc tự nhiên của quyền con người
Khía cạnh thứ tư: Trong tư tưởng nhân quyền phương Tây đương đại,
những tư tưởng lấy luật tự nhiên làm cơ sở có thể chia thành hai phái: thần học và phi thần học Nhà triết học người Pháp J.Maritian là người theo chủ nghĩa Thomas mới, cũng là nhân vật tiêu biểu của học thuyết quyền con người theo phái thần học Sau chiến tranh, họ đã quan niệm rằng : “Quyền con người, thứ triết học đích thực được chúng ta đối xử bằng quan niệm bản thể luận, thông qua các kết cấu và nhu cầu chủ yếu tự nhiên được sáng tạo, nó truyền đạt trí tuệ của Chúa đối với tạo vật” Nhân quyền theo phái thần học là nội dung phấn đấu của tôn giáo và nhiều nhà thần học đương đại
Khía cạnh thứ năm: Theo cách hiểu cơ cấu, học thuyết Hohfeld thì cho
rằng quyền con người bao gồm: tự do, yêu cầu, quyền lực và ân xã Tuy nhiên, nhiều người cho rằng không thể có khái niệm quyền con người chung nhất, phải chia nhân quyền thành hai loại lớn như trong Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền đã xác định: Một là quyền công dân và quyền chính trị, một loại khác là quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Có người cho rằng có thể phân chia thành bốn quyền: quyền công dân, quyền chính trị, quyền xã hội và kinh
tế, quyền văn hóa Ý nghĩa của sự phân chia là hai loại hay bốn loại trên là ở
chỗ các quyền công dân và quyền chính trị thì phải thực hiện một cách nhanh
Trang 17chóng, đầy đủ Đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thì chỉ yêu cầu Nhà nước có cố gắng lớn nhất và có những bước đi thích hợp nhất để thực hiện
Khía cạnh thứ sáu: Khái niệm nhân quyền theo chủ nghĩa nhân bản trừu
tượng, xem quyền con người là bản tính vốn có, coi tự do các kiểu là tiêu chuẩn hàng đầu của nhân quyền, là hạt nhân của nhân quyền Nhân quyền tự
do là giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu, phổ biến, cũng là đích cuối cùng, là giá trị cao nhất trong mọi giá trị Tuyên ngôn độc lập năm 1766 của Mỹ, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789 đều tuyên bố quyền con người
do tạo hóa sinh ra, là thiêng liêng bất khả xâm phạm Tuyên ngôn nhân quyền thế giới cũng cho rằng, quyền con người thuộc về mọi người với tư cách là một con người đã được hưởng quyền con người, vượt lên thời gian, vượt lên
xã hội…
Khía cạnh thứ bảy: Khái niệm nhân quyền theo quan niệm kinh tế dựa
trên nguyên tắc tự do kinh tế trong kinh tế Theo A.Xmits “ đối với cá nhân, tốt nhất là anh ta tự mình đánh giá được chính mình về mặt lợi ích Lợi ích cá nhân không mâu thuẫn nhau mà thỏa thuận với nhau theo nguyên tắc thích ứng tự nhiên” Xuất phát từ quan niệm tự do cá nhân với tư cách là chủ thể độc lập của quan hệ kinh tế, con người có quyền về những lợi ích kinh tế và luôn tự hoàn thiện sở hữu bằng những bảo đảm lợi ích của mình không gây hại cho người khác Quyền sở hữu và lợi ích kinh tế là nội dung căn bản nhất của quyền con người Không thể đặt quyền sở hữu và lợi ích kinh tế ngang hàng với các quyền chính trị, xã hội khác, với các khả năng bẩm sinh về tự do
và bình đẳng
Khía cạnh thứ tám: Gắn quyền con người trực tiếp với nội dung về
quyền lực Con người tồn tại trong xã hội, nhưng xã hội có một thuộc tính tất yếu và cố hữu là quyền lực, vì bản thân xã hội luôn chứa đựng những mâu thuẫn Quyền lực trở thành nhu cầu tất yếu của con người trong xã hội xuất
Trang 18phát từ chính nhu cầu phát triển tự do…Theo Mourgon viết “Chẳng bao giờ người ta quên việc bắt con người phải phục tùng các mệnh lệnh của an ninh tâp thể…Tuyên ngôn về nhân quyền đã làm cho con người trở thành địch thủ của con người, đặt cơ sở tốt hơn cho kiểm soát quyền lực bằng một quyền lực được mời làm trọng tài.”
Mặc dù có nhiều khía cạnh khác nhau về quan niệm nhân quyền nhưng
có thể đi đến một số nhận định chung về những thuộc tính cơ bản của khái niệm nhân quyền như sau:
- Quyền con người luôn gắn liền với mỗi con người, vừa với tư cách cá nhân, vừa với tư cách thành viên trong xã hội Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia
- Quyền con người phải được xác định rõ bằng các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo…
- Quyền con người vừa thể hiện thuộc tính tự nhiên của con người, vừa
là khái niệm nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn chặt với chế độ chính trị, Nhà nước…Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan trong tương quan với các yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử…chỉ có thông qua pháp luật và thể chế thì nhu cầu, khả năng về quyền con người mới trở thành quyền được xác định [6, tr 22]
Có thể định nghĩa về quyền con người (hay nhân quyền) là những năng lực, lợi ích và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là cá nhân con người và là thành viên của cộng động nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
1.1.2 Quyền công dân
So với khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân mang tính xác định hơn, gắn liễn với mỗi quốc gia, được pháp luật mỗi quốc gia quy
Trang 19định Cũng do vậy nội dung, số lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau
Về bản chất thì quyền công dân chính là quyền con người được Nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân nước mình Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng của quyền con người, đây là một khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên do pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chỉ có người có quốc tịch của nước đó Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định và không phải hệ thống quyền công dân của các quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế
về quyền con người
Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là một nội dung cơ bản và là sự thể hiện cụ thể quyền con người Không thể quan niệm một cách trừu tượng rằng, một cá nhân con người vừa có quyền con người, quyền công dân một cách tách biệt hoàn toàn
Có thể định nghĩa về quyền công dân như sau: “Quyền công dân là quyền con người, là những giá trị gắn liền với một Nhà nước nhất định và được Nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân với một Nhà nước cụ thể”.[6, tr 24]
1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân
Quyền con người và quyền công dân là những khái niệm không đồng nhất xét về phương diện chủ thể lẫn nội dung Quyền con người là khái niệm rộng hơn, một mặt quyền con người không loại trừ quyền công dân, mặt khác cũng không thể thay thế được khái niệm đó Ngược lại, khái niệm quyền công
Trang 20dân cũng không thể chứa đựng hết quyền con người được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật trong nước cũng như pháp luật quốc tế Về phương diện chủ thể, quyền con người ngoài cá nhân được xác định là công dân còn bao hàm cả những người không phải là công dân (người nước ngoài, người không quốc tịch) Những người này tuy không được hưởng quyền công dân nhưng vẫn được hưởng các quyền con người với tính các là một thực thể
tự nhiên – xã hội
Một là, tư tưởng về quyền con người được hình thành cùng với sự xuất
hiện của những nền văn minh cổ đại Còn khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện sau cách mạng tư sản Vì cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân – với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một Nhà nước, và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân
Hai là, xét tổng quát, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền
con người, do quyền công dân chỉ là những quyền con người được các Nhà nước thừa nhận và áp dụng cho riêng công dân của mình Xét tổng quát, các quyền hiến định trong Hiến pháp của các quốc gia đều đã được ghi nhận hoặc hàm chứa trong các quyền đã được ghi nhận bởi luật nhân quyền quốc tế
Ở nhiều góc độ khác nhau , có thể chứng minh quyền con người là khái niê ̣m rô ̣ng hơn quyền công dân Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bi ̣
bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân , mà thể hiê ̣n mối quan hê ̣ giữa cá nhân với toàn thể cô ̣ng đồng nhân loa ̣i Về pha ̣m
vi áp dụng , do không bi ̣ giới ha ̣n bởi chế đi ̣nh quốc ti ̣ch , nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại , bất kể vị thế, hoàn cảnh , quốc ti ̣ch Nói cách khác , quyền con người được áp dụng mô ̣t cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên
Trang 21phạm vi toàn cầu , không phu ̣ thuô ̣c vào biên giới quốc gia , tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền
Ba là, đa số Hiến pháp các nước đều quy định rạch ròi quyền công dân
và quyền con người, và đều sử dụng cả hai thuật ngữ công dân và mọi người Những quyền dành cho công dân thì chế định “công dân có quyền” những quyền dành cho mọi người thì sử dụng thuật ngữ mọi người/ hoặc không ai
Dù quy định theo cách nào thì quyền con người, quyền công dân cũng là một nội dung quan trọng, có tính xuyên suốt trong Hiến pháp của các quốc gia
Tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân thể hiện ở các điểm sau:
Một là, theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công
dân” đều là những phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền con người) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền công dân)
Quyền con người và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung,
đó là con người, và một chủ thể chung khác là các cộng đồng nhân loại mà thể chế chính trị - pháp lý trung tâm của nó là Nhà nước Thêm vào đó, quyền con người và quyền công dân, về bản chất, đều là những gì mà một cá nhân con người được phép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác Chính vì thế mà quyền con người và quyền công dân là hai pha ̣m trù rất gần gũi, và trong nhiều bối cảnh hầu như không có sự phân biệt với nhau
Hai là, các quyền con người, quyền công dân được pháp điển hóa vào
Hiến pháp các nước trên thế giới theo những cách thức nhất định
Tuy là hai phạm trù khác nhau, nhưng quyền con người và quyền công dân hầu như không mâu thuẫn mà ngược lại, có sự thống nhất, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau
Trang 22Ba là, không chỉ quyền công dân mà cả quyền con người cũng chịu sự
quy định của sự giới hạn quyền
Giới hạn của quyền nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa các quyền của cá nhân và các quyền của tập thể (cộng đồng, quốc gia, dân tộc), cũng như việc thụ hưởng quyền giữa các cá nhân với nhau Luật nhân quyền quốc tế quy định giới hạn áp dụng của một số quyền trong một số Điều ước quốc tế về quyền con người Bản chất của các quy định này là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện hay hưởng thụ một số quyền con người nhất định nhằm các mục đích như thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng, bảo vệ an ninh quốc gia
Tóm lại, quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù khác nhau, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau Khái niệm quyền con người có thể nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân và ngược lại Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền công dân và quyền con người ngày càng trở nên mật thiết, đến nỗi trong một số trường hợp rất khó phân biệt và trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng Sự tương đồng kể trên khiến những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trở nên khăng khít không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khác nhau
Mặc dù có những khác biệt nhất định về tính chất giữa quyền con người
và quyền công dân nhưng xuất phát từ tính thống nhất cơ bản giữa quyền con người, quyền công dân nên Luận văn không tập trung chú ý vào sự khác biệt
mà tập trung vào phân tích cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp
Trang 231.1.4 Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Quyền con người là phổ quát và tự nhiên Tuy nhiên, để thực hiện đầy đủ
và có hiệu quả các quyền này thì cần phải có cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền đó, nếu không thì các quyền đó chỉ tồn tại trên lý thuyết
Các quyền, không chỉ riêng quyền con người, một khi đã được quy định trong các văn bản luật thì đi cùng theo đó cũng là việc quy định các chế tài để đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền đó Điều này giúp cho pháp luật luôn có tính khả thi, công bằng và được mọi người tôn trọng thực hiện.Với các quyền luôn gắn liền với sự tồn tại của một con người thì việc có một cơ chể đảm bảo thực hiện là điều không thể thiều để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Theo đại từ điển Tiếng Việt “Cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” Còn thông thường khi nói đến
khái niệm cơ chế người ta đề cập hai nội dung: thể chế và thiết chế Thể chế
được hiểu là các quy định pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất định có tính rằng buộc đối với các chủ thể Còn thiết chế là các cơ quan, tổ chức được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định Bảo đảm, bảo vệ quyền con người có thể được thực hiện
ở cấp độ toàn cầu, khu vực và từng quốc gia Từ đây, cơ chế bảo đảm, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân được hiểu là những thể chế, thiết chế do xã
hội, do Nhà nước tạo ra nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở cấp độ toàn cầu, khu vực và ở từng quốc gia [14, tr 9]
Trên lĩnh vực quyền con người, cụm từ “cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người” (the United Nations Human Rights Mechanism) hay được
sử dụng trong các tài liệu chuyên môn để chỉ bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên hợp quốc thiết lập
để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người
Trang 24Nhìn chung, dù hiểu như thế nào thì một bộ máy các cơ quan chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải có tính cam kết thực hiện: Đối với các cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế và khu vực, phải có sự cam kết và phê chuẩn của các quốc gia thành viên cũng như phải có cơ chế thích hợp nhằm xử lý khi có sự vi phạm
- Phải có tính độc lập cao: Đối với cơ chế bảo vệ quyền quốc gia, vì chủ thể vi phạm quyền con người chủ yếu là cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước nên cơ chế bảo vệ quyền con người phải nằm ngoài các cơ quan quyền lực Nhà nước
- Phải có đủ ngân sách hoạt động để tránh sự phụ thuộc
- Bộ máy cơ quan chuyên trách bảo vệ quyền con người phải do các chuyên gia có kinh nghiệm, những người có thâm niên hoạt động trong lĩnh vực thực hiện
1.2 Các cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế và khu vực hiện nay
1.2.1 Cơ chế bảo vệ nhân quyền Liên hợp quốc
Sự ra đời của Liên hợp quốc năm 1945 đánh dấu bước phát triển có ý nghĩa quan trọng nhất đối với luật quốc tế về quyền con người Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, việc cho rằng quyền con người cần được các quốc gia thúc đẩy và bảo vệ đã gắn với mối quan tâm rộng rãi của tổ chức này về đảm bảo và duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Chính vì vậy, Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 quy định rằng, một trong những mục tiêu của Liên hợp quốc là: “Thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế có tính chất kinh tế, xã hội, văn hóa hay nhân đạo và trong việc thúc đẩy
và khuyến khích tôn trọng các quyền con người và tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”
Trang 25Bên cạnh đó, các Điều 55 và 56 của Hiến chương tiếp tục khẳng định rằng cả Liên hợp quốc và tất cả các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc
“sẽ thúc đẩy…sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người và tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo” Chính trong những điều kiện đó mà sáng kiến có ý nghĩa đầu tiên do tổ chức này thực hiện là xây dựng văn kiện toàn cầu đầu tiên về quyền con người, đó là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người do Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc thực hiện trong thời gian từ 1946 đến 1948
Cơ chế quốc tế về quyền con người là hệ thống các cơ quan có nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ việc thực hiện quyền con người trên phạm vi thế giới [14,
tr 267]
Ở cấp độ quốc tế, đó là cơ chế của tổ chức Liên hợp quốc Cơ chế giám sát thực hiện quyền con người của Liên hợp quốc nhìn chung được chia làm hai hệ thống chính:
Thứ nhất, là hệ thống các cơ quan hình thành theo quyết định của Hiến
chương Liên hợp quốc Chức năng, nhiệm vụ có liên quan đến quyền con người của cơ quan này được xác định bởi Hiến chương
Thứ hai, là hệ thống cơ quan giám sát thực hiện các Điều ước quốc tế
Hệ thống này còn được gọi là cơ chế giám sát dựa trên công ước Đây là các
cơ quan được hình thành từ những quy định cụ thể tại các công ước quốc tế
cơ bản về quyền con người Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ đó là Ủy ban này là cơ quan giám sát việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa nhưng được Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc thành lập
a) Cơ chế bảo vệ nhân quyền dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc
Theo Hiến chương Liên hợp quốc, tất cả 6 cơ quan chính (ĐHĐ - General Assembly, HĐBA- Security Council, Hội đồng Kinh tế và Xã hội -
Trang 26Economic and Social Council - ECOSOC, HĐQT -Trusteeship Council và Toà án Công lý quốc tế - International Court of Justice - ICJ) đều có trách nhiệm trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền Một số cơ quan chính thiết lập một mạng lưới các cơ quan giúp việc, đồng thời xây dựng một quy chế để huy động sự tham gia, hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (quốc tế, khu vực
và quốc gia) vào hoạt động trên lĩnh vực này
chương Liên hợp quốc quy định ĐHĐ có thẩm quyền trong việc “thảo luận tất
cả các vấn đề hoặc các công việc thuộc phạm vi Hiến chương” và thực hiện các “khuyến nghị” đối với các quốc gia thành viên về những vấn đề này Đối với vấn đề quyền con người, quyền hạn và chức năng của ĐHĐ được ghi nhận rõ ràng, quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 13 của Hiến chương giao cho ĐHĐ “đề xướng những nghiên cứu và thông qua những khuyến
nghị” với mục đích “thực hiện các quyền con người và các tự do cơ bản đối với mọi người không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo” Khác với Hội đồng Bảo an, ĐHĐ chỉ thông qua những khuyến nghị, nghị quyết, kể cả các nghị quyết thông qua các Điều ước quốc tế Những khuyến nghị này không có giá trị bắt buộc, mệnh lệnh về mặt pháp lý
ĐHĐ có 6 Ủy ban trực thuộc có chức năng phục vụ nhiệm vụ của ĐHĐ, bao gồm:
Ủy ban 1 chịu trách nhiệm về các vấn đề giải trừ quân bị và an ninh quốc tế
Ủy ban 2 chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến tài chính và kinh tế
Ủy ban 3 chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến xã hội, nhân đạo, văn hóa
Ủy ban 4 chịu trách nhiệm về các vấn đề chính trị đặc biệt và vấn đề phi thực dân hóa
Ủy ban 5 chịu trách nhiệm về các vấn đề ngân sách và hành chính
Trang 27Ủy ban 6 chịu trách nhiệm về các vấn đề pháp lý
Sáu Ủy ban này có nhiệm vụ nghiên cứu và đệ trình các báo cáo về các vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình Tại các phiên họp toàn thể của ĐHĐ, các Ủy ban có nhiệm vụ xem xét và soạn thảo các văn bản, nghị quyết trình ra ĐHĐ để các thành viên có thể xem xét và thông qua
HĐBA Liên hợp quốc là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc Hội đồng có trách nhiệm hàng đầu trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Điều 24 của Hiến chương xác định “trong khi thực hiện những nghĩa vụ đó, HĐBA hành động theo đúng những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc” Mối quan hệ của HĐBA với vấn đề quyền con người được quy định tại Điều 34 của Hiến chương “Hội đồng có thẩm quyền điều tra mọi tranh chấp hoặc mọi tình thế có thể dẫn đến sự bất hòa quốc tế hoặc gây ra tranh chấp, xác định xem tranh chấp ấy hoặc tình thế ấy, nếu kéo dài có thể đe dọa việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế hay không” Trong những tình thế như vậy, Hội đồng hoàn toàn có thể viện dẫn các quy định tại Hiến chương liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng để giải quyết những vấn đề đó
Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế, xã hội là một cơ quan trực tiếp và cơ bản của ĐHĐ Hội đồng kinh tế, xã hội có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế vì sự phát triển và xác định các mục tiêu ưu tiên cho hoạt động liên quan của Liên hợp quốc Thông qua những chức năng này, Hội đồng kinh tế, xã hội thể hiện là một cơ quan của Liên hợp quốc, trực tiếp đảm trách các công việc về quyền con người Hoạt động của Hội đồng bao gồm thực hiện các nghiên cứu và xây dựng những khuyến nghị trên một phạm vi rộng lớn các vấn đề, bao gồm không chỉ việc “tôn trọng, tuân thủ quyền con người…cho tất cả” mà còn cả những vấn
Trang 28đề quyền con người cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, sức khỏe và các vấn đề có liên quan”
Hội đồng kinh tế, xã hội bao gồm một loạt các cơ quan trực thuộc, các
cơ quan này hoạt động theo từng mảng công việc chuyên môn khác nhau, được chia làm ba loại chính:
Các Hội đồng chức năng: có 9 hội đồng chức năng với các nhiệm vụ khác nhau Nhiệm vụ chung của các hội đồng này là nghiên cứu và đề ra các khuyến nghị thuộc lĩnh vực chuyên môn được giao
Các Hội đồng khu vực: có 5 hội đồng phân bổ theo các khu vực địa lý Các Ủy ban thường trực: có 5 ủy ban thường trực, hoạt động theo từng nhiệm vụ chuyên môn khác nhau
Hội đồng Quản thác (HĐQT) là một trong 6 cơ quan chính của Liên hợp quốc Theo Chương XII Hiến chương Liên hợp quốc, Hệ thống Quản thác với nhiệm vụ giám sát các vùng lãnh thổ quản thác được đặt trong Hệ thống theo các thoả thuận riêng với quốc gia quản lý các vùng lãnh thổ này
HĐQT gồm những thành viên sau đây của Liên hợp quốc: Những thành viên được quyền quản lý những vùng lãnh thổ quản thác; những thành viên thường trực của HĐBA (Anh, Hoa Kỳ, Nga, Pháp và Trung Quốc); Một số thành viên do ĐHĐ bầu ra trong thời hạn ba năm để đảm bảo đủ số lượng thành viên của Hội đồng; Quản thác được phân bổ ngang nhau giữa những thành viên Liên hợp quốc quản lý các lãnh thổ quản thác và những thành viên không quản lý những lãnh thổ đó
HĐQT có nhiệm vụ: Xem xét những báo cáo của nhà đương cục được giao quản lý lãnh thổ quản thác; Nhận xét và đơn thỉnh cầu sau khi tham khảo
ý kiến nhà đương cục nói trên; Cử người đến quan sát định kỳ từng lãnh thổ
do nhà đương cục nói lên quản lý theo thời hạn được thoả thuận với nhà
Trang 29đương cục ấy; Tiến hành những việc trên hay những việc khác theo đúng những điều khoản của các hiệp định về quản thác
Tòa án Công lý Quốc tế (tiếng Anh viết tắt là ICJ) là một phân ban trực thuộc Liên hợp quốc, được thành lập vào năm 1945 với tiền thân là Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế có từ năm 1922.Tòa án Công lý Quốc tế bao gồm 15 thẩm phán được HĐBAvà ĐHĐ bổ nhiệm dựa trên danh sách được Tòa Trọng tài Thường trực (the Permanent Court of Arbitration - PCA) tiến
cử Nhiệm kỳ của thẩm phán là 9 năm và không hạn chế việc tái đắc cử
Trên thực tế, thành phần của hội đồng xét xử được quyết định bởi các bên và như vậy làm cho quá trình tố tụng nhìn từ khía cạnh này giống như trọng tài.Thông thường, các vụ tranh chấp sẽ được xét xử bởi toàn bộ Hội đồng xét xử gồm 15 thành viên
Chức năng chính của Tòa án Công lý quốc tế là giải quyết các tranh chấp cho các nước thành viên dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và đưa ra các ý kiến tư vấn pháp lý cho ĐHĐ, HĐBAvà các ủy ban khác trực thuộc UN
+) Ban Thư ký Liên hợp quốc
Ban Thư ký Liên hợp quốc: Ban Thư ký là cơ quan hành chính của Liên hợp quốc, đứng đầu bởi Tổng Thư ký Ban Thư ký có chức năng cung cấp dịch vụ hành chính cho tất cả các cơ quan Liên hợp quốc, trong đó có các
cơ quan quyền con người Trong số các cơ quan trong Ban Thư ký, có các bộphận trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực quyền con người mà quan trọng nhất
là Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người và Bộ phận vì sự tiến bộ của phụ nữ của Cục Phát triển xã hội và các vấn đề nhân đạo
+) Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là cơ quan trực thuộc ĐHĐ Liên hợp quốc, có tiếng nói quan trọng nhất trong hệ thống các thể chế của Liên
Trang 30hợp quốc về quyền con người, góp phần thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ trên phạm vi toàn cầu các quyền con người và tự do cơ bản một cách công bằng, bình đẳng và không phân biệt đối xử Hội đồng Nhân quyền được thành lập năm 2006 trên cơ sở kế thừa cơ quan tiền thân là ủy ban Nhân quyền
Các cơ chế chính của Hội đồng Nhân quyền gồm có: Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (kiểm điểm việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người ở tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc); các thủ tục đặc biệt (là các chuyên gia có nhiệm vụ theo dõi, đưa ra các ý kiến tư vấn và có báo cáo công khai về tình hình nhân quyền theo từng lĩnh vực hoặc tại một số nước cụ thể), Thủ tục khiếu nại (nhận và xem xét các khiếu nại về vi phạm nhân quyền); ủy ban tư vấn (đóng vai trò tham mưu, nghiên cứu)
Hội đồng có 47 nước thành viên, được phân bổ theo nguyên tắc cân bằng về khu vực địa lý Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc giúp việc cho Hội đồng Nhân quyền với vai trò Ban Thư ký…
Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc có những chức năng, nhiệm vụ sau: Thúc đẩy những hoạt động giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ tư vấn, trợ giúp kỹ thuật và xây dựng năng lực về quyền con người ở các quốc gia; Thúc đẩy việc thực thi đầy đủ những nghĩa vụ về quyền con người ở các quốc gia; Đóng vai trò là một diễn đàn để đối thoại về những chủ đề cụ thể về quyền con người; Đưa ra những khuyến nghị với ĐHĐ về sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế; Thực hiện cơ chế đánh giá định kỳ toàn thể việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của các quốc gia (UPR);Thông qua đối thoại và hợp tác để góp phần phòng ngừa những vi phạm quyền con người và phản ứng kịp thời với những tình huống khẩn cấp
về quyền con người; Hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, các tổ chức khu vực, các cơ quan quyền con người quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự trong những hoạt động về quyền con người; Báo cáo công tác hàng năm với ĐHĐ
Trang 31b) Cơ chế bảo vệ quyền con người dựa trên Điều ước quốc tế
Trong cơ chế hoạt động của Liên hợp quốc, bên cạnh các cơ quan được thành lập theo Hiến chương còn có hệ thống các cơ quan được thành lập theo công ước quốc tế Hiện nay có 9 Ủy ban được thành lập tương ứng với 9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người nhằm giám sát các quốc gia thành viên thực hiện công ước, bao gồm các Ủy ban:
- Ủy ban về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc, giám sát việc thực hiện Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm
- Ủy ban Chống tra tấn, giám sát việc thực hiện Công ước chống tra tấn
và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1984
- Ủy ban Quyền trẻ em, giám sát việc thực hiện Công ước về quyền trẻ
em năm 1989 và hai Nghị định thư bổ sung Công ước
- Ủy ban Bảo vệ người lao động di cư và các thành viên trong gia đình của họ, giám sát việc thực hiện Công ước về bảo vệ người lao động di cư và các thành viên trong gia đình của họ năm 1990
- Uỷ ban về các vụ mất tích cưỡng bức (thành lập theo Công ước quốc tế
về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức đưa đi mất tích, 2006)
Trang 32- Uỷ ban về quyền của người khuyết tật (thành lập theo Công ước vềquyền của người khuyết tật, 2007) [14, tr 306]
Các Ủy ban này có những chức năng chính sau:
- Xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên:
Các báo cáo phải đưa ra các biện pháp pháp lý, hành chính và tư pháp đã được quốc gia thành viên áp dụng để thực hiện các quy định của Công ước và các yếu tố thuận lợi, khó khăn mà các quốc gia đã và đang đối mặt trong việc thực hiện các quyền Bên cạnh các báo cáo quốc gia, các Ủy ban Công ước có thể nhận những thông tin về tình hình quyền con người của quốc gia từ các nguồn khác, bao gồm các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu, báo chí Dựa trên những thông tin này, Ủy ban đánh giá việc thực hiện công ước của mỗi quốc gia thành viên Từ đó, Ủy ban công bố các nhận xét và những khuyến nghị của mình đến vấn đề có liên quan đến việc thực hiện công ước của các quốc gia thành viên
- Xem xét khiếu nại của các cá nhân:
Bên cạnh thủ tục báo cáo, một số các ủy ban công ước còn thực hiện chức năng giám sát thông qua ba cơ chế khác: thủ tục Điều tra, xem xét khiếu kiện liên quốc gia và xem xét khiếu nại cá nhân
Các khiệu nại cá nhân gửi lên Ủy ban công ước chỉ được thực hiện với điều kiện là quốc gia bị khiếu kiện phải là thành viên của Công ước và quốc gia bị khiếu kiện phải công nhận thẩm quyền xem xét khiếu kiện cá nhân của
Trang 33định của công ước một cách hiệu quả hơn Các bình luận chung hoặc các khuyến nghị thường tập trung vào các điều khoản cụ thể của công ước và giải thích các chuẩn mực mà các chính phủ phải tuân theo trong việc thực hiện công ước
1.2.2 Cơ chế bảo vệ nhân quyền khu vực
Trong thời gian qua, hầu hết các quốc gia đã ký, phê chuẩn hoặc gia nhập những Điều ước cơ bản về quyền con người được đàm phán trong sáu mươi năm qua dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc Ở tất cả các khu vực, nhiều quốc gia lại không trân trọng nghĩa vụ hợp tác của họ với cơ chế giám sát quốc tế được thành lập theo quy định của những Điều ước này Đồng thời, nhận thức về hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế ngày càng tăng và điều quan trọng là phải bảo đảm sự tiếp cận dễ dàng hơn đối với các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền con người Hơn nữa, sự đa dạng và phức tạp của các khu vực là một thực tế Đây là những yếu tố hình thành nên các cơ chế bảo vệ nhân quyền tại các khu vực trên thế giới
Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người khu vực là các thể chế, thiết chế và hệ thống pháp luật cùng quy tắc, tiêu chuẩn và nguyên tắc nhằm bảo
vệ và thúc đẩy quyền con người ở phạm vi khu vực Các cơ chế này thường bao gồm: Hiến chương, Công ước Nhân quyền khu vực, Tòa án Nhân quyền khu vực, các tổ chức giám sát thực hiện nhân quyền ở khu vực…
Sau khi Tuyên ngôn Nhân quyền ra đời, các khu vực châu Âu, châu Mỹ, châu Phi đã lần lượt hình thành được các cơ chế nhân quyền khu vực Các cơ chế nhân quyền khu vực này luôn được bổ sung, hoàn thiện nhẳm thích ứng với sự biến đổi chung về kinh tế, chính trị, xã hội
a) Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền Châu Âu
Khu vực Châu Âu, do tương đồng về nhiều mặt, nên cơ chế bảo vệ quyền con người phát triển khá mạnh, bao gồm: Hệ thống của Hội đồng Châu
Trang 34Âu (hiện tại có 47 thành viên, của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE) (56 thành viên) và của Liên minh Châu Âu (EU) (27 thành viên) Châu Âu là nơi hình thành đầu tiên cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở cấp độ khu vực; được tổ chức và hoạt động một cách hiệu quả và hiệu lực hơn cả trong các khu vực có cơ chế tương tự này Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở châu Âu được cấu thành từ hệ thống các văn kiện khu vực về quyền con người cùng các bộ máy thực thi, bao gồm: Công ước châu
Âu về Bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản được Hội đồng châu Âu thông qua năm 1950, có hiệu lực năm 1953; Ủy ban Quyền con người trực thuộc Hội đồng châu Âu (thành lập năm 1954); Tòa án Quyền con người châu Âu (1959); Ủy ban các Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu (gồm ngoại trưởng hoặc đại diện của các quốc gia thành viên)
Cơ chế châu Âu bao gồm 3 cấp độ và hình thức: Hội đồng châu Âu, Liên minh châu Âu, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE)
b) Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Mỹ
Cơ chế châu Mỹ được cấu thành từ những văn kiện chính trị và pháp lý cùng các thể chế thực thi trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, bao gồm: Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người được
Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) thông qua năm 1948; Ủy ban Liên Mỹ
về quyền con người thành lập năm 1959 (IACHR); Công ước Liên Mỹ về quyền con người được thông qua năm 1969; Tòa án Liên Mỹ về quyền con người Mỹ
Tòa án Quyền con người châu Mỹ cùng với Ủy ban Quyền con người châu Mỹ (IACHR) là hai bộ phận quan trọng và cốt lõi nhất của cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở khu vực này Giống như cơ chế nhân quyền châu Âu,
Ủy ban và Tòa án Nhân quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban Liên Mỹ về quyền con người bao
Trang 35gồm 7 ủy viên được bầu chọn bởi ĐHĐ Tổ chức các quốc gia châu Mỹ với nhiệm
kỳ hoạt động là 4 năm, được lựa chọn từ các chuyên gia giàu kinh nghiệm và đạo đức tốt trên lĩnh vực tư pháp, pháp luật và hoạt động nhân quyền của các quốc gia thành viên của tổ chức này Tuy nhiên, các ủy viên này làm việc hoàn toàn với tư cách cá nhân, chuyên gia chứ không phải là đại diện cho các quốc gia thành viên Ủy ban có một Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch
Tòa án Liên Mỹ về Quyền con người gồm 7 thẩm phán, là công dân các quốc gia thành viên OAS, do ĐHĐ OAS bầu theo nhiệm kỳ 6 năm, được tuyển chọn dựa trên các tiêu chí chuyên môn, nghề nghiệp và đạo đức phù hợp cho vị trí
là thẩm phán, thực hiện các chức năng chủ yếu là xét xử và tư vấn
Bên cạnh các chức năng xét xử, Tòa án Liên Mỹ về quyền con người có chức năng tư vấn cho Ủy ban Liên Mỹ về quyền con người và các quốc gia
thành viên OAS về các vấn đề liên quan đến thực hiện các văn kiện quốc tế và khu vực (đặc biệt là Công ước Liên Mỹ) về quyền con người
c) Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Phi
Cơ chế châu Phi trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người bao gồm
hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châu Phi cùng các thể chế tương ứng, bao gồm: Hiến chương châu Phi về Quyền con người và Quyền các dân tộc, được Tổ chức Liên minh châu Phi thông qua năm 1981; Ủy ban Quyền con người và Quyền các dân tộc châu Phi năm 1981; Tòa án châu Phi
về Quyền con người và Quyền các dân tộc được thành lập theo Nghị định thư
bổ sung của Hiến chương châu Phi về Quyền con người và Quyền của các dân tộc được thông qua năm 1998, năm 2004 mới có hiệu lực
Ủy ban Quyền con người và Quyền các dân tộc châu Phi bao gồm 11 thành viên được bầu chọn bằng cách bỏ phiếu kín bởi ĐHĐ châu Phi Ủy ban
có các chức năng: Bảo vệ các quyền con người và quyền của dân tộc; thúc đẩy các quyền của con người và quyền của dân tộc; giải thích Hiến chương
Trang 36châu Phi về quyền con người và quyền của dân tộc (theo Điều 45 của Hiến chương); chuẩn bị các vụ khiếu kiện liên quan đến quyền con người do các công dân của các quốc gia thành viên gửi và chuyển cho Tòa án châu Phi về Quyền con người
Tòa án Quyền con người châu Phi (hay còn gọi là Tòa án châu Phi về Quyền con người và Quyền các dân tộc) được sát nhập với Tòa Công lý châu Phi vào tháng 7/2004 trở thành Tòa án châu Phi về Quyền con người Cơ cấu
tổ chức của Tòa án bao gồm 11 thẩm phán, được bầu với nhiệm kỳ 6 năm, hoạt động kiêm nhiệm, được lựa chọn là các công dân giàu kinh nghiệm trên lĩnh vực xét xử và quyền con người của các quốc gia thành viên Thẩm quyền
và phạm vi áp dụng của các phán quyết của Tòa án này còn rất hạn chế so với
cơ chế của khu vực châu Âu và châu Mỹ Chức năng chính của Tòa án châu Phi về Quyền con người chủ yếu là tham vấn
d) Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Á
Châu Á là châu lục lớn nhất duy nhất chưa thiết lập được cơ chế chung
về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Trong khi chưa có hệ thống nhân quyền khu vực, một số tổ chức ở châu Á đã nỗ lực hoạt động nhằm khắc phục những thiếu hụt trên lĩnh vực nhân quyền Năm 2005, tại Pataya, Thái Lan, Hội nghị ĐHĐ Liên minh Nghị viện châu Á vì hòa bình (AAPP) lần thứ 6 đã thông qua Hiến chương Nhân quyền của các dân tộc châu Á Trước đó, năm
1998, tại Hồng Công, 200 tổ chức phi chính phủ đã nỗ lực cho ra mắt Hiến chương châu Á về quyền con người Dấu mốc quan trọng của quá trình ấy là
sự ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1967 và Hiến chương ASEAN vào năm 2008 Cùng với Hiến chương ASEAN, hàng loạt các văn kiện quan trọng khác đã góp phần vào việc hoàn thiện khung pháp luật và thể chế cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở khu vực được xem là năng động nhất trên thế giới hiện nay
Trang 37Trong nỗ lực hướng tới một cộng đồng chung về kinh tế, chính trị vào năm 2015, tháng 9-2009, ASEAN đã ra mắt Ủy ban Liên chính phủ ASEAN
về nhân quyền (AICHR) Tháng 4-2010, tại Hà Nội, Ủy ban ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) ra đời, đồng thời thảo luận sớm thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền của Hiệp hội Những năm gần đây, bên lề các cuộc hội nghị thượng đỉnh các quốc gia ASEAN đều có một hình thức tập hợp và hoạt động của các tổ chức xã hội dưới hình thức diễn đàn Tại đây, mọi vấn đề nhân quyền bức xúc đều được đưa ra thảo luận nhằm
đi đến kiến nghị tập thể đối với các chính phủ
Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) là một cơ quan thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cấp tiểu khu vực, được thành lập ngày 23-10-2009 tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 15 họp tại Cha Am Hua Hin, Thái Lan theo Điều 14 của Hiến chương ASEAN: “Phù hợp với mục đích và các nguyên tắc của Hiến chương ASEAN liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản, ASEAN sẽ thành lập một cơ quan nhân quyền ASEAN”
Tuyên bố Cha Am Hua Hin về việc thành lập AICHR ghi nhận rằng AICHR là một bộ phận không thể tách rời của cơ cấu tổ chức của ASEAN, của hợp tác liên chính phủ giữa 10 quốc gia thành viên nhằm xây dựng cơ chế hợp tác khu vực về nhân quyền Nguyên tắc hướng dẫn cho hoạt động của AICHR là thông qua tham vấn và đồng thuận trong quá trình hoạch định chính sách liên quan đến việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở mỗi quốc gia thành viên và toàn bộ khối ASEAN
Mặc dù đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện quy chế về tổ chức
và hoạt động, AICHR bước đầu đóng góp tích cực vào quá trình bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở khu vực ASEAN cũng như tăng cường đối thoại, hiểu biết lẫn nhau về quyền con người giữa các quốc gia thành viên cũng như
Trang 38giữa ASEAN và các tổ chức, thể chế khu vực, quốc gia và quốc tế trên phạm
vi toàn thế giới Ngoài các tiểu khu vực Nam Á và Đông Nam Á có các cơ chế bảo đảm quyền con người, các tiểu khu vực khác như khu vực các quốc gia Arab ở Trung Đông cũng đã xây dựng được Hiến chương và đang xúc tiến thành lập Ủy ban nhân quyền
1.2.3 Cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc gia
Bên cạnh cơ chế quốc tế và khu vực, các quốc gia thường có cơ quan chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền Cơ chế quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người xuất phát từ và nhằm thực hiện những nghĩa vụ của các Nhà nước được nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người
Về lý thuyết, các cơ quan Nhà nước có chức năng duy trì ổn định, trật tự xã hội và bảo đảm quyền của người dân Tuy nhiên, chính các cơ quan và viên chức Nhà nước cũng đồng thời là chủ thể chính vi phạm quyền con người, vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã thiết lập các cơ quan độc lập hoặc bán độc lập với bộ máy Nhà nước để tăng cường hiệu quả của việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Dưới đây khái quát một số dạng chính của các cơ quan quốc gia quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người (national institution
on the protection and promotion of human rights hoặc national human rights íntitutions – NHRIs) mà đã được thành lập ở nhiều nước trên thế giới
a) Ủy ban quyền con người quốc gia (National Commissions of Human Right)
Thiết chế này thường bao gồm nhiều thành viên đại diện cho nhiều nhóm
xã hội, nghề nghiệp Tên gọi của thiết chế này có thể khác nhau giữa các nước, ví dụ như Ủy ban/Trung tâm Quyền con người quốc gia, Ủy ban quyền con người và bình đẳng…
Nhìn chung, chức năng cơ bản của các ủy ban quyền con người quốc gia
là bảo vệ các cá nhân khỏi sự phân biệt đối xử và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt là quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ,
Trang 39trẻ em, người thiểu số, người bản địa Có những ủy ban được giao thẩm quyền xử lý tất cả vi phạm các quyền được nêu lên trong Hiến pháp, trong khi một số khác chỉ có thẩm quyền xử lý những vi phạm về chủng tộc, tôn giáo, giới, quan điểm chính trị…Một chức năng quan trọng nữa của các ủy ban quyền con người quốc gia là tiếp nhận, điều tra và giải quyết những khiếu nại của các cá nhân và các nhóm về những vi phạm quyền con người theo pháp
luật quốc gia
Bên cạnh các chức năng kể trên, nhiều ủy ban quyền con người quốc gia được giao thẩm quyền nghiên cứu chính sách và hoạt động liên quan đến quyền con người của chính phủ để phát hiện những hạn chế và đề xuất các biện pháp khắc phục và thúc đẩy sự tiến bộ Các ủy ban cũng có thể được giao quyền giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc tuân thủ pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người Cuối cùng, nhiều ủy ban quyền con người quốc gia còn được giao chức năng giáo dục, tuyên truyền nâng cao
nhận thức của người dân về quyền con người
b) Thanh tra Quốc hội (Ombudsman)
Cơ chế Ombudsman xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm 1809 Thuật ngữ “Ombudsman” có nguồn gốc từ tiếng Thụy Điển (có nghĩa là người đại diện) Tại một số quốc gia, Ombudsman tương đương với thanh tra Quốc hội hoặc thanh tra Nhà nước Ombudsman có một bộ máy giúp việc, thường gọi là Văn phòng Ombudsman
Nhìn chung, chức năng chủ yếu của Ombudsman là giám sát sự công bằng và hợp pháp của bộ máy hành chính công Cụ thể, văn phòng Ombudsman có trách nhiệm bảo vệ quyền của những người là nạn nhân của những hành vi, quyết định của cơ quan hành pháp Do đó, ở các nước có định chế này, Ombudsman thường được coi là trung gian hòa giải giữa cá nhân có quyền bị xâm phạm với chính quyền Hiện tại, một số quốc gia trên thế giới
Trang 40đã thành lập Ombudsman như là một cơ chế quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (Danmark, Sweden, Austria, Spain, Venezuela …)
Quy trình hoạt động của Ombudsman ở các quốc gia tương đối giống nhau Ombudman nhận khiếu nại từ công chúng và tiến hành điều tra nếu vụ việc thuộc thẩm quyền của mình Ở một số quốc gia, người dân có thể gửi đơn khiếu nại trực tiếp đến văn phòng Ombudsman, nhưng ở một số quốc gia khác, người dân chỉ có thể gửi qua trung gian như thông qua các nghị sỹ quốc hội ở địa phương Các đơn khiếu nại thường được giữ bí mật danh tính và Ombudman không được tiết lộ về người khiếu nại nếu chưa được sự đồng ý của họ
Không chỉ giải quyết các vụ việc khi được yêu cầu, Ombudsman còn có thẩm quyền chủ động tiến hành điều tra những vi phạm quyền con người trên phạm vi rộng hoặc thu hút sự quan tâm lớn của công chúng Sự khác nhau giữa các ủy ban quyền con người quốc gia và Ombudsmanlà Ombusman chủ yếu đảm bảo công bằng và pháp chế trong quản lý hành chính, còn các ủy ban quyền con người quốc gia chủ yếu quan tâm đến những vi phạm quyền con người ở phạm vi rộng hơn, đặc biệt là các vi phạm liên quan đến vấn đề phân biệt đối xử Thêm vào đó, Ombudsman chủ yếu tập trung vào những vi phạm quyền con người của các cơ quan và viên chức Nhà nước, trong khi các ủy ban quyền con người quốc gia quan tâm cả đến cả các vi phạm quyền con người của các cá nhân và chủ thể tư nhân
1.3 Vai trò của Hiến pháp trên phương diện bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Thuật ngữ “Hiến pháp” đã ra đời và tồn tại từ lâu trong lịch sử nhân loại Theo tiếng La tinh “Hiến pháp” (Constitutio) có nghĩa là sự thiết lập, xác định, cơ cấu Thời La Mã cổ đại, một số hoàng đề đã ban hành văn bản dưới hình thức Hiến pháp và mang tính chất như là một loại nguồn của pháp luật